Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ Bài giảng Ngữ văn 12 Vợ Nhặt Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ I Mở bài Kim Lân là một cây bút có tài, các sáng tác của ông hướng vào chủ đề chính là[.]
Trang 1Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ
Bài giảng Ngữ văn 12 Vợ Nhặt
Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ
I Mở bài
- Kim Lân là một cây bút có tài, các sáng tác của ông hướng vào chủ đề chính là những người nông dân và cuộc sống ở nông thôn Việt Nam
- Tác phẩm Vợ nhặt: nằm trong tập truyện Con chó xấu xí, là bức tranh chân thực
về nạn đói năm 1945, là sự ngợi ca tình người, tình mẫu tử, khát vọng sống
- Bà cụ Tứ là đại diện cho vẻ đẹp của những người nông dân, người mẹ Việt Nam
II Thân bài
1 Giới thiệu nhân vật
Là một bà mẹ nghèo, già nua (lẩm nhẩm tính toán theo thói quen người già), là dân ngụ cư
Ngoại hình: dáng đi lọng khọng, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán theo thói quen người già
2 Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ
Trang 2- Trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch “bà lão phấp phỏng”
- Bà không hề hay biết chuyện anh con trai đã nhặt một người vợ về, thấy người đàn bà lạ trong nhà, bà rất ngạc nhiên: “quái, sao lại có một người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?” “người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia?”, “sao lại chào mình bằng u?”
- Sau tất cả sự ngạc nhiên, bà đã hiểu ra “biết bao nhiêu cơ sự”, “mắt bà nhoè đi”:
Bà thương, buồn tủi cho con trai phải lấy vợ nhặt, mà trong cảnh đói khát mới lấy được vợ “Chao ôi”, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm làm nồi còn con mình thì ”
Bà cũng thấy hờn tủi cho chính mình, có lỗi với con trai bởi không thể lo được chuyện dựng vợ gả chồng cho con chu đáo
Bà cảm thương cho người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con trai bà, thương cho cả sự ngờ nghệch của đứa con trai: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được ”
- Bà mừng vì con trai đã yên bề gia thất: “các con đã phải duyên u cũng mừng lòng”, “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” chấp nhận đứa con dâu vừa được nhặt về
- Bà cụ Tứ dân lo lắng cho cuộc sống các con sau này: “chúng nó có nuôi nhau sống qua được cơn đói khát này không”, “vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không”
Trang 3- Bà đối xử tốt với nàng dâu mới bằng sự cảm thông, trân trọng:
Ân cần quan tâm con: “Con ngồi đây đỡ mỏi chân”,
Nói về tương lai với niềm lạc quan “biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời”
Bảo ban các con làm ăn: “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có đàn gà cho xem”
- Nhận xét: bà cụ Tứ là người mẹ nghèo hiền từ, chất phác, vị tha, nhân hậu, âm thầm hi sinh vì hạnh phúc của con Bà là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ nghèo Việt Nam
Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ – Bài viết tham khảo
Trang 4(Mẫu 1)
Truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân viết về cuộc sống ngột ngạt, bức bối, với nạn đói khủng khiếp năm 1945 Kim Lân không miêu tả kĩ cái hiện thực tàn khốc của nạn đói lúc bấy giờ mà tập trung thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu sau cái bề ngoài
xơ xác vì đói khát của những người nghèo khổ Trong cảnh ấy, họ vẫn nhen nhúm niềm tin và hi vọng vào tương lai tươi đẹp Trong "Vợ nhặt" xuất hiện ba nhân vật: Tràng, bà cụ Tứ và người vợ nhặt, thì bà cụ Tứ - mẹ anh Tràng đã gây được nhiều thiện cảm đối với người đọc hơn cả bởi tấm lòng nhân hậu, vị tha, đức hi sinh rất đáng trân trọng của bà
Kim Lân đã để cho bà cụ Tứ xuất hiện ở giữa tác phẩm, thế nhưng bà cụ Tứ đã trở thành nhân vật trung tâm của tác phẩm Khi miêu tả bà cụ Tứ, ngòi bút Kim Lân chân thực trong từng hình ảnh và từng chi tiết Bà cụ Tứ hiện lên là một bà mẹ có
số phận bất hạnh vì chồng bà chết sớm, đứa con gái út cũng mất sớm, bà chỉ còn lại một đứa con trai duy nhất làm nghề kéo xe bò và anh ta là người dở hơi Chính
vì vậy, hai mẹ con sống trong một căn nhà tồi tàn, rúm ró ở xóm ngụ cư và người con trai đang có nguy cơ ế vợ Nỗi đau khổ, tủi nhục suốt đời đè nặng lên thân phận đã tạo nên tính cách của bà Chân dung nhân vật bà cụ Tứ được tác giả giới thiệu dần dần Bắt đầu là "tiếng người húng hắng ho", rồi một bà lão với cái dáng
"lọng khọng" từ đầu ngõ "vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng" Tính từ
"lọng khọng" rất dân dã và giàu chất tạo hình giúp người đọc hình dung ra cái dáng gầy gò, xiêu vẹo của bà mẹ già bởi gánh nặng cuộc đời, bởi cái đói nghèo Và chính cái nghèo khó cũng làm trên khuôn mặt bà hiện lên một nét "bủng beo u ám" Qua miêu tả ngoại hình bà cụ Tứ, mà chúng ta thấy được, đó là người mẹ có cuộc đời khổ cực, bất hạnh
Chiều hôm trước, bà cụ Tứ mang một tâm trạng ngạc nhiên khi từ ngoài ngõ đi vào, thấy thái độ khác thường của Tràng "reo lên như một đứa trẻ" và "lật đật chạy
ra đón mình" thì bà lão theo con vào trong nhà với tâm trạng "phấp phỏng" Đó là biểu hiện của sự lo lắng, của sự hồi hộp bởi bà không biết có sự gì sẽ đợi mình ở trong nhà Khi đến giữa sân, nhìn thấy người đàn bà thì bà cụ ngạc nhiên "đứng sững lại" - một biểu hiện nữa của sự ngạc nhiên và đó là "sự ngạc nhiên hơn" Điều
Trang 5đó chứng tỏ sự ngạc nhiên trong bà càng lúc càng nhiều, sự ngạc nhiên sau lớn hơn
sự ngạc nhiên trước Tác giả đã dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng băn khoăn, thắc mắc của bà cụ lúc này Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu óc già nua của bà: "Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia ? Sao lại chào mình bằng u ? Không phải con cái Đục mà Ai thế nhỉ ?" Một loạt các câu hỏi ấy chính là sự lục tìm trong trí óc của mình để tìm câu trả lời cho thỏa đáng Nhưng bà cụ vẫn chưa tìm thấy câu trả lời, vì thế mà bà đổ lỗi cho cặp mắt của mình, không tin vào mắt mình "bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn
ra thì phải" Bà lão "nhìn kĩ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào" nên bà quay sang dò hỏi con trai với sự ngạc nhiên không hiểu của chính mình Khi người đàn bà trông thấy bà cụ về, cất tiếng chào "U đã về ạ", thì kể cả tiếng chào ấy - một lời chào thân mật cũng không làm bà hiểu ra Bà vẫn băn khoăn, phân vân đoán định và một câu hỏi nữa đặt ra: "Ô hay, thế là thế nào nhỉ ?" rồi bà lão "băn khoăn ngồi xuống giường" Mãi đến khi Tràng vừa giới thiệu, vừa giải thích "đây là nhà tôi" rồi "chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau Chẳng qua nó cũng là cái số cả" thì bà lão mới bắt đầu hiểu ra Khi hiểu ra thì bà lão "cúi đầu nín lặng" Cái tư thế "cúi đầu nín lặng" của bà cụ Tứ hàm chứa biết bao suy nghĩ, tâm
sự, nỗi niềm và những tâm sự, nỗi niềm ấy khó có thể nói thành lời Dường như qua tư thế đó, người đọc dần dần nhận ra nội tâm phong phú bên trong cái vẻ tưởng chừng như già nua, lẩm cẩm của bà Trong bà cùng một lúc xuất hiện cả con người
lí trí và con người tình cảm Con người lí trí không chỉ giúp bà hiểu ra là con trai
bà đã có vợ mà nó còn giúp cho bà hiểu ra những khó khăn, đói nghèo mà Tràng phải chịu đựng; rồi lại giúp bà hiểu ra chính số phận bất hạnh của đời bà khiến cho con bà sống trong hoàn cảnh trớ trêu như vậy Còn con người tình cảm của bà tỏ ra rất "xót thương cho số kiếp đứa con mình" Sự ai oán, sự xót thương đó vừa hướng tới chính mình, vừa hướng tới con bà, vừa thể hiện nỗi đau của bản thân, vừa mang tình thương tới người con trai Bởi vậy cho nên bao cảm xúc của bà lão vừa tội nghiệp, lại vừa nhân hậu biết bao !
Cảm xúc trong bà càng lúc càng cụ thể hữu hình: "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này Còn mình thì " Đọc câu văn này, chúng ta có cảm giác như trái tim người mẹ khốn khổ đang rung lên đau đớn, xót xa Cảm xúc của người mẹ hàm chứa sự so sánh giữa người ta với con mình trong hoàn cảnh dựng vợ gả chồng cho con Lối so sánh ấy làm nổi bật không phải chỉ sự thiếu thốn, khó khăn trong gia
Trang 6đình bà mà dường như còn hàm chứa sự trách móc của bà với chính bản thân Một
sự ai oán cho bản thân bà ! Đó cũng chính là sự biểu hiện của sự day dứt trong lòng bà Nhưng tất cả đều là biểu hiện của lòng nhân ái à lòng thương con rất tha thiết
Cảm xúc xót thương còn được thể hiện qua sự lo lắng của bà hướng tới các con:
"Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không" Vừa tủi phận mình, vừa thương con khiến cho "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt" Bà lão kìm nén xúc động, cố nuốt những giọt nước mắt mặn đắng vào cõi lòng vốn đã chất chứa đầy đau khổ của một đời tủi cực Những giọt nước mắt vẫn cứ lặng lẽ rỉ ra từ đôi mắt đục mờ của người mẹ già tội nghiệp Đoạn văn không chỉ là những câu trần thuật đơn thuần mà mỗi câu văn đều rưng rức cảm xúc xót thương của tác giả
Diễn biến câu chuyện đã lên tới đỉnh điểm Cái sắc sảo, tinh tế trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân được thể hiện khá đậm nét Cả ba nhân vật đều có chung một tâm trạng căng thẳng Tràng và người "vợ nhặt" chờ đợi người
mẹ già nua lên tiếng Bà cụ Tứ hiểu ra câu chuyện thì sự đau buồn của bà khiến cho bà lão "khẽ thở dài" vì bà muốn giấu đi nỗi buồn khổ và sự lo lắng của chính mình Bà lão tạm thời bứt ra khỏi tâm trạng triền miên của cảm xúc suy tư để
hướng về người vợ nhặt, để "đăm đăm nhìn người đàn bà" khi thị "cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt" Bà lão không chỉ nhìn người con dâu bằng thị giác
mà còn hướng tới con dâu bằng cả tấm lòng Vì thế bà lão nghĩ: "Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có
vợ được " Trong suy nghĩ đó của người mẹ hướng tới hai đối tượng "người ta" và
"con mình" "Người ta" trở thành người mang ơn và "con mình" là người chịu ơn Điều đó đã chứng tỏ người mẹ già không hề coi thường, khinh bỉ người vợ nhặt,
mà còn cảm thông, trân trọng, mặc dù đó là người đàn bà rách rưới, nghèo đói và không gia đình Từ tâm tình dành cho người vợ nhặt, bà lão lại nghĩ về bổn phận người làm mẹ, tiếp tục day dứt "chẳng lo lắng được cho con " Bà đã phó thác, trông chờ số phận vào sự may rủi: "May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết làm thế nào mà lo cho hết được" Hoàn cảnh thật bi đáp khốn cùng ! Mặc dù lo lắng, mặc dù đau buồn nhưng dường như người mẹ đã chấp nhận "nàng dâu mới" tự lúc nào Sau khi "khẽ dặng hắng một tiếng", bà lão "nhẹ nhàng" nói
Trang 7với "nàng dâu mới": "Ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng " Một sự chấp nhận tự nguyện của người mẹ trong tâm trạng vui mừng Hai tiếng "mừng lòng" mà bà lão nói với các con thật chất phác, chân tình biết bao ! Lời nói mộc mạc ấy đã đem lại sự xúc động và yên tâm cho người vợ nhặt đáng thương kia Sự chấp nhận của bà cụ Tứ khiến anh Tràng "thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi"
Bà mẹ nghèo khổ, nhân hậu đã thấu hiểu cảnh ngộ và tâm trạng của người phụ nữ
xa lạ bỗng dưng trở thành "con dâu" của mình Ngôn ngữ độc thoại nội tâm ở đoạn này một lần nữa diễn tả tinh tế tâm trạng phức tạp của nhân vật bà cụ Tứ Cảm xúc như những đợt sóng cứ cuộn lên trong lòng người mẹ, khiến người đọc xót xa Chao ôi, người mẹ thật tội nghiệp ! Tình thương con, ý thức trách nhiệm của
người mẹ khiến cho bà phải lo cưới vợ cho con bằng tất cả khả năng, dẫu chỉ là lời nói
Khi đã nhận "nàng dâu mới" thì bà cụ Tứ tiếp tục tâm sự, từ tốn dặn dò các con mình: "Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi
ra may mà ông giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ?
Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau" Trong lời tâm sự của bà, có lời thú nhận rất chân thật là "nhà ta thì nghèo" Từ cái lí do ấy thì bà mẹ đã nhắc nhở các con
"Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn" Tuy nhắc nhở vậy, bà còn động viên các con mình bằng một câu nói rất quen thuộc trong dân gian: "Ai giàu ba họ,
ai khó ba đời ?" Lời động viên đó thể hiện niềm lạc quan của người mẹ nghèo trong hoàn cảnh khốn cùng Hơn nữa, bà lão còn gieo cho các con niềm tin vào tương lai Quả là một lời động viên đáng quý, giúp cho các con bà có thể vượt qua giai đoạn khó khăn này
Tâm trạng của bà cụ Tứ lẫn lộn buồn vui, lo lắng Trong lòng bà cụ vẫn luôn ám ảnh bởi cái nghèo, cái khổ khiến cho bà lão "đăm đăm nhìn ra ngoài Bóng tối trùm lấy hai con mắt Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối Mùi đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt Bà lão thở nhẹ
ra một hơi dài" Trong lòng bà còn ám ảnh bởi cả sự bất hạnh về thân phận của bà Bởi vậy, trong kí ức của bà lão "nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình" Tất cả đã hiện về như một cuốn
Trang 8phim dài bất tận, như một tấn bi kịch của cuộc đời bà Từ những cảm xúc đó, tâm trạng lo lắng lại một lần nữa hiện về trong bà, bà lo cho các con: "Vợ chồng chúng
nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không? " Mặc dù lo lắng nhưng bà vẫn cố gắng gần gũi với người con dâu bằng lời mời thân mật: "Con ngồi xuống đây Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân" Lời mời ấy đã rút ngắn khoảng cách giữa người mẹ và "con dâu" và cũng đã an ủi người "vợ nhặt" ít nhiều Lời mời của người mẹ thể hiện tình thương, sự chấp nhận "nàng dâu mới" của bà Nổi bật hơn cả vẫn là tấm lòng thương xót của bà cụ Tứ với người con dâu mới: "Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót Nó bây giờ đã là con dâu trong nhà rồi" Bà lão tiếp tục tâm sự với người vợ nhặt bằng những lời thân mật: "Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá " Trong lời nói của
bà cụ chứng tỏ bà là người rất hiểu đời và hiểu người Bà hiểu rằng khi cưới xin cho con thì phải có vài ba mâm cỗ trước trình tổ tiên, ông bà, sau mời làng, mời xóm Bà cũng hiểu được lòng người, hiểu được sự bao dung của mọi người, họ sẽ thông cảm cho cảnh nghèo của bà mà không chấp nhặt, tính toán Bà cũng hiểu ra đạo lí tạo nên gắn kết vợ chồng chính là sự hòa thuận Nói đến đây thì bà cụ
"nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng" Những giọt nước mắt của bà cụ Tứ chất chứa bao tình thương hướng tới các con Giọt nước mắt của bà là biểu hiện của tấm lòng bao dung, nhân hậu của người mẹ nghèo Nó rất đáng quý hơn bao những vật chất tầm thường mà bà dành cho các con
Tâm trạng của bà cụ Tứ vào chiều hôm trước là sự đan xen cảm xúc lo lắng, vui mừng, xót xa, buồn tủi, thế nhưng vào buổi sáng của ngày hôm sau, thì tâm trạng
bà luôn tràn ngập một niềm vui Niềm vui ấy được thể hiện trên khuôn mặt của người mẹ: "bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cai mặt bủng beo u ám của
bà rạng rỡ hẳn lên" Niềm vui còn được thể hiện qua hành động của bà: "xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa" với ý nghĩ "thu xếp của nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn" Bà không vui sao được khi con trai bà đã thành gia thất Bà cũng vơi đi một mối lo âu bấy lâu cứ canh cánh bên lòng và trong bữa ăn đầu tiên của ba mẹ con, dẫu chỉ có "rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo" nhưng bà "toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này" Câu chuyện người mẹ già kể cho các con vào bữa cơm đầu tiên sau ngày cưới, mặc dù đó vẫn chỉ là chuyện làm ăn, chuyện gia cảnh
nhưng trong câu chuyện của bà không còn có quá khứ mà chỉ có tương lai Câu
Trang 9chuyện của bà thật giản dị ! Đó là chuyện mua gà, nuôi gà, có đàn gà con mà người
mẹ nói với Tràng: "Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy
mà có ngay đàn gà con mà xem " Chính câu chuyện vui của bà mẹ đã làm cho cuộc sống trở nên vui vẻ và đầm ấm hơn rất nhiều Tuy vậy, trong bữa ăn càng lúc càng trở nên nghèo nàn khiến cho "câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn" Thế nhưng, bà lão lại "lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút" và bà lão khen "chè khoán đây, ngon đáo để cơ" Dường như bà lão
cố xua đi cái không khí ảm đạm, cố gắng quên đi tình cảnh khốn khổ bằng thái độ tươi tỉnh Bên trong cái vẻ tươi tỉnh ấy là tấm lòng người mẹ đang thổn thức lo âu
Bà lão "đãi" nàng dâu mới món ăn đặc biệt gọi là "cháo khoán", nấu bằng cám, khen "ngon đáo để" và so sánh "xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy" Qua
đó, bà động viên các con, để các con bà có thêm sức mạnh tinh thần để vượt qua
"tao đoạn" ngặt nghèo, khó khăn này Chi tiết này làm cho chúng ta cũng phải cảm động rơi lệ bởi tình thương, tấm chân tình đáng quý của bà Kết lại đoạn văn là giọt nước mắt của người mẹ nhưng bà lão "ngoảnh vội ra ngoài Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc"
Cái tài của Kim Lân là cứ nhẹ nhàng mà luồn lách ngòi bút động đến nơi sâu thẳm của tâm hồn Ông đã diễn tả thật sâu sắc và tinh tế tâm lí của bà cụ Tứ, một người
mẹ nghèo khổ mà hiểu biết, yêu thương con hết lòng và yêu thương cả những mảnh đời oái oăm, tội nghiệp bằng một tấm lòng nhân ái sâu xa Bà đã cố gắng xua
đi cái ám ảnh đen tối đáng sợ của thực tại và nhen núm niềm tin, niềm vui cho các con Trong cái thân hình khẳng khiu, tàn tạ vì đói khát ấy vẫn nung nấu một ý chí sống mãnh liệt
Trong văn học Việt Nam, ngoài tình phụ tử như của Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao thì tình mẫu tử trong đoạn trích "Trong lòng mẹ" của nhà văn Nguyên Hồng thật đáng chân trọng Người mẹ vì phải thoát khỏi cổ tục nghiệt ngã mà tha hương cầu thực nhưng vẫn yêu thương, hi sinh vì con mình Hay người đàn bà hàng chài không tên trong tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu là người mẹ phải chịu sự hành hạ, đánh đập dã man của người chồng nhưng lại giàu tình thương, lòng bao dung, vị tha, giàu đức hi sinh, luôn
Trang 10sống vì con, hi sinh cho hạnh phúc của con Và bà cụ Tứ cũng là một người mẹ nhân hậu, giàu đức hi sinh, hết lòng yêu thương con
Qua truyện ngắn "Vợ nhặt", nhà văn Kim Lân đã dựng lên hình ảnh chân thực và cảm động về một người mẹ nghèo khổ hết lòng vì con Ngòi bút tinh tế, sắc sảo của tác giả đi sâu phân tích diễn biến tâm lí phức tạp của bà cụ Tứ và thể hiện qua từng lời nói, ánh mắt, trong suy nghĩ, hành động và sự lo xa cho tương lai các con Phải là người có vốn sống phong phú, thấu hiểu và thông cảm, yêu mến và chân trọng những người nghèo khổ thì Kim Lân mới có thể diễn tả một cách chân thực
và tài tình đến vậy
Truyện ngắn "Vợ nhặt" không đơn thuần là những trang văn mà là những trang đời thấm đẫm nước mắt tủi cực, xót xa, phấp phỏng nỗi lo cho hiện tại và le lói niềm tin vào tương lai của bà mẹ nghèo Hình ảnh bà cụ Tứ khiến người đọc rung động sâu sắc trước tấm chân tình tha thiết của người mẹ già Người mẹ già ấy chính là ánh sáng le lói trong bối cảnh bi thảm của những kiếp người nghèo khổ Nhân vật
bà cụ Tứ đã làm cho giá trị nhân đạo của tác phẩm trở nên thấm thía, cảm động hơn rất nhiều Bà cụ Tứ đã đọng lại trong lòng người đọc bao suy nghĩ và rung động sâu xa
1945 Ở nhân vật này, Kim Lân không chú ý vào hành động mà đi sâu vào khai
Trang 11thác tâm trạng nhân vật, qua đó khẳng định tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của ông
Diện mạo của bà cụ Tứ chỉ được tác giả phác họa bằng vài chi tiết “dáng đi lọng khọng, đôi mắt ghèn dử, vừa đi vừa húng hắng ho” Nhưng chừng ấy cũng đã đủ để cho người đọc hình dung về một bà mẹ nhân dân lam lũ, vất vả đã bị cái đói cái nghèo đeo bám suốt cả cuộc đời
Nhưng ngòi bút tập trung đi sâu miêu tả tâm lí bà cụ Tứ, đặc biệt là ở hai thời
điểm: trong buổi tối cô vợ nhặt về nhà và buổi sáng hôm sau Qua hai thời điểm đó
đã cho thấy tài năng miêu tả tâm lí bậc thầy của Kim Lân
Khi bà cụ Tứ nhìn thấy cô con dâu, bà ngạc nhiên đến mức ngỡ ngàng vì chưa bao giờ bà thấy con trai bà mong ngóng bà về đến vậy Sự ngạc nhiên tạo nên tâm lí phấp phỏng khi bà theo anh cu Tràng vào nhà và thấy một người đàn bà lạ ngồi trong nhà Đến lúc này sự ngạc nhiên của bà đã lên đến đỉnh điểm, bà tự hỏi:
“Quái, sao lại có người đàn bà ngồi trong ý nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u” Sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến mức bà không tin nổi vào mắt mình, phải dụi mắt để cho đỡ nhoèn
Sau khi được anh con trai giải thích, tâm trạng bà ngổn ngang, rối bời Bằng trái tim yêu thương của người mẹ, lòng bà dâng lên tình yêu thương con sâu sắc Bởi
bà hiểu người ta chỉ lấy vợ lấy chồng khi cuộc sống yên ổn, nhưng con bà lại lấy
vợ vào thời điểm cái đói diễn ra ác liệt nhất Cùng với đó bà nghĩ tủi cho phận người mẹ nghèo khi không làm tròn trách nhiệm lo lắng cho hạnh phúc của con Tất cả những nỗi lòng ấy được dồn trong cái cúi đầu nín lặng Sau tình yêu thương
bà chuyển sang xót xa, lo lắng “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau vượt qua cơn đói khát này được không?” Nạn đói đang hoành hành, những lo lắng của bà là hoàn toàn hợp lí Từ lòng yêu thương, lo lắng cho con, tấm lòng nhân hậu của người mẹ còn chuyển sang người vợ nhặt Dù Tràng không giới thiệu chi tiết, tỉ mỉ nhưng với kinh nghiệm sống của mình và hiểu đám cưới vội vã của người con dâu
Bà nhìn cô với ánh mắt đầy cảm thông, yêu thương: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có được vợ”
Trang 12Như vậy bà không chỉ là hiện thân của tình mẫu tử thiêng liêng mà còn là hiện thân của tấm lòng bao dung, vị tha, sẵn sàng giúp đỡ những người có số phận bất hạnh,
éo le
Dù trong lòng ngập tràn nỗi xót xa, nhưng bà vẫn luôn nói những điều vui vẻ, hạnh phúc với người con dâu mới: “ừ, thôi thì các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng” Câu nói vừa xóa đi cái ngượng ngùng cho người con dâu vừa là sự chào đón đầy ấm áp, nhân từ bà dành cho thành viên mới của gia đình Dù miệng nói ra những điều phấn khởi, vui vẻ nhưng ám ảnh về cái đói, cái chết vẫn là quá lớn Bởi vậy, khi chìm vào thế giới của riêng mình bà vẫn không khỏi lo lắng, xót xa, và không nén nổi thành dòng nước mắt chảy ròng ròng
Trong buổi sáng hôm sau, Kim Lân tiếp tục đi sâu khai thác tâm lí bà cụ Tứ, đặc biệt nhấn mạnh vào niềm tin, khát vọng tương lai Cùng với sự thay đổi của Tràng
và cô vợ nhặt, bà cụ Tứ cũng có sự thay đổi rõ ràng Tràng đã cảm nhận thấy người
mẹ của mình có dáng vẻ khác hẳn mọi khi, không phải sự nhếch nhác, khổ sở mà thay vào đó là dáng điệu nhẹ nhõm, tươi tỉnh Bà dậy sớm cùng con dâu quét dọn nhà cửa Những hành động tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện sự vun đắp, chăm lo của người mẹ cho hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ
Để tạo niềm tin và hi vọng vào tương lai cho vợ chồng Tràng, trong bữa cơm ngày đói bà lão toàn nói những chuyện sung sướng sau này Sự tính toán của bà về việc mua lấy đôi gà để ngoảnh đi ngoảnh lại đã có đàn gà, khiến cho đôi vợ chồng có niềm tin vào tương lai Nhưng dù dùng những câu chuyện vui, lạc quan thì bà lão vẫn không thay đổi được hiện thực là nồi cháo kia chỉ đủ cho mỗi người ăn hai lưng là hết Và để vượt qua cái đói, bữa cơm đón cô dâu mới có thêm cả nồi cháo cám Bưng nồi cháo cám ra, phản ứng tâm lí của bà vô cùng đáng thương, bà lật đật, lễ mễ, khuấy khuấy cùng với giọng nói đầy phấn khởi, để giấu bớt đi phần khắc nghiệt của hiện thực là bát cháo cám nghẹn ứ ở cổ Những hành động đó của
bà thật cảm động và đáng trân trọng
Không phải ngẫu nhiên mà trong ba nhân vật, Kim Lân lại để một bà cụ gần đất xa trời nói về tương lai, nhưng điều tốt đẹp, sau đó còn ẩn chứa thông điệp: Dù thế
Trang 13nào cũng phải giữ lấy niềm tin và hi vọng Đồng thời cũng là sự ngợi ca của tác giả trước sức sống khỏe khoắn, mãnh liệt của tâm hồn Việt Người mẹ nghèo nhưng tính cách bao dung, nhân từ đã gieo mầm sự sống, hạnh phúc lứa đôi Có thể coi bà
cụ Tứ là điểm kết tinh của tác phẩm, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc
Bằng nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy, Kim Lân đã lách sâu ngòi bút của mình để thấy được vẻ đẹp tâm hồn, tấm lòng bao dung nhân hậu của bà cụ Tứ với đôi vợ chồng trẻ Bà cụ Tứ chính là hình ảnh đẹp đẽ nhất, đại diện tiêu biểu cho hàng triệu bà mẹ Việt Nam Đồng thời qua nhân vật này cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Kim Lân
“nhặt” vợ
Bà cụ Tứ là người mẹ nghèo khổ thương con như muôn ngàn người mẹ Viện Nam khác Nhưng người mẹ ấy được đặt trong một tình cảnh hết sức éo le Đó là việc Tràng, con trai của bà, giữa lúc nạn đói hoành hành lại lấy vợ Nhưng dường như chính nghịch cảnh này càng làm nổi rõ ánh sáng tâm hồn ở người mẹ đáng thương
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện từ giữa truyện, lúc anh Tràng đưa vợ về, song từ đấy, dù rất ít nói, bà vẫn là người thu hút nhiêu nhat tâm trí của người đọc
Trang 14Bởi trong lòng người mẹ ấy, cảm trăm mối tơ vò, chuyện nay, chuyện xưa đan xen lẫn lộn, niềm vui, nỗi buồn, sự cay đắng tủi cực lẫn xót thương vây lấy
Như thường lệ, buổi chiều ấy trời sẩm tối, bà cụ Tứ về nhà Chưa thấy người, nhưng anh Tràng biết là mẹ, bởi ngoài đầu ngõ có tiếng người húng hắng ho Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào Tính bà vẫn thế, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng Nhưng hôm nay khác, thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ
và gọi với vào trong nhà: U đã về đấy! Anh con trai lật đật chạy ra đón mẹ từ ngoài cổng và trách sao bà về muộn Ồ, hẳn có chuyện gì rồi, mọi bữa anh cu Tràng đâu
có thế Mà còn gọi với vào trong nữa Trong nhà nào có ai Lâu nay, khi ông lão và đứa con gái út lần lượt ra đi, nhà chỉ còn mỗi hai mẹ con Bà nhấp nháy hai con mắt nhìn Tràng, chậm hỏi: Có việc gì thế vậy? Anh cu Tràng chưa chịu nói, giục
bà vào nhà
Bà cụ Tứ phấp phỏng bước vào theo con vào nhà Phấp phỏng vì linh tính cho bà biết trong nhà hẳn xảy ra chuyện gì Mà quả đúng như vậy Mới đến giữa sân, bà đứng sững lại và càng ngạc nhiên hơn Trong nhà bà có người, lại là đàn bà Người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Bà chưa gặp, bà không quen bao giờ Người ấy lại đưng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ? Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu bà lão Hay bà già rồi, trông gà hoá cuốc Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải Không phải bà trông gà hoá cuốc, không phải mắt bà nhoèn Đúng là có người rồi
Bà lão nhìn kỹ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu
Cái anh cu Tràng hôm nay thật lạ Tự dưng khách sáo với mẹ, cứ buộc bà lão phải ngồi lên giường lên chiếc ghế chĩnh chệnh rồi mới nói Bà lập cập bước vào Cái người đàn bà lạ ấy tưởng mẹ Tràng già cả, điếc lác lên cất tiếng chào đến lần thứ hai Hoá ra, bà không điếc, bà mải băn khoăn vì người đàn bà ấy chào bà bằng u
Bà vẫn chưa hiểu vì sao lại thế Đến khi anh Tràng nói: Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi u ạ! Thì bà hiểu rất nhanh Đột ngột quá! Bà cúi đầu nín lặng Bà không chỉ hiểu chừng ấy Trong lòng người mẹ nghèo ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của đứa con mình Chao ôi, người ta dựng
vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái
Trang 15mở mặt sau này Còn con mình thì… Chỉ nghĩ đó, bà đã thấy biết bao lo lắng, xót thương Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?
Vợ chồng anh cu Tràng nào biết nỗi lòng bà cụ Tứ Trông cảnh của chúng, bà khẽ thở dài rồi nhìn đăm đăm vào người đàn bà mà từ giờ phút này đã là con dâu Bà nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có được vợ… Nghĩ thế, bà càng cay đắng cho thân phận của mình Bà là mẹ, bà đã chẳng lo được gì cho con… May ra mà qua được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà la cho hết được? Trong cái khổ, có cái may Bà khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”: một khi các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, bà cũng mừng lòng
Bà cụ Tứ còn dặn dò đôi vợ chồng trẻ: Nhà ta nghèo liệu mà bảo nhau làm ăn Khi anh Tràng bước dài ra sân, bà động viên nàng dâu: Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Rồi ra thì con cái chúng mày về sau
Nói với con dâu là thế, nhưng lòng bà cụ Tứ thật ngổn ngang Bà đăm đăm nhìn ra sông Bóng tối trùm lấy hai con mắt Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào két lẹt Bà lão thở dài ra một hơi Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình
Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia
không? Những câu hỏi lại bám lấy trong đầu bà Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy xót thương Bà nói với con dâu, lẽ ra đám cưới phải làm được dăm ba mâm, nhưng nhà mình nghèo quá Chắc cuũngchả ai người ta chấp nhặt, chỉ mong vợ chồng hoà thuận là bà mừng Nhưng lúc đói to thế này mà chúng mày lấy nhau thì
bà thương quá
Ôi biết bao là buồn, vui, cay đắng, tủi cực cùng sự lo lắng, thương xót đang tràn ngập trong lòng người mẹ nghèo khổ Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa Bà không khóc mà nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng Nhưng bà đâu muốn để cho
Trang 16đôi vợ chồng son biết bà đang buồn Khi anh cụ Tràng đánh liềm đốt đèn, bà lão vội vàng lau nước mắt ngẩng lên Bà chủ động nói vui: Có đèn à? Ừ thắp lên một tí cho sáng sủa… Dầu bây giờ đắt gớm lên mà ạ Nói thế, rồi bà lão đứng dậy uể oải sang giường bên kia nằm Bà đem cả cái tâm trạng ngổn ngang sang chiếc giường
cũ kỹ!
Anh cu Tràng khi mặt trời lên bằng con sào, mới trở dậy, người êm ái lửng lơ như người từ trong mơ đi ra Nàng dâu mới có vẻ “biết điều”, dậy sớm hơn, quét lại sân Chỉ có bà lão, chắc đêm qua không ngủ được Đầu hôm, bà nghĩ tới việc kiếm lấy ít nứa về đan cái phên ngăn căn nhà ra Chưa biết chừng nửa khuya bà đã dậy Khi anh cu Tràng thức dậy, xung quanh đã thay đổi mới mẻ, khác lạ Nhà cửa, sân vườn đều được quét sạch sẽ gọn gàng… Hai cái ang nước vẫn để khô ong ở dưới góc ổi đã kín nước đầy ăm ắp Đống rác mùn tung hoàn ngay lối đi đã hót sạch Bà
cụ Tứ đang lúi húi giẫy những bụi cỏ dại mọc nham nhở ngoài vườn
Thấy con trai đã dậy, bà cụ Tứ vội giục nàng dâu đi dọn cơm ăn chẳng muộn Sáng nay, lòng bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của và rạng rỡ hẳn lên Bà lão xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa Bà và cả đôi vợ
chồng Tràng, hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ,
nề nếp thì cuộc đời có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn
Bữa cơm sáng hôm nay cũng là bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Nhưng có điều lạ là hôm nay, bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này Bà bàn tính với nàng dâu khi nào có tiền mua lấy đôi gà, rồi ngoảnh đi ngoảnh lại chẳng mấy chốc có một đàn
gà cho mà xem Vì thế chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hoà hợp đến thế Khi niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng nửa bát đã hết nhẵn, bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút Đấy
là nồi cám, mỗi khi đưa vào miệng, đắng chát và nghẹn bứ trong cổ, nhưng bà lão cho mọi người mà miệng tươi cười, đon đả nói, gọi là “chè khoán” và khen ngon đáo để Bà không muốn bữa ăn đang vui bỗng ngừng lại Thực ra, lòng đau lắm Cả một nỗi tủi hờn đang len vào tâm trí bà
Trang 17Khi ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã khiến đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợt hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen, bà cụ Tú giải thích cho nàng dâu biết đấy là tiếng trống thúc giục thuế Đói khát như thế này, vẫn phải đóng thuế, làm sao mà sống qua ngày được Bà ngoảnh vội ra ngoài vì không dám để con dâu thấy bà khóc Mà đó lại là những giọt nứoc mắt khóc bởi cái tương lai mờ mịt, xanh xám của các con bà!
Bằng nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy, Kim Lân đã lách sâu ngòi bút của mình để thấy được vẻ đẹp tâm hồn, tấm lòng bao dung nhân hậu của bà cụ Tứ với đôi vợ chồng trẻ Bà cụ Tứ chính là hình ảnh đẹp đẽ nhất, đại diện tiêu biểu cho hàng triệu bà mẹ Việt Nam Đồng thời qua nhân vật này cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Kim Lân
Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ – Bài viết tham khảo
(Mẫu 4)
Không phải là nhân vật chính, lại xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm nhưng bà cụ
Tứ - mẹ của anh cu Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân đã góp phần làm cho tác phẩm sâu sắc hơn Với tình huống anh cu Tràng “nhặt” được vợ trong những ngày đói deo dắt, Kim Lân muốn khắc hoạ số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám, thể hiện sự cảm thông, sẻ chia trước khát khao hạnh phúc của những số phận khốn cùng ấy
Sau tình huống nhặt được vợ, anh cu Tràng, chị vợ và người mẹ đường như trở thành người khác Và bà cụ Tứ người mẹ nghèo đã bộc lộ tấm lòng sâu sắc của một người mẹ suốt đời những buồn đau, lo lắng đã đè nặng lên cuộc đời bà Bởi thế nhân vật phụ này đã tạo lên một phần không nhỏ giá trị nhân văn của tác phẩm
Trang 18Chân thật trong hình ảnh và chân thật trong từng chi tiết, Kim Lân dường như không kể mà dắt ta đến với bà cụ Tứ Bắt đầu là cái dáng: “lọng khọng đi vào ngõ vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng” Có biết bao nhiêu là thân thương, trìu mến Ta gặp lại dáng hình gầy gầy, còng còng vì sương gió cuộc đời của người đàn bà quen thuộc Từ “lọng khọng” đầy sáng tạo và giàu sức tạo hình Cái lẩm cẩm, chậm chạp theo nổi “phấp phỏng” trước sự đón tiếp khác thường của ông
“con giai”, bà bước vào trong nhà Khi thấy một người đàn bà đứng ngay ở đầu giường con mình, bà hết sức ngạc nhiên
Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu óc già nua của bà “Người đàn bà nào lại đứng ở đầu giường thằng con mình thế kia? Không phải cái đục mà Ai ihế nhỉ ? Sao lại chào mình bằng u ?” Phải, bà làm sao ngờ được giữa năm đói, nhà lại nghèo mà con bà lại dẫn không về một người vợ! Băn khoãn mãi khi hiểu ra, “bà lão cúi đầu nín lặng”, vừa “ai oán vừa sót thương cho số kiếp con mình” Thương con để rồi tủi phận mình “Chao ôi, người ta đựng vợ gả chồng cho con là trong lúc nhà ăn nên làm nổi, còn mình thì ” Đọc những dòng này, ta có cảm giác như trái tim người mẹ trong cái thân hình còm cõi đang rung lên đau đớn, xót xa Việc trọng đại trong đời con, lẽ ra “làm được dăm ba mâm cơm mới phải”, nhưng "nhà mình nghèo quá”, nên điều đó chỉ nằm trong suy nghĩ, không thực hiện được
Bà cụ thương con, tủi phận rồi lại thương dâu “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được …” Vừa mừng tủi, vừa lo lắng, bà lo nỗi lo rất chính đáng của con người đã trải qua cuộc đời cực nhọc, đớn đau: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khái này không?” Nén nỗi lo trong lòng, bà cụ động viên con tin tưởng vào tương lại “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi may ra ông giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? " Bà nói với con dâu bằng giọng của người từng trải - vừa lo lắng, vừa thương xót; “ Năm nay thì đói
to đây Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá ” “ bà nghẹn lời không nói được nữa ” Nhưng ta hiểu, người con dâu bà lúc này rất hiểu bà, thấy thân thiết gắn bó với bà, thực sự coi bà là mẹ Và nghĩa là “ đám cưới ” đã xong
Trang 19Chẳng lễ nghi, không đưa đón, tấm lòng chân thật, nhân hậu của người mẹ nghèo
đã thay thế tất cả Đến đây ta cứ liên tưởng tới mẹ chồng Dần trong “một đám cưới”(Nam Cao) Người mẹ ấy “mở tài ăn nói”, nói rất nhiều, rất “ngọt ngào” để khoả lấp sự “không có nhiều liền”, làm “mát lòng mát ruột” cha Dần Chao ôi, những người mẹ nông dân nghèo trước cách mạng là thế ư? Tình yêu thương con,
ý thức trách nhiệm của người làm mẹ khiến họ cưới vợ cho con bằng tất cả những khả năng mình có thể, dẫu chỉ là lời nói Nhưng nếu mẹ chồng Dần nói rất nhiều thì thì bà cụ Tứ lúc này chỉ nói rất ít Bà khóc “Nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng” Những giọt nước mắt ấy đã nói lên tất cả tấm lòng chân thật của bà Bà dành lời cho bữa cơm mừng con dâu ngày hôm sau - “toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này”, bà say sưa với các con những dự định cho tương lai
Từ sự ngỡ ngàng đến thoáng im lặng, “hiểu ra biết bao cơ sự”, từ giọt nước mắt tủi phận nghèo, thương con dâu đến nổi lo lắng “không biết chúng có nuôi nhau sống nổi qua ihì đói không” đến niềm vui mừng, niềm tin vào tương lai , tất cả đan xen, hiển hiện dưới ngòi bút Kim Lân Tác giả đã đi sâu phân tích diễn biến tâm lí tinh
tế của bà cụ Tứ, thể hiện một cách tài tình trong từng suy nghĩ, từng hành động, lời nói Lỗi lo xa cho tương lai, lối nhìn người mà ngẫm đến mình, tủi phận mình hay duy tâm của người già: " chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết làm thế nào mà lo cho hết được? ”tưởng đọc lên ta không thể không chắc chắn đó là lời của bà cụ Tứ Quả là không thể lẫn đi đâu được cách nói, cách nghĩ vừa lẫn thẩn, vừa hồn hậu của người mẹ già nông thôn
Tác giả vừa hóa thân vào nhân vật để phân tích diễn biến tâm lý vừa khách quan ghi lại Đặt nhân vật trong hoàn cảnh không gian, thời gian nhất định, Kim Lân đã diễn tả sâu sắc tâm trạng nhân vật Bà cụ Tứ ngửi “mùi đốt đống rấm ở những nhà
có người chết thoảng vào khét lẹt” mà “nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út”, đến “cuộc đời cuộc đời cực khổ dằng dặc của mình” để rồi phấp phỏng lo lắng cho tương lai của con: “liệu chúng nó có hơn bố mẹ chúng nó trước kia không?”
Nghệ thuật “biện chứng pháp tâm hồn” đã thể hiện nhuần nhị trong từng biến thái tinh tế, phong phú của tâm lý người mẹ nghèo Tác giả phải có sự thấu hiểu, trân trọng đặc biệt, phải có vốn sống phong phú đến mức độ nào mới có thể diễn tả một cách chân thực, tài tình đến vậy Vợ nhặt không còn là những trang văn, đó là
Trang 20những trang đời - những trang đời thâm đẫm những giọt nước mắt tủi cực, xót xa, phấp phỏng nổi lo cho tương lai và rạng rỡ trong trái tim người mẹ nghèo Chân thực mà cũng thật cảm động, hình ảnh bà cụ Tứ không chỉ giúp ta chứng kiến diễn biến tinh tế của tâm tư mà con rung cảm sâu sắc trước tâm, trước tấm chân tình tha thiết của người mẹ
Đọc truyện, có lẽ không ai quên được cách giấu giếm đầy ngượng ngập, vụng về
về những dòng nước mắt xót thương con của bà lão: “Có đèn đấy à? ừ thắp lên tí cho sáng sủa Dầu bây giờ đắt gớm lên mày ạ ” Bà đã cố nén sự xúc động của mình, đã cố nuốt những giọt nước mắt chát đắng xót xa vào trái tim vốn đã chát đắng xót xa vào trong trái tim vốn đã chát đắng của một đời tủi cực Và khi ấy, trước đôi mắt nhoà lệ của người đọc, dòng “nước mắt cứ chảy ròng ròng” sau lời bộc bạch tâm tình với con dâu của bà lão lại hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết Những giọt nước mắt trong suốt từ đôi mắt đục mờ Những giọt nước mắt lấp lánh lòng vị tha cao quý của người mẹ Những giọt nước mắt mặn mòi là muối của đất, là muối của trái tim yêu thương dạt dào như biển cả
Những giọt nước mắt lặn vào trong ấy đã hoá niềm vui chân thành trong xúc động
“xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa”, trong tíu tít những dự định nào ngăn buồng cho đôi trẻ, nào mua đôi gà Để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời” này lại
là người nói đến tương lai nhiều hơn tất cả Không đơn thuần chỉ là tâm lí lạc quan khỏe khoắn của người lao động, đó là cả niềm ao ước thiết tha về một ngày mai sáng sủa hơn cho con của người mẹ nghèo Có thể bà chẳng còn sống mấy nữa Nhưng bà sống vì con, tìm thấy ý nghĩa đời người trong sự chăm lo vun vén cho con Và bởi vậy, những ước muốn, hy vọng đâu chỉ dành cho tuổi trẻ - nó trở nên đằm sâu, nồng thắm hơn trong tâm lòng của những người mẹ nghèo như bà cụ Tứ
Ai dám bảo bà mẹ lẩm cẩm, dớ dẩn? Ai dám cười những ước mong, dự định của bà? Cái gốc lạc quan, yêu thương không những không tàn héo đi mà ngược lại càng xanh tươi hơn trong mưa nắng cuộc đời Tâm tính ấy làm ta xúc động, thấm thía bao điều
Tâm tính ấy khiến bữa cháo thành bữa tiệc, khiến nồi cháo “chát xít, nghẹn bứ trong miệng mà ngon ngọt trong lòng” Người đọc cười ra nước mắt trước sự hào hứng, vui vẻ khi bà lão “lễ mễ” bưng nồi cháo cám “nghi ngút khói” lên nhà, đon
Trang 21đả tươi cười múc cho con mà bảo: “Cám đây mày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem” Phải, cái nồi cháo cám hèn hạ đành rồi, nhưng tấm lòng người mẹ quê ngẫm lại không đáng thương, đáng quý hay sao? Dường như bà cố gắng xua đi cái không khí ảm đạm, cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng sự tươi tỉnh động viên con Bên trong cái vẻ tươi tỉnh ấy, ta biết lòng người mẹ đang thổn thức
Lòng người đọc cũng dâng lên bao xót xa Tội nghiệp thay niềm vui của bà lão - cái niềm vui không cất cánh lên được Bởi, vẫn còn đó bát cháo cám, vẫn còn đó tiếng trống thúc thuế dồn dập khiến niềm vui không thể trọn vẹn “Bà không dám
để con dâu nhìn thấy bà khóc” còn người đọc thì nhìn thấy rõ những giọt nước mắt trong lòng bà, thấy rõ những giọt nước mắt của Kim Lân khi viết những dòng này Bằng tất cả sự nâng niu, trân trọng, Kim Lân đã để trái tim đập cùng một nhịp với trái lim người mẹ nông dân nghèo
Qua "Vợ nhặt", Kim Lân đã xây dựng thành công hình ảnh người mẹ nghèo trong trận đói khủng khiếp 1945 Người mẹ nghèo tiền bạc nhưng giàu lòng yêu thương
và hết mình vì con - người mẹ Việt Nam truyền thống Đằng sau bà cụ Tứ, ta thấy thấp thoáng những Lão Hạc, chị Dậu, mẹ Dần những người sống tận lòng cho những người thân yêu của họ
Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ – Bài viết tham khảo
(Mẫu 5)
Trang 22
Viết về nỗi thống khổ của nhân dân trong nạn đói kinh hoàng năm 1945, có lẽ “Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong số những tác phẩm gây ấn tượng thâm thúy khi khắc họa chân thực và xúc động cảnh lầm than, cơ cực của con người Thế nhưng, điều ý nghĩa hơn hết là thông qua việc miêu tả sự ngang trái, éo le của hoàn cảnh sống, Kim Lân đã làm toát lên những vẻ đẹp đáng trân trọng của con người Riêng với việc xây dựng nhân vật bà cụ Tứ, nhà văn đã làm hiện lên ở người mẹ nghèo ấy lòng nhân ái và tình yêu thương dành cho con người Trong tác phẩm, bà được đặt vào trong tình huống trớ trêu với những diễn biến tâm trạng phức tạp Nhưng
những nét tâm lí ấy lại là một biểu hiện chân thực cho tấm lòng nhân hậu của bà
Kim Lân mang tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài (1920 – 2007), quê ở TP Bắc Ninh Ông là người dân có tính tự lập ngay từ nhỏ lúc biết làm thuê để trang trải cho cuộc sống gia đình vốn khó khăn của mình Chính vì vậy, ông có cơ hội được làm qua nhiều nghề và được sống gắn bó với những người lao động
Không chỉ vậy, Kim Lân còn là một người đặc biệt quan trọng quan tâm đến đời sống của người nông dân với nếp sống và sinh hoạt dân dã Dù cuộc sống của họ phải lo toan bộn bề và đối diện với vô vàn sự lầm than, cơ cực thế nhưng ở họ vẫn toát lên những vẻ đẹp tâm hồn rất đáng để trân trọng Kim Lân nhận ra được việc
đó và chuyển tải nó vào trong những sáng tác của mình
“Vợ nhặt” của Kim Lân được in trong tập “Con chó xấu xí” vào năm 1962 Đây là tác phẩm Kim Lân viết trong giai đoạn diễn ra nạn đói khủng khiếp vào năm 1945
và nhân dân ta phải chịu cảnh sống khổ sở, cơ cực vô cùng “Vợ nhặt” vốn có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, nhưng khi Kim Lân còn đang viết dở dang thì lại
bị mất bản thảo Sau thời điểm hòa bình lập lại vào năm 1954, Kim Lân đã dựa vào
ý tưởng và tình tiết ban đầu để viết nên tác phẩm này
Trang 23Là nhân vật xuất hiện sau cùng trong tác phẩm, bà cụ Tứ cũng là nhân vật được tác giả đặt vào trong 1 tình huống ngang trái của cuộc đời cùng với thị và Tràng Tình huống đặc biệt quan trọng ấy đó chính là việc con trai của bà – nhân vật Tràng – một chàng trai thô kệch từ ngôn ngữ đến dáng hình, một chàng trai vốn xuất thân là dân ngụ cư nghèo khổ thế nhưng vẫn lấy được vợ – nhân vật Thị Chính vì thế, một người làm mẹ như bà sao không khỏi có những băn khoăn, trăn trở của riêng mình trước cảnh ngộ của bà và con Những trăn trở băn khoăn ấy xuất hiện ngay chính trong diễn biến tâm lí của bà…
Khi phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ, ta thấy ngay từ khi nhìn thấy Thị, dù không biết thị là người vợ mà con trai nhặt được, bà cụ Tứ đã có những biểu hiện tâm trạng của một người mẹ nặng nỗi lo toan Xuất hiện trên trang viết của nhà văn Nam Cao trong cái dáng vẻ “vừa đi vừa lẩm thiên bẩm toán gì trong miệng”, với việc “lọng khọng” và tiếng ho “húng hắng”, trong hoàn cảnh cái đói khắc nghiệt,
có lẽ bà cụ Tứ đang lo nỗi lo cơm áo gạo tiền
Dù đã bước qua tuổi thuộc cái dốc bên kia cuộc đời nhưng dường như bà chưa bao giờ hết lo thế nên nỗi khổ tâm bà mang mới cắt hình rõ rệt trên cái dáng người
“lọng khọng” ấy Cái lo cũng xuất hiện ngay từ lúc bà gặp người phụ nữ xa lạ trong chính ngôi nhà đất của mình
Ban đầu bà đã cảm thấy sự khác thường khi Tràng vui mừng và thổ lộ sự sốt sắng lúc đón mẹ về Bà “nhấp nháy” nhìn Tràng đầy thắc mắc nhưng rồi đã theo anh vào trong nhà với tâm trạng “phấp phỏng” lo âu Điều bà thắc mắc về biểu hiện khác lạ của anh Tràng được hé mở khi bà thấy thị, bà “đứng sững lại”, “ngạc nhiên” và băn khoăn: “Quái, sao lại sở hữu người đàn bà nào ở trong nhà ấy nhỉ?” Bà còn hoang mang khi thị chào mình bằng u Đến lần thứ hai thị chào “U đã về đấy ạ!”, nỗi băn khoăn ấy của bà vẫn không hề nguôi bớt
Có phải chính vì sự ngang trái mà hoàn cảnh gieo rắc trong trang đời mà việc con cần lập gia đình, bà vô tình không nhớ tới Làm thế nào có thể trách bà được khi mỗi bữa cơm để sở hữu thể sống từng ngày, bà còn phải tính sao cho vừa vặn?
Trang 24Làm thế nào có thể trách bà được khi hôm nay còn nặng nề chuyện đói no chứ nói
gì đến chuyện xây dựng gia đình cho con?
Bên cạnh đó, người đọc cũng nhận thấy khi được Tràng giải thích rõ sự tình: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! […] Chẳng qua nó cũng là cái số cả”, lúc này thì bà mới vỡ lẽ mọi điều Bao nhiêu cảm xúc, bao nhiêu nỗi buồn tủi, nghẹn ngào hóa thành cái “nín lặng”: “Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán lại vừa xót thương cho số kiếp người con mình”
Bà vẫn biết chuyện con cháu lập mái ấm là lẽ thường ở đời: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, rồi những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này” nhưng sao với gia cảnh của mình lại khó khăn đến thế:
“Còn mình thì…” Biết bao nhiêu cảm xúc, nỗi xót xa vỡ ra, bà lão dường như không thể kìm nén được nên “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai làn nước mắt” cùng với nỗi lo lắng khôn nguôi: “biết rằng chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này sẽ không”
Bà có nỗi lo ấy cũng là điều đơn giản hơn nhiều hiểu vì trong thời đại phải lo cho được miếng ăn thế nào để không khỏi chết đói đã là chuyện khó khăn huống hồ chi
là xây dựng tổ ấm Liệu rằng người con trai xấu số và người đàn bà cũng xấu số không kém kia có cùng nhau vượt qua được những ngày tháng khổ sở này hay chỉ trong nay mai sẽ đứt gánh đơn giản hơn nhiều dàng như chính cái cách họ đến với nhau
Lo là lo thế nhưng bà cụ Tứ vẫn xúc động vì con bà cuối cùng cũng có thể có ngày lấy được vợ như người ta và mủi lòng thương người phụ nữ xa lạ: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này thì người ta mới lấy đến con mình” Thế nên, bà xem đó là ý trời và phó thác cho cuộc đời đã run rủi cho con bà nên duyên nên số với thị: “Thôi thì bổn phận bà là mẹ, mà bà đã chẳng lo lắng được cho con… May
ra thì qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có thể có vợ, nó yên bề
nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ giờ biết thế nào mà lo cho hết được?”
Trang 25Bà lão day dứt vì chưa làm tròn bổn phận của một người mẹ với con nhưng mặt khác cũng hàm ân khi người phụ nữ kia đã hỗ trợ con bà có hi vọng về một mái
ấm Câu nói nhẹ nhàng với thị cũng đó chính là cách thể hiện sự đón chào của bà với nàng dâu mới: “Ừ, thôi thì những con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…” Tiếng “mừng lòng” nghe sao đỗi thật thương, thật quý Quý sao cho tấm lòng rộng lượng đã đồng ý cho một người phụ nữ xấu số về làm dâu trong một gia đình có gia cảnh cũng rất khó nghèo của mẹ con bà
Và cũng thương sao cho một trái tim dạt dào tình thương con, xót xa nhìn người con tội nghiệp có cơ hội được vun đắp mái ấm dù chỉ bằng sự nhặt nhạnh, chắp ghép không chủ định Bà nghĩ: “Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy” nhưng biết con làm rõ gia cảnh khốn khó của mình, bà chỉ từ cách khuyên con và động viên con: “Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi ra may mà ông giời cho khá”
Bà gieo vào lòng con niềm tin: “Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời” nhưng cũng sụt sùi thương xót để “nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng” Chính những biểu hiện đó nơi bà đã hỗ trợ người đọc có thể cảm nhận được một tấm lòng nhân hậu mông mênh và tình yêu thương của người phụ nữ nhân hậu, tình thương
ấy bà giành cho người con trai rứt ruột sinh thành và cũng giành cho khắp cơ thể phụ nữ cơ hàn, khốn cùng
Không chỉ có thế, khi phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ, ta cũng nhận thấy hôm sau cái ngày Tràng có vợ, đặc biệt quan trọng là trong bữa cơm ngày đói, những biểu hiện trong tâm trạng của bà cụ Tứ khiến người đọc lại càng mến phục
bà hơn
Có nàng dâu mới, tâm trạng của bà như cũng được thay mới với việc “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” Bà cùng thị “lúi húi giẫy những bụi cỏ mọc nham nhở” rồi lại “xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa” Cử chỉ nhanh nhẹn, linh hoạt ấy đã thay thế hoàn toàn cho cái sự
“lọng khọng”, “húng hắng” thường trực nơi bà Trong cảnh cực khổ, bà lại tin việc
Trang 26“thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có
cơ khấm khá hơn”
Hình ảnh bữa cơm ngày đói lại càng khiến ta cảm động hơn nữa Mặc dù “giữa cái mẹt rách nát có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo” có lẽ hiếm hoi lắm, bà cụ Tứ mới nói đến chuyện tương lai đầy hứa hẹn và vui vẻ như vậy: “Khi nào có tiền thì ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu khu nhà bếp kia sẽ làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại thì chả mấy mà có đàn gà cho mà xem”
Trong hiện thực đói nghèo thảm hại phải ăn cháo cám thay cơm, bà vẫn thấy vui lòng: “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”, đến khi tiếng trống thúc thuế nổi lên, bà cũng không muốn nhìn thấy sự buồn tủi, lo lắng nên mới “ngoảnh mặt vội ra
ngoài” để mà khóc Bà đó chính là người thắp lên nguồn sống mới cho mọi người trong nhà để xua tan những đau khổ, chết chóc đang bủa giăng, chực chờ cướp đi sinh mạng của gia đình mình
Bà hỗ trợ cho không khí gia đình mình trở nên nhẹ nhàng, có niềm tin và hi vọng hơn về một ngày có thể vùng thoát khỏi không gian sống tối mờ, lay lắt, lẫn lộn cả
sự sống và cái chết Đó đó chính là ý thức vươn lên của một người ở cái tuổi xế chiều và cũng là biểu hiện của một tình yêu thương con vô bờ bến Bà nhận định rằng mình không làm tròn bổn phận với con nhưng cái cách bà giúp các con tin tưởng hơn về một tương lai mới đó chính là minh chứng chân thật nhất cho việc hết lòng vì các con của một người mẹ
Từ diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ cũng như thông qua tác phẩm “Vợ nhặt”, Kim Lân thổ lộ tấm lòng trân trọng, nâng niu khi đối chiếu với những con người sống mấp mé bên bờ vực của cái chết Bằng phương pháp xây dựng tình huống và việc khai thác, miêu tả tâm lí nhân vật, Kim Lân đã hỗ trợ người đọc cảm nhận được ở những người dân sống kiếp cơ cực, khốn cùng những vẻ đẹp vô cùng quý giá
Trang 27Có thể thấy rằng, đằng sau cái phức tạp trong diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ đó chính là một tình yêu thương thâm thúy của một người mẹ hiền từ với Tràng, một người phụ nữ bao dung với thị Chính tình yêu thương ấy của những người dân như bà là động lực để thị, Tràng và những người dân cùng cảnh ngộ có thể đơn giản hơn nhiều dàng vượt qua sự dồn đuổi của cái đói, cái chết vô cùng đáng sợ kia
bà cụ Tứ Bà là một người mẹ nghèo có tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương con người và có niềm tin vào tương lai
Bà cụ Tứ là mẹ của anh cu Tràng Trong tác phẩm, bà xuất hiện trước người đọc trong bóng hoàng hôn tê tái, người mẹ nghèo khổ "húng hắng ho" chẳng khác nào một cái bóng đi vào ngõ Trước mái tranh đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại Nhà văn đặt nhân vật vào hoàn cảnh bất ngờ đó là việc đứa con trai đưa một người đàn bà về nhà làm vợ vào giữa ngày đói khủng khiếp và cái chết đang rình rập gõ cửa từng nhà Viết về bà cụ Tứ nhà văn đi sâu vào phân tích tâm lý và tấm lòng nhân ái đáng quí đáng trọng của bà đối với các con
Cũng như mọi người trong xóm ngụ cư, lúc đầu bà rất ngạc nhiên và không thể hiểu nổi điều gì xảy ra Thấy Tràng ra đón từ ngoài ngõ lại reo lên như một đứa trẻ vồn vã khác thường Tâm trạng bà cụ Tứ trở nên phấp phỏng, có cái gì đấy bất thường đang chờ đợi bà Đến giữa sân bà lão đứng sững lại, càng ngạc nhiên hơn
Trang 28Kim Lân đã chọn ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng bà cụ: "Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu
giường con trai mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục
mà Ai thế nhỉ?" Cho đến khi nghe Tràng phân trần cắt nghĩa, bà cụ mới hiểu Lòng bà ngổn ngang những lo âu, tủi cực, xót thương lẫn vui mừng "Bà lão cúi đầu nín lặng" Trong lòng bà đầy những ám ảnh của một dĩ vãng nặng trĩu những đắng cay Bà nghĩ đến ông lão, đến đứa con Út, đến cuộc đời cơ cực dài dằng dặc của mình mà thương, mà tủi cực xót xa: "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này Còn mình thì…" Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt Nạn đói đang đe dọa, con có vợ bà lo lắng thự
Từ xót xa, mặc cảm, lo lắng bà nghĩ tới cái may của gia đình Bà xót thương người đàn bà lạ Lòng người mẹ nghèo nhân hậu thấu hiểu cảnh ngộ người con gái xa lạ bỗng trở thành con dâu của mình "Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được " Nghĩ thế bà vui trong lòng, cử chỉ của bà dịu dàng âu yếm Bà gọi người đàn bà xa lạ là "con" xưng
hô "u" một cách chân tình: "Thôi thì các con phải duyên kiếp với nhau u cũng mừng lòng" Với bổn phận làm mẹ, bà ao ước có được "dăm ba mâm" trước cúng
tổ tiên sau mời làng xóm Có thể nói bà là người suy nghĩ trước sau song cái khó
bó cái khôn, ao ước giản dị ấy không thể thực hiện vì quá nghèo
Thương con, bà thương dâu Bà dặn dò nàng dâu bằng những lời động viên an ủi
"Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi may
ra ông trời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ ai khó ba đời? Có ra rồi con cái chúng mày về sau" Bà lại động viên an ủi " cốt làm sao chúng mày hòa thuận
là u mừng rồi Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá"
Sáng hôm sau, con trai đã có vợ Gia đình bà dường như đã thay đổi Sáng hôm sau
bà cùng con dâu dậy sớm thu dọn, quét tước nhà cửa." Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên" Bữa cơm đãi nàng dâu thật thảm hại "Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo" Bà đãi nàng dâu mới món "chè khoán" cháo cám Nhưng bà toàn nói chuyện vui, chuyện sung sướng sau này, bà dặn con trai
Trang 29Mấy hôm nữa mua ít nứa về ngăn cho khỏi trống, có tiền nuôi mấy con gà chẳng mấy chốc có cả đàn gà Bà đem lại cho cá con niềm tin cuộc sống mặc dù tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập, tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết Không khí ảm đạm vẫn bao trùm cuộc sống Có thể nói trong bức tranh xã hội sáng hôm ấy, bà cụ Tứ
là một điểm sáng về đạo lý làm người Người mẹ không ao ước cho mình mà luôn sống vì con, cho con, cho lớp con cháu mai sau
Nhân vật bà cụ Tứ tưởng như không thể có được nhất là trong hoàn cảnh gia đình
bà, sự tăm tối của xã hội Ngọn lửa tình mẫu tử ấy cũng đã đủ nhóm lên giữ niềm tin hi vọng vào tương lai tươi sáng Nét đẹp và nhân hậu vốn có trong bà được tác giả diễn tả tinh tế qua cách sử dụng ngôn ngữ chọn lọc trong diễn tả tâm lý nhân vật, góp phần khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ nghèo Việt Nam
truyện ngắn, bên cạnh nhân vật Tràng, người vợ nhặt, nhân vật bà cụ Tứ được xây dựng rất thành công bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, qua đó ta có thể thấy rõ tấm lòng, đức hy sinh của một người mẹ nông dân trước Cách mạng
Bà cụ Tứ là mẹ của Tràng, một thanh niên có ngoại hình thô kệch nhà nghèo phải ở trong xóm ngụ cư, đã lớn tuổi mà chưa lấy được vợ nhưng đặc biệt tốt bụng, được mọi người yêu mến Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, khắp nơi người chết đói
Trang 30như ngả rạ, vì chiêu đãi không toan tính một cô nàng bốn bát bánh, được người ta theo về, Tràng có vợ Việc anh Tràng dẫn một người phụ nữ về nhà không chỉ khiến cả xóm ngụ cư ngạc nhiên mà chính người mẹ Tràng – bà cụ Tứ vô cùng sửng sốt: “Bà cụ Tứ phấp phỏng bước theo Tràng vào nhà Đến giữa sân bà đứng sững lại, bà càng ngạc nhiên hơn Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Sao lại đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục kia mà Ai thế nhỉ?”
Tràng vốn xấu trai, ế vợ vậy mà tự dưng dẫn ngay một cô vợ về giữa lúc đói kém, điều này khiến bà cụ Tứ ngạc nhiên, hàng loạt câu hỏi được đặt ra trong tâm trí của
bà Bà không tin vào mắt mình, vào tai mình nữa: “Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà thấy mắt mình nhoèn đi thì phải Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu”
Từ sự sửng sốt, bất ngờ, ngạc nhiên vì có một người phụ nữ theo con trai mình về làm vợ, nhận mình làm mẹ, khi được Tràng giải thích, bà cụ Tứ hiểu ra đầu đuôi câu chuyện, tâm trạng bà cụ Tứ trở lên vô cùng phức tạp Bà vừa mừng, vừa lo, vừa thương, vừa tủi Bà mừng vì con trai mình đã có một người vợ, yên bề gia thất Nhưng bà lão cũng lo lắng không biết liệu vợ chồng Tràng có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát Với trách nhiệm của một người mẹ, bà lại thấy tủi: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con
đẻ cái để mở mặt sau này Còn mình thì… trong kẽ mắt kèm nhèm của bà cụ rỉ xuống 2 dòng nước mắt” Thương con trai, bà lão cúi đầu nín lặng, lòng người mẹ nghèo ấy vừa ai oán vừa xót xa cho số kiếp con trai mình, rồi bà nghĩ đến ông lão, đến cô con gái út, đến cuộc đời bà, bà trăn trở cho vợ chồng Tràng, lấy nhau lúc này, liệu cuộc đời có hơn bố mẹ ngày trước?
Sở dĩ bà cụ Tứ có những tâm trạng phức tạp như trên là do xuất phát từ tấm lòng của một người mẹ hết mực thương con, hổ thẹn vì không làm tròn bổn phận, trách nhiệm với con cái Nhưng trong cái buồn, cái tủi, cái lo lắng ấy của bà cụ Tứ, ta vẫn thấy sự lạc quan, niềm vui le lói, một niềm vui tội nghiệp Bà vui trong ý nghĩ tốt đẹp về tương lai: “Rồi ra may mà ông giời cho khá (…) ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Trong bữa ăn sáng với con trai và con dâu, bà nói toàn chuyện vui sung
sướng về sau Bà vui trong công việc sửa sang vườn tược nhà cửa, bà lão dọn cỏ
Trang 31dại, quét tước nhà cửa, “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” Bà vui vì nhà còn có bữa cơm sáng có nồi “chè khoán” nấu bằng cháo cám để ăn trong khi nhiều nhà cũng không có Những niềm vui nhỏ bé, người mẹ ấy cố thắp lên sưởi
ấm lòng con, tiếp cho con sự lạc quan, tin tưởng vào tương lai Những niềm vui nhỏ ấy rất mong manh nhưng vô cùng đáng trân trọng
Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhân vật bà cụ Tứ xuất hiện gần về cuối tác phẩm nhưng được khắc họa đậm nét, thành công thông qua nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật Ngôn ngữ nhà văn thể hiện chọn lọc, tinh tế, giàu hình ảnh, hành động phát triển phù hợp với diễn biến tâm lí nhân vật Bà cụ Tứ là đại diện tiêu biểu cho hình ảnh người mẹ nông dân Việt Nam nghèo khổ nhưng giàu lòng
thương con, giàu đức hy sinh, vị tha Nhân vật này tô đậm giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm, một nhân vật không thể thiếu tạo nên sự thành công của truyện ngắn
Trang 32Cuộc đời bà cụ Tứ thật đáng thương: tuổi già, nhà nghèo, góa bụa, hiền lành và thầm lặng Bà cụ lần đầu xuất hiện trong bóng hoàng hôn tê tái, khi người con trai làm nghề kéo xe dẫn người đàn bà xa lạ về gia đình bà Một mái nhà tranh
"đứng rúm ró trên mảnh vườn cỏ mọc lổn nhổn những cái bụi cỏ dại" Sau tấm phên rách nát là những "niêu bát, sống áo vứt bừa bãi cả trên giường dưới đất" Người mẹ già nghèo khổ "hung hắng ho" chẳng khác nào một chiếc bóng "lọng khọng đi vào ngõ" Bà cụ ngạc nhiên khi chợt thấy một người đàn bà xa lạ đứng ngay đầu giường thằng con mình Bà lão "đứng sững lại ", càng ngạc nhiên hơn
Bà băn khoăn tự hỏi: "Sao lại chào mình bằng u? Không phải cái Đục mà Ai thế nhi?" Bà hấp háy mắt, thấy mắt mình "nhoèn ra", rồi "lập cập" bước vào nhà Lại nghe một tiếng chào nữa, bà lão "băn khoăn" ngồi xuống giường, lòng bà phân vân không kể xiết! Sau khi nghe Tràng giới thiệu người khách lạ, bà cụ Tứ vừa mừng vừa lo lại tủi thân Lòng bà xáo trộn bao nỗi niềm Một đời người trải qua nhiều đau khổ, mất mát, cay đắng, bà lấy làm xót xa, thấy mình làm mẹ mà không tròn bổn phận với con Bà khóc Tâm trạng cay đắng, chua xót: "Lòng người mẹ già nghèo khổ ấy vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình" Bà cụ Tứ nghĩ đến gia cảnh mà thêm buồn ủi Tiếng than, tiếng thở dài như tràn qua dòng nước mắt Thương con, thương cho số phận mình, những tháng năm dài dằng dặc với bao chuyện buồn Bà thương mình trải qua một cuộc đời đầy cay đắng: "Chao ôi! Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này Còn mình thì "
Nạn đói đang đe dọa Bà phấp phỏng lo âu: "Chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không!" Góa bụa, nghèo khổ, cô đơn Chồng chết rồi mụn con gái chết theo Bà sống với đứa con trai thô kệch "mắt nhỏ tí, quai hàm bạnh ra" lại có tật vừa đi vừa lẩm bẩm như người dở hơi Bà mỗi ngày một già mà Tràng vẫn sống độc thân Tục ngữ có câu: "Trẻ cậy cha, già cậy con" Bà mẹ già càng thấy buồn, lo vô hạn Tuy mặc cảm cho số phận, bà chợt nghĩ ngay đến cái may của gia đình mình: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ được" Hạnh phúc đến với tuổi già quá lớn lao và đột ngột! Niềm vui xôn xao dậy lên trong lòng người mẹ già nghèo khổ Bà vui sướng nhận nàng dâu mới Cử chỉ bà rất dịu dàng, âu yếm Bà gọi người đàn bà
xa lạ là "con" rồi xưng hô một cách thân tình, ruột thịt: "Ừ! Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng" Bà nhìn nàng dâu mà lòng đầy thương cảm Vượt qua mọi tục lệ, bà vui mừng từ nay con trai bà đã có vợ Bà
Trang 33sung sướng về hạnh phúc của con Mừng mừng tủi tủi, nước mắt chảy ra ròng ròng
Mẫu tử tình thâm! Lòng mẹ già đối với con trai và nàng dâu thật là mênh mông Bà
hạ thấp giọng xuống thân mật, vừa khuyên con vừa an ủi: "cốt làm sao cho chúng mày hòa thuận là u mừng rồi Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá ''
Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả những biến thái trong tâm hồn bà cụ Tứ Cảnh mẹ chồng đón nàng dâu mới, đơn sơ nghèo nàn mà cảm động Tâm trạng người mẹ già lúc thì ngạc nhiên lo lắng, lúc thì vui buồn lẫn lộn Mặc cảm về phận nghèo, nhưng lòng bà vẫn ít nhiều hi vọng về cuộc đời của con: "rồi ra may mà ông trời cho khá biết thế nào hả con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời Có ra thì con cái chúng mày
về sau "
Bữa cơm đón nàng dâu mới sau "tối tân hôn" của Tràng là một nét vẽ rất tài tình, giàu tình nhân bản Trên cái mẹt rách làm mâm là một đĩa muối, một lùm rau chuối thái rồi và một nồi cháo cám Mỗi người được hai bát cháo lõng bõng Thế mà bà
cụ Tứ rất vui Trong bữa bà nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng này Bà gọi nồi cháo cám "đắng chát" là "chè khoán", rồi rít khen ngon đáo để,ít nhiều tự hào, an ủi động viên con trai và nàng dâu: "Cám đấy mày ạ! ngon đáo để, cứ thử ăn
mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy!"
Mượn ngoại cảnh, sự việc để phô diễn tâm trạng nhân vật cũng là một thành công của Kim Lân khi khắc họa tâm trạng bà cụ Tứ khi cuộc đời mới đang hé mở Cảnh tượng mới mẻ, đổi thay trong nhà ngoài sân: "hai cái ang đầy nước, đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã được hốt sạch Mấy chiếc áo quần rách bươm như tổ đĩa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã được đem ra phơi " Nhà cửa, sân ngõ được quét dọn sạch sẽ, quang quẻ Bà cụ Tứ cùng con dâu "lúi húi" giẫy cỏ Cuộc đời của bà, của con bà, gia đình bà bắt đầu đổi thay Tiếng hờ khóc tỉ tê của những nhà có người thân mới chết đói Nước mắt bà cụ Tứ lại chảy ra, nhưng hà
"không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc" Trên cái nền đen tối ấy là hình ảnh lá
cờ đỏ và đoàn người đi phá kho thóc của Nhật Trong lo âu có niềm vui phấp