1. Trang chủ
  2. » Tất cả

30 bai phan tich dien bien tam trang cua thuy kieu the hien qua doan t

99 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 754,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích Ngữ văn 9 Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích a Mở[.]

Trang 1

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích - Ngữ văn 9

Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích

a Mở bài

- Giới thiệu Nguyễn Du và “Truyện Kiều”

- Giới thiệu đoạn trích và vấn đề cần nghị luận: Diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều

ở lầu Ngưng Bích

b Thân bài

* Vị trí đoạn trích: Nằm ở phần 2 của “Truyện Kiều”, Tú Bà đưa Kiều ra sống một mình ở lầu Ngưng Bích thực chất là giam lỏng Kiều, rắp tâm chuẩn bị một âm mưu mới

* Cửa bể chiều hôm, trước lầu Ngưng Bích, một mình Kiều trơ trọi, cô đơn (1,0đ):

HS trích dẫn thơ và phân tích cả nội dung và nghệ thuật

Không gian mênh mang (bốn bề bát ngát), cảnh tình tan tác, chia lìa (non xa - trăng ngần; cát vàng cồn nọ - dặm hồng bụi kia), lòng người phụ bạc đã đẩy Kiều sa vào cảm xúc bẽ bàng, bơ vơ

* Nỗi nhớ của Kiều

- Nàng xót xa, thương nhớ người yêu, thương nhớ cha mẹ

Nàng xót thương cho người yêu trước (Xót người… đó giờ), xót thương cho cha

mẹ sau (Sân Lai… người ôm) Điều đó rất hợp với logic tâm trạng của nàng Bởi vì

để cứu nguy cho gia đình, nàng đã phải lỗi thề với người yêu Mặc cảm tội lỗi cứ đau đáu, đeo đẳng mãi trong tâm hồn nàng Với ngôn ngữ độc thoại nội tâm, ta thấu hiểu nỗi nhớ của Kiều và càng trân trọng tấm lòng vị tha, hiếu nghĩa chung tình của nàng

* Nỗi buồn của Kiều

- Sau cảm xúc nhớ người yêu, cha mẹ, lòng Kiều lại hụt hẫng và nỗi buồn điệp điệp (Buồn trông… ghế ngồi) Cảnh như khơi như vẽ từng biến thái tinh tế trong

Trang 2

điệu buồn riêng của nàng (HS phân tích từng cặp câu thơ để làm nổi bật diễn biến tâm trạng của Kiều, đó là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, là nỗi buồn lênh đênh trôi dạt vô định như cánh hoa, là nỗi chán ngán triền miên mịt mờ, là nỗi lo sợ, hãi hùng như báo trước dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy vùi dập cuộc đời Kiều)

* Khái quát

Với bút phát nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh diệu, Nguyễn Du đã khắc họa thật rõ nét từng biến thái tâm trạng nỗi buồn đau đáu của nàng Kiều trước lầu Ngưng Bích, đồng thời cũng làm sáng lên tấm lòng thuỷ chung, đức tính hiếu thảo, rất đáng được trân trọng ở Thuý Kiều

 Nêu vấn đề cần cảm nhận tâm trạng: tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích

II Thân bài

1 Cảm nhận tâm trạng nhân vật Thúy Kiều

- Tâm trạng Kiều trong 6 câu thơ đầu

 Hoàn cảnh Thúy Kiều: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, trơ trọi giữa không gian vắng lặng, hoang vu, lạnh lẽo ( khóa xuân, xa gần, cồn nọ, dặm kia )

 Thời gian tuần hoàn, khép kín sớm khuya vây hãm lấy con người

- Hình ảnh Kiều đơn độc, trơ trọi giữa nơi mênh mông non nước, không một người bầu bạn

 Cát vàng, bụi hồng vừa là cảnh thật, vừa là cảnh ước lệ gợi sự mênh mông choáng ngợp của không gian, tâm trạng cô đơn, bẽ bàng của Kiều

- Tâm trạng nhớ thương người yêu và gia đình (8 câu thơ tiếp)

Trang 3

 Kiều nhớ Kim Trọng – mối tình đầu trong đêm trăng thề nguyền, giờ phải chia xa, li biệt

 Trình tự nỗi nhớ có vẻ như không hợp lý nhưng thực chất rất hợp lý, Kiều đã bán mình cứu cha mẹ và em nhưng không thể đền đáp mối chân tình của Kim

vì vậy nàng khôn nguôi day dứt

 Kiều nhớ lại đêm trăng thề nguyền rồi lại tự xót xa vì “tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Tấm son ấy là tấm lòng Kiều son sắc đã bị hoen ố, vùi dập khiến nàng đau đớn tới tâm can

- Nỗi nhớ cha mẹ: thương cha mẹ già yếu không ai chăm sóc ( dẫn điển tích “ sân Lai, gốc tử, quạt nồng ấp lạnh)

- Nỗi nhớ của Kiều thể hiện nhân cách đáng trọng của nàng, Hoàn cảnh của nàng thật đau đớn Nàng quên đi nỗi khổ của mình để thương nhớ, lo lắng cho người thân Nàng là người chung thủy, hiếu thảo, có tấm lòng đáng trọng

2 Bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong 8 câu thơ cuối

 Hình ảnh cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là hình ảnh rất đắt thể hiện tâm trạng Kiều, hình ảnh đó giống như cuộc đời Kiều lênh đênh, lận đận giữa dòng đời không biết ngày đoàn tụ cùng gia đình

 Những cánh hoa lụi tàn trôi trên mặt nước cũng giống thân phận hoa tàn của nàng khi vô định, ba chìm bảy nổi, số mệnh đầy bạc bẽo của nàng

 Màu nội cỏ rầu rầu gợi lên cho Kiều nỗi chán nản, vô vọng, bế tắc vì cuộc sống xung quanh

 Nỗi buồn dồn dập tăng lên và đỉnh điểm là nàng tưởng tượng sóng gió cuộc đời đang mỗi lúc một dâng để nhấn chìm nàng

 Điệp từ “buồn trông” kết hợp với những hình ảnh phía sau diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau, cộng với các từ láy tượng hình, tượng thanh tạo nhịp điệu dồn dập tăng lên của sự vô vọng trong tâm trạng Kiều

 Bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa kết hợp với nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật thông qua ngôn ngữ độc thoại, phép kết hợp với câu hỏi tu từ

III Kết bài

 Với bút pháp miêu tả nhân vật đặc sắc, đoạn trích thể hiện thành công tâm trạng của Thúy Kiều trong cô đơn, buồn tủi, bế tắc nhưng tấm lòng nhân hậu thương nhớ về người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của Kiều vẫn ngời sáng

 Đoạn trích thể hiện tài năng miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc và cảm hứng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 1)

Trang 4

Trong “Truyện Kiều" của Nguyễn Du, đoạn nói về tâm trạng của Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích vẫn được người đọc xưa nay coi là một trong những đoạn thơ tuyệt vời về nghệ thuật tả cảnh và tả tình Thế nhưng cái hay của cả đoạn thơ như ngưng đọng trong những câu thơ cuối cùng, ở bốn bức tranh:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."

Tám câu thơ trên là cảnh nhưng thực sự là tình, Nguyễn Du tả cành nhưng thực sự

"Truyện Kiều”, chưa bao giờ Kiều buồn như lúc này, bởi chưa bao giờ Kiều kịp có lúc để nhìn vào chuyện buồn của mình, ngẫm cho kĩ, thấm cho sâu về chuyện buồn

ấy Xa Kim Trọng, phải bán mình chuộc cha, Kiều chỉ kịp đau đớn, nhưng gia biến nặng nề, nỗi đau của cha, nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của các em, những điều ấy đòi hỏi Kiều phải đứng vững, tạm quên mình đi để giải quyết việc nhà cho trọn đạo một người con Một người chị, phải rời gia đình, cùng Mã Giám Sinh ra đi, trong nỗi buồn vì không vẹn tình với Kim Trọng, Kiều có niềm an ủi đã cứu được gia đình Vừa đến Lâm Tri, bước vào nhà mụ Tú Bà, chưa kịp hồi sức sau một chặng đường dài “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”, Kiều đã hoảng hốt vì quang cảnh nhà mụ Kiều đã gặp ngay một trận “ tam bành" của con mụ bán thịt người ác độc Có lẽ Kiều đã đau, đã nhục, đã căm hờn, nhưng chưa kịp buồn

Bây giờ mới thực sự buồn Ta hình dung Kiều ngồi một mình trên lầu Ngưng Bích (thực chất là lầu rước khách của mụ Tú), bốn bề là mênh mông vắng lặng Cảnh ấy dội vào lòng Kiều, xui nàng nghĩ về thân phận của mình Nỗi buồn mỗi lúc một thấm thía Nàng buồn vì nhớ tới Kim Trọng, người mới cùng nàng thề bồi tha thiết

mà nay thì vĩnh viễn cách xa Nàng buồn vì nỗi xa cha mẹ, từ nay mỗi ngày một già yếu mà không có nàng để hôm sớm đỡ đần chăm sóc Nỗi buồn thật là vời vợi mênh mông, giờ đã đọng thành khối trong lòng Kiều Nếu ban đầu nỗi buồn còn từ cảnh một dội vào lòng thì lúc này nỗi buồn lại chính từ lòng buồn Với hai tiếng'

“buồn trông" Nguyễn Du sao mà hiểu lòng người sâu sắc quá vậy!

Trang 5

Kiều trông gì? Đây là bức tranh thứ nhất:

"Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?"

Trông về "cửa bể" mà lại là “cửa bể chiều hôm" Lúc ấy mặt trời sắp tắt, chỉ còn để lại những ánh sáng thoi thóp cuối cùng trên mặt nước Nhìn về cửa bể tức là còn nhìn thấy cả một mặt bể đang mất hút đi ở cuối chân trời Phía ấy không có gì cả ngoài một trống vắng mênh mông, một bầu trời đang dần tối Thế mà trên cái nền trống vắng lại nổi lên hình ảnh “thuyền ai" “Thuyền ai" tức là chỉ có một chiếc thuyền, chứ không phải cảnh đoàn thuyền đông đúc tấp nập từ biển trở về để gợi lên một điều vui vẻ Con thuyền gần như mất hút cuối chân trời, vì Kiều chỉ nhìn thấy cánh buồm của nó, mà cánh buồm thì lại cũng chỉ ‘'thấp thoáng” “Thấp

thoáng", hai âm "th" gợi một cảm giác kịp lại Với hai âm "ấp" và “oáng" một âm tấc, một âm vang - diễn tả hình ảnh cánh buồm mờ mờ tỏ tỏ, chợt hiện rồi chợt ẩn, nhấp nhô trên sóng biển, như mơ hồ, như ảo ảnh ở cuối biển xa xa "Thuyền ai " thuyền ai đó, thuyền ai thế nhỉ? Thuyền đang đi về nơi quê nhà thân yêu của ta chăng? Hay thuyền đang đi về nơi vô định, cũng cô đơn, cũng lưu lạc giang hồ như chính ta? Tâm sự này đã buồn, trông vào cảnh ấy, sao có thể không thấm thía nỗi buồn hơn

Như để tìm một chút lãng quên, Kiều ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác Thì đây:

“Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?"

Trước mắt Kiều là một ngọn nước từ trên thác cao đang đổ xuống Mới từ lòng suối chảy trôi khỏi đầu ngọn thác, ôi thôi, thế là tan tác đời trong trẻo với êm đềm của nước Bây giờ là lúc bắt đầu của dập vùi, cuồn xoáy, sôi trào, xô dập, ngầu đục cát bùn Kinh hãi thay cái phút từ trên mỏm đá cao sa xuống thác! Cảnh ngọn nước

đã buồn, mà nhìn đến chân ngọn nước thì: hoa trôi man mác Giá nhà thơ viết ''tan tác" thì cũng đành đi một nhẽ, cho nó tan vỡ đi, chìm lấp đi, những cánh hoa mỏng manh kia! Nhưng không, hoa rụng xuống dòng nước và bập bềnh trôi đi, bị đưa qua đẩy lại, rồi lại trôi đi, lặng lẽ, buồn bã, để đến một nơi nào không làm sao

có thể biết được Ngọn nước mới sa ấy, cánh hoa trôi ấy có khác chi cuộc đời Kiều! Chính Kiều cũng là một ngọn nước vừa mới đi qua lòng suối êm đềm và vừa mới sa xuống giữa ngọn xoáy dập vùi Chính Kiều cũng là đóa hoa đang man mác trôi đi Đơn độc và mỏng manh trên một dòng nước vừa dài vừa rộng với bao nhiêu

đe doạ chưa thế nào hình dung ra hết

Trang 6

Lòng đã buồn, cảnh lại buồn quá Thôi, hãy đưa mắt trông đi nơi khác

“Buồn trông nội cỏ dầu dầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh."

Lại một cảnh mênh mông hoang vắng: một đồng cỏ phẳng lặng kéo mãi đến cuối tầm nhìn, không một bóng cây, không một dòng sông, không một gò núi, không nhà để phá vỡ bớt cái đơn điệu chán nản ấy đi Chỉ có cỏ, cỏ và cỏ Mà cỏ thì tươi tốt gì đâu! Từ "dầu dầu" không chỉ gợi lên ý buồn bã, mà còn hình dung thấy

những ngọn cỏ lưa thưa ủ ê như đang dần héo hắt đi, đang mất sức sống Đây không phải là đồng cỏ xuân đầy sức sống và niềm vui khi Kiều đi hội thanh minh:

“Cỏ non xanh rợn chân trời ”

Đây là đồng cỏ cuối mùa, cũng đang buồn bã như chính lòng người ngắm cảnh, thế

mà cái đồng cỏ ấy, cái màu cỏ ủ ê ấy lại kéo dài ra vô tận, tiếp cả với nền trời, thành một màu duy nhất: "xanh xanh" Nêu Nguyễn Du viết:

“Chân mây mặt đất một màu xanh tươi"

Thì hẳn nàng Kiều đã tìm được ở đó một niềm an ủi, đôi chút lãng quên Nhưng xanh xanh thì chưa hẳn là xanh, chỉ có vẻ xanh thôi, một màu xanh nhợt nhạt, xa xôi, làm gợi lên một niềm ngao ngán Và có lẽ cái màu “xanh xanh" ấy là cái màu của tâm trạng được nhìn từ đôi mắt đẫm ướt khổ đau

Thế là Thuý Kiều đã ngoảnh nhìn hết ba hướng Nàng chỉ còn một hướng cuối cùng May ra có chút đổi thay chăng?

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

Hóa ra cái buồn của ba cảnh trước tuy buồn mà chưa thực là buồn Ba cành trên buồn đến thế còn là nhẹ quá Cảnh này mới thực là buồn Ba bức tranh trên chi là những bước chuẩn bị cho cảnh buồn cuối cùng này Một vùng biển ăn sâu vào đất liền, ngoài kia là biển lớn Gió biển hun hút chạy vào duềnh, gió cuốn ào ào khiến mặt biển nổi đầy sóng lớn, trắng xóa một màu Sóng vỗ “ầm ầm" chứ không phải

“ầm" như những ngày ít gió; sóng gào thét cuồng nộ, dập vào bờ, xô dập nhau, lớp sóng này chưa tan đã ào lên lớp sóng khác, liên tục, bất tận Tiếng sóng lớn lắm, không chỉ vang ầm trên biển mà vang đi rất xa, vang khắp bốn bể Kiều dường như

Trang 7

mình không còn ngồi trên lầu Ngưng Bích nữa, mà ngồi đau chính giữa duềnh biển mênh mông ấy, bốn bên nàng là sóng vỗ Mấy từ ''ầm ầm tiếng sóng" nghe đã dữ dội bên tai nàng, dâng lên gào thét trong tâm hồn nàng, vây bủa lấy nàng

Nếu trong ba bức tranh trên, giữa người và ngoại cảnh còn là hai đối tượng phân biệt, đâu là chủ, đâu là khách, thì đến bức tranh này, con người đã nhập vào ngoại cảnh; ngoại cảnh trùm phủ lấy con người, nỗi buồn thực đã đi đến mức cùng tột của cao trào Lúc này, con người sẵn sàng tan đi cùng với ngoại cảnh, sẵn sàng làm bất cứ việc liều lĩnh nào để hoặc thoát khỏi nỗi buồn ghê gớm ấy, hoặc có thể chết

đi cũng không cần Chính tâm trạng này đã dọn đường cho việc Kiều gặp Sở

Khanh, liều lĩnh theo y rồi bị lừa gạt

Bốn bức tranh của Nguyễn Du thật ra thì không lạ lùng Nhưng thật là lạ lùng cách của Nguyễn Du diễn tả những bức tranh ấy trong sự hòa hợp với hoàn cảnh và tâm trạng của Thúy Kiều Bởi Nguyễn Du rất tinh tế khi nhìn cảnh, rất sâu sắc về tình người, nhưng còn bởi điều này nữa: Nguyễn Du rất tài tình trong ngôn ngữ

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 2)

Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tuyệt phẩm của tác giả Nguyễn Du Ông đã đóng góp cho nền thi ca Việt Nam cổ đại một tác phẩm tuyệt vời có sức sáng tạo, vang

xa tới nhiều thế hệ sau Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn trích hay

nó đã lột tả được tâm trạng của Thúy Kiều khi phải xa Kim Trọng mối tình đầu thơ mộng, tâm trạng đau đớn khi gia đình lâm biến và bản thân nàng từ chỗ một tiểu thư xinh đẹp khuê các phải sa chân vào chốn thanh lâu nhơ nhuốc

Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” tác giả Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng rất nhiều bút pháp điêu luyện nhưng nổi bật lên là tả cảnh, ẩn tình, lấy cảnh vật để nói lên nỗi lòng của con người, người và cảnh vì thế mà tâm đầu ý hợp hòa quyện vào nhau

Sau khi gia đình lâm biến và bị Mã Giám Sinh dùng mưu hèn kế bẩn, gạ gẫm lừa tình rồi bị bán vào thanh lâu, Thúy Kiều đã định tự kết liễu đời mình, nhưng kế hoạch của nàng không thành công Tú Bà thấy Thúy Kiều cương quyết sợ nàng lại

tự tử lần nữa chết thật thì bà ta mất tiền oan, nên ra sức lấy lòng Thúy Kiều, ngọt nhạt để Thúy Kiều nghe lời mình mà chấp nhận tiếp khách

Đây là tâm trạng của Kiều những ngày đầu ở lầu Ngưng Bích, một tâm trạng sống không bằng chết, cô đơn chán nản cuộc đời và mất lòng tin ở con người

Trang 8

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”

“Khóa xuân” hai từ này đã gợi lên trong lòng người đọc rất nhiều cảm xúc chua chát Nó thể hiện sự giam cầm, mất tự do cả về thân thể lẫn tâm hồn của một người con gái đang xuân, đang ở cái tuổi đẹp nhất của đời người đầy mơ mộng, đầy ước

mơ mà giờ đây bị nhốt đời mình ở chốn nhuốc nhơ này

Không gian nên thơ, nhưng mênh mông rộng lớn càng khiến cho tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trở nên cô liêu, hiu quạnh đến tang tóc buồn Bốn bề thì bát ngát, thể hiện sự xa cách, không gian thì bao la những cồn cát, bụi hồng xa mờ khói bụi, làn sương thể hiện sự mờ ảo, mịt mù, không rõ bóng tối hay ánh sáng Nó cũng như đời Thúy Kiều lúc này không biết tương lai ra sao, tất cả đều mịt mù tăm tối

Không gian càng mênh mông tăm tối, mịt mù càng làm cho tâm trạng Thúy Kiều trở nên thê lương bi đát hơn bao giờ hết Một cuộc sống bị giam cầm tù đày cả về tâm hồn, lẫn thể xác

“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

Hai từ “bẽ bàng” đã lột tả được mọi sự ê chề, đau đớn của Thúy Kiều, khi cô vừa

bị Mã Giám Sinh lừa tình, rồi lại còn bị bán vào lầu xanh Vừa thất tiết vừa tủi nhục, vừa oán hận, vừa thê thương Tâm trạng tủi hổ vì sự ngu dốt, mê muội tin nhầm người của nàng đã được hai từ “bẽ bàng” nói hộ

“Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” con người và cảnh vật đã thật sự hòa nhập vào làm một Cảnh vật cũng như người đều mang cảnh u sầu, trống trải, cô đơn khắc khoải…Tất cả khiến cho bức tranh thiên nhiên và con người trở nên xám xịt, mịt mù…

Trong những câu thơ tiếp theo tác giả đưa nhịp bài thơ trở nên nhanh hơn, chuyển hướng tâm trạng của Thúy Kiều hồi tưởng lại những ngày xưa bình yên hạnh phúc

Trang 9

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

Trong sự ê chề, bẽ bàng, tủi nhục này người nàng nhớ về đầu tiên chính là chàng Kim Trọng, nhớ người đã thề hẹn ước nguyện với nàng Nhưng nay lời thề hẹn không thể nào giữ được nữa, nên nàng nhớ về Kim cũng là điều dễ hiểu Nhưng càng nhớ về Kim Trọng thì tâm trạng nàng lại càng đau đớn khi nghĩ tới hiện tại của mình Có lẽ việc quay lại như xưa là điều không thể nào còn thực hiện được

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”

Nàng nghĩ về những người sinh thành ra mình, cảm thấy xót xa, khi nghĩ tới việc

từ nay sẽ không còn được phụng dưỡng, hiếu kính với cha mẹ, không được sống trong sự che chở cưu mang của những người thân thương ruột thịt nhất đời nàng Nàng lo lắng, xót xa nhưng rồi lại tự suy nghĩ rằng sẽ có Thúy Vân và em trai nàng chăm sóc cho hai đấng sinh thành nên nàng tạm thời nguôi ngoai nỗi lòng

Thúy kiều lại trở về với thực tại của đời mình, trở về với nỗi đau hiện thực:

“Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Điệp từ “buồn trông” được nhắc đi nhắc lại trong khổ thơ Nó như tâm trạng của Kiều lúc này, đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên nàng nhìn gì cũng cảm thấy buồn Thúy Kiều cảm thấy đời mình nhan phận bèo trôi, hoa rụng chả biết sẽ được dòng đời xô về đâu, rồi sẽ đến ngày hoa tàn nhụy héo Câu thơ nói lên

sự lênh đênh trên chặng đường đời nhiều sóng gió trước mặt Kiều Nó nói lên sự phong ba, gập ghềnh mà Kiều sẽ phải đi qua:

“Buồn trông sóng cuốn mặt duềnh

Trang 10

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh được vẽ lên với những màu sắc xám lạnh, gợi tả tâm trạng vô cùng sống động, nhưng nó cũng nhiều thê lương

ai oán Cảnh và người trong đoạn trích như hòa vào làm một nó thể hiện sự cô đơn,

bẽ bàng, buồn tủi của Thúy Kiều trong cảnh đời éo le của mình, nhưng nó cũng thể hiện sự hiếu thuận, sắc son của Kiều đối với cha mẹ và Kim Trọng dù trong biến

cố nhưng trong lòng Thúy Kiều vẫn luôn hướng về những người yêu thương

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 3)

Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Du cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại truyện Nôm trong văn học trung đại Việt Nam Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc Tác phẩm có giá trị lớn về mặt nội dung cũng như nghệ thuật

Đoạn trích nằm ồ phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn Tú Bà vờ hứa chờ Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới tàn bạo hơn, đê tiện hơn

Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều Khung cảnh chung ở lầu Ngưng Bích: không gian, thời gian mênh mông, hoang vắng:

Bốn bề bát ngát xa trông,

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

Chỉ với mười bốn chữ mà chữ nào cũng gợi lên thời gian, không gian mênh mông, hoang vắng Cảnh non xa, trăng gần gợi hình ảnh lầu Ngưng Bích chơ vơ, cao ngất nghễu giữa mênh mang sông nước Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt Kiều sống cô đơn, tội nghiệp

Kiều sỐng một mình giữa cái lầu trơ trọi, giữa thời gian, không gian mênh mông hoang vắng Cái lầu trơ trọi đã giam một thân phận trơ trọi, không một bóng người, không sự giao lưu giữa người với người

Cụm từ mây sớm đèn khuya gợi thời gian tuần hoàn khép kín Thời gian cũng như không gian giam hãm con người Ở đó, sớm, Thuý Kiều làm bạn với mây trời,

Trang 11

đêm, nàng làm bạn với ngọn đèn Dù sớm hay đêm nàng vẫn chỉ thui thủi một mình

Thật thương cho nàng Kiều Mới hôm nào Kiều cùng hai em đi du xuân trong tiết Thanh minh mà bây giờ nàng phải sống cô đơn, buồn tủi ở lầu Ngưng Bích

Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau Điều đó hoàn toàn phù hợp với lô-gíc tâm trạng Kiều đã bị Mã Giám Sinh làm nhục và đang bị

ép tiếp khách làng chơi nên Kiều nhớ tới Kim Trọng với một nỗi nhớ thương day dứt:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Nhớ Kim Trọng là nhớ đến tình yêu nôn bao giờ Kiều cũng nhớ lời thề đôi lứa Nàng đã cùng Kim Trọng thề nguyền dưới ánh trăng Giờ đây nàng tưởng tượng, ở nơi xa Kim Trọng cũng đang hướng về mình, đang chờ mong tin tức của mình Nàng nhớ về Kim Trọng với tâm trạng đau đớn xót xa Bởi vì, tình yêu son sắt, trắng trong mà nàng thề trao tặng, gắn bó trọn đời với chàng đã bị lũ buôn bán người dập vùi hoen ố Nàng đã hứa hẹn nhưng rồi vì hoàn cảnh gia đình nàng đã bán mình chuộc cha, cứu em Nàng đau đớn còn bởi lẽ vết nhơ bẩn bọn buôn người gây ra làm sao có thể gột rửa cho sạch mà mong xứng đáng với chàng Kiều không chỉ đau đớn mà còn day dứt, tự hổ thẹn vì đã phụ tình yêu, niềm tin, lòng mong mỏi, sự gửi gắm của Kim Trọng Những chi tiết miêu tả nỗi dày vò, đau đớn đến xót xa của Kiều đã giúp ta hiểu được tấm lòng nàng Một số từ ngữ tưởng, trông, chờ, bơ vơ, gột rửa, phai,… đã liên kết thành một hệ thống ngôn ngữ độc thoại biểu đạt nội tâm nhân vật trữ tình Kiều nhớ người yêu khôn nguôi, xót xa cho mối tình trong sáng, sâu nặng lời thề mà bị tan vỡ

Nghĩ đến cha mẹ, Kiều thương và xót Nàng thương cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngóng tin con, trông mong sự đỡ đần Nàng xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu

mà không được chăm nom Nàng còn lo lắng không biết bây giờ ai đang chăm sóc cho song thân:

Xót người tựa cửa hôm mai

Trang 12

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh, điển cố sân Lai, gốc tử đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay mà đổi thay lớn nhất là gốc tử đã vừa người ôm, nghĩa là cha mẹ ngày một thêm già yếu Cụm từ cách mấy nắng mưa vừa nói được thời gian cách xa bao mùa mưa nắng, vừa nói lên được sức mạnh tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với cảnh vật và con người Nhớ về cha mẹ, Kiều luôn ân hận vì nàng cho rằng, mình

đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dưỡng của cha mẹ

Chỉ bằng tám câu thơ mà Nguyễn Du đã miêu tả thật trọn vẹn nỗi nhớ của Thuý Kiều về Kim Trọng, về cha mẹ, người đã sinh thành và nuôi dưỡng mình khôn lớn Nỗi nhớ thật sâu lắng và da diết

Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng Kiều: cảnh được quan sát từ xa đến gần về màu sắc thì được miêu tả từ màu nhạt đến đậm về âm thanh, tác giả lại miêu tả từ tĩnh đến động Nỗi buồn thì tác giả miêu tả từ nỗi buồn man mác dần tăng lên nỗi lo âu, kinh sợ Ngọn gió cuốn mặt duềnh và Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi là cảnh tượng hãi hùng, như báo trước giông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều Và quả thực, ngay sau lúc này, Kiều đã bị

Sở Khanh lừa và dấn thân vào kiếp sống long đong lận đận của 15 năm lưu lạc

Bằng hai câu hỏi tu từ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?, Hoa trôi man mác biết là về đâu, tác giả đã làm nổi bật lên tâm trạng của Thuý Kiều Đó là tâm trạng

cô đơn lẻ loi, là tâm trạng lo sợ hãi hùng Kiều nghĩ đến tương lai mờ mịt, héo tàn của mình

Như vậy, cũng là tả cảnh nhưng bức tranh cảnh vật ở đây được quan sát qua tâm trạng của nàng Kiều Chỉ trong tám câu thơ nhưng điệp ngữ buồn trông xuất hiện tới bốn lần Càng buồn thì càng trông Càng trông lại càng buồn vì ở lầu Ngưng Bích Kiều sông cô độc, lẻ loi Cửa bể mênh mông lúc ngày tàn càng làm tăng nỗi buồn đau của kiếp người lưu lạc Cảnh cửa bể chiều hôm với cánh buồm thấp thoáng xa xa càng làm cho Kiều suy nghĩ đến thân phận bơ vơ của mình nơi đất khách quê người

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn thơ hay nhất trong truyện Kiều Bởi vì, qua đoạn trích, người đọc cảm nhận được tâm trạng cô đơn, buồn tủi, tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều Đồng thời, qua đoạn trích, người đọc thấy rõ nghệ thuật khắc hoạ nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc

Trang 13

Học đoạn trích, ta cũng thấy được tấm lòng nhân đạo của nhà thơ Nguyễn Du Nhà thơ đã xót thương cho một người con gái tài hoa mà bạc mệnh như nàng Kiều Đó cũng chính là sự cảm thông sâu sắc của tác giả dành cho những người phụ nữ bất hạnh trong xã hội xưa

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 4)

Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh phổ quát câu thơ tả cảnh của ông có thể coi là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển Nhưng Nguyễn Du không chỉ chuyên nghiệp về tả cảnh mà còn nhiều năm kinh nghiệm về tả tình cảm, tả tâm cảnh Trong quan điểm của ông, 2 nguyên tố tình và cảnh ko tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là 1 bức tranh tâm tư đầy xúc động Bằng văn pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã diễn tả tâm cảnh nhân vật một cách xuất sắc Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều đấy là nỗi đơn chiếc, buồn tủi, là tấm lòng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và bác mẹ

Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất có lí Phần đầu tác nhái giới thiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trong nỗi cô đơn buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâm trạng đau buồn của Kiều và những dự cảm về các bão tô cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều

Khi không trong sáu câu thơ đầu được biểu đạt hoang vắng, mênh mông đến rợn ngợp Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng trùng, ngửng lên phía trên

là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, thưa thớt như bụi trần nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, trơ thổ địa của nàng khi này:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Có thể hình dung rất rõ 1 ko gian mênh mông đang trải rộng ra trước mắt Kiều ko gian đấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn:

Trang 14

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

1 chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều khi bấy giờ: vừa chán chường, buồn tủi cho thân phận mình, vừa hổ hang, sượng sùng trước mây sớm, đèn khuya Và cảnh vật như cũng san sẻ, đồng cảm có nàng: nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng Bức tranh bỗng dưng ko khách quan, mà sở hữu hồn, đấy chính là bức tranh tâm cảnh của Kiều các ngày đơn chiếc ở lầu Ngưng Bích

Trong tâm cảnh đơn chiếc, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều sắm về mang các người thân của mình Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguyễn Du diễn tả rất xúc động trong các lời độc thoại nội tâm của nhân vật Nỗi thương nhớ được chia đều: bốn câu đầu dành cho tình nhân, bốn câu sau dành cho cha mẹ Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được kể đến trước vì đây là nồi nhớ nồng thắm và sâu thẳm nhất Nồi nhớ đó được xoáy sâu và đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên trong khoảng đó:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai

Lời thơ như đựng đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảy máu! Nỗi nhớ của Kiều thật thiết tha, mãnh liệt! Kiều mường tượng ra cảnh chàng Kim đang đêm ngày mong chờ tin mình một cách thức đau khổ và vô vọng Mới ngày nào nàng cùng mang chàng Kim nặng lời ước hứa trăm năm mà bỗng dưng, nay trở nên kẻ phụ bạc, lỗi hứa với chàng Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, thế mà hiện tại mỗi người mỗi ngả Rồi tự nhiên Kiều liên tưởng đến thân phận: Bên trời góc bể trơ khấc của mình và tự dằn vặt: Tấm son tẩy rửa bao giờ cho phai Kiều nhớ tiếc mối ngọn nguồn trong trắng của mình, nàng nhằm nhè tình cảnh cô đơn của mình,

và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ với thể tẩy rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình có chàng Kim Và đích thực, bóng chàng Kim cũng

sẽ ko bao giờ nhạt phai trong tâm khảm Kiều trong suốt mười lăm năm lưu lạc Nhớ bồ, Kiều càng xót xa mường tưởng ba má mặc dù nàng đã liều đem tấc với, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tù đày, nhưng nghĩ về bố

Trang 15

mẹ, bao trùm trong nàng là 1 nỗi xót xa lo lắng Kiều đau lòng lúc nghĩ đến cảnh bác mẹ già tựa cửa trông con Nàng lo lắng không biết lúc thời tiết thay đổi người nào là người chăm sóc bố mẹ Nguyễn Du đã rất thành công lúc tiêu dùng thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều lúc mường tượng ba

má, mường tượng nghĩa vụ khiến con của mình Trong tình cảnh của Kiều, những nghĩ suy, tâm cảnh ấy càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu hạnh Nhớ ý trung nhân, nhớ cha mẹ, nhưng rồi rốt cuộc nàng Kiều lại quay về với hoàn cảnh của mình, sống với tâm trạng và thân phận bây giờ của chính mình Mỗi cảnh vật qua con mắt, dòng nhìn của Kiều lại gợi lên trong tâm tưởng nàng một nét buồn Và nàng Kiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗi buồn của mình Nỗi buồn sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi khi càng tô đậm thêm bằng bí quyết dùng điệp ngữ liên hoàn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu… Mỗi cảnh vật hiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc Mỗi cặp câu gợi

ra 1 nỗi buồn Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà ngóng chờ một chiếc gì đó mơ hồ sẽ đến khiến đổi thay trạng thái hiện giờ dường như Kiều mong cánh buồm, những cánh buồm chỉ thập thò, xa xa không rõ, như một hoài vọng mơ hồ, mỗi khi mỗi xa

Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xô đẩy cánh hoa xiêu dạt, ko biết về đâu như thân phận của mình Rồi màu xanh xanh vô tận của nội

cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêm mênh sở hữu trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn ấy bỗng dội lên thành 1 nỗi kinh hoàng khi ầm ầm tiếng sóng kêu quanh quéo ghế ngồi Đây là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực

Tám câu thơ tuyệt tác với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình hài hòa mang nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ biểu tượng cùng với việc dùng phổ biến từ láy tượng hình, tượng thanh (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đã khắc họa rõ cảm giác u uất, nặng nài, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều lúc ở lầu Ngưng Bích

Trang 16

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là 1 bức tranh tự nhiên đồng thời cũng là 1 bức tranh tâm cảnh mang bố cục chặt chẽ và khéo léo tự dưng ở đây liên tiếp thay đổi theo diễn biến tâm cảnh của con người Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn Du đều phản ánh 1 chừng độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều Qua đó, cho thấy

Nguyễn Du đã thực thụ hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca tụng tấm lòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của các người đàn bà tài sắc mà bạc phận

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 5)

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (trích Truyện Kiều) thể hiện rõ nét tài năng miêu tả tâm lí nhân vật bậc thầy của thiên tài Nguyễn Du Bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích được nhà thơ lột tả từng lớp, từng lớp, cho người đọc một cái nhìn chi tiết về nỗi đớn đau, dằn vặt của Thúy Kiều trước ngưỡng cửa cuộc đời

Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục,

bị Tú Bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh Đau đớn, tủi nhục, phẫn uất, nàng định tự vẫn Tú

Bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều Mụ vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế Tú Bà đưa Kiều ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạo hơn

Thứ tự miêu tả đi từ hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều đến thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ và kết thúc trong nỗi hoang mang, hãi hùng của tâm trạng Sự chuyển tiếp tâm trạng của Thúy Kiều khi ở làu Ngưng Bích có thể là quá nhanh nhưng hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh và tính cách của nàng, một người con hiếu thảo, sống có trách nhiệm, một thiếu nữ với trái tim rạo rực, đắm say, thủy chung son sắt trong tình yêu

Lầu Ngưng Bích ở chênh vênh trên một sườn núi Nơi ấy cảnh quan hùng vĩ, thơ mộng, là địa điểm lí tưởng để tao nhân mặc khách du sơn thưởng ngoạn cảnh đẹp Đất trời quyến luyến khói sương, non cao vọng về biển cả, thiên nhiên vũ trụ hòa hợp nhất thể khiến cho lòng người được an nhiên, tĩnh lặng Đáng tiếc thay, ngay lúc này, Thúy Kiều không cần đến điều đó Nàng đang ở trong nghịch cảnh đầy mâu thuẫn và lo toan, dù cảnh đẹp đến mấy cũng không thể khiến nàng khuây khỏa, nguôi ngoai được Thế nên, Bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích thấm đẫm một nỗi buồn ly tan

Trang 17

Ngưng Bích nghĩa nơi ngưng đọng lại ánh trời xanh Khóa xuân là khóa kín tuổi xuân, ý nói cấm cung (con gái nhà quyền quý thời xưa không được ra khỏi phòng ở) Nguyễn Du sử dụng từ khóa xuân với ngụ ý mỉa mai, nói lên cảnh ngộ trớ trêu của Kiều như tù nhân bị giam lỏng Nàng trơ trọi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng: “bốn bề bát ngát xa trông”:

“Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Nơi lầu cao, đẹp mà vô tình, Thúy Kiều ngày đêm đối diện với hoàn cảnh của chính mình, chẳng lúc nào nàng thôi nghĩ ngợi:

“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình, nửa cảnh, như chia tấm lòng”

Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín Tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều “thui thủi quê người một thân” và dồn tới lớp những nỗi niềm chua xót đau thương khiến tấm lòng Kiều như bị chia xẻ

“Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” Vì vậy, dù cảnh có đẹp đến mấy, tâm trạng Kiều cũng không thể vui được Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của nguyễn Du

đã đi vào chỗ vi diệu Cảnh làm nền cho tình, tả cảnh để tả tình Cảnh đẹp và tình cũng rất đẹp Hai yếu tố vừa song song lại vừa hòa cuộn vào nhau khiến cho bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích rối bời, tê tái

Tám câu thơ tiếp theo diễn tả tâm trạng thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều Đó là nỗi nhớ chủ đạo và thường trực nhất trong tâm trí Thúy Kiều lúc này:

Trang 18

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”

Mối tình Kim – Kiều là nghìn năm có một Người quốc sắc, kẻ thiên tài lưu luyến nhau thuở ấy đã trở thành kinh điển, mẫu mực cho tình yêu lứa đôi Kiều “tưởng” như thấy lại kỉ niệm thiêng liêng đêm thề nguyền đính ước “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng” Cái đêm ấy hình như vừa mới ngày hôm qua Một lần khác nàng nhớ về Kim Trọng cũng là “Nhớ lời nguyện ước ba sinh” Kiều xót xa hình dung người yêu vẫn chưa biết tin nàng bán mình, vẫn ngày đêm mòn mỏi chờ trông chốn Liêu Dương xa xôi

Nàng nhớ người yêu với tâm trạng đau đớn: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

Có lẽ “tấm son” ấy là tấm lòng Kiều son sắt, thủy chung, không nguôi thương nhớ Kim Trọng Cũng có thể là Kiều đang tủi nhục khi tấm lòng son sắt đã bị dập vùi, hoen ố, không biết bao giờ mới gột rửa cho được Trong nỗi nhớ chàng Kim có cả nỗi đau đớn vò xé tâm can

Có thể thấy, mối tình Kim – Kiều không gặp phải sự ngăn trở của gia đình Tuy không lên tiếng ủng hộ nhưng gia đình không gây những trở lực có thẻ khiến cho hai kẻ yêu nhau phải bận tâm Thế nên, sau nỗi nhớ Kim trọng, Thúy kiều nhớ về cha mẹ và bổn phận làm con của mình:

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa?

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

Nàng xót xa khi tưởng tượng cha mẹ khi sáng, lúc chiều tựa cửa mong ngóng tin con Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi vì không thể “Quạt nồng ấp lạnh” phụng dưỡng song thân, băn khoăn không biết hai em có chăm sóc cha mẹ chu đáo hay không Nàng còn tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay, gốc tử đã vừa người ôm, cha mẹ ngày thêm già yếu

Trang 19

Cụm từ “cách mấy nắng mưa” vừa cho thấy sự xa cách bao mùa mưa nắng, vừa nói lên sức mạnh tàn phá của tự nhiên đối với cảnh vật, con người Lần nào nhớ về cha

mẹ, Kiều cũng “nhớ ơn chín chữ cao sâu” và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy của cha mẹ Kiều đã quên mất cảnh ngộ của bản thân, chỉ một lòng nghĩ và hướng về Kim Trọng, về cha mẹ Tấm lòng ấy khẳng định Kiều

là người tình chung thủy, người con hiếu thảo, người luôn nghĩ và sống cho người khác, người có tấm lòng vị tha đáng trân trọng

Theo sự miêu tả, Kiều nhớ Kim Trọng trước, sau đó mới nhớ đến song thân Nhiều

hủ nho cho rằng như vậy là không đúng với truyền thống dân tộc, đi ngược lại lễ giáo, thuần phong mĩ tục Thế nhưng, nhìn kỹ, thật ra lại là rất hợp lí Kiều đã bán mình cứu cha và em, nghĩa là đã đền đáp được một phần công lao cha mẹ, nên nàng đỡ bứt rứt Còn với Kim Trọng, vì chữ hiếu mà nàng đã bội bạc lời thề kết tóc

se duyên, trăm năm đầu bạc với chàng Kiều thấy mình như một kẻ phụ tình, phụ tấm lòng người yêu, nên nàng cắn rứt khôn nguôi Đây là một nét bút đặc sắc, hết sức độc đáo của Nguyễn Du, phù hợp với quy luật và chiều sâu tâm lý con người

Nhớ đến người rồi nàng lại nghĩ về mình Phận nàng nhỏ bé, còn không gian thì rộng lớn quá, mênh mông quá Cảnh vật ở lầu ngưng Bích tuyệt đẹp nhưng dưới cái nhìn của tâm trạng đau thương, buồn nhớ của người thiếu nữ, nó đã trở nên hoang vắng, tiêu điều:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời

là một ẩn dụ về tâm trạng con người – mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lí do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm

Trang 20

trạng để rồi tình buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn ấy mỗi lúc một ghê gớm, mãnh liệt

Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tác giả khắc họa qua điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu có nghĩa là buồn

mà trông ra bốn phía, trông nóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng “Buồn trông” có cái thoảng thốt lo âu, có cái xa lạ hút tầm nhìn, có cả dự cảm hãi hùng của người con gái ngây thơ lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang ngược Điệp từ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau Điệp ngữ lại được kết hợp với các từ láy chủ yếu là những từ láy tượng hình, dồn dập, chỉ có một từ láy tượng thanh ở cuối câu tạo nên nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày một tăng, dâng lên lớp lớp, nỗi buồn vô vọng, vô tận Điệp ngữ tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng

Mở ra nỗi buồn là cảnh biển mênh mang Chiều hôm buông xuống thời gian gợi nghĩ đến sự trở về đoàn tụ Có cánh buồm xa xa, tín vật của sự gắn kết nhưng sao

xa quá là xa:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là một hình ảnh rất đắt để thể hiện nội tâm nàng Kiều Một cánh buồm nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắt; cũng như Kiều trong không gian vắng lặng của hiện tại nhìn về phương xa với nỗi buồn nhớ da diết về gia đình, quê hương Con thuyền gần như mất hút, vẫn còn lênh đênh trên mặt biển khi

mà những con thuyền khác đều đã cập bến, biết bao giờ mới tìm được bến bờ neo đậu; cũng như Kiều còn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở về sum họp, đoàn tụ với những người thân yêu

Đến bức tranh thứ 2, tầm nhìn tuy có gần lại hơn nhưng vẫn còn rộng quá:

“Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

Từ “Buồn trông” tiếp tục gợi âm điệu buồn mênh mang, nỗi buồn nhân lên khi nàng nhìn thấy cánh hoa trôi lênh đênh vô định Từ “trôi” chỉ sự vận động nhưng ở thế bị động, những cánh hoa trôi mặc sóng nước vùi dập như số phận Kiều cũng

Trang 21

thế Những cánh hoa tàn lụi trôi man mác trên ngọn nước mới xa khi Kiều càng buồn hơn bởi như nàng như nhìn thấy trong đó thân phận mình lênh đênh, vô định,

ba chìm bảy nổi giữa sóng nước Cánh hoa mỏng manh, vô định gợi thân phận nhỏ

bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu

Không thể tìm thấy nơi để tâm hồn nương trú, nàng thoái tầm nhìn về với cảnh vườn mong tìm chút ấm áp Thế nhưng, càng ngóng tìm càng thấy chơi vơi:

“Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Nội cỏ “rầu rầu”, “xanh xanh”, hai sắc xanh héo úa, mù mịt, nhạt nhòa trải dài từ chân mây đến mặt đất Có còn đâu cái “xanh tận chân trời” như sắc cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiều còn trong cảnh đầm ấm Màu xanh này gợi cho Kiều một nỗi chán ngán, vô vọng vì cuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt không biết kéo dài đến bao giờ Màu xanh nhợt nhạt héo hắt của cảnh vật chính là

ẩn dụ cho tương lai mờ mịt vô vọng của Kiều Kiều tuyệt vọng, mất phương hướng hoàn toàn Đây vừa là tâm trạng vừa là cảnh ngộ đáng thương của Thúy Kiều

Cuối cùng, ngoại cảnh không còn niềm tin nào nữa, nàng trở về với chính mình trong nỗi hoang mang cùng cực:

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập Một cơn “gió cuốn mặt duềnh” làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên ầm ầm như vây quanh ghế Kiều ngồi Cái

âm thanh “ ầm ầm tiếng sóng” ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang ập đổ xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ

bé ấy trong xã hội phong kiến cổ hủ, bất công Tất cả là đợt sóng đang gầm thét, rút gào trong lòng nàng Lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi như rơi dần vào vực thẳm một cách bất lực Nỗi buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng cũng rất ảo Đó

là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo quy luật “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn tả nỗi buồn man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều Tất cả là hình ảnh về sự vô định,

Trang 22

mong manh, sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời “thanh lâu hai lần, thanh y hai lượt”

Đoạn thơ đã khắc họa thành công tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích

Có thể xem đây là kiểu mẫu của lối thơ tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển

Để diễn tả tâm trạng Kiều Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” để khắc họa tâm trạng của Kiều lúc bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

Những chặng đường đầy cạm bẫy, nhiều máu và nước mắt có “ma đưa lối, quỷ đem đường”, đối với Kiều đang ở phía trước Đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” như chứa đầy lệ Lệ của người con gái lưu lạc, đau khổ vì cô đơn lẻ loi buồn

thương chua xót vì mối tình đầu tan vỡ, xót xa vì thương nhớ mẹ cha, lo sợ cho thân phận, số phận mình Lệ của nhà thơ, một trái tim nhân đạo bao la đồng cảm, xót thương cho người thiếu nữ tài sắc, hiếu thảo mà bạc mệnh

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 6)

Trong Truyện Kiều, có nhiều đoạn thơ hay miêu tả nỗi cô đơn nhớ nhà của Kiều Nhưng không đoạn nào thể hiện được trạng thái bi đát, bế tắc, đơn côi như đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích

Trước hết, Nguyễn Du miêu tả tình cảnh cô đơn của Kiều ở lầu Ngưng Bích bằng cách vẽ ra khung cảnh xung quanh theo con mắt của Kiều:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân……

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

Hai chữ khóa xuân nói lên thực chất Kiều bị giam lỏng Câu vẻ non xa tấm trăng gần cực tả cảnh cô đơn của Kiều Lầu Ngưng Bích cao quá, trơ trọi quá, Kiều như chỉ còn ở chung làm bạn với non xa, trăng gần Một cảm giác trơ trọi rợn ngợp, lơ lửng tràn ngập câu thơ Nhìn ra xung quanh chỉ thấy một không gian bao la, xa vời: non xa, xa trông, cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia, không một bóng cây, bóng nhà, bóng người.về thời gian, sáng làm bạn với mây, khuya làm bạn với đèn, thức ngủ một mình thui thủi, triền miên, thật là bẽ bàng – ngao ngán và vô vọng Nhưng

Trang 23

nàng buồn về cảnh một phần, một phần khác buồn hơn vì tình Đó là hai nỗi buồn chia xé tâm hồn nàng

Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ đã cực tả nỗi lòng nhớ nhung, thương xót đối với người thân Người đầu tiên được nhớ tới trong những giờ phút cô quạnh ấy là Kim Trọng, người mà đã nặng lòng thề hẹn:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Trong tâm trí nàng vẫn còn như in hình ảnh hai người cùng uống rượu thề nguyền dưới trăng: “đinh ninh hai miệng một lời song song” Kiều thương nhất là việc Kim Trọng vẫn chưa biết Kiều đã thuộc về người khác, vẫn đang ngày đêm trông chờ nàng một cách uổng công Hết thương Kim Trọng, Kiều lại thương mình:

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Tấm son là tấm lòng thủy chung, son sắt của Thúy Kiều với Kim Trọng Nói bao giờ quên được mối tình, có nghĩa là chẳng bao giờ quên được Tiếp đến Kiều nhớ thương cha mẹ già:

Xót người tựa cửa hôm mai…

Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Tựa cửa là hình ảnh của ngóng trông Nàng tưởng tượng cha mẹ đang tựa cửa ngóng trông nàng về Và giờ đây ai là người quạt nồng ấp lạnh cho cha mẹ.nàng cảm thấy thời gian xa nhà đã rất lâu: cách mấy nắng mưa, và tưởng tượng thấy cha

mẹ đã già (có khi gốc tử đã vừa người ôm)

Cuối cùng, Kiều nhìn đến cảnh trống trải, xa vắng mà nghĩ đến thân phận Đây là những câu thơ réo rắt bậc nhất về nỗi buồn lưu lạc, bơ vơ mỗi câu thơ như gợi lên một nỗi buồn thảm hãi hùng lắng sâu trong vô thức:

Buồn trông cửa biển chiều hôm……

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Tám câu thơ, mỗi cặp câu gợi ra một nỗi buồn sâu thẳm Nhìn thấy cánh buồm thấp thoáng xa xa, gợi cho nàng nỗi buồn nhớ quê hương tha thiết Nhìn thấy cánh

Trang 24

hoa trôi man mác, gợi cho nàng nỗi buồn thân phận không biết sẽ đi đâu về đâu Ngắm nhìn nội cỏ một màu xanh xanh gợi cho nàng nỗi buồn chán về cuộc sống tẻ nhạt vô vị ở lầu Ngưng Bích không biết bao giờ mới kết thúc Và cuối cùng là nỗi

lo lắng sợ hãi trước những tai ương sắp ập xuống khi nàng thấy xung quanh mình

là tiếng sóng ầm ầm Với điệp ngữ buồn trông, nỗi buồn của Kiều như tầng tầng lớp lớp, không bao giờ dứt, càng ngày càng xoáy sâu thêm

Tám câu thơ, câu nào cũng vừa thực vừa hư, vừa là thực cảnh, vừa là tâm cảnh Toàn là hình ảnh về sự vô vọng, sự dạt trôi, sự bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ Đây chính là lúc tình cảm Kiều trở nên mong manh và yếu đuối nhất, là lúc mà nàng rất dễ rơi vào cạm bẫy, như nàng sẽ rơi vào tay Sở Khanh sau đó

Đọc đoạn thơ, chúng ta không chỉ hiểu được tâm trạng Kiều, mà còn thấy ở Kiều những phẩm chất tốt đẹp Đó là một con người đầy lòng vị tha Đồng thời chúng ta cũng thấy được sự đồng cảm của nhà thơ đối với nhân vật Và nhất là thấy được nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 7)

Trong “Truyện Kiều" của Nguyễn Du, đoạn nói về tâm trạng của Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích vẫn được người đọc xưa nay coi là một trong những đoạn thơ tuyệt vời về nghệ thuật tả cảnh và tả tình Thế nhưng cái hay của cả đoạn thơ như ngưng đọng trong những câu thơ cuối cùng, ở bốn bức tranh:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."

Tám câu thơ trên là cảnh nhưng thực sự là tình, Nguyễn Du tả cành nhưng thực sự

Trang 25

của Kiều là nồi buồn lớn, không phải là nỗi buồn thoáng qua vì một duyên cớ chốc lát, mà là nỗi buồn đeo đẳng suốt cả đời người Quá thật, trong suốt phần đầu của

"Truyện Kiều”, chưa bao giờ Kiều buồn như lúc này, bởi chưa bao giờ Kiều kịp có lúc để nhìn vào chuyện buồn của mình, ngẫm cho kĩ, thấm cho sâu về chuyện buồn

ấy Xa Kim Trọng, phải bán mình chuộc cha, Kiều chỉ kịp đau đớn, nhưng gia biến nặng nề, nỗi đau của cha, nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của các em, những điều ấy đòi hỏi Kiều phải đứng vững, tạm quên mình đi để giải quyết việc nhà cho trọn đạo một người con Một người chị, phải rời gia đình, cùng Mã Giám Sinh ra đi, trong nỗi buồn vì không vẹn tình với Kim Trọng, Kiều có niềm an ủi đã cứu được gia đình Vừa đến Lâm Tri, bước vào nhà mụ Tú Bà, chưa kịp hồi sức sau một chặng đường dài “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”, Kiều đã hoảng hốt vì quang cảnh nhà mụ Kiều đã gặp ngay một trận “ tam bành" của con mụ bán thịt người ác độc Có lẽ Kiều đã đau, đã nhục, đã căm hờn, nhưng chưa kịp buồn

Bây giờ mới thực sự buồn Ta hình dung Kiều ngồi một mình trên lầu Ngưng Bích (thực chất là lầu rước khách của mụ Tú), bốn bề là mênh mông vắng lặng Cảnh ấy dội vào lòng Kiều, xui nàng nghĩ về thân phận của mình Nỗi buồn mỗi lúc một thấm thía Nàng buồn vì nhớ tới Kim Trọng, người mới cùng nàng thề bồi tha thiết

mà nay thì vĩnh viễn cách xa Nàng buồn vì nỗi xa cha mẹ, từ nay mỗi ngày một già yếu mà không có nàng để hôm sớm đỡ đần chăm sóc Nỗi buồn thật là vời vợi mênh mông, giờ đã đọng thành khối trong lòng Kiều Nếu ban đầu nỗi buồn còn từ cảnh một dội vào lòng thì lúc này nỗi buồn lại chính từ lòng buồn Với hai tiếng'

“buồn trông" Nguyễn Du sao mà hiểu lòng người sâu sắc quá vậy!

Kiều trông gì?

Đây là bức tranh thứ nhất:

"Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?"

Trông về "cửa bể" mà lại là “cửa bể chiều hôm" Lúc ấy mặt trời sắp tắt, chỉ còn để lại những ánh sáng thoi thóp cuối cùng trên mặt nước Nhìn về cửa bể tức là còn nhìn thấy cả một mặt bể đang mất hút đi ở cuối chân trời Phía ấy không có gì cả ngoài một trống vắng mênh mông, một bầu trời đang dần tối Thế mà trên cái nền

Trang 26

trống vắng lại nổi lên hình ảnh “thuyền ai" “Thuyền ai" tức là chỉ có một chiếc thuyền, chứ không phải cảnh đoàn thuyền đông đúc tấp nập từ biển trở về để gợi lên một điều vui vẻ Con thuyền gần như mất hút cuối chân trời, vì Kiều chỉ nhìn thấy cánh buồm của nó, mà cánh buồm thì lại cũng chỉ ‘'thấp thoáng” “Thấp

thoáng", hai âm "th" gợi một cảm giác kịp lại Với hai âm "ấp" và “oáng" một âm tấc, một âm vang - diễn tả hình ảnh cánh buồm mờ mờ tỏ tỏ, chợt hiện rồi chợt ẩn, nhấp nhô trên sóng biển, như mơ hồ, như ảo ảnh ở cuối biển xa xa "Thuyền ai " thuyền ai đó, thuyền ai thế nhỉ? Thuyền đang đi về nơi quê nhà thân yêu của ta chăng? Hay thuyền đang đi về nơi vô định, cũng cô đơn, cũng lưu lạc giang hồ như chính ta? Tâm sự này đã buồn, trông vào cảnh ấy, sao có thể không thấm thía nỗi buồn hơn

Như để tìm một chút lãng quên, Kiều ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác Thì đây:

“Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?"

Trước mắt Kiều là một ngọn nước từ trên thác cao đang đổ xuống Mới từ lòng suối chảy trôi khỏi đầu ngọn thác, ôi thôi, thế là tan tác đời trong trẻo với êm đềm của nước Bây giờ là lúc bắt đầu của dập vùi, cuồn xoáy, sôi trào, xô dập, ngầu đục cát bùn Kinh hãi thay cái phút từ trên mỏm đá cao sa xuống thác! Cảnh ngọn nước

đã buồn, mà nhìn đến chân ngọn nước thì: hoa trôi man mác Giá nhà thơ viết ''tan tác" thì cũng đành đi một nhẽ, cho nó tan vỡ đi, chìm lấp đi, những cánh hoa mỏng manh kia! Nhưng không, hoa rụng xuống dòng nước và bập bềnh trôi đi, bị đưa qua đẩy lại, rồi lại trôi đi, lặng lẽ, buồn bã, để đến một nơi nào không làm sao

có thể biết được Ngọn nước mới sa ấy, cánh hoa trôi ấy có khác chi cuộc đời Kiều! Chính Kiều cũng là một ngọn nước vừa mới đi qua lòng suối êm đềm và vừa mới sa xuống giữa ngọn xoáy dập vùi Chính Kiều cũng là đóa hoa đang man mác trôi đi Đơn độc và mỏng manh trên một dòng nước vừa dài vừa rộng với bao nhiêu

đe doạ chưa thế nào hình dung ra hết

Lòng đã buồn, cảnh lại buồn quá Thôi, hãy đưa mắt trông đi nơi khác

“Buồn trông nội cỏ dầu dầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh."

Trang 27

Lại một cảnh mênh mông hoang vắng: một đồng cỏ phẳng lặng kéo mãi đến cuối tầm nhìn, không một bóng cây, không một dòng sông, không một gò núi, không nhà để phá vỡ bớt cái đơn điệu chán nản ấy đi Chỉ có cỏ, cỏ và cỏ Mà cỏ thì tươi tốt gì đâu! Từ "dầu dầu" không chỉ gợi lên ý buồn bã, mà còn hình dung thấy

những ngọn cỏ lưa thưa ủ ê như đang dần héo hắt đi, đang mất sức sống Đây không phải là đồng cỏ xuân đầy sức sống và niềm vui khi Kiều đi hội thanh minh:

“Cỏ non xanh rợn chân trời ”

Đây là đồng cỏ cuối mùa, cũng đang buồn bã như chính lòng người ngắm cảnh, thế

mà cái đồng cỏ ấy, cái màu cỏ ủ ê ấy lại kéo dài ra vô tận, tiếp cả với nền trời, thành một màu duy nhất: "xanh xanh" Nêu Nguyễn Du viết:

“Chân mây mặt đất một màu xanh tươi"

Thì hẳn nàng Kiều đã tìm được ở đó một niềm an ủi, đôi chút lãng quên Nhưng xanh xanh thì chưa hẳn là xanh, chỉ có vẻ xanh thôi, một màu xanh nhợt nhạt, xa xôi, làm gợi lên một niềm ngao ngán Và có lẽ cái màu “xanh xanh" ấy là cái màu của tâm trạng được nhìn từ đôi mắt đẫm ướt khổ đau

Thế là Thuý Kiều đã ngoảnh nhìn hết ba hướng Nàng chỉ còn một hướng cuối cùng May ra có chút đổi thay chăng?

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

Hóa ra cái buồn của ba cảnh trước tuy buồn mà chưa thực là buồn Ba cành trên buồn đến thế còn là nhẹ quá Cảnh này mới thực là buồn Ba bức tranh trên chi là những bước chuẩn bị cho cảnh buồn cuối cùng này Một vùng biển ăn sâu vào đất liền, ngoài kia là biển lớn Gió biển hun hút chạy vào duềnh, gió cuốn ào ào khiến mặt biển nổi đầy sóng lớn, trắng xóa một màu Sóng vỗ “ầm ầm" chứ không phải

“ầm" như những ngày ít gió; sóng gào thét cuồng nộ, dập vào bờ, xô dập nhau, lớp sóng này chưa tan đã ào lên lớp sóng khác, liên tục, bất tận Tiếng sóng lớn lắm, không chỉ vang ầm trên biển mà vang đi rất xa, vang khắp bốn bể Kiều dường như mình không còn ngồi trên lầu Ngưng Bích nữa, mà ngồi đau chính giữa duềnh biển mênh mông ấy, bốn bên nàng là sóng vỗ Mấy từ ''ầm ầm tiếng sóng" nghe đã dữ dội bên tai nàng, dâng lên gào thét trong tâm hồn nàng, vây bủa lấy nàng

Trang 28

Nếu trong ba bức tranh trên, giữa người và ngoại cảnh còn là hai đối tượng phân biệt, đâu là chủ, đâu là khách, thì đến bức tranh này, con người đã nhập vào ngoại cảnh; ngoại cảnh trùm phủ lấy con người, nỗi buồn thực đã đi đến mức cùng tột của cao trào Lúc này, con người sẵn sàng tan đi cùng với ngoại cảnh, sẵn sàng làm bất cứ việc liều lĩnh nào để hoặc thoát khỏi nỗi buồn ghê gớm ấy, hoặc có thể chết

đi cũng không cần Chính tâm trạng này đã dọn đường cho việc Kiều gặp Sở

Khanh, liều lĩnh theo y rồi bị lừa gạt

Bốn bức tranh của Nguyễn Du thật ra thì không lạ lùng Nhưng thật là lạ lùng cách của Nguyễn Du diễn tả những bức tranh ấy trong sự hòa hợp với hoàn cảnh và tâm trạng của Thúy Kiều Bởi Nguyễn Du rất tinh tế khi nhìn cảnh, rất sâu sắc về tình người, nhưng còn bởi điều này nữa: Nguyễn Du rất tài tình trong ngôn ngữ

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 8)

Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tuyệt phẩm của tác giả Nguyễn Du Ông đã đóng góp cho nền thi ca Việt Nam cổ đại một tác phẩm tuyệt vời có sức sáng tạo, vang

xa tới nhiều thế hệ sau Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn trích hay

nó đã lột tả được tâm trạng của Thúy Kiều khi phải xa Kim Trọng mối tình đầu thơ mộng, tâm trạng đau đớn khi gia đình lâm biến và bản thân nàng từ chỗ một tiểu thư xinh đẹp khuê các phải sa chân vào chốn thanh lâu nhơ nhuốc

Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” tác giả Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng rất nhiều bút pháp điêu luyện nhưng nổi bật lên là tả cảnh, ẩn tình, lấy cảnh vật để nói lên nỗi lòng của con người, người và cảnh vì thế mà tâm đầu ý hợp hòa quyện vào nhau

Sau khi gia đình lâm biến và bị Mã Giám Sinh dùng mưu hèn kế bẩn, gạ gẫm lừa tình rồi bị bán vào thanh lâu, Thúy Kiều đã định tự kết liễu đời mình, nhưng kế hoạch của nàng không thành công Tú Bà thấy Thúy Kiều cương quyết sợ nàng lại

tự tử lần nữa chết thật thì bà ta mất tiền oan, nên ra sức lấy lòng Thúy Kiều, ngọt nhạt để Thúy Kiều nghe lời mình mà chấp nhận tiếp khách

Trang 29

Đây là tâm trạng của Kiều những ngày đầu ở lầu Ngưng Bích, một tâm trạng sống không bằng chết, cô đơn chán nản cuộc đời và mất lòng tin ở con người

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”

“Khóa xuân” hai từ này đã gợi lên trong lòng người đọc rất nhiều cảm xúc chua chát Nó thể hiện sự giam cầm, mất tự do cả về thân thể lẫn tâm hồn của một người con gái đang xuân, đang ở cái tuổi đẹp nhất của đời người đầy mơ mộng, đầy ước

mơ mà giờ đây bị nhốt đời mình ở chốn nhuốc nhơ này

Không gian nên thơ, nhưng mênh mông rộng lớn càng khiến cho tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trở nên cô liêu, hiu quạnh đến tang tóc buồn Bốn bề thì bát ngát, thể hiện sự xa cách, không gian thì bao la những cồn cát, bụi hồng xa mờ khói bụi, làn sương thể hiện sự mờ ảo, mịt mù, không rõ bóng tối hay ánh sáng Nó cũng như đời Thúy Kiều lúc này không biết tương lai ra sao, tất cả đều mịt mù tăm tối

Không gian càng mênh mông tăm tối, mịt mù càng làm cho tâm trạng Thúy Kiều trở nên thê lương bi đát hơn bao giờ hết Một cuộc sống bị giam cầm tù đày cả về tâm hồn, lẫn thể xác

“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

Hai từ “bẽ bàng” đã lột tả được mọi sự ê chề, đau đớn của Thúy Kiều, khi cô vừa

bị Mã Giám Sinh lừa tình, rồi lại còn bị bán vào lầu xanh Vừa thất tiết vừa tủi nhục, vừa oán hận, vừa thê thương Tâm trạng tủi hổ vì sự ngu dốt, mê muội tin nhầm người của nàng đã được hai từ “bẽ bàng” nói hộ

“Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” con người và cảnh vật đã thật sự hòa nhập vào làm một Cảnh vật cũng như người đều mang cảnh u sầu, trống trải, cô đơn khắc khoải…Tất cả khiến cho bức tranh thiên nhiên và con người trở nên xám xịt, mịt mù…

Trang 30

Trong những câu thơ tiếp theo tác giả đưa nhịp bài thơ trở nên nhanh hơn, chuyển hướng tâm trạng của Thúy Kiều hồi tưởng lại những ngày xưa bình yên hạnh phúc

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

Trong sự ê chề, bẽ bàng, tủi nhục này người nàng nhớ về đầu tiên chính là chàng Kim Trọng, nhớ người đã thề hẹn ước nguyện với nàng Nhưng nay lời thề hẹn không thể nào giữ được nữa, nên nàng nhớ về Kim cũng là điều dễ hiểu Nhưng càng nhớ về Kim Trọng thì tâm trạng nàng lại càng đau đớn khi nghĩ tới hiện tại của mình Có lẽ việc quay lại như xưa là điều không thể nào còn thực hiện được

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”

Nàng nghĩ về những người sinh thành ra mình, cảm thấy xót xa, khi nghĩ tới việc

từ nay sẽ không còn được phụng dưỡng, hiếu kính với cha mẹ, không được sống trong sự che chở cưu mang của những người thân thương ruột thịt nhất đời nàng Nàng lo lắng, xót xa nhưng rồi lại tự suy nghĩ rằng sẽ có Thúy Vân và em trai nàng chăm sóc cho hai đấng sinh thành nên nàng tạm thời nguôi ngoai nỗi lòng

Thúy kiều lại trở về với thực tại của đời mình, trở về với nỗi đau hiện thực:

“Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Điệp từ “buồn trông” được nhắc đi nhắc lại trong khổ thơ Nó như tâm trạng của Kiều lúc này, đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên nàng nhìn gì cũng cảm thấy buồn Thúy Kiều cảm thấy đời mình nhan phận bèo trôi, hoa rụng chả biết sẽ được dòng đời xô về đâu, rồi sẽ đến ngày hoa tàn nhụy héo Câu thơ nói lên

sự lênh đênh trên chặng đường đời nhiều sóng gió trước mặt Kiều Nó nói lên sự phong ba, gập ghềnh mà Kiều sẽ phải đi qua:

Trang 31

“Buồn trông sóng cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh được vẽ lên với những màu sắc xám lạnh, gợi tả tâm trạng vô cùng sống động, nhưng nó cũng nhiều thê lương

ai oán Cảnh và người trong đoạn trích như hòa vào làm một nó thể hiện sự cô đơn,

bẽ bàng, buồn tủi của Thúy Kiều trong cảnh đời éo le của mình, nhưng nó cũng thể hiện sự hiếu thuận, sắc son của Kiều đối với cha mẹ và Kim Trọng dù trong biến

cố nhưng trong lòng Thúy Kiều vẫn luôn hướng về những người yêu thương

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 9)

Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Du cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại truyện Nôm trong văn học trung đại Việt Nam Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc Tác phẩm có giá trị lớn về mặt nội dung cũng như nghệ thuật Đoạn trích nằm ồ phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn Tú Bà vờ hứa chờ Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới tàn bạo hơn, đê tiện hơn

Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều Khung cảnh chung ở lầu Ngưng Bích: không gian, thời gian mênh mông, hoang vắng:

Bốn bề bát ngát xa trông,

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

Chỉ với mười bốn chữ mà chữ nào cũng gợi lên thời gian, không gian mênh mông, hoang vắng Cảnh non xa, trăng gần gợi hình ảnh lầu Ngưng Bích chơ vơ, cao ngất nghễu giữa mênh mang sông nước Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt Kiều sống cô đơn, tội nghiệp

Trang 32

Kiều sỐng một mình giữa cái lầu trơ trọi, giữa thời gian, không gian mênh mông hoang vắng Cái lầu trơ trọi đã giam một thân phận trơ trọi, không một bóng người, không sự giao lưu giữa người với người

Cụm từ mây sớm đèn khuya gợi thời gian tuần hoàn khép kín Thời gian cũng như không gian giam hãm con người Ở đó, sớm, Thuý Kiều làm bạn với mây trời, đêm, nàng làm bạn với ngọn đèn Dù sớm hay đêm nàng vẫn chỉ thui thủi một mình

Thật thương cho nàng Kiều Mới hôm nào Kiều cùng hai em đi du xuân trong tiết Thanh minh mà bây giờ nàng phải sống cô đơn, buồn tủi ở lầu Ngưng Bích

Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau Điều đó hoàn toàn phù hợp với lô-gíc tâm trạng Kiều đã bị Mã Giám Sinh làm nhục và đang bị

ép tiếp khách làng chơi nên Kiều nhớ tới Kim Trọng với một nỗi nhớ thương day dứt:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Nhớ Kim Trọng là nhớ đến tình yêu nôn bao giờ Kiều cũng nhớ lời thề đôi lứa Nàng đã cùng Kim Trọng thề nguyền dưới ánh trăng Giờ đây nàng tưởng tượng, ở nơi xa Kim Trọng cũng đang hướng về mình, đang chờ mong tin tức của mình Nàng nhớ về Kim Trọng với tâm trạng đau đớn xót xa Bởi vì, tình yêu son sắt, trắng trong mà nàng thề trao tặng, gắn bó trọn đời với chàng đã bị lũ buôn bán người dập vùi hoen ố Nàng đã hứa hẹn nhưng rồi vì hoàn cảnh gia đình nàng đã bán mình chuộc cha, cứu em Nàng đau đớn còn bởi lẽ vết nhơ bẩn bọn buôn người gây ra làm sao có thể gột rửa cho sạch mà mong xứng đáng với chàng Kiều không chỉ đau đớn mà còn day dứt, tự hổ thẹn vì đã phụ tình yêu, niềm tin, lòng mong mỏi, sự gửi gắm của Kim Trọng Những chi tiết miêu tả nỗi dày vò, đau đớn đến xót xa của Kiều đã giúp ta hiểu được tấm lòng nàng Một số từ ngữ tưởng, trông, chờ, bơ vơ, gột rửa, phai,… đã liên kết thành một hệ thống ngôn ngữ độc thoại

Trang 33

biểu đạt nội tâm nhân vật trữ tình Kiều nhớ người yêu khôn nguôi, xót xa cho mối tình trong sáng, sâu nặng lời thề mà bị tan vỡ

Nghĩ đến cha mẹ, Kiều thương và xót Nàng thương cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngóng tin con, trông mong sự đỡ đần Nàng xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu

mà không được chăm nom Nàng còn lo lắng không biết bây giờ ai đang chăm sóc cho song thân:

Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh, điển cố sân Lai, gốc tử đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay mà đổi thay lớn nhất là gốc tử đã vừa người ôm, nghĩa là cha mẹ ngày một thêm già yếu Cụm từ cách mấy nắng mưa vừa nói được thời gian cách xa bao mùa mưa nắng, vừa nói lên được sức mạnh tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với cảnh vật và con người Nhớ về cha mẹ, Kiều luôn ân hận vì nàng cho rằng, mình

đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dưỡng của cha mẹ

Chỉ bằng tám câu thơ mà Nguyễn Du đã miêu tả thật trọn vẹn nỗi nhớ của Thuý Kiều về Kim Trọng, về cha mẹ, người đã sinh thành và nuôi dưỡng mình khôn lớn Nỗi nhớ thật sâu lắng và da diết

Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng Kiều: cảnh được quan sát từ xa đến gần về màu sắc thì được miêu tả từ màu nhạt đến đậm về âm thanh, tác giả lại miêu tả từ tĩnh đến động Nỗi buồn thì tác giả miêu tả từ nỗi buồn man mác dần tăng lên nỗi lo âu, kinh sợ Ngọn gió cuốn mặt duềnh và Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi là cảnh tượng hãi hùng, như báo trước giông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều Và quả thực, ngay sau lúc này, Kiều đã bị

Sở Khanh lừa và dấn thân vào kiếp sống long đong lận đận của 15 năm lưu lạc Bằng hai câu hỏi tu từ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?, Hoa trôi man mác biết là về đâu, tác giả đã làm nổi bật lên tâm trạng của Thuý Kiều Đó là tâm trạng

cô đơn lẻ loi, là tâm trạng lo sợ hãi hùng Kiều nghĩ đến tương lai mờ mịt, héo tàn của mình

Trang 34

Như vậy, cũng là tả cảnh nhưng bức tranh cảnh vật ở đây được quan sát qua tâm trạng của nàng Kiều Chỉ trong tám câu thơ nhưng điệp ngữ buồn trông xuất hiện tới bốn lần Càng buồn thì càng trông Càng trông lại càng buồn vì ở lầu Ngưng Bích Kiều sông cô độc, lẻ loi Cửa bể mênh mông lúc ngày tàn càng làm tăng nỗi buồn đau của kiếp người lưu lạc Cảnh cửa bể chiều hôm với cánh buồm thấp thoáng xa xa càng làm cho Kiều suy nghĩ đến thân phận bơ vơ của mình nơi đất khách quê người

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn thơ hay nhất trong truyện Kiều Bởi vì, qua đoạn trích, người đọc cảm nhận được tâm trạng cô đơn, buồn tủi, tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều Đồng thời, qua đoạn trích, người đọc thấy rõ nghệ thuật khắc hoạ nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc

Học đoạn trích, ta cũng thấy được tấm lòng nhân đạo của nhà thơ Nguyễn Du Nhà thơ đã xót thương cho một người con gái tài hoa mà bạc mệnh như nàng Kiều Đó cũng chính là sự cảm thông sâu sắc của tác giả dành cho những người phụ nữ bất hạnh trong xã hội xưa

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 10)

Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh phổ quát câu thơ tả cảnh của ông có thể coi là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển Nhưng Nguyễn Du không chỉ chuyên nghiệp về tả cảnh mà còn nhiều năm kinh nghiệm về tả tình cảm, tả tâm cảnh Trong quan điểm của ông, 2 nguyên tố tình và cảnh ko tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là 1 bức tranh tâm tư đầy xúc động Bằng văn pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã diễn tả tâm cảnh nhân vật một cách xuất sắc Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều đấy là nỗi đơn chiếc, buồn tủi, là tấm lòng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và bác mẹ

Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất có lí Phần đầu tác nhái giới thiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trong nỗi cô đơn

Trang 35

buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâm trạng đau buồn của Kiều và những dự cảm về các bão tô cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều

Khi không trong sáu câu thơ đầu được biểu đạt hoang vắng, mênh mông đến rợn ngợp Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng trùng, ngửng lên phía trên

là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, thưa thớt như bụi trần nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, trơ thổ địa của nàng khi này:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

1 chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều khi bấy giờ: vừa chán chường, buồn tủi cho thân phận mình, vừa hổ hang, sượng sùng trước mây sớm, đèn khuya Và cảnh vật như cũng san sẻ, đồng cảm có nàng: nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng Bức tranh bỗng dưng ko khách quan, mà sở hữu hồn, đấy chính là bức tranh tâm cảnh của Kiều các ngày đơn chiếc ở lầu Ngưng Bích

Trong tâm cảnh đơn chiếc, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều sắm về mang các người thân của mình Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguyễn Du diễn tả rất xúc động trong các lời độc thoại nội tâm của nhân vật Nỗi thương nhớ được chia đều: bốn câu đầu dành cho tình nhân, bốn câu sau dành cho cha mẹ Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được kể đến trước vì đây là nồi nhớ nồng thắm và sâu thẳm nhất Nồi nhớ đó được xoáy sâu và đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên trong khoảng đó:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Trang 36

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai

Lời thơ như đựng đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảy máu! Nỗi nhớ của Kiều thật thiết tha, mãnh liệt! Kiều mường tượng ra cảnh chàng Kim đang đêm ngày mong chờ tin mình một cách thức đau khổ và vô vọng Mới ngày nào nàng cùng mang chàng Kim nặng lời ước hứa trăm năm mà bỗng dưng, nay trở nên kẻ phụ bạc, lỗi hứa với chàng Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, thế mà hiện tại mỗi người mỗi ngả Rồi tự nhiên Kiều liên tưởng đến thân phận: Bên trời góc bể trơ khấc của mình và tự dằn vặt: Tấm son tẩy rửa bao giờ cho phai Kiều nhớ tiếc mối ngọn nguồn trong trắng của mình, nàng nhằm nhè tình cảnh cô đơn của mình,

và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ với thể tẩy rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình có chàng Kim Và đích thực, bóng chàng Kim cũng

sẽ ko bao giờ nhạt phai trong tâm khảm Kiều trong suốt mười lăm năm lưu lạc Nhớ bồ, Kiều càng xót xa mường tưởng ba má mặc dù nàng đã liều đem tấc với, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tù đày, nhưng nghĩ về bố

mẹ, bao trùm trong nàng là 1 nỗi xót xa lo lắng Kiều đau lòng lúc nghĩ đến cảnh bác mẹ già tựa cửa trông con Nàng lo lắng không biết lúc thời tiết thay đổi người nào là người chăm sóc bố mẹ Nguyễn Du đã rất thành công lúc tiêu dùng thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều lúc mường tượng ba

má, mường tượng nghĩa vụ khiến con của mình Trong tình cảnh của Kiều, những nghĩ suy, tâm cảnh ấy càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu hạnh Nhớ ý trung nhân, nhớ cha mẹ, nhưng rồi rốt cuộc nàng Kiều lại quay về với hoàn cảnh của mình, sống với tâm trạng và thân phận bây giờ của chính mình Mỗi cảnh vật qua con mắt, dòng nhìn của Kiều lại gợi lên trong tâm tưởng nàng một nét buồn Và nàng Kiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗi buồn của mình Nỗi buồn sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi khi càng tô đậm thêm bằng bí quyết dùng điệp ngữ liên hoàn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:

Trang 37

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu… Mỗi cảnh vật hiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc Mỗi cặp câu gợi

ra 1 nỗi buồn Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà ngóng chờ một chiếc gì đó mơ hồ sẽ đến khiến đổi thay trạng thái hiện giờ dường như Kiều mong cánh buồm, những cánh buồm chỉ thập thò, xa xa không rõ, như một hoài vọng mơ hồ, mỗi khi mỗi xa

Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xô đẩy cánh hoa xiêu dạt, ko biết về đâu như thân phận của mình Rồi màu xanh xanh vô tận của nội

cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêm mênh sở hữu trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn ấy bỗng dội lên thành 1 nỗi kinh hoàng khi ầm ầm tiếng sóng kêu quanh quéo ghế ngồi Đây là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực

Tám câu thơ tuyệt tác với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình hài hòa mang nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ biểu tượng cùng với việc dùng phổ biến từ láy tượng hình, tượng thanh (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đã khắc họa rõ cảm giác u uất, nặng nài, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều lúc ở lầu Ngưng Bích

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là 1 bức tranh tự nhiên đồng thời cũng là 1 bức tranh tâm cảnh mang bố cục chặt chẽ và khéo léo tự dưng ở đây liên tiếp thay đổi theo diễn biến tâm cảnh của con người Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn Du đều phản ánh 1 chừng độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều Qua đó, cho thấy

Nguyễn Du đã thực thụ hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca tụng tấm lòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của các người đàn bà tài sắc mà bạc phận

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 11)

Trang 38

Truyện Kiều là một tác phẩm xuất sắc nhất trong đời thơ Nguyễn Du Ông đã góp vào văn học Việt Nam và thế giới một thi phẩm bất hủ Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã thể hiện bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật điêu luyện, tài tình của ông Qua những dòng thơ, người đọc cảm thấu được sâu sắc nỗi cô đơn, khắc

khoải, tuyệt vọng của Thúy Kiều

Thúy Kiều sau khi bán mình chuộc cha, bị Mã Giám Sinh hạ nhục, rồi bán vào lầu xanh Kiều định tự kết liễu đời mình, nhưng không thành công Tú Bà giam lỏng nàng ở lầu Ngưng Bích và hứa sau khi nàng khỏi bệnh sẽ gả nàng vào một gia đình tốt Kiều ở lầu Ngưng Bích sống trong nỗi cô đơn, buồn bã, nhớ thương quá khứ và

lo lắng, sợ hãi cho tương lai chính mình Bức tranh tâm trạng nàng được miêu tả vô cùng rõ nét

Trước hết, ở lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều mang trong mình nỗi cô đơn, chán nản, đau xót cho số phận chính mình: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung/ Bốn bề bát ngát xa trông/ Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” Hai chữ “khóa xuân” nghe sao thật chua xót, tàn nhẫn Nàng – một người con gái đang ở độ tuổi đẹp nhất, lại bị giam hãm, cầm tù, cảnh ngộ của nàng thật cô đơn tội nghiệp Sự cô đơn đó còn được tuyệt đối hóa qua các hình ảnh chỉ không gian, thời gian, các sự vật tồn tại xung quanh: “cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”

“bát ngát” “non xa” “trăng gần” “mây sớm đèn khuya” Hàng loạt các hình ảnh, từ ngữ chỉ không gian cô quạnh đã một lần nữa tô đậm, làm nổi bật sự cô đơn tuyệt đối của Thúy Kiều Không chỉ vậy cụm từ “mây sớm đèn khuya” còn gợi nên thời gian tuần hoàn, khép kín giam hãm cuộc đời nàng, đẩy Kiều vào nỗi cô đơn, tuyệt vọng, không có lối ra

Tâm trạng ngổn ngang “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”, Kiều nhớ về Kim Trọng – người nàng yêu thương, nhưng lại phải phụ bạc, nhớ về song thân ở nhà mong ngóng tin con Nguyễn Du đã thật tinh tế khi để nàng nhớ về Kim Trọng trước rồi mới nhớ đến cha mẹ Trật tự nỗi nhớ vừa thể hiện đúng quy luật tâm lí, vừa hợp tình vừa hợp lí Kiều nhớ về đêm thề nguyền với Kim Trọng: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng/ Tin sương luống những rày trông mai chờ” Câu thơ vang lên như tiếng lòng thổn thức, như tiếng khóc nấc lên theo nhịp của Thúy Kiều khi mường tượng lại những kỉ niệm đẹp đẽ Nhớ về người thương, nàng lại càng

Trang 39

đau đớn, xót xa hơn khi nghĩ đến cảnh Kim Trọng ngày ngày mong tin mình trong

vô vọng, giờ đây mỗi người đôi ngả, biết ngày nào mới có thể gặp lại Nhưng đau xót nhất có lẽ là hai câu thơ sau: “Chân trời góc bể bơ vơ/ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Nói lên thân phận, hoàn cảnh “bơ vơ”, trơ trọi nơi đất khách quê người Hình ảnh ẩn dụ “tấm son” cho thấy tấm lòng thủy chung son sắt, tình yêu sâu đậm Thúy Kiều dành cho Kim Trọng

Về phía cha mẹ, nỗi nhớ của nàng với song thân cho thấy nàng là một người con hết sức hiếu thảo, luôn yêu thương và nghĩ về cha mẹ Nàng thương cha mẹ đã lớn tuổi lại không có ai ở bên chăm sóc, nàng day dứt trong những ngày hè nóng bức, ngày đông giá lạnh ai sẽ là người lo lắng cho cha mẹ Nguyễn Du đã sử dụng linh hoạt thành ngữ và điển cố để nói về tấm lòng hiếu thảo của nàng: “Sân Lai cách mấy nắng mưa/ Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

Trong hoàn cảnh phải bán mình chuộc cha, lại bị lừa gạt, Kiều là người đáng

thương nhất, nhưng nàng đã vượt lên những đau thương của mình nhớ về cha mẹ, người yêu Điều đó cho thấy nàng là một người thủy chung, sống có tình nghĩa, mang trong mình tấm lòng vị tha, nhân hậu, bao dung

Tám câu thơ cuối cùng không chỉ cho thấy tâm trạng cô đơn, buồn rầu của Thúy Kiều mà còn cho thấy những dự cảm về tương lai đầy tai ương, sóng gió, câu thơ bật lên nỗi kinh hoàng, lo sợ Kiều nhớ về cha mẹ, gia đình, quê hương nên nàng thấm thía sâu sắc tình cảm cô đơn, trống vắng của mình: “Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa” Cánh buồm thấp thoáng trong không gian chiều ảm đạm thể hiện khao khát được đoàn tụ, được trở về với gia đình của nàng Không gian dịch chuyển gần hơn về phía nàng, hình ảnh những cánh hoa trôi man mác, vô định khiến Kiều nghĩ về số phận chìm nổi, mỏng manh của chính mình Bản thân Kiều từ lúc bị bán đi, đã là bắt đầu những chuỗi ngày nổi

vô định, tương lai mù mịt đang đổ ập xuống trước mắt Kiều Câu hỏi tu từ như một lời tự hỏi về tương lai mù mịt của chính bản thân mình Cặp lục bát tiếp theo, không gian lại được mở rộng: “Buồn trông nội cỏ rầu rầu,/Chân mây mặt đất một màu xanh xanh” Sắc xanh trong câu thơ này không còn là màu cỏ non như trong cảnh ngày xuân mà là sắc xanh tàn tạ, héo úa, lụi tàn Màu xanh ấy còn gợi lên sự nhạt nhòa, đơn điệu như chính cuộc sống tẻ nhạt, hiu quạnh, đầy ngao ngán của

Trang 40

Thúy Kiều Câu thơ cuối cùng là lo âu, dự cảm về những tai ương, hiểm nguy đang đón đợi nàng, cảnh hiện ra vô cùng hãi hùng: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh/ Ầm

ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi Ngọn gió cuốn mặt duềnh cùng với tiếng sóng

ầm ầm hung dữ như báo trước, chỉ ngày sau đây thôi, bao nhiêu giông bão trong cuộc đời sẽ nổi lên xô đẩy, vùi dập đời nàng

Với bút pháp tả cảnh ngụ tình tài ba, cảnh trong tác phẩm của Nguyễn Du vừa thể hiện ngoại cảnh vừa thể hiện tâm cảnh Đoạn trích đã khắc họa thành công bức tranh tâm trạng Thúy Kiều trong những ngày nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích Qua đó còn thể hiện sự cảm thương của Nguyễn Du cho số phận, cho cuộc đời đầy bất hạnh của nàng

Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều thể hiện qua đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (mẫu 12)

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du được xem là một kiệt tác tiêu biểu và nổi bật Giá trị vững bền của tác phẩm được tạo nên không chỉ ở mặt nội dung cốt truyện hấp dẫn mà còn thể hiện qua những bút pháp nghệ thuật đặc sắc và nổi bật là nghệ thuật miêu tả tâm lí, nội tâm nhân vật "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là một trong những trích đoạn thể hiện rõ biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả Nguyễn Du Trong đoạn trích này, chúng ta có thể thấy được tâm trạng buồn tủi, nỗi nhớ thương cùng dự cảm của Thúy Kiều trong hoàn cảnh bơ vơ, lạc lõng tại lầu Ngưng Bích

Trong sáu câu thơ đầu tiên, tâm trạng của Thúy Kiều được làm nổi bật với sự chán ngán, bơ vơ, lạc lõng và buồn tủi qua khung cảnh lầu Ngưng Bích Đó là không gian chơi vơi giữa trời nước, núi non: "Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung" và Kiều chỉ nhìn thấy được "Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia" với những "cồn cát

vàng"như đang chuyển động lượn sóng và bụi hồng vướng trải trên hàng dặm xa xăm Tất cả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên được phóng chiếu ở cả chiều cao

và chiều rộng, gợi ra sự mênh mang, hoang vắng và đầy rợn ngợp nhưng lại bị bó gọn trong khoảng thời gian "mây sớm, đèn khuya" tuần hoàn, khép kín; làm nổi bật hơn nữa tâm trạng "bẽ bàng" của nhân vật trữ tình khi bị giam lỏng trong vòng luẩn quẩn đầy tù túng Khung cảnh đó như chia cắt và xoáy sâu hơn nữa vào bi

Ngày đăng: 20/11/2022, 10:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w