1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TĂNG CƯỜNG VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

44 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 314,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PAGE 43 TĂNG CƯỜNG VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Đảng ta luôn coi đường lối, chính sách dân.

Trang 1

TĂNG CƯỜNG VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN

TỘC THIỂU SỐ

Đảng ta luôn coi đường lối, chính sách dân tộc thiểu số là một bộ phậnquan trọng trong chính sách đại đoàn kết của Đảng, vì vậy, việc vận động các dântộc thiểu số là một trong những công tác quan trọng vào bậc nhất của Đảng, Nhànước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để xóa bỏ các điềukiện dẫn tới sự bất bình đẳng giữa các dân tộc vốn do các yếu tố lịch sử để lại, tăngcường đoàn kết các dân tộc, nâng cao đời sống của đồng bào Đại hội XII củaĐảng xác định phải tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng,Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở vùng đồng bào dântộc thiểu số

A Đặc điểm tình hình, thành tựu và khó khăn, thách thức ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

I Đặc điểm tình hình

1 Đặc điểm nổi bật nhất của các dân tộc ở Việt Nam là đều có bản sắc văn

hóa riêng độc đáo, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa ViệtNam thống nhất với một lịch sử chung và truyền thống chung, một tiếng Việt vàmột bộ chữ quốc ngữ chung, một vận mệnh và một tương lai chung

2 Tính đến thời điểm ngày 01/7/2015, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư

trú chủ yếu trên vùng trung du, miền núi và biên giới gồm 30.945 địa bàn có sốlượng người dân tộc thiểu số sinh sống chiếm từ 30% trở lên so với tổng dân sốcủa địa bàn đó với 13.386.330 người là dân tộc thiểu số và 89% sống ở nông thôn,

có vị trí quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, môi trường sinhthái của đất nước

3 Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có quy mô dân số và trình độ phát triển

kinh tế - xã hội không đồng đều nhau với sự chênh lệch khá lớn về điều kiện sống,mức sống giữa các tộc người và giữa các vùng địa lý khác nhau1

4 Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú vừa phân tán, vừa xen kẽ nhau,

không tách riêng theo vùng lãnh thổ và cư trú duy nhất trên một địa bàn, tại 5.453đơn vị hành chính cấp xã, 463 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 56/63 tỉnh,thành phố

5 Các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc đa số ở Việt Nam có truyền thống

đoàn kết, gắn bó lâu đời, đồng cam, cộng khổ, tương trợ, tương thân, thân ái, đấu

1 Nguồn: Báo cáo của Ủy ban Dân tộc ngày 10/6/2016 về kết quả chủ yếu Điều tra thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015.

Trang 2

tranh, chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam thống nhất.

Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số ở miền Nam, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã chỉ rõ nguồn gốc truyền thống của các dân tộc ở Việt Nam: "Đồng bàoKinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê đê, Xê đăng hay Ba na và các dântộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng tasống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có

kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung củachúng ta Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc Chính phủ thì có "Nha dântộc thiểu số" để chăm sóc cho tất cả các đồng bào… Sông có thể cạn, núi có thểmòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt Chúng ta quyếtchung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta…"2 Chủ tịch

Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc.Các dân tộc trên đất nước ta đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ… Đảng vàChính phủ ta luôn luôn kêu gọi các dân tộc xóa bỏ xích mích do đế quốc và phongkiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúpnhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội…"3 "Hiện nay cóhàng chục vạn đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế miền núi Đồngbào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi Và đồng bào miền xuôiphải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi Đó là hai phía, đó là chính sách dân tộccủa Đảng"4

Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ vừa là mục tiêu, vừa động lực của sự pháttriển; vừa là tiền đề, vừa là hệ quả; trong mối quan hệ biện chứng đó, bình đẳng là

cơ sở của đoàn kết và tương trợ là điều kiện của bình đẳng và đoàn kết Sự pháttriển của kinh tế - xã hội giữa các dân tộc chưa đồng đều nên cần có sự tương trợgiúp nhau để cùng tiến bộ Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được Chủ tịch Hồ ChíMinh giành một sự quan tâm đặc biệt và một sự cảm thông sâu sắc, sự theo dõithường xuyên và động viên kịp thời để đồng bào phấn đấu vươn lên theo các biệnpháp, bước đi thích hợp được Người chỉ dẫn Người nói “Dưới chế độ thực dân vàphong kiến, đồng bào rẻo cao sống rất cực khổ Ngày nay, đồng bào rẻo cao được

tự do bình đẳng, không bị áp bức bóc lột như trước kia Nhưng đời sống vật chất

và văn hóa chưa được nâng cao mấy Đó là vì cán bộ lãnh đạo không chú ý đầy đủđến đồng bào rẻo cao Bác thay mặt Trung ương và Chính phủ giao cho cán bộ từtỉnh đến xã phải ra sức giúp đỡ hơn nữa cho đồng bào rẻo cao về mọi mặt”5

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2002, t.4, tr.217-218.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.587.

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.136.

5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr 323.

Trang 3

Từ đặc điểm tình hình nêu trên, việc có chính sách ưu tiên đầu tư, hỗ trợ vàgiúp đỡ đối với các dân tộc thiểu số là rất cần thiết, không chỉ vì lợi ích của Nhândân các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam,không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại và chính sách đó bao gồm tất cả các lĩnhvực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại Các giảipháp chính sách đó đều nhằm tác động, làm biến đổi thực sự bộ mặt kinh tế, xãhội, văn hóa vùng dân tộc thiểu số, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống củađồng bào, đưa các dân tộc thiểu số từ trình độ sản xuất và đời sống thấp từng bước

đi lên Cố nhiên, quá trình đó là lâu dài, gian khổ, phức tạp, phải qua nhiều hìnhthức, bước đi thích hợp, hết sức sáng tạo, linh hoạt với từng dân tộc và vùng dântộc thiểu số Trong quá trình đó, cần tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội và duy ýchí trong quá trình vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, nhưng cũng không thểtrì trệ và kéo dài vì sự no ấm của đồng bào, để xây dựng và phát triển quan hệ dântộc tốt đẹp giữa các dân tộc ở nước ta

Những đặc điểm nêu trên đã, đang và sẽ tác động rất lớn tới số lượng vàchất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số nói chung, việc hình thành và pháttriển đội ngũ cán bộ dân vận người dân tộc thiểu số nói riêng Những đặc điểm đóđòi hỏi các cấp ủy đảng, tổ chức đảng và người lãnh đạo phải tìm ra được nhữngyêu cầu riêng và giải pháp tích cực trong tăng cường số lượng, chất lượng của độingũ cán bộ dân vận người dân tộc thiểu số

Những đặc điểm đó tạo nên hệ quả mà các cấp ủy đảng, tổ chức đảng và

người lãnh đạo phải quan tâm: một là, cán bộ các dân tộc thiểu số sở tại là người

am hiểu rõ nhất đặc điểm tự nhiên, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, sinh quyển vàvăn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc thiểu số, nên sẽ tham mưu, đề xuất các

chủ trương, giải pháp phát triển phù hợp với thực tế; hai là, có nhiều địa phương

vùng dân tộc thiểu số và miền núi vốn là căn cứ địa cách mạng, được Đảng và Bác

Hồ chăm lo phát triển về nhiều mặt, nên đã sớm có đội ngũ cán bộ và trí thức cách

mạng người dân tộc thiểu số; ba là, tuy sự nghiệp giáo dục-đào tạo có những

chuyển biến tiến bộ quan trọng, song tỷ lệ người lao động dân tộc thiểu số qua đàotạo nghề rất thấp, đa số người dân ở vùng dân tộc thiểu số vẫn duy trì tập quán,thói quen sản xuất nhỏ, tiểu nông, “tự sản, tự tiêu” và kiến thức khoa học còn hạn

chế; bốn là, công cụ sản xuất thô sơ, kỹ năng và tác phong lao động lạc hậu; năm

là, năng lực hấp thụ các nguồn lực giúp đỡ từ bên ngoài vào các vùng dân tộc thiểu

số và ý chí tự thân vận động vươn lên của đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn

chế; sáu là, người lao động dân tộc thiểu số ít có cơ hội được tuyển dụng vào làm việc trong các ngành nghề phi nông nghiệp và có thu nhập trung bình trở lên; bảy

là, tâm lý tập quán dân tộc, nhất là tư duy kinh nghiệm, tâm lý ỷ lại, tâm lý tự ti,

Trang 4

mặc cảm, thiếu ý chí tiến thủ, ngại cạnh tranh, tâm lý thuần phác, cả tin đã hạn chếđồng bào các dân tộc thiểu số tiếp thu cái mới… Vì vậy, với tư cách là đội ngũ tinhhoa của các dân tộc, cán bộ và trí thức người dân tộc thiểu số phải là bộ phận tiêubiểu nhất trong cải tạo, cải biến, đổi mới cái cũ, lạc hậu và tiếp thu cái mới, tiêntiến; định hướng và làm tấm gương dẫn dắt đồng bào đi theo đường lối cách mạngcủa Đảng ta – đó cũng là yêu cầu đang đặt ra cấp bách hiện nay.

II Sự thay đổi, tiến bộ và những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực ở vùng dân tộc thiểu số

1 Thành tựu quan trọng nhất, lớn nhất là mọi người là công dân Việt Nam

không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, nam, nữ đều có quyền bình đẳngđược thực hiện không chỉ trên Cương lĩnh chính trị, Hiến pháp, pháp luật mà làtrong thực tế cuộc sống; càng ngày các dân tộc càng hòa hợp và tin tưởng lẫn nhau,tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển, gắn bó và đoàn kết trong đấu tranhgiành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xâydựng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực sự là của Nhân dân, doNhân dân, vì Nhân dân tất cả các dân tộc ở nước ta Cuộc sống đã kéo đồng bàocác dân tộc ở nước ta tham gia vào các quá trình giao lưu chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội một cách tất yếu và ngày càng sâu rộng, tiến tới xóa bỏ sự cách biệtgiữa các dân tộc và các vùng dân cư, tạo nên sức mạnh của cả cộng đồng cũng nhưsức mạnh của mỗi dân tộc và sức mạnh của quốc gia Thực tế đã khẳng định sựphát triển mọi mặt của từng dân tộc gắn liền với sự phát triển của cả cộng đồng dântộc Việt Nam, không một phần dân tộc nào tự tách khỏi cộng đồng lại có thể tự xâydựng cuộc sống và phát triển nhanh về mọi mặt Cho nên, tuy trình độ phát triểntổng hợp chưa đồng đều nhau, nhưng các dân tộc ở Việt Nam luôn đoàn kết, yêu

thương nhau, giúp đỡ nhau để từng dân tộc đều phát triển.

2 Các kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thiết yếu vùng nông thôn dân tộc

thiểu số đã được đầu tư, xây dựng về cơ bản (có 100% xã và 97,8% thôn có điện,

có 99,4% xã và 93,3% thôn có đường ô tô, có 99,7% xã có trường tiểu học và92,9% xã có trường trung học cơ sở, có 58,6% xã và 78,1% thôn có nhà văn hóa,

có 99,5% xã có cơ sở y tế và 96,2% thôn có cán bộ y tế, có 60,8% xã có chợ và27,6% xã có mô hình tổ hợp tác hỗ trợ phát triển sản xuất…), góp phần phát triểnkinh tế hàng hóa ở nhiều vùng và tạo điều kiện rất quan trọng cho vùng đồng bàodân tộc thiểu số phát triển một cách toàn diện hơn, làm cho đại bộ phận đồng bàocác dân tộc thiểu số được cải thiện từng bước về đời sống trên một số mặt chính và

có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới Các vùng dân tộcthiểu số so với xuất phát điểm và với chính mình đã có sự chuyển biến tiến bộ và

Trang 5

bộ mặt kinh tế – xã hội thay đổi đáng kể, trong đó đã có một số dân tộc như dântộc Chăm, Tày, Nùng, Thái, Mường, Sán Dìu, Cao Lan, Hoa phát huy khá tốt nộilực vươn lên hội nhập với sự phát triển chung của cả nước.

3 Sự phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe Nhân

dân, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, nâng cao đờisống văn hóa tinh thần và dân trí vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam có tiến bộ, đạtthành tựu quan trọng và có ý nghĩa cách mạng sâu sắc, tạo tiền đề và các yếu tố cơbản cho từng dân tộc vươn lên theo phát triển chung của cả cộng đồng các dân tộcViệt Nam Đến 01/7/2015, tỷ lệ người dân tộc thiểu số tuổi từ 15 trở lên biết đọc,biết viết đạt 79,8%, tỷ lệ đi học cấp tiểu học đạt 98,6%, tỷ lệ đi học cấp trung học

cơ sở đạt 83,9%, tỷ lệ đi học cấp trung học phổ thông đạt 41,8%, tỷ lệ đi học caođẳng – đại học đạt 6,5%, tỷ trọng người có việc làm từ tuổi 15 trở lên đã qua đàotạo từ cao đẳng trở lên đạt 3,0%; có 94,4% số xã có trạm y tế, 77,8% số xã đạtchuẩn quốc gia về y tế, có 94,4% số thôn bản có cán bộ y tế, ngăn chặn các loạibệnh nguy hiểm và khống chế sốt rét có hiệu quả; nhiều tập tục lạc hậu về sinh đẻ

và cúng bái đã bị đẩy lùi; có trên 80% hộ gia đình được xem truyền hình, 90% hộdân được nghe đài phát thanh, 100% số xã có bưu điện, 38,7% số xã có nhà vănhóa là những tiến bộ to lớn về đời sống văn hóa mới, văn minh và tiến bộ

4 Sức mạnh quốc phòng, an ninh ở vùng các dân tộc thiểu số được tăng

cường, an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định, lãnh thổ quốc giađược giữ vững, đồng bào các dân tộc thiểu số được bảo vệ và sống trong hòa bình,

ý thức cảnh giác với mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch và phản độngđược nâng cao Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm nghiên cứu ban hành chínhsách gắn phát triển kinh tế – xã hội với bảo đảm quốc phòng an ninh ở vùng đồngbào dân tộc thiểu số để thực hiện tốt cả hai mục tiêu giữ vững ổn định chính trị vànâng cao đời sống của đồng bào, khắc phục tư tưởng nặng về khai thác và coi nhẹlợi ích của bản thân vùng miền núi nước ta, chú trọng hơn việc giải quyết tốt mốiquan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ xã hội, giữa phát triển kinh tế vàbảo vệ môi trường sống của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Việc giáo dụcchính sách dân tộc trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, chiến sĩ các lựclượng vũ trang và nhân dân các dân tộc, nhận thức đúng hơn và giải quyết đúnghơn với hiện quả ngày càng cao đối với tình huống xảy ra ở vùng đồng bào dân tộcthiểu số để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần củng cố vàtăng cường sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc ở nước ta

5 Công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán

bộ dân tộc thiểu số được Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo để xây dựng hệ thốngchính trị ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thực sự trở thành nhân tố

Trang 6

quan trọng trong việc tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dâncác dân tộc Trong công tác này, các cấp ủy Đảng có năm kinh nghiệm thành công:Chú trọng chỉ đạo riêng để có kinh nghiệm cụ thể phù hợp với đặc điểm và trình độthực tế ở vùng đồng bào dân tộc trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc; thực hiệnđúng chủ trương chính sách của Đảng, nói đi đôi với làm và đã nói là phải làmbằng được trong đào tạo cán bộ; thường xuyên giáo dục ý thức đoàn kết dân tộc,học tập và giúp đỡ nhau giữa đội ngũ cán bộ các dân tộc, hết sức tránh đụng chạmđến lòng tự trọng dân tộc của mỗi cán bộ và đồng bào các dân tộc thiểu số, vậnđộng đồng bào dân tộc đa số giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào dântộc thiểu số đông người giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số ít người, tranh thủ cán

bộ dân vận đã nghỉ hưu và người dân tộc thiểu số có uy tín giáo dục cán bộ cũngnhư quần chúng; coi trọng biện pháp bồi dưỡng, kèm đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu

số trong thực tiễn công tác và mạnh dạn giao việc cho cán bộ; kết hợp cả ba mặt lýluận chính trị, văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ một cách đồng bộ trong công tácđào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

Các thành tựu quan trọng nêu trên không chỉ là thắng lợi của đường lối cáchmạng và chiến lược đại đoàn kết dân tộc đúng đắn mà còn là thắng lợi của khoahọc nghệ thuật vận động Nhân dân các dân tộc, dựa vào sức mạnh của Nhân dâncác dân tộc và vị thế chiến lược của miền núi nước ta do Đảng ta lãnh đạo

III Một số khó khăn, thách thức và nguy cơ không thể xem nhẹ đối với công tác dân vận hiện nay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

1 Kinh tế vùng dân tộc và miền núi vẫn chậm phát triển, khoảng cách về

điều kiện sống và tỷ lệ nghèo giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số, giữa dântộc thiểu số có dân số đông người và các dân tộc thiểu số có dân số ít người ngàycàng lớn hơn, nên mục tiêu nâng cao mức sống và giảm tỷ lệ nghèo trong cuộc vậnđộng đồng bào xây dựng nông thôn mới là một khó khăn, thử thách lớn trongnhững năm tới Đến nay, tỷ lệ chung về hộ có nhà ở kiên cố của 53 dân tộc thiểu sốmới đạt 14,5% và dân tộc Ơ Đu là chưa có một nhà kiên cố nào, còn 23 xã ở 12tỉnh chưa có trường tiểu học (Nghệ An 06, Quảng Nam 05, Gia Lai 02, Bắc Kạn02) và còn 51 xã chưa có đường ô tô từ huyện lỵ đến trung tâm và trụ sở Ủy bannhân dân xã Theo chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015, tỷ lệ hộnghèo được tích theo thu nhập bình quân một người một tháng của hộ gia đình, ởthời điểm năm 2015, khu vực nông thôn là 615.000 đồng và khu vực thành thị là760.000 đồng; nếu cả nước tỷ lệ hộ nghèo còn 7,0% (thành thị 2,5%, nông thôn9,2%), vùng đồng bằng sông Hồng còn 3,2%, vùng đồng bằng Đông Nam Bộ còn0,7%, vùng đồng bằng sông Cửu Long còn 6,5% thì vùng đồng bằng Bắc Trung

Trang 7

Bộ và Duyên hải miền Trung Nam Bộ còn 9,8%, vùng Tây Nguyên còn 11,3%,vùng Trung du và Miền núi Bắc Bộ còn 16,0%, tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo là23,1% và tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số cận nghèo là 13,6%, cao hơn 3,3 lần so với mứcchung cả nước và tỷ lệ hộ nghèo giữa các dân tộc thiểu số có sự chênh lệch rất lớn

(xem bảng 01)

Bảng 01: Danh sách 14 dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất

và 14 dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất, 01/8/2015

TT Dân tộc Tỷ lệ hộ nghèo (%) TT Dân tộc Tỷ lệ hộ nghèo (%)

Dân tộc La Hủ với gần 2.400 hộ và 11.100 người thì có đến gần 84% hộnghèo; dân tộc Mảng với 882 hộ và 4.361 người thì có đến gần 80% hộ nghèo; dântộc Chứt với 1.612 hộ và 6.881 người thì có đến 75% hộ nghèo; dân tộc Ơ Đu với

101 hộ và 446 người thì có 66,3% hộ nghèo; dân tộc La Ha với 2.081 hộ và 9.533người thì có đến gần 50% hộ nghèo… cho thấy công tác dân vận trong thực hiệnchương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được quan tâm đặc biệt nhất

Có một khó khăn, thử thách nữa là còn có 10 dân tộc hôn nhân cận huyết thống và

10 dân tộc tảo hôn với tỷ lệ rất cao (xem bảng 02).

Bảng 02: Danh sách 10 dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn, tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống cao nhất, 01/8/2015

TT Dân tộc Tỷ lệ tảo hôn (%) TT Dân tộc Tỷ lệ hôn nhân

Trang 8

2 Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân

từ chính sách và quản lý nhà nước mà diện tích đất ở, đất sản xuất, đất phục vụcộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương ở nhiều nơi đã và đang bịthu hẹp dần, đe dọa mất đơn vị thôn, bản, tức mất văn hóa; xuất hiện một bộ phậnđồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất ở và đất sản xuất Mục tiêu cấp bách của Nghịquyết số 24-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng (khóa IX) đề ra “về công tác dân tộc” trong chính sách đất ở, đất sản xuấtcho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đến năm 2012 đã không thể hoàn thành, tìnhtrạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai có yếu tố dân tộc thiểu số và mâu thuẫn về

“không gian sinh tồn tự nhiên” vẫn diễn ra gây tâm tư lo lắng và giảm lòng tin củamột phận đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo cớ chocác thế lực thù địch và phản động kích động, xuyên tạc chính sách đúng đắn củaĐảng ta; quản lý Nhà nước, chỉ đạo thực hiện các chính sách về đất đai ở vùng dântộc thiểu số còn hạn chế, bất cập và bộc lộ nhiều yếu kém; công tác tham mưu,hoạch định chính sách chủ yếu là giải quyết tình thế; bố trí nguồn nhân lực, điềukiện thực hiện, tiến độ thực hiện chưa đảm bảo và thiếu tập trung, nhất là tiến độchỉ đạo lập quy hoạch và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

3 Thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”

theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ vàdạy nghề chuyển đổi nghề đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số nghèo theoquyết định số 755/QĐ-TTg, ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ chưa phùhợp với tỷ lệ người lao động từ 15 tuổi trở lên được dạy nghề trong các dân tộcthiểu số rất thấp so với lao động của từng dân tộc, chưa đủ làm thay đổi nếp nghĩcủa đa số người dân tộc của vùng dân tộc thiểu số vẫn đang có thực trạng tập quán,thói quen sản xuất nhỏ, tiểu nông, tự sản tự tiêu, tri thức khoa học hạn chế, công cụsản xuất thô sơ, kỹ năng và tác phong lao động lạc hậu, trình độ dân trí và học vấnthấp Đến ngày 01/8/2015, tỷ lệ người dân tộc thiểu số tuổi 15 trở lên không biếtđọc, không biết viết chữ phổ thông là 20,8% và mới có 29 dân tộc có tỷ lệ người từ

15 tuổi trở lên đạt tỷ lệ từ 70,2% trở lên, đặc biệt đáng chú ý là còn 06 dân tộc (CờLao, Brâu, Mông, Mảng, Lự, La Hủ) mới có tỷ lệ người biết đọc, biết viết chữ phổ

Trang 9

thông từ 34,4% đến 49,8% và còn 17 dân tộc (dân tộc Lự 23,3%, dân tộc La Hủ25,1%, dân tộc Mông 30,9%, dân tộc Mảng 32,3%, dân tộc Cờ Lao 34,3%, dân tộcBrâu 35,7%, dân tộc Hà Nhì 35,7%, dân tộc La Ha 42,8%, dân tộc La Chí 43,1%,dân tộc Lô Lô 44,8%, dân tộc Kháng 45,4%, dân tộc Lào 46,7%, dân tộc Si La47,8%, dân tộc Khơ Mú 48,1%, dân tộc Raglay 48,7%, dân tộc Xtiêng 49,8%) có

tỷ lệ nữ từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông mới đạt từ 23,3% đến49,8%; tỷ lệ dân số dân tộc thiểu số tuổi 15 trở lên có trình độ trung cấp nghề có2,5% và trình độ cao đẳng nghề trở lên có 2,9% Có 81,9% lao động dân tộc thiểu

số làm việc trong khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, chỉ có 9,5% làm dịch vụ

và 8,6% làm công nghiệp xây dựng Nếu năm 2015 tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên đãqua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đang làm việc trong nền kinh tế cả nước ướctính đạt 19,9% thì có thể nói, phần lớn người lao động dân tộc thiểu số chưa biếtkiến thức sản xuất hàng hóa, chưa biết sản xuất hàng hóa và chưa biết tiêu dùng, tỷ

lệ người lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo nghề và có việc làm chưa đáng

kể Thực tế đó là nguyên nhân căn bản như bức tường thành làm cho vùng đồngbào dân tộc thiểu số kéo dài sự trì trệ và kìm hãm sức phát triển sản xuất trongvùng đồng bào dân tộc thiểu số, năng suất lao động và thu nhập thấp, năng lực hấpthu nguồn lực giúp đỡ từ bên ngoài vào vùng dân tộc thiểu số và ý chí tự thân vậnđộng vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số hạn chế, ít có cơ hội được tuyển dụngvào làm việc trong ngành nghề phi nông nghiệp và có thu nhập trung bình trở lên

4 Trong khi đồng bào các dân tộc thiểu số ít được thụ hưởng những thành

quả văn hóa chung của cả nước, bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số đã vàđang đứng trước thử thách gay gắt trong quá trình phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đan xen những yếu tố tích cực và tiến

bộ là các mặt tiêu cực đang diễn ra trên các lĩnh vực của cuộc sống, làm nảy sinhmột cách khách quan tiền đề của sự phân hóa về nhận thức và tư tưởng, văn hóatruyền thống đứng trước sự khủng hoảng và bị tác động mạnh mẽ, đòi hỏi phải cócải biến đổi mới hoặc bỏ hẳn, nhất là tín ngưỡng tang lễ và giỗ tổ tiên cũng nhưngười đã qua đời Trong khó khăn thử thách này, một số vấn đề đặc biệt cần quantâm nghiên cứu là quy hoạch đất ở, đất sản xuất, đất lâm nghiệp, đất nghĩa địa, đấtlấy củi phù hợp với văn hóa kiến trúc nhà ở, đặc điểm cư trú theo dòng họ, phươngthức tập quán canh tác và văn hóa ẩm thực của vùng đồng bào dân tộc thiểu số đểgiữ vững bản sắc văn hóa ở thôn, bản

5 Các dân tộc thiểu số (trừ các dân tộc Tày, dân tộc Thái, dân tộc Mường,

dân tộc Nùng đã có đội ngũ cán bộ khá tương xứng so với dân số từng dân tộc) có

số lượng cán bộ rất ít trong hệ thống chính trị ở các cấp, ngành, không tương xứngvới tỷ lệ dân số của mỗi dân tộc trong tổng số dân số của đất nước, của địa

Trang 10

phương Số người dân tộc thiểu số được tham gia vào các vị trí, chức vụ lãnh đạo ởcác ngành, các cấp và các đô thị ngày càng giảm; người dân tộc thiểu số vẫn ít có

cơ hội hơn được tuyển dụng vào làm việc và sử dụng trong các cơ quan Đảng, Nhànước ở các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương (đến ngày 30/6/2014theo thống kê của Bộ Nội vụ, số lượng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu sốlàm việc trong các cơ quan Trung ương là 18.116 người chiếm khoảng 5% so vớitổng số lượng cán bộ, công chức trong cùng hệ thống; trong đó cán bộ lãnh đạo,quản lý có 2.955 người, chiếm 8,5%)

Từ việc đánh giá nghiêm túc tình hình dân tộc thiểu số và mối quan hệ dântộc ở Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hiện nay, chúng ta có thể thấy trong nhữngnăm tới, thuận lợi là cơ bản, nhưng nguy cơ không thể coi nhẹ Về thuận lợi,đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc và giải quyết các vấn đềdân tộc là đúng đắn, Cương lĩnh chính trị năm 2011 và Hiến pháp năm 2013 đã vàđang được Quốc hội thể chế hóa, các chính sách dân tộc đang được rà soát và bổsung phù hợp với thực tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ và mang giá trị nhânvăn cao cả; thế và lực của quốc gia không ngừng được tăng cường, kết cấu hạ tầngkinh tế – xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi tạo được nền tảng cơ bản đểđồng bào tiếp tục phát huy nội lực vươn lên phát triển cùng với cả nước; an ninhchính trị và trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số được giữ vững; niềm tinđồng bào các dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước được giữ vững và quan hệ đoànkết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố vững chắc với tinh thần có những quyếtsách mới và phù hợp hơn trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc theoNghị quyết Đại hội XII của Đảng

Về khó khăn thách thức và nguy cơ, ngoài dân tộc Hoa có 69,623% ngườisống tập trung ở đô thị và 30,377% sống ở nông thôn, 52 dân tộc thiểu số còn lại

có 91,455% dân số sống ở nông thôn thuộc vùng Trung du và Miền núi là vùng cótiềm năng lợi thế kinh tế to lớn và có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng anninh nhưng còn nhiều khó khăn nhất, là nhóm các cộng đồng nghèo nhất, yếu thếnhất, dễ bị tổn thương nhất và dễ bị cư xử bất bình đẳng nhất ở Việt Nam hiện nay.Thực tế đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước tập trung cao lãnh đạo thể chế Cương lĩnhchính trị, Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng ta trên các lĩnhvực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, cán bộ nhằm sớm đạtmục tiêu “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng pháttriển”, để phòng chống và ngăn chặn những nguy cơ trong vấn đề dân tộc ở ViệtNam như bất bình đẳng về kinh tế đời sống và chính trị trong thực tế; sự mai một

và mất đi bản sắc văn hóa tốt đẹp của nhiều dân tộc thiểu số trước sự thâm nhậpngày càng tăng của các yếu tố ngoại lai; sự lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc để

Trang 11

phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc, làm cho an ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội vùng dân tộc thiểu số cũng như vùng dân tộc Kinh ngày càng diễn biếnphức tạp

B Phương hướng, mục tiêu tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

I Phương hướng mục tiêu

1 Đại hội XII của Đảng (tháng 01 năm 2016) đặt công tác dân vận là một

trong mười bộ phận nội dung quan trọng về xây dựng Đảng với phương hướng,mục tiêu “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan

hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân”6 và “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chínhsách, đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan

hệ giữa các dân tộc”7 nhằm củng cố lòng tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đốivới Đảng và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc

2 Cán bộ và đồng bào các dân tộc thực hiện tốt chủ trương, chính sách phát

triển dân tộc của Đảng và nhà nước

3 Phát huy tiềm năng, sức mạnh to lớn của đồng bào các dân tộc và sự

giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo nhanh, xây dựng hệ thống chính trị

cơ sở ở cùng dân tộc thiểu số vững mạnh, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

II Thấm nhuần sâu sắc năm quan điểm cơ bản của Đảng ta về công tác dân vận ở vùng dân tộc thiểu số

1 Vấn đề dân tộc và làm tốt công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc

thiểu số có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Nhân dân các dân tộcnước ta

Từ xưa đến nay, Dân là gốc của nước Chân lý đó được Chủ tịch Hồ ChíMinh nhân lên tầm cao mới với tư tưởng Dân là gốc, Dân là chủ và Dân làm chủ

mà bản thân Người là linh hồn và hình ảnh phi thường của khối đại đoàn kết cácdân tộc ở Việt Nam Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy bốn hạn chế lớn của các triều đại vua chúa phongkiến ở Việt Nam: biết trọng ý Dân nhưng không có cơ chế hay chế độ nào để thựchiện ý Dân, nên kẻ nắm quyền thường làm trái ý Dân và ức hiếp Dân; coi Dân làgốc nhưng không phải Dân là chủ mà Vua là chủ; hiểu không đầy đủ về tự do, hiểu

6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội

2016, tr.210, 164.

7 Ntđd.

Trang 12

tự do chủ yếu là ý chí tự do trong lĩnh vực đạo đức; tư tưởng bình quân nhưngchưa phải là bình đẳng Khắc phục sự hạn chế đó, Bản Tuyên ngôn Độc lập năm

1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủCộng hoà theo tư tưởng Dân là gốc, Dân là chủ và Dân làm chủ Đặc biệt, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã đề ra tư tưởng chủ đạo là đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam trênnguyên tắc bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, phải đặc biệt quan tâmphòng chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, khắc phục tư tưởng tự ti vàmặc cảm dân tộc Đảng ta coi đại đoàn kết các dân tộc là đường lối chính trị lớn, làmột trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là đòi hỏikhách quan của bản thân quần chúng Nhân dân các dân tộc, là bài học luôn cảnhtỉnh và định hướng đúng đắn đối với Đảng ta trong toàn bộ hoạt động của mình

Chế độ ta là chế độ do Nhân dân là gốc, Nhân dân là chủ và Nhân dân làmchủ dưới sự lãnh đạo của Đảng; do đó, Đảng và Nhà nước ta phải thật sự tôn trọng

và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân theo đúng phương châm “Dân biết, Dânhiểu, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra, giám sát”, luôn tin yêu Nhân dân và lắngnghe những ý kiến góp ý chân thành của Nhân dân các dân tộc

Chính sách và pháp luật của Nhà nước ta là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đếnviệc thực hiện đại đoàn kết các dân tộc và sinh hoạt dân chủ trong xã hội; do đó,quan điểm đúng đắn của Đảng ta phải được thể hiện trong mọi chủ trương, chínhsách, pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đất nước

2 Đường lối, chính sách dân tộc của Đảng ta là thực hiện các dân tộc trong

đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giải quyết hài hòa quan hệgiữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắnglợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở của đoàn kết, tôntrọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và là vấn đề quan trọng hàng đầu, cơ bản nhấttrong đường lối, chủ trương về công tác dân vận của Đảng ta ở vùng đồng bào dântộc thiểu số Đồng bào các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng vềquyền lợi và nghĩa vụ

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn khẳng định một cách rõ ràng rằng,muốn đoàn kết thực sự giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, cần phải bảođảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên mọi phương diện của cuộc sống, phảiphấn đấu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phải giác ngộ về quyền lợi vànghĩa vụ của mình, là một cuộc cách mạng lâu dài và cơ bản đòi hỏi các dân tộcphải giúp đỡ nhau

Trang 13

Các dân tộc muốn no ấm và phát triển văn hóa thì phải đoàn kết và thựchiện đoàn kết bất cứ lúc nào, phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc và thậtthà đoàn kết trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, thương yêu và tôn trọng tín ngưỡngcủa nhau, gắn bó với nhau và động viên nhau cùng tiến bộ.

Công cuộc đổi mới đất nước đã cảm hóa mạnh mẽ và lôi cuốn tất cả cácdân tộc trên đất nước ta đi theo Đảng, được Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cầnthiết để thực hiện quyền bình đẳng từng bước trong thực tế cuộc sống, nên tuytrình độ phát triển kinh tế chưa đồng đều nhau, nhưng các dân tộc luôn đoàn kết vàgiúp đỡ nhau để từng dân tộc đều phát triển

Cuộc sống đã kéo các dân tộc ở Việt Nam tham gia vào các quá trình giaolưu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách tất yếu và ngày càng sâu rộng tronghình thái cư trú xen kẽ để cùng phát triển, thúc đẩy sự hòa hợp và tin cậy, tăngcường hợp tác và xích lại gần nhau, đi tới xóa bỏ sự khác biệt giữa các dân tộc vàgiữa các vùng dân cư của đất nước ta Sự vận động đó là cơ sở của quốc gia ViệtNam thống nhất và thực hiện thắng lợi đường lối phát triển dân tộc của Đảng ta

3 Theo quan điểm của Đảng ta, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền

núi, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Duyên hải miềnTrung phải được phát triển toàn diện và chuyển biến rõ rệt trong phát triển vềchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh

Thực hiện tốt hơn việc thể chế hóa, cụ thể hóa cương lĩnh chính trị, Hiếnpháp, các đạo luật, nghị quyết và chính sách về bình đẳng chính trị giữa các dân tộc

Tập trung phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết cơ bản vấn đềđất sản xuất cho bộ phận hộ nông dân dân tộc thiểu số còn thiếu đất và công tácđịnh canh, định cư, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân các dân tộc và kết hợphài hòa các lợi ích, gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ công dân

Gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và thực hiện tốtchính sách dân tộc, nâng cao dân trí với mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào cácdân tộc, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo, đẩy mạnh việc dạy vàhọc chữ dân tộc, đảm bảo hầu hết đồng bào các dân tộc được tiếp cận các dịch vụchăm sóc sức khỏe và tiến tới xóa bỏ dịch bệnh ở vùng dân tộc thiểu số Thực hiệntốt công tác dạy nghề và đào tạo nghề cho lao động các dân tộc thiểu số Thực hiệntốt công tác tạo nguồn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, điều động, luânchuyển cán bộ, kết hợp chặt chẽ cán bộ tại chỗ và cán bộ nơi khác chuyển đến, tạođiều kiện thuận lợi về nhà ở và phương tiện công tác, tăng cường đoàn kết giữa cán

bộ dân tộc đa số và cán bộ dân tộc thiểu số

Chú trọng phát triển đảng viên trong đồng bào các dân tộc thiểu số, đảmbảo tương xứng với dân số của từng dân tộc, phấn đấu tất cả các cơ sở đều có đảng

Trang 14

viên và tổ chức đảng vững mạnh về mọi mặt, đảm bảo có uy tín và khả năng làmhạt nhân chính trị tập hợp đoàn kết các dân tộc, giữ vững an ninh chính trị và trật

tự an toàn xã hội, chủ động giải quyết và đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thếlực phản động

4 Đảng ta luôn lãnh đạo, chỉ đạo ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, mà trước hết là phát triển giao thông và các

hạ tầng cần thiết ở vùng miền núi để tạo các yếu tố cơ bản cho vùng đồng bào cácdân tộc thiểu số phát triển

Tiếp tục thực hiện tốt các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ

về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, thể chế hóa và cụ thể hóa thành

kế hoạch thiết thực vì đời sống của đồng bào

Để định canh, định cư và phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số,cần tiếp tục đầu tư, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, tạo điều kiện cho các

hộ nông dân dân tộc thiểu số phát triển sản xuất hàng hóa và tạo dựng được cácvùng nguyên liệu nông lâm sản tập trung chuyên canh gắn với cơ sở chế biến nôngnghiệp Hạ tầng thiết yếu được xây dựng sẽ góp phần đặc biệt trong quá trình đểcác hộ dân trao đổi kinh nghiệm sản xuất và giao lưu văn hóa, xóa bỏ tình trạngthiếu đói giáp hạt và nghèo cùng cực hiện nay

Chú ý khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng và từngdân tộc, đi đôi với bảo vệ môi trường văn hóa và môi trường sinh thái, đảm bảo giữvững “không gian sinh tồn tự nhiên” về cả văn hóa vật thể và phi vật thể phù hợpcho sự phát triển Làm tốt công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số cải tiếnphương thức canh tác lạc hậu và tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát huy nộilực và tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời tăngcường sự đầu tư, hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong nước

5 Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân

tộc thiểu số để thực hiện tốt chính sách dân tộc là trách nhiệm của cả hệ thốngchính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên,chiến sỹ lực lượng vũ trang và Nhân dân cả nước

Đổi mới nội dung, phương thức vận động đồng bào các dân tộc thiểu số,phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng ta tronggiai đoạn mới

Tuyên truyền mạnh mẽ, sâu rộng các chủ trương, chính sách dân tộc củaĐảng đề ra trong toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân, coi việc quán triệt vàthực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ

Trang 15

thống chính trị nhằm tăng cường đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồngbào các dân tộc thiểu số.

Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách phát triển dân tộcthiểu số để hoàn chỉnh những xây dựng đã có và nghiên cứu ban hành những chínhsách mới, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ cơ sở và đồng bào các dân tộc

Chú trọng kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làmcông tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số, có số lượng và chất lượng, để theodõi nắm chắc tình hình và làm tốt công tác nghiên cứu tham mưu cho cấp ủy, tổchức đảng và chính quyền trong việc thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng,Nhà nước

III Chủ trương và giải pháp về tăng cường đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao

nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác dân vận ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số

1.1 Xác định công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệmvụ rất quan trọng, thường xuyên là trách nhiệm của cấp ủy, hệ thống chính trị vàtoàn xã hội

Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hộiviên và Nhân dân các dân tộc về cơ sở lý luận và thực tiễn của các quan điểm,đường lối, chủ trương, chính sách vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng,đảm bảo thấu hiểu lý luận và phương pháp luận “quần chúng sáng tạo ra lịch sử”,đổi mới và phát triển là sự nghiệp sáng tạo của Nhân dân; vận nước thịnh hay suy,mất hay còn là do sức mạnh của Dân quyết định, cách mạng chỉ thắng lợi khi ĐảngCộng sản gắn bó mật thiết với Nhân dân và được sự ủng hộ của các tầng lớp Nhândân; đoàn kết trong Đảng và đoàn kết các dân tộc trong nước; Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời từ cội nguồn dân tộc và ăn sâu bám rễ trong lòng Nhân dân các dân tộcnước ta; Nhân dân là gốc, Nhân dân là chủ và Nhân dân làm chủ, hướng tới đạtđược mối quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữacác dân tộc

Các cấp, các địa phương, đơn vị kịp thời nắm được tâm tư, nguyện vọngchính đáng của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là những vấn đề liên quan trựctiếp đến đời sống, việc làm, đền bù thu hồi đất đai, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội

để tập trung giải quyết kịp thời Trong xây dựng thể chế, chính sách, cần quán triệt

và thực hiện nguyên tắc: mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước phải thuận lòng Dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng củaNhân dân Chú ý cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân các dân tộc,

Trang 16

nhất là điều kiện sống, lao động, học tập, sáng tạo, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe.Người đứng đầu cấp ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp phảithường xuyên đối thoại, tiếp xúc trực tiếp với Nhân dân.

Các cơ quan thông tin đại chúng, chủ động định hướng dư luận xã hội vàđấu tranh phòng, chống có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thếlực thù địch ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Mở rộng các kênh thông tin truyềnthông, đối thoại trực tiếp với dân (chứ không chỉ nói trên loa, trên tivi, nói quangười khác), góp phần giải tỏa bức xúc, hoài nghi trong xã hội, biến chuyện phứctạp thành đơn giản và chuyện to thành chuyện nhỏ vì lợi ích chính đáng của mỗingười Dân Chú trọng việc định hướng và quản lý các phương tiện thông tin đạichúng, nhất là mạng xã hội; phát huy sức mạnh của dư luận xã hội lành mạnh hỗtrợ cho biện pháp quản lý của nhà nước và các biện pháp tuyên truyền, giáo dục,vận động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân Chủ động đấu tranh phòng chốngcác luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch chống phá khối đạiđoàn kết các dân tộc, chia rẽ giữa các dân tộc và giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân

Đẩy mạnh tuyên truyền, cổ vũ và nhân rộng các nhân tố mới, các điển hìnhtiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực ở vùng đồng bào dân tộc thiểusố; phát huy tinh thần yêu nước, thực hành dân chủ, tạo ra phong trào cách mạngcủa Nhân dân các dân tộc thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và phát triểnđất nước

1.2 Các cấp ủy, tổ chức đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải đốimới công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân vận, góp phần thực hiện cácmục tiêu của Đảng, nhà nước về xóa đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao thu nhậpcho đồng bào các dân tộc, làm cho đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng

và tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với đồng bào các dân tộc

Các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu phải tổ chức tiếp tục nghiêncứu quán triệt sâu sắc các nghị quyết Đại hội và nghị quyết Đại hội XII của Đảng,Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng(Khóa IX) “về công tác dân tộc” và Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 củaBan Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) “về tăng cường và đổi mới sự lãnhđạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, Chỉ thị số 49-CT/TW,ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư “về tăng cường và đổi mới công tác dân vận củaĐảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số” và các Thông báo kết luận của Đảng, thểchế hóa và cụ thể hóa thành chương trình hành động một cách thiết thực để vậnđộng toàn thể cán bộ và nhân dân các dân tộc thực hiện vì sự phát triển toàn diện ởvùng dân tộc thiểu số, sẽ tạo được niềm tin và sự ủng hộ của Nhân dân các dân tộcthiểu số Cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải phấn đấu rèn luyện, học tập theo

Trang 17

tiêu chí đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra là “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân

đi, miệng nói, tay làm” để “nghe Dân nói, nói cho Dân hiểu, làm cho Dân tin” vàluôn thực tâm “thật sự tin Dân, trọng Dân, gần Dân, hiểu Dân, học Dân, dựa vàoDân, có trách nhiệm với Dân, gương mẫu nói đi đôi với làm”

Các cấp ủy Đảng, tổ chức đảng vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải luôn vìDân và dựa vào Dân để đề ra được chủ trương và giải pháp chính đáng đúng đắnphù hợp với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, tức dựa vào ý kiến

và kinh nghiệm của Nhân dân để tổng kết và hóa nó thành chủ trương, chính sách.Sau khi có chủ trương và giải pháp chính sách đúng, các cấp ủy và tổ chức Đảngphải tổ chức tuyên truyền, phổ biến bằng mọi cách cho Nhân dân để mỗi mộtngười dân “được biết, được hiểu, được bàn, được làm, được kiểm tra” vì việc cầnlàm đó là vì lợi ích của mỗi người dân Các cấp ủy và tổ chức đảng phải phân côngnhững cán bộ, đảng viên có tài đức và kỹ năng công tác dân vận làm việc tại cácban của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, những người đầy tớthật sự tin Dân và luôn dựa vào Dân dể thực hiện được hoàn thành tốt nhiệm vụ doĐảng giao Các cấp ủy và tổ chức đảng phải coi tư tưởng vì Dân và dựa vào Dân

để xây dựng Đảng, xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân khôngchỉ là cơ sở lý luận của công tác dân vận của Đảng ta mà còn là chỗ kết tinh, hợpđiểm của toàn bộ nội dung xây dựng Đảng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tưtưởng, tổ chức, cán bộ, đạo đức, lối sống Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “Giữchặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng nghe ý kiến của dân chúng, đó lànền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”8

Thực hiện phương hướng, mục tiêu “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quảcông tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân” được Đạihội XII của Đảng ta đề ra, các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên phải nhậnthức rõ hơn, đầy đủ hơn đặc điểm ra đời của Đảng ta là từ ba bộ phận hợp thành, từ

đó khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đạibiểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc

Từ đó, các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, làm rõ và cụ thể hóaphương thức “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” nhằm nângcao năng lực tổ chức vận động Nhân dân trong điều kiện phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, phát huy vai trò làm chủcủa Nhân dân các dân tộc và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Đặc biệt, cần chútrọng hơn việc nghiên cứu dự báo chính xác những biến đổi xã hội và phân tầng xãhội; những tâm tư băn khoăn và nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân ở vùng

8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2010, t.5, tr.326.

Trang 18

đồng bào dân tộc thiểu số cũng như cả nước, nhất là những thách thức và nguy cơđối với công tác dân vận của Đảng ta để vận dụng đúng quy luật về sự phù hợpgiữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, ban hànhnhững chủ trương và giải pháp chính sách hợp lòng dân trong công cuộc xóa đói,giảm tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao mức thu nhập của mỗi hộ dân.

1.3 Triển khai thực hiện tốt Quyết định số 217 và 218, ngày 12/12/2013của Bộ Chính trị về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốcViệt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựngĐảng, xây dựng chính quyền”; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có chất lượng, tỷ lệ và cơ cấu hợp lý

Cần đầu tư nghiên cứu đúng mức và nhận thức đầy đủ lý luận về Dân vàcông tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập quốc tế để xác định cụ thể nội dung, phương thức lãnh đạocủa Đảng đối với công tác dân vận theo mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, Nhân dân làm chủ” nhằm thúc đẩy đổi mới xã hội và khoc học hóa sự lãnhđạo của Đảng ta, củng cố bền chặt cơ sở xã hội là mối quan hệ mật thiết giữa Đảng

và Nhân dân các dân tộc Trong toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng, tổ chứcđảng và người đứng đầu, phải luôn quán triệt tư tưởng Dân là gốc, Dân là chủ, Dânlàm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân làđộng lực thúc đẩy phong trào thi đua “Dân vận khéo” và tinh thần yêu nước củaNhân dân Các hình thức tập hợp Nhân dân và lấy ý kiến Nhân dân phải đa dạng vàthích hợp để phát huy đầy đủ sáng kiến của Nhân dân các dân tộc tham gia xâydựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Trọng tâm thực hiện Quyết định số 217 và 218 của Bộ Chính trị ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số là lãnh đạo Nhân dân và cùng với Nhân dân bàn bạc tìm

ra những ý kiến sáng tạo, những giải pháp chính sách để vượt qua được những khókhăn, thách thức đối với công tác dân vận của Đảng hiện nay Mấu chốt để giảiquyết cho được những khó khăn, thách thức to lớn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu

số hiện nay là phải thực hiện tốt chính sách đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhaugiữa các dân tộc mà nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay làđẩy mạnh tạo nguồn quy hoạch cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt và thựchiện tốt chính sách ưu tiên xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số màĐảng ta đã đề ra Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thựchiện công tác dân vận của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Nhân dân

và sơ kết, tổng kết các chủ trương của Đảng về công tác dân vận ở vùng đồng bàodân tộc thiểu số

Trang 19

2 Tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong các cơ quan Nhà nước; rà

soát, ban hành và thực hiện tốt chính sách dân tộc

2.1 Các cơ quan Nhà nước phải thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủtrương của Đảng về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Tập trung nghiên cứu, thể chế và thực hiện tốt Điều 5 Hiến pháp năm 2013là: “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dântộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôntrọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dântộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữviết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán truyền thống và văn hóatốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điềukiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực cùng phát triển với đất nước” Đại hộiXII của Đảng chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đảm bảo cácdân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dântộc” là một bước tiến mới và phát triển quan trọng lớn lao của Đảng ta về công tácdân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chính phủ tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi những bất cập của hệ thốngchính sách dân tộc phù hợp với đặc điểm tự nhiên và xã hội của từng vùng, từngdân tộc để trình Quốc hội theo khoản 5, Điều 70 Hiến pháp năm 2013 Bộ Chínhtrị, Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ đang chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng tiếptục điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm tự nhiên, xã hội của từng vùng, từngdân tộc để bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và

hệ thống chính trị mà then chốt là đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số phù hợpvới thực tế vì nắm chắc đặc điểm tình hình, địa lý, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng,văn hóa phong tục, tập quán, tâm lý của đồng bào các dân tộc thiểu số là tráchnhiệm và thế mạnh của cán bộ người dân tộc thiểu số Vì vậy, trong công tác ràsoát, bổ sung, sửa đổi và xây dựng chính sách dân tộc, các Đảng đoàn và ban cán

sự đảng phải phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy địa phương để thực hiện đúng theocác phương pháp, phương châm và tác phong công tác dân vận Một trong nhữngnội dung cấp bách là xác định đúng đắn cơ chế điều hành và chính sách đầu tư xâydựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, dạy nghề, hỗ trợ đồng bào các dântộc thiểu số biết kiến thức sản xuất hàng hóa, biết sản xuất kinh doanh hàng hóa vàbiết tiêu dùng, nâng cao dần thu nhập và ổn định đời sống

2.2 Các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phảithực hiện tốt phương châm “Dân biết, Dân hiểu, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra”

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhândân, do Nhân dân, vì Nhân dân, nên các cơ quan Nhà nước và đội ngũ cán bộ, công

Trang 20

chức, viên chức phải thực hiện tốt phương châm “Dân biết, Dân hiểu, Dân bàn,Dân làm, Dân kiểm tra” trong công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội và sử dụng đất, tuyển dụng và sử dụng lao động ở vùng đồng bàodân tộc thiểu số.

Các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở phải xây dựng và côngkhai quy định về trách nhiệm và thái độ phục vụ Nhân dân các dân tộc của cán bộ,công chức, viên chức để Nhân dân biết, giám sát, kiểm tra việc thực hiện, đảm bảotiếp xúc trực tiếp với Nhân dân và giải quyết kịp thời những đề nghị của Nhân dân

Cơ quan nhà nước các cấp phải phân công cán bộ lãnh đạo, quản lý phụtrách công tác dân vận ở vùng dân tộc thiểu số; thường xuyên kiểm tra, đôn đốcthực hiện chính sách dân tộc, đề cao trách nhiệm của cán bộ chính quyền vùngđồng bào dân tộc thiểu số đối với công tác dân vận

Các lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu

số chủ động phối hợp với các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chứcchính trị - xã hội và những người có uy tín làm tốt công tác dân vận

2.3 Các cấp ủy, tổ chức đảng ở các cơ quan Nhà nước phải chú trọng làmtốt công tác bồi dưỡng, tập huấn phương pháp luận và kỹ năng công tác dân vậncho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức công tác ở các cơ quan Nhà nướcphải có trách niệm thực hiện tốt nhiệm vụ vận động Nhân dân, “thực sự tin Dân,trọng Dân, gần Dân, hiểu Dân, học Dân, dựa vào Dân, có trách nhiệm với Dân vàgương mẫu”; thường xuyên “nghe Dân nói, nói Dân hiểu, làm Dân tin”; tự giáchọc tập nâng cao nhận thức về phẩm chất cách mạng “phụng sự Tổ quốc, phục vụNhân dân” và kỹ năng làm công tác dân vận góp phần củng cố mối quan hệ mậtthiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Các bộ, ngành, Ủy ban Nhân dân các cấp phải tổ chức các lớp tập huấn cán

bộ, công chức, viên chức về quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp và kỹ năng công tácdân vận ở vùng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng tham mưu, soạn thảo vănbản quy phạm pháp luật và cơ chế, chính sách thực sự vì Dân, do Dân, hợp lòngDân và phát huy được quyền làm chủ của Nhân dân các dân tộc

Các học viện, trường Chính trị cần rà soát, bổ sung chương trình chínhkhóa về đào tạo lý luận và chuyên môn kỹ năng công tác dân vận, chú trọng tổchức cho đội ngũ giảng viên và học viên đi nghiên cứu, khảo sát thực tế, tổng kếtsâu sắc các tình huống diễn ra trên các lĩnh vực của cuộc sống và các địa bàn, trongcác tầng lớp Nhân dân và các dân tộc ở nước ta để nâng cao chất lượng huấn luyện

Trang 21

Phát hiện, tập hợp và bồi dưỡng kiến thức vận động cho quần chúng chonhững người có uy tín trong cộng đồng dân cư, tạo điều kiện cho những người có

uy tín làm tốt việc tham gia tuyên truyền vận động Nhân dân thực hiện thắng lợinhiệm vụ chính trị do Đảng ta đề ra và lãnh đạo

3 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng ở vùng dân tộc thiểu số

3.1 Quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về đổi mới phương thứclãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cáchội quần chúng

Phương thức lãnh đạo của Đảng là những cách thức, hình thức, biện phápgắn với những quan điểm và nguyên tắc xác định được các tổ chức đảng, các cấp

ủy đảng lựa chọn và sử dụng để tác động vào những đối tượng lãnh đạo của Đảng,với tính chất là chỉ đường, hướng dẫn cho những đối tượng đó thực hiện đường lối,chủ trương của Đảng

Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổchức chính trị - xã hội phải đảm bảo tuân theo các quan điểm chỉ đạo: Đảng lãnhđạo Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội nhưng là một thành viên của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam (khi quần chúng thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lựclãnh đạo của Đảng); Đảng tôn trọng Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội làtôn trọng Dân; Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn liền với nội dung lãnh đạo, cơchế chính sách, tổ chức bộ máy, phong cách cán bộ và nằm trong tổng thể đổi mới

hệ thống chính trị; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải bảo đảm phát huycao nhất trí tuệ của Nhân dân tham gia tích cực, thiết thực vào việc giám sát, phảnbiện và góp ý hoạt động bộ máy Đảng, chính sách, Hiến pháp, pháp luật và các vănbản quy phạm pháp luật; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bảo đảm pháthuy tốt chức năng giáo dục, tư vấn, giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựngĐảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -

xã hội

Đổi mới có nguyên tắc, đảm bảo tôn trọng địa vị lịch sử, vai trò xã hội, tưcách đại diện cho Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội;bảo đảm dự lãnh đạo dân chủ đối với Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội,phát huy tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức này; lãnh đạo đi theo đường lốiquần chúng, không quan liêu, mệnh lệnh, không theo đuôi quần chúng; Đảng lãnhđạo trực tiếp Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, lãnh đạo bằng tổ chức vàchính trị gương mẫu của Đảng; bảo đảm tính văn hóa chính trị trong sự lãnh đạocủa Đảng cầm quyền với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội luônmềm dẻo, linh hoạt, tùy điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng cụ thể mà sử dụng các

Trang 22

phương thức lãnh đạo khác nhau, không xơ cứng, không bảo thủ, đồng thời Đảngthông qua Nhà nước để thực hiện sự lãnh đạo của mình.

Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổquốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở một số điểm chung và chủ yếu nhất làĐảng giới thiệu những dự thảo về đường lối, chủ trương, chính sách để Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện chức năng giám sát, phản biện vàtham gia góp ý; giới thiệu nghị quyết, chỉ thị của Đảng để Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị - xã hội quán triệt và vận động các tầng lớp Nhân dân thực hiện;giới thiệu những dự kiến về thay đổi tổ chức, cán bộ trong bộ máy Nhà nước đểMặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt các Quyết định

217, 218, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (Khóa XI), các cấp ủy với tổ chứcđảng có trách nhiệm trả lời những đề xuất, kiến nghị và góp ý của Mặt trận Tổquốc và các tổ chức chính trị - xã hội; khuyến khích, ủng hộ mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức chính trị - xã hội chủ động đề ra những cuộc vận động thu hút tài chínhcủa mình hay toàn dân tham gia một cách thiết thực và hiệu quả, chỉ đạo chínhquyền ban hành các văn bản và tạo điều kiện cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức chính trị - xã hội để làm chỗ dựa của chính quyền, nhà nước

3.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hộiquần chúng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng đa dạng hóa cáchình thức tập hợp Nhân dân và gắn bó với cơ sở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệtkhó khăn, thực sự thực hiện tốt vai trò đại diện và bảo vệ lợi ích chính đáng củaNhân dân các dân tộc

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế; chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng và các dân tộc ngàycàng lớn, gia tăng những bức xúc xã hội và phân tầng xã hội, tôn giáo thâm nhập

và phát triển đột biến ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, một số “đạo lạ” xâm nhập ởvùng dân tộc thiểu số và diễn biến ngày càng phức tạp, quan hệ lợi ích và hệ giá trị

xã hội đang biến đổi tác động mạnh mẽ đến tình cảm của Nhân dân, Mặt trận Tổquốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải đa dạng hóa các hình thức tập hợp Nhândân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với bản sắc văn hóa của từng dântộc

Cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội phảihướng về cơ sở, bám cuộc sống của Nhân dân; hướng dẫn người Dân vùng sâu,vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn những kiến thức cần thiết về sản xuất hàng hóa, tổchức giúp người dân sản xuất hàng hóa và tiêu dùng hợp lý để vươn lên xóa đói,giảm nghèo trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Thực hiện tốt các hoạt độngphối hợp với các cấp, các ngành và các doanh nghiệp trong các hoạt động nâng cao

Ngày đăng: 14/11/2022, 19:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w