1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vợ nhặt cảnh diễn biến tâm trạng bà cụ tứ khi gặp nàng dâu mới

5 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 357,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vợ nhặt Cảnh gặp nàng dâu mới của bà cụ Tứ Nhà phê bình văn học nổi tiếng Belinsky đã khẳng định “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể nghệ thuật, đó là một định lý.

Trang 1

Vợ nhặt Cảnh gặp nàng dâu mới của bà cụ Tứ:

Nhà phê bình văn học nổi tiếng Belinsky đã khẳng định: “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật, đó là một định lý” Trên hành trình khám phá và sáng tác nghệ thuật, sứ mệnh của mỗi nhà văn là phát hiện cái đẹp ở bề sâu cuộc sống Ngòi bút tài hoa của nhà văn Kim Lân đã tìm kiếm, khám phá và khắc hoạ thành công vẻ đẹp bề sâu ấy qua nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm

“Vợ nhặt” Thông qua những nét đẹp quý giá ở đứa con tinh thần của mình, tác giả đã gửi đến người đọc những thông điệp, tư tưởng nhân đạo sâu sắc Đoạn trích sau đây thể hiện rõ nét những thông điệp ấy: “Bà lão cúi đầu nín lặng… nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.”

Kim Lân là cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Ông được mệnh danh là “con đẻ của đồng ruộng”, là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn ngày trước” (Nguyên Hồng) khi thế giới nghệ thuật của ông tập trung ở khung cảnh nông thôn và những người nông dân nghèo vốn hồn hậu, chất phát, lại còn rất nặng tình nặng nghĩa và gắn bó tha thiết với quê hương, với cách mạng Tác phẩm của ông minh chứng cho quy luật “quý hồ tinh, bất quý hồ đa” - số lượng tuy không nhiều nhưng lại có sức sống lâu bền trong lòng người đọc

Truyện ngắn “Vợ nhặt” là một trong số những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân,

in trong tập truyện “Con chó xấu xí”, được xuất bản lần đầu vào năm 1962 Truyện đã tái hiện lại một cách chân thật nhất về nạn đói khủng khiếp 1945 và cảnh ngộ khốn khổ, số phận cùng quẫn của những cảnh người bất hạnh ở thời điểm ấy Song, từ cái nền của hiện thực tăm tối đó, nhà văn đã khám phá, khai thác thêm những khía cạnh tươi sáng, tốt đẹp, đầy tính nhân văn trong khung cảnh bi thảm ấy, như ông đã từng chia sẻ "Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết

mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người" Tác giả đã chọn cho mình một lối đi riêng rất khác biệt, độc đáo và mới mẻ khi viết về nạn đói

Đoạn trích nằm ở phần giữa của truyện ngắn, khắc hoạ lại cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa mẹ Tràng và người con dâu mới, là đoạn văn tiêu biểu cho hướng khai thác đó của Kim Lân Đoạn văn có sự hiện diện của cả ba nhân vật: Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ, nhưng nhân vật

Trang 2

trung tâm của đoạn trích này là bà cụ Tứ với những diễn biến tâm lí hết sức phức tạp Qua đoạn văn ta thấy được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm, đồng thời thấy được tài năng của Kim Lân trong việc khắc hoạ nhân vật

Bà cụ Tứ là nhân vật xuất hiện muộn nhất trong tác phẩm nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện chiều sâu giá trị nhân đạo Bà vốn là dân ngụ cư Trong cái nghèo khó mà nạn đói mang lại, gia đình bà phải “tha hương cầu thực”, rời xa quê hương để tìm đường sinh sống Cho đến giữa tác phẩm, ta mới thấy hình ảnh bà xuất hiện trong cái nhá nhem của buổi chiều tà với “tiếng người húng hắng ho”, dáng đi lọng khọng cùng tiếng “lẩm bẩm tính toán” Chỉ với vài dòng miêu tả ngắn ngủi, hình ảnh của một người lao động nghèo khổ, của một người mẹ già nua, khắc khổ, luôn trĩu nặng tâm tư với những lo toan về cuộc sống đã hiện lên khiến ta cảm thấy đầy thương cảm Bằng cách đặt nhân vật vào tình huống truyện éo le, đặc biệt: Tràng - đứa con trai xấu xí thô kệch của bà nhặt được vợ trong khi cái đói khủng khiếp vẫn đang hoàng hành, tác giả đã khắc hoạ cho ta những vẻ đẹp tính cách, tâm hồn của bà cụ Tứ qua những cung bậc cảm xúc khác nhau đầy phức tạp bằng bút pháp miêu tả nội tâm độc đáo trong đoạn trích

Trước đó, ta đã chứng kiến sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của bà khi Tràng giới thiệu người

vợ mới Bà không hiểu chuyện gì đang xảy ra và cũng vô cùng bối rối với một đống câu hỏi quay mòng mòng trong đầu nhưng lại chẳng có lời giải đáp, vì đối với bà việc con trai bà có

vợ, nhất là trong thời kỳ loạn lạc, đói kém thế này, chẳng khác gì một giấc mơ Cho đến khi nghe con bà giải thích “Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái

số cả…” thì bà mới vỡ lẽ Đoạn trích này tiếp tục đi sâu vào khai thác tâm lý bà cụ Tứ Từ sự bất ngờ, tâm trạng bà nay chuyển sang trầm lặng với nhiều cảm xúc, tâm tư khó nói chất chứa trong cõi lòng

Nhà văn thể hiện tâm trạng ấy bằng một câu văn miêu tả dáng vẻ hờn tủi, phân vân, lo lắng của bà: “Bà cúi đầu nín lặng” Khoảng lặng cùng cái cúi đầu cho ta thấy tâm tư sâu nặng của một con người từng trải đã chứng kiến đủ để phán rằng “đời là bể dâu” Bà thấy “ai oán, xót thương cho số kiếp đứa con mình” khi đắng cay nghĩ đến tình cảnh gia đình mình trong lúc ngặt nghèo đói kém này: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì…” Đọc những dòng này, ta cảm giác được như trái tim người mẹ khốn khổ ấy đang run lên một cách đau đớn, xót

xa Bà lão tủi thân tủi phận, tự trách, tự dằn vặt mình vì làm cha mẹ mà lại chẳng thể lo nổi cho con, tròn bổn phận với con, khiến con phải thua thiệt Mọi sự cũng chỉ tại cái nghèo, cái đói mà ra Đã vậy, bà lão còn lo cho tương lai, số phận của hai đứa “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?” Những xúc cảm đó kết đọng lại thành những giọt nước mắt mặn đắng làm bà nghẹn ngào Bà lão kìm nén xúc động, cố nuốt ngược chúng lại vào cõi lòng vốn đã chất chứa đầy đau khổ của một đời tủi cực Nhưng chúng vẫn cứ lặng lẽ rỉ ra từ đôi mắt đục mờ, “kèm nhem” của người mẹ già tội nghiệp, bất lực Lẫn với tấm

Trang 3

lòng sầu buồn ấy là sự vui mừng nhỏ nhoi Dẫu có chút chua chát khi cuộc hôn nhân này chỉ

là vì bất đắc dĩ: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình

Mà con mình mới lấy vợ được…”, nhưng bà cũng cảm thấy may mắn, biết ơn khi chí ít thì con

bà cũng đã có vợ: “May ra mà qua khỏi được cải tạo đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, ” Bà cụ tự an ủi mình và vui lòng chấp nhận “nàng dâu” mới Bằng việc sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm, tác giả đã cho ta thấy cái nhìn đồng cảm, xót thương cũng như tấm lòng nhân hậu, bao dung, vị tha của một con người từng trải đối với người vợ nhặt của Tràng

Đoạn văn không chỉ là những câu trần thuật đơn thuần mà mỗi câu văn đều rưng rức cảm xúc xót thương của tác giả Cái sắc sảo tinh tế trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả được thể hiện khá rõ Cả ba nhân vật đều có chung một tâm trạng căng thẳng Tràng và người vợ nhặt chờ đợi người mẹ già nua lên tiếng Bà cụ Tứ khi hiểu ra đầu đuôi câu chuyện đã không sao giấu nổi những cảm xúc rối bời của mình

Tiếp đó, ta cảm nhận được vẻ đẹp nhân ái của bà cụ qua câu nói nhẹ nhàng với “nàng dâu mới”: ”Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…” Hai tiếng “mừng lòng” mà bà lão nói với các con thật chất phác, chân tình biết bao nhiêu! Không phải là “vui lòng” một cách khách sáo, cũng chẳng phải “vui mừng” một cách khiên cưỡng Bà thật tâm chấp thuận cho mối hôn nhân này Nghe mẹ nói thế, Tràng như trút được gánh nặng trong lòng, “thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi” Lời nói mộc mạc ấy chắc hẳn cũng đã đem lại sự xúc động và yên tâm cho người vợ nhặt đáng thương kia Bà mẹ nghèo khổ, nhân hậu đã thấu hiểu cảnh ngộ và tâm trạng của người phụ nữ xa lạ bỗng dưng trở thành “con dâu” của mình Lời nói này, hiểu sâu xa hơn, không khác gì một lời chiêu tuyết, một lời nói rửa nhục khi nó khiến cho cuộc hôn nhân giữa Tràng và thị trở nên bình đẳng như những cuộc hôn nhân mâm cao cỗ đầy khác Chao ôi, những người mẹ nghèo muôn thuở là thế ư? Tình yêu thương con, ý thức trách nhiệm của người mẹ khiến cho họ lo cưới vợ cho con bằng tất cả khả năng mình có, dẫu chỉ là lời nói Cách nói ấy làm ấm lòng những con người tội nghiệp, chan chứa tình người và lòng yêu thương của bà cụ Bà sẵn sàng bỏ qua những lễ giáo hẹp hòi, những định kiến xưa cũ, chiến thắng nỗi ám ảnh đói khát, chết chóc để sẵn sàng cưu mang, mở rộng vòng tay để đón lấy nàng dâu mới

Dù trong tình thế đói nghèo, cực khổ, bà lão vẫn giành niềm tin để hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn trong tương lai bên cạnh những âu lo về hiện thực khiến bà đầy trăn trở Bà từ tốn dặn dò các con: “Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi ra may mà ông giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau…” Trong cái khổ đau, vật vã của thời thế, khi mà bóng đen gớm ghiếc của cái chết cứ ngày càng bành trướng, cắn nuốt tất cả mọi thứ, những người nghèo khổ như mẹ con Tràng vẫn tin vào cuộc sống, vào tương lai, vào cái triết lý dân gian “Ai giàu ba

họ, ai khó ba đời” Chỉ có những người khát vọng được sống, quyết bám víu lấy cuộc đời mới

có được niềm tin dai dẳng và kì diệu ấy Bà cụ ân cần, chu đáo, động viên, bảo ban các con, gắng trở thành chỗ dựa tinh thần cho con trong tình thế vốn éo le và ngặt nghèo này dẫu cho trong lòng bà vẫn còn đang ngổn ngang bao suy nghĩ về những hồi ức xót xa, cay đắng “Bà

Trang 4

lão đăm đăm nhìn ra ngoài Bóng tối trùm lấy hai con mắt.” Bà như lường trước được những khó khăn, vất vả mà vợ chồng Tràng phải đối mặt Lòng bà trĩu nặng những mối lo khi nỗi ám ảnh về chết chóc vẫn cứ luôn hiện hình ở bóng tối bao phủ khắp không gian, ở cái mùi đốt đống rấm khét lẹt, ở những miền kí ức xưa cũ đầy đau khổ của bà về chồng, về đứa con gái út,

về cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng của mình Niềm lo lắng, đớn đau của bà nghẹn lại thành một hơi thở dài “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?” Tâm trạng bà cụ Tứ lẫn lộn buồn vui, lo lắng Niềm vui của bà mẹ nghèo khổ, già nua trong cảnh ngộ này thật tội nghiệp, chẳng được bao nhiêu bởi không sao thoát khỏi nỗi ám ảnh của sự buồn tủi, xót thương

Dù trong lòng bà còn đang chất chứa nhiều tâm sự, tấm lòng yêu thương, từ ái của bà

cụ Tứ vẫn hiện lên thật nổi bật Trước cảnh người con dâu vẫn còn đang đứng ở đây mà “vân

vê tà áo rách bợt”, “bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót”, rồi bà nhẹ nhàng gọi đứa dâu con “ngồi xuống cho đỡ mỏi chân”, coi thị “bây giờ là dâu, là con trong nhà” Với bổn phận của một người mẹ, bà ao ước có được dăm ba mâm, trước trình tổ tiên, ông bà, sau mời làng xóm, thân thích Nhưng ao ước ấy không thể thực hiện được vì bà nghèo quá Bà rất biết trước biết sau, song cái khó bó cái khôn, bà đành chịu Và cũng như biết bao bà mẹ nhân từ khác, bà cụ Tứ chỉ mong “Cốt làm sao chúng mày hoà thuận là u mừng rồi.” Rồi bà lại nghĩ đến tình cảnh trắc trở hiện tại mà gia đình bà phải đương đầu: “Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…” Những âu lo, rối bời ấy kết tinh lại thành hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng trên khuôn mặt già nua, khắc khổ Bà cụ nghẹn ngào, không nói được nữa Những giọt nước mắt ấy đã nói lên rất nhiều điều về bà cụ Tứ, đó là giọt nước mắt xót thương, tủi cực của tấm lòng người mẹ nhân hậu, vị tha Như vậy, “đám cưới” đã xong, chẳng có lễ nghi, cỗ bàn gì Thế nhưng, một đám cưới tưởng chừng như thiếu tất cả ấy

mà lại như đủ cả khi nó lại có cái quan trọng nhất, cốt lõi nhất: sự thương yêu gắn bó thực lòng Tấm lòng bao dung, hiền hậu của người mẹ nghèo đã thay thế tất cả Nếu trong "Hạnh

phúc của một tang gia" (Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng, ta thấy đám tang cụ Cố Tổ được tổ chức

cực kì hoành tráng, long trọng, thừa thãi mọi đồ lễ và nghi thức, duy chỉ thiếu lòng xót thương dành cho người quá cố khi tất cả những người tham dự đều treo lên bộ mặt đau buồn giả dối với những tâm tư riêng Mà thiếu điều này thì mọi vật chất đầy đủ kia đều hoá hư không Qua đoạn trích, nhà văn Kim Lân đã dựng lên hình ảnh chân thật và cảm động về một người mẹ nghèo khổ mà hiểu biết, chan chứa tình yêu thương cùng một tấm lòng nhân ái sâu sắc và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống Trong đói khổ người ta dễ ích kỉ, tàn nhẫn, chỉ vội cấu xé nhau khi miếng ăn của một người còn chưa đủ thì làm sao có thể đèo bồng thêm người khác Nhưng nhà văn Kim Lân lại khám phá ra một điều ngược lại ở bà cụ Tứ khi bà chẳng những yêu thương con hết lòng mà còn giành tình yêu ấy cho những cảnh đời oái oăm, tội nghiệp khác Đó chính là sự ấm áp của tình người khi trong khó khăn hoạn nạn, con người vẫn sẵn sàng đùm bọc lấy nhau, lá rách ít bọc lấy lá rách nhiều Trong cái thân hình khẳng khiu, tàn tạ vì đói khát ấy, ta còn thấy được ngọn lửa ý chí sống mãnh liệt vẫn đang nung nấu của

bà lão Bà cố gắng xua đi cái ám ảnh đen tối đáng sợ của thực tại, nhen nhúm niềm tin, niềm vui cho các con Người mẹ già ấy chính là ánh sáng le lói trong bóng tối bi thảm của những kiếp đời nghèo khổ Nhân vật bà cụ Tứ đã được khắc hoạ thành công với những nét tính cách

Trang 5

ấn tượng như thế chính là nhờ thủ pháp đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật mà tác giả đã sử dụng để khéo léo làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của bà cùng ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, sâu sắc qua từng lời nói, ánh mắt, suy nghĩ, hành động; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất đời thường, giàu sức biểu cảm với giọng văn đôn hậu, ấm áp Phải là người có vốn sống phong phú với tấm lòng yêu mến và trân trọng, thấu hiểu và thông cảm những người nghèo khổ thì tác giả mới có thể diễn tả bà lão một cách chân thực, tài tình đến vậy

Nhân vật bà cụ Tứ đã làm cho giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt trở nên thấm thía hơn, cảm động hơn Thông qua bà lão, Kim Lân đã gửi gắm sự đồng cảm, xót thương đến những số phận bi thảm tương tự, những con người bị đẩy vào bước đường cùng trong nạn đói; đồng thời, lên án, tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến, giai cấp thống trị thời bây giờ Chẳng những thế, tác giả còn ca ngợi, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, những khát khao chân chính con người trong giai đoạn tối tăm, đầy biến động ấy của lịch sử Không dừng lại ở

đó, nhà văn còn cổ vũ, hé mở con đường tương lai tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn cho các nhân vật vào cảnh sáng hôm sau với sự xuất hiện của “lá cờ đỏ bay phấp phới” ở đoạn kết Kim Lân quả là “một nhà văn chân chính”, “một nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ”

Đoạn trích đã minh chứng cho tài năng nghệ thuật xuất sắc của tác giả cũng như góp phần đưa “Vợ nhặt” trở thành một trong những tác phẩm truyện ngắn đặc sắc nhất của nền văn học hiện đại Việt Nam Gấp trang sách lại, đoạn văn của Kim Lân vẫn ấm áp trong lòng người đọc vẻ đẹp của tình người, của niềm lạc quan toả sáng rực rỡ giữa khoảng không mù mịt của hiện thực phũ phàng, đầy chết chóc

“Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau”

(Bài ca mùa xuân - Tố Hữu)

Ngày đăng: 07/08/2022, 12:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w