1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn hóa phật giáo trong bản sắc văn hóa việt nam

155 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị văn hóa Phật giáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả Phan Ngọc Pháp
Người hướng dẫn TS. Trần Hoàng Hảo
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ triết học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO (17)
    • 1.1. Lý luận về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam (17)
      • 1.1.1. Khái niệm về văn hóa và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội (17)
      • 1.1.2. Khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc (24)
      • 1.1.3. Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam (27)
    • 1.2. Khái quát về giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam (31)
      • 1.2.1. Khái niệm về giá trị văn hóa Phật giáo (31)
      • 1.2.2. Sự truyền bá và phát triển văn hóa Phật giáo ở Việt Nam (0)
      • 1.2.3. Đặc điểm của văn hóa Phật giáo Việt Nam (61)
  • Chương 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ … (67)
    • 2.1. Giá trị văn hóa Phật giáo đối với hệ tư tưởng và nền chính trị Việt Nam thời phong kiến (70)
      • 2.1.1. Giá trị văn hóa Phật giáo đối với hệ tư tưởng Việt Nam thời (70)
      • 2.1.2. Giá trị văn hóa Phật giáo đối với nền chính trị Việt Nam thời (88)
    • 2.2. Giá trị văn hóa Phật giáo đối với đạo đức, tập quán dân gian và lễ hội người Việt Nam (102)
      • 2.2.1. Giá trị văn hóa Phật giáo đối với đạo đức người Việt Nam (102)
      • 2.3.1. Bản sắc văn hóa dân tộc là nền tảng phát triển văn hóa Phật giáo Việt Nam (130)
      • 2.3.2. Văn hóa Phật giáo đã góp phần làm đa dạng, phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc (133)
      • 2.3.3. Ý nghĩa lịch sử của giá trị văn hóa Phật giáo trong thời đại ngày nay… (136)
  • KẾT LUẬN (65)

Nội dung

Vì thế, nhận diện để phát huy giá trị văn hóa Phật giáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam không những bảo tồn được các giá trị văn hóa truyền thống, mà còn góp phần tôn vinh văn hóa dân tộc

LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO

Lý luận về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về văn hóa và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội

Văn hóa là khái niệm rộng lớn, liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần Con người không chỉ là chủ thể sáng tạo văn hóa mà còn là sản phẩm của nó Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động của con người đều trở thành văn hóa Văn hóa là sản phẩm tập thể, được cộng đồng tiếp nhận và truyền lại qua các thế hệ, tạo nên đặc trưng riêng của mỗi cộng đồng Do đó, văn hóa của một dân tộc là sự kết tinh của những giá trị lao động sáng tạo, hướng tới chân, thiện, mỹ của dân tộc đó.

Khái niệm văn hóa ở phương Đông đã xuất hiện từ rất sớm, đặc biệt trong các thư tịch cổ của Trung Quốc Quẻ Bí trong Chu Dịch nhấn mạnh rằng (thánh nhân) quan sát thi thư lễ nhạc để giáo hóa thiên hạ Vào thời Xuân Thu, Khổng Tử đã coi văn là một trong bốn môn giáo dục con người, và khái niệm này dần mở rộng sang ý nghĩa "văn vũ chi trị", tức là sử dụng đạo đức, lễ nhạc và uy sức để giáo hóa con người Sách Thuyết Uyển, bài Chi Vũ của Lưu Hướng cũng phản ánh quan điểm này.

Theo TCN, trong thời kỳ Tây Hán, bậc thánh nhân trị thiên hạ trước tiên sử dụng văn đức, sau đó mới đến vũ lực, chỉ dùng vũ lực để đối phó với những kẻ bất phục tùng Thúc Triết trong sách Bổ vong thi cũng nhấn mạnh rằng văn hóa là để tạo sự hòa mục bên trong, trong khi vũ công chỉ là hình thức bên ngoài Văn hóa ở đây đề cập đến việc giáo dục nhân cách con người, trái ngược với giáo dục vũ công mang tính bề ngoài Ở phương Tây, khái niệm văn hóa (cultus) có nguồn gốc từ việc gieo trồng, và triết gia La Mã Cicéron đã liên kết khái niệm này với hoạt động trí tuệ của con người.

Khái niệm văn hóa đã chuyển từ việc gieo trồng trên đất đai sang việc vun trồng trí óc Vào thế kỷ XVII, nhà nghiên cứu pháp luật người Đức S Pufendorf (1632) là người đầu tiên đưa thuật ngữ "văn hóa" (culture) vào trong lĩnh vực khoa học.

Ông sử dụng thuật ngữ văn hóa để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra, khác với những gì có sẵn trong tự nhiên Nhà triết học G Vico (1668 - 1744) người Ý coi văn hóa như một phức thể, bao gồm kinh tế, chính trị, khoa học và nghệ thuật Triết gia người Đức I.G Herder (1744 – ) cũng có những quan điểm sâu sắc về văn hóa.

Văn hóa được hiểu là quá trình hình thành con người thông qua việc nắm bắt và sử dụng kinh nghiệm, truyền thống Theo Herder, văn hóa không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và xã hội mà còn vào nỗ lực lao động chủ quan của con người Chỉ khi sáng tạo ra các giá trị văn hóa, con người mới hình thành giá trị của chính mình E.B Taylor, giáo sư nhân học, đã định nghĩa văn hóa là tổng thể tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và các thói quen khác mà con người chiếm lĩnh trong xã hội Định nghĩa này đã mở rộng khái niệm văn hóa, không chỉ bó hẹp trong giáo dục trí thức mà còn phản ánh kết quả của các hoạt động con người ở mọi trình độ tiến hóa.

Văn hóa được xem như phương thức hoạt động đặc trưng của con người, phản ánh quá trình sinh hoạt và sáng tạo Nó thể hiện nỗ lực chủ quan của con người trong lao động, giúp hình thành bản sắc khác biệt so với thế giới tự nhiên và động vật Để tồn tại và phát triển, con người không chỉ thích ứng mà còn chinh phục tự nhiên và bản thân, từ đó tạo ra văn hóa vật chất và tinh thần Như Ph Ăngghen đã chỉ ra, con người không chỉ sống dựa vào tự nhiên mà còn tìm cách làm chủ thế giới xung quanh Qua đó, con người tác động vào tự nhiên, biến đổi nó thành sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt Quá trình này không chỉ là hoạt động sống mà còn là con đường hình thành nhân cách, tái tạo hiện thực khách quan thành thế giới thứ hai theo “các quy luật của cái đẹp.”

Trong quá trình chinh phục tự nhiên, mối quan hệ giữa con người đã làm cho hành vi của họ trở nên hoàn thiện, tách biệt khỏi thế giới động vật và khẳng định đặc tính con người Hoạt động của con người đã tạo ra một “tự nhiên thứ hai” phong phú và đa dạng, đối lập với “tự nhiên nhi nhiên” của vạn vật Con người chính là chủ nhân của tự nhiên thứ hai này, hay còn gọi là chủ nhân của văn hóa mà họ đã tạo ra.

Văn hóa chỉ xuất hiện khi con người nhận thức rõ về đời sống xã hội và hoạt động lao động sáng tạo nhằm cải tạo tự nhiên cho cuộc sống tốt đẹp hơn Nó thể hiện sức mạnh bản chất con người qua lao động sản xuất, hình thành mối quan hệ với thế giới tự nhiên và giữa con người với nhau Đây là nguồn gốc và động lực sáng tạo giá trị vật chất và tinh thần, nội dung cơ bản của văn hóa Những giá trị này được các thế hệ kế thừa, phát huy và sáng tạo, từ đó hình thành những bản sắc văn hóa riêng biệt.

Văn hóa vật chất thường bắt nguồn từ thế giới tự nhiên, trong khi văn hóa tinh thần không có nguồn gốc trực tiếp từ đó Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng như công cụ tư duy, hình thành hệ thống giá trị và chuẩn mực trong tiềm thức, điều khiển hành vi của cá nhân và cộng đồng Những lý tưởng về đạo đức, thẩm mỹ, chính trị, tư tưởng, tôn giáo, pháp luật, khoa học, nghệ thuật và các thiết chế xã hội như gia đình, giáo dục, chính trị, kinh tế đều góp phần vào việc sáng tạo văn hóa Qua đó, con người tạo ra văn hóa vật chất và tinh thần, những yếu tố hoàn toàn không tồn tại trong tự nhiên.

Ngày nay, có hơn 400 định nghĩa về văn hóa Tại hội nghị Venise năm 1970 do UNESCO tổ chức, văn hóa được định nghĩa là tổng thể các hoạt động của con người, không chỉ giới hạn trong nghệ thuật, mà còn giúp con người tự định vị trong không gian và thời gian, tạo ra chìa khóa để giải thích thế giới Khái niệm văn hóa này được hình thành từ bốn bộ phận: hệ thống ý niệm, hệ thống giá trị và chuẩn mực, hệ thống biểu hiện văn hóa, và hệ thống hành động và ứng xử văn hóa Hệ thống ý niệm bao gồm các khái niệm và biểu tượng giúp con người lý giải bản thân và thế giới Hệ thống giá trị và chuẩn mực liên quan đến việc đánh giá hành động và tổ chức hành vi Hệ thống biểu hiện là các hình thức cụ thể thể hiện ý niệm và chuẩn mực, trong đó văn học và nghệ thuật là quan trọng nhất Cuối cùng, hệ thống hành động là các trung gian kinh tế và xã hội giúp cộng đồng tự tổ chức và quản lý số phận của mình.

Văn hóa hình thành là điều kiện bảo tồn và tôn vinh các giá trị nhân văn, giúp phát huy năng lực bẩm sinh và bản chất của con người Qua đó, con người hòa quyện thuộc tính sinh vật – xã hội và tính chất xã hội – văn hóa, phát triển toàn diện như một nhân cách văn hóa Con người tạo ra cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần, sử dụng chúng như phương tiện để tồn tại và phát triển, khẳng định bản sắc riêng Sự sáng tạo văn hóa vật chất và tinh thần là bước chuyển quyết định về mặt nhân tính, điều mà không loài vật nào có thể đạt được.

Văn hóa, do con người sáng tạo ra, đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, tác động đến mọi hoạt động của con người Nó không chỉ là mục tiêu của sự phát triển xã hội mà còn là nền tảng tinh thần và động lực thúc đẩy sự tiến bộ Hơn nữa, văn hóa là yếu tố thiết yếu trong việc hoàn thiện và phát huy tiềm năng của con người.

Văn hóa là mục tiêu quan trọng trong sự phát triển xã hội, vì sự phát triển bền vững chỉ đạt được khi con người cân bằng giữa nhu cầu vật chất và tinh thần Con người không chỉ cần thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn cần hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần Khi xã hội phát triển, nhu cầu về văn hóa tinh thần ngày càng cao Nếu chỉ tập trung vào phát triển vật chất mà quên đi giá trị văn hóa truyền thống, xã hội sẽ đối mặt với nguy cơ tha hóa và mất bản sắc Do đó, việc đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho con người và xã hội.

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và là động lực cho sự phát triển Mọi sự phát triển đều do con người quyết định, và văn hóa thể hiện trình độ phát triển của con người và xã hội Điều này giúp con người tiến tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và văn minh Bản chất nhân văn của mỗi cá nhân và cộng đồng được bồi dưỡng, trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp Văn hóa đóng vai trò là hệ điều tiết của sự phát triển, phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, đảm bảo sự phát triển hài hòa, cân đối và bền vững.

Khái quát về giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam

1.2.1 Khái niệm về giá trị văn hóa Phật giáo

Khái ni ệ m v ề giá tr ị , giá tr ị văn hóa

Trong nhiều thập kỷ qua, giá trị học đã được coi là một trong ba lĩnh vực chính của triết học, bên cạnh bản thể luận và nhận thức luận Bản thể luận tập trung vào bản chất của thực tại, đặt ra câu hỏi về sự tồn tại và ý nghĩa của cuộc sống Nhận thức luận nghiên cứu chân lý và cơ sở của tri thức, tìm hiểu cách con người đạt được hiểu biết Trong khi đó, giá trị luận xem xét sự tồn tại khách quan của các giá trị, bao gồm các vấn đề về hành động đúng sai và thái độ đánh giá Do đó, giá trị luận đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong triết học.

Giá trị liên quan đến việc đánh giá và tìm ra ý nghĩa của các sự vật, sản phẩm mà con người quan tâm và mong muốn đạt được để thực hiện mục đích Khái niệm giá trị được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học như toán học, xã hội học, triết học và văn hóa học, với những hàm nghĩa khác nhau trong từng bộ môn Theo Gs Ts Ngô Đức Thịnh (2014) trong cuốn "Giá trị văn hóa Việt Nam – truyền thống và biến đổi", giá trị, cùng với tập quán, chuẩn mực và tri thức, là sản phẩm của quá trình tư duy và sáng tạo của con người, đóng vai trò cốt lõi trong văn hóa Giá trị văn hóa là hình thái của ý thức và đời sống tinh thần, phản ánh và kết tinh những giá trị của cả đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.

Toàn bộ sự tồn tại của loài người dựa trên các giá trị vật chất và tinh thần, đảm bảo cuộc sống ở nhiều cấp độ khác nhau Giá trị tồn tại trong các sản phẩm do con người tạo ra, với trí tuệ và lý trí là nguồn gốc tạo ra giá trị Tuy nhiên, để con người trở thành chủ thể và có mối quan hệ xã hội, trình độ lý trí và tinh thần cần phát triển đến một mức độ nhất định Clyde Kluckhohn định nghĩa giá trị là những quan niệm về ao ước của cá nhân hoặc nhóm, chi phối sự lựa chọn trong hành động J H Fichter cũng đã đưa ra định nghĩa về giá trị trong bối cảnh xã hội học hiện đại.

Theo mô tả, mọi thứ có ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đều được coi là "có một giá trị" Trong cuốn Tự điển triết học của M Rodentan và P Iudin, giá trị được định nghĩa là những khẳng định xã hội đặc biệt về các đối tượng trong thế giới xung quanh, thể hiện ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của chúng đối với con người và xã hội Các nhà xã hội học Việt Nam cũng có quan niệm riêng về giá trị.

Mọi sự vật, dù là vật thể hay tư tưởng, đều có giá trị khi được công nhận và cần thiết cho con người Giá trị chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ thể, phản ánh sự lựa chọn và đánh giá của họ Nghiên cứu về giá trị là việc tìm ra ý nghĩa của các sự vật theo tiêu chuẩn chân, thiện, mỹ, và những giá trị này ảnh hưởng đến tư tưởng, hành vi và tình cảm của con người Giá trị văn hóa giữ vai trò đặc biệt trong văn hóa, là tổng hợp của các giá trị vật chất và tinh thần, và nghiên cứu giá trị văn hóa đồng nghĩa với việc tìm hiểu tính thiết thực và bản sắc văn hóa Giá trị văn hóa được hình thành qua lịch sử của mỗi cộng đồng, hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu và khát vọng về những điều tốt đẹp, từ đó nâng cao bản chất con người và điều tiết sự phát triển xã hội.

Giá trị được phân chia thành hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Giá trị vật chất đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, ở, và đi lại Trong khi đó, giá trị tinh thần thể hiện ý nghĩa của sự vật đối với sự quan tâm và thích thú của con người, bao gồm giá trị nhận thức, chính trị, đạo đức, tâm linh và thẩm mỹ Khi nói đến giá trị văn hóa Phật giáo trong đời sống tinh thần và bản sắc văn hóa Việt Nam, chúng ta đánh giá và tìm hiểu ý nghĩa của tinh thần Phật giáo, những giá trị đã gắn bó với dân tộc qua lịch sử, ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và tình cảm của người Việt, hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ.

Giá tr ị văn hóa Phậ t giáo

Phật giáo ra đời vào thế kỷ VI đến V trước Công Nguyên tại miền Bắc Ấn Độ, trong bối cảnh đạo Bà La Môn chiếm ưu thế và có tư tưởng phân biệt chủng tộc mạnh mẽ Với triết lý nhân sinh và bản thể luận, Phật giáo đề cao giá trị con người, mang lại sự bình đẳng và tự do cho xã hội Ấn Độ cổ đại Được sáng lập bởi Thích Ca Mâu Ni (Sakiyamuni), tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), thuộc dòng dõi vua chúa Sát đế lợi (Khattiya), ông sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 và mất năm 483 trước Công Nguyên tại thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu).

Tất Đạt Đa xuất gia năm 29 tuổi và trải qua sáu năm tu hành khổ hạnh, nhưng nhận ra rằng phương pháp này chỉ làm kiệt sức khỏe và tinh thần Ông cũng thấy rằng cuộc sống xa hoa và vật chất chỉ dẫn đến những ham muốn tầm thường, cản trở sự tiến bộ đạo đức Cuối cùng, Tất Đạt Đa quyết định đến Uruvela và dừng chân tại Bồ đề đạo tràng ở Bihar, Ấn Độ, để chuyên tâm thực hành thiền định dưới cội cây Bồ đề.

Ròng rã suốt 48 ngày đêm nhập thiền, đến đêm cuối cùng sau khi giác ngộ con đường Trung đạo, Ông chứng ngộ và thành tựu quả vị Phật

Phật Thích Ca Mâu Ni đã phát triển học thuyết cứu khổ chúng sanh qua hai phương diện chính: thứ nhất, liên quan đến bản chất cuộc sống con người và lý tưởng mà họ hướng tới thông qua Tứ Diệu Đế; thứ hai, phân tích mối quan hệ giữa con người và vũ trụ qua các khái niệm “Duyên khởi”, “Vô thường” và “Vô ngã” Học thuyết của Tất Đạt Đa được xem là một hệ thống triết lý tích cực, được Lưu Trường Cửu (2009) đánh giá là “lý luận tôn giáo giàu tính triết học nhất” trong cuốn Nền Văn Hóa Phật Giáo Trung Quốc.

Quan điể m Ph ậ t giáo v ề nhân sinh

Học thuyết Tứ Diệu Đế (Catvary arya satyani) là lý luận nhận thức cơ bản của Phật giáo, chỉ ra nguồn gốc và cách thức diệt trừ khổ đau để đạt được hạnh phúc Tứ Diệu Đế bao gồm bốn sự thật: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế Khổ đế mô tả những đau khổ trong cuộc sống, trong khi Tập đế chỉ ra nguyên nhân của khổ đau là Vô minh Diệt đế biểu thị trạng thái Niết bàn, nơi con người chấm dứt mọi khổ đau Cuối cùng, Đạo đế cung cấp con đường và phương pháp để đạt được Niết bàn, một trạng thái tâm hồn không còn tham, sân, si Như trong kinh Tăng Chi, Phật khẳng định rằng Niết bàn là hiện thực ngay trong hiện tại, có thể được hiểu và cảm nhận bởi những người trí thức.

Phật giáo phân chia cảnh giới con người thành mười loại, bao gồm bốn cõi thánh (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật) và sáu cõi phàm (Trời, Người, A tu la, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục) Theo Phật giáo, con người trong sáu cõi phàm nếu tu hành, làm lành, tránh ác và giữ tâm ý thanh tịnh có thể đạt đến hàng tứ thánh và thành Phật Bản chất con người được hiểu qua Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, trong đó Sắc uẩn liên quan đến vật lý, còn Thọ, Tưởng, Hành, Thức thuộc về tâm lý Con người là sự hòa hợp giữa hai phần này, không thể thiếu một trong hai Ngũ Uẩn sinh ra và mất đi, thể hiện sự vô thường, do đó Phật giáo nhấn mạnh quan niệm vô ngã, cho rằng con người là tổng hợp của Ngũ Uẩn biến đổi liên tục, không phải là một thực thể cố định.

Con người có thân ngũ uẩn, và do tham ái cùng vô minh mà sinh ra khổ não, bao gồm 8 loại: sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, cầu mong không được, oán thù gặp gỡ, thương yêu chia lìa, và Ngũ uẩn Ngũ uẩn vốn vô ngã, vô thường, nhưng do vô minh, con người chấp thân sắc uẩn và cảm thọ là của mình, dẫn đến khổ đau khi chúng thay đổi Nguyên nhân của khổ não, hay Tập đế, là do vô minh Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra thuyết Thập Nhị Nhân Duyên như nguồn gốc của khổ: từ vô minh sinh ra hành, từ hành sinh ra thức, và tiếp tục như vậy cho đến khi sinh ra lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não Toàn bộ khổ uẩn sinh ra từ Duyên khởi.

Khi Mười hai nhân duyên sinh khởi, toàn bộ Khổ uẩn xuất hiện, và khi chúng diệt, Khổ uẩn cũng đoạn diệt Đạt được Khổ uẩn đoạn diệt, con người sẽ trải nghiệm Niết bàn, trạng thái an vui không còn sanh tử, chính là Diệt đế Để đạt được Diệt đế, phương pháp tu hành là Bát Chánh Đạo, bao gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định Phật giáo cũng khuyến khích tu hành qua Tam học: Giới, Định, Tuệ và Lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn.

Thiền Định và Trí Tuệ

Học thuyết Phật giáo mang đến một nhân sinh quan sâu sắc, khẳng định rằng con người có khả năng diệt khổ và đạt được an vui Nó chỉ ra những khổ đau, xác định nguyên nhân và tìm phương pháp để đạt được hạnh phúc, thể hiện điểm tích cực trong giáo lý cứu khổ Câu nói "hãy tự biết mình" của Socrates phản ánh tinh thần của giáo lý Tứ Diệu Đế, từ đó Phật giáo hướng đến cái nhìn bản thể của vũ trụ.

Quan điể m Ph ậ t giáo v ề th ế gi ớ i

Phật giáo nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa cuộc sống con người và thế giới khách quan, từ đó hình thành bản thể luận với các học thuyết Duyên khởi, Vô thường và Vô ngã Duyên khởi luận là nền tảng của giáo lý Phật giáo, với nguyên lý cơ bản rằng: “Có cái này thì có cái kia, không có cái này thì không có cái kia; cái này sinh ra thì cái kia sinh ra, cái này diệt thì cái kia diệt.”

GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ …

Ngày đăng: 30/06/2023, 17:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w