MỞ ĐẦU Dân vận và công tác dân vận là một nội dung quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện Đảng cầm quyền, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã luôn luôn coi trọng công tác dân vận, coi đây là một trong những nhân tố quyết định sự lớn mạnh và trưởng thành của Đảng. Vận dụng sáng tạo và phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong đó có quan điểm quần chúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành vận động và sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất, Lực lượng vũ trang nhân dân; lãnh đạo toàn dân đoàn kết làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám (1945), khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tiếp sau đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp, 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược, đưa cả nước quá độ tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa ở một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế chưa phát triển. Có thể khẳng định rằng, những quan điểm về công tác dân vận của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa chỉ đạo hết sức quan trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong việc giáo dục, động viên, tổ chức mọi tầng lớp nhân dân, mọi tôn giáo, mọi tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nhằm tạo ra sức mạnh vô địch và động lực to lớn của dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước, làm tăng vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 121986) khởi xướng và lãnh đạo, đã giành được những thành tựu bước đấu rất quan trọng về kinh tế, xã hội. Thế và lực của đất nước được tăng cường đã góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội và là điều kiện, cơ sở bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững ở những năm tiếp theo. Đó cũng là hệ quả tất yếu của công tác vận động quần chúng của Đảng ta; thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo khi vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trong tình hình mới. Thực tế cho thấy, từ sau Đại hội VI của Đảng và sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tám (khoá VI), những vấn đề cơ bản về đổi mới công tác dân vận trong thời kỳ mới đã được phát triển và làm sâu sắc hơn tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 61991). Các đoàn thể nhân dân đã cố gắng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động cùng với các thành viên trong hệ thống chính trị thực hiện tốt nhiệm vụ của mình và đã thu được những kết quả nhất định. Quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân cơ bản được giữ vững. Tuy nhiên, thực trạng công tác dân vận của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân chưa xác định thật rõ chức năng, nhiệm vụ. Còn lúng túng về phương thức lãnh đạo, hoạt động và xây dựng tổ chức. Các quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác dân vận chưa thực sự chuyển biến mạnh mẽ trong chương trình hành động của các tổ chức đảng và chính quyền. Mối quan hệ giữa chính quyền các cấp với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân chậm được cụ thể hoá. Để công tác dân vận ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trước những biến đổi to lớn của khu vực và thế giới, của toàn cầu hoá và hội nhập, hơn bao giờ hết, công tác này phải được đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động nhằm không ngừng củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp đưa đất nước vững bước tiến lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trang 1Vận dụng sáng tạo và phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩaMác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong đó có quan điểm quầnchúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành vận động và sáng lậpMặt trận dân tộc thống nhất, Lực lượng vũ trang nhân dân; lãnh đạo toàn dânđoàn kết làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám (1945), khai sinh ra nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà Tiếp sau đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiếnhành cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp, 21 năm chống
đế quốc Mỹ xâm lược, đưa cả nước quá độ tiến lên con đường xã hội chủnghĩa ở một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế chưa phát triển
Có thể khẳng định rằng, những quan điểm về công tác dân vận củaĐảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa chỉ đạo hết sức quan trọng vềchính trị, tư tưởng và tổ chức trong việc giáo dục, động viên, tổ chức mọi tầnglớp nhân dân, mọi tôn giáo, mọi tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Namnhằm tạo ra sức mạnh vô địch và động lực to lớn của dân tộc, xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân, phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mớiđất nước, làm tăng vị thế của nước ta trên trường quốc tế
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) khởi xướng và lãnh đạo, đã giành đượcnhững thành tựu bước đấu rất quan trọng về kinh tế, xã hội Thế và lực của
Trang 2đất nước được tăng cường đã góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị,
xã hội và là điều kiện, cơ sở bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững ởnhững năm tiếp theo Đó cũng là hệ quả tất yếu của công tác vận động quầnchúng của Đảng ta; thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo khi vận dụng chủ nghĩaMác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trong tình hình mới Thực tếcho thấy, từ sau Đại hội VI của Đảng và sau Hội nghị Ban chấp hành Trungương lần thứ tám (khoá VI), những vấn đề cơ bản về đổi mới công tác dânvận trong thời kỳ mới đã được phát triển và làm sâu sắc hơn tại Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991) Các đoàn thể nhân dân
đã cố gắng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động cùng với các thànhviên trong hệ thống chính trị thực hiện tốt nhiệm vụ của mình và đã thu đượcnhững kết quả nhất định Quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân cơ bảnđược giữ vững
Tuy nhiên, thực trạng công tác dân vận của Đảng, Nhà nước và đoànthể nhân dân chưa xác định thật rõ chức năng, nhiệm vụ Còn lúng túng vềphương thức lãnh đạo, hoạt động và xây dựng tổ chức Các quan điểm chỉ đạođổi mới công tác dân vận chưa thực sự chuyển biến mạnh mẽ trong chươngtrình hành động của các tổ chức đảng và chính quyền Mối quan hệ giữa chínhquyền các cấp với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân chậm được cụ thể hoá
Để công tác dân vận ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần nâng caonăng lực và sức chiến đấu của Đảng trước những biến đổi to lớn của khu vực
và thế giới, của toàn cầu hoá và hội nhập, hơn bao giờ hết, công tác này phảiđược đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động nhằm không ngừng củng
cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp đưađất nước vững bước tiến lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 31 Quan điểm của C.Mác- Ph.Ăngghen
Trong Lời nói đầu tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ
1848-1850”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết “Đã qua rồi, thời kỳ cuộc đột kích,
thời kỳ những cuộc cách mạng do những nhóm thiểu số tự giác cầm đầu những quần chúng không tự giác tiến hành Ở nơi nào mà vấn đề đặt ra
là phải cải tạo hoàn toàn chế độ xã hội, thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia công cuộc cải tạo ấy, phải tự mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao phải đổ máu và hi sinh tính mạng”.(1) Từ chỉdẫn nêu trên cho thấy, từ giữa thế kỷ XVIII trở lại đây, cách mạng xã hộikhông phải do những cá nhân, những nhóm người nhỏ bé cầm đầu,những quần chúng không tự giác tiến hành Trái lại, từ những năm cuốithế kỷ XIX trở đi, những cuộc cách mạng xã hội muốn thắng lợi phải docác chính đảng có lý luận tiên phong của cac giai cấp lãnh đạo Các đảng
đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, huấnluyện quần chúng dám xả thân đấu tranh mới giành được thắng lợi
Động lực của những cuộc cải biến, những cuộc cách mạng ấy lại là cáclợi ích Theo C.Mác, tất cả cái gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều
Trang 4dính liền với lợi ích của họ Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những nguyên nhân
và động lực của sự cải biến xã hội nọ sang xã hội kia, Ph.Ăngghen cho rằng,không phải là những lý tưởng, những chân lý mà chính là ở sự biến đổi củaphương thức sản xuất và trao đổi kinh tế Động lực thúc đẩy sự cải biến xã
hội ấy là những lợi ích kinh tế Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận: “Thoạt nhìn
người ta có thể cho rằng chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến xưa kia- ít nhất là lúc ban đầu- bắt nguồn từ những nguyên nhân chính trị, từ sự chiếm đoạt bằng bạo lực, thì điều đó là không thể chấp nhận được đối với giai cấp
tư sản và giai cấp vô sản Ở đây, ta thấy rõ ràng và cụ thể rằng nguồn gốc và
sự phát triển của hai giai cấp lớn đó là những nguyên nhân thuần tuý kinh cũng rõ ràng trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp chiếm hữu ruộng đất và giai cấp tư sản, cũng như trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp
tế-vô sản, thì trước hết, vấn đề là ở những lợi ích kinh tế- để thoả mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng làm một phương tiện đơn thuần” (1)
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), C.Mác và
Ph.Ăngghen đã viết: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là
mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổi sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” (2) Trong bài “Vấn đề quân sự ở Phổ và Đảng công
nhân Đức”, Ph Ăngghen viết: “giai cấp vô sản trở thành một sức mạnh từ
khi nó thành lập một đảng công nhân đối lập, mà với sức mạnh thì người ta phải chú ý đến” (3) Nhưng muốn có sức mạnh thì phải thống nhất ý chí, phải
đoàn kết, phải có tổ chức Vì vậy, hai ông kêu gọi “Vô sản tất cả các nước
đoàn kết lại” Nhờ đoàn kết, giai cấp công nhân đã thu được thắng lợi trong
các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế đối với các chủ tư bản Nghị quyết Đạihội đại biểu toàn thể Hội liên hiệp họp ở La Hay (Hà Lan) ngày 2/9/1872 đã
Trang 5khẳng định: sự thống nhất các lực lượng của giai cấp công nhân đã đạt được thôngqua đấu tranh kinh tế cũng phải trở thành đòn bẩy trong cuộc đấu tranh của nó chốngquyền lực chính trị của những kẻ bóc lột nó Sau Đại hội La Hay, tại Amsterdam,
C.Mác đã đọc bài diễn văn, trong đó nhấn mạnh: “chúng ta hãy nhớ một nguyên tắc
cơ bản của Quốc tế: sự đoàn kết Chúng ta sẽ đạt được một mục đích vĩ đại mà chúng ta đang hướng tới, nếu chúng ta củng cố vững chắc nguyên tắc đầy sức sống
ấy trong tất cả các công nhân ở tất cả các nước Cách mạng phải là đoàn kết, kinh nghiệm lớn lao của Công xã Paris đã dạy chúng ta như thế” (4)
2 Quan điểm của V.I.Lênin
Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I Lênin nhấn mạnh
lợi ích thiết thân của cá nhân người lao động Người viết: “Những lý tưởng
cao cả nhất cũng không đáng một xu nhỏ, chừng nào người ta không biết kết hợp chặt chẽ những lý tưởng đó với lợi ích của chính ngay những người đang tham gia cuộc đấu tranh kinh tế, chừng nào mà người ta không biết kết hợp những lý tưởng đó với những vấn đề “chật hẹp” và nhỏ nhặt trong cuộc
lao động làm cơ sở để xây dựng nền kinh tế Người viết: “Chúng ta nói rằng
phải xây dựng mọi nền kinh tế quốc dân quan trọng trên cơ sở sự quan tâm thiết thân của cá nhân” (2) “Sự quan tâm thiết thân của cá nhân có tác dụng
nâng cao sản xuất”(3) Đặc biệt, đối với những nước tiểu nông như nước Nga,
V.I Lênin còn căn dặn: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải bằng cách trực
tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cuộc cách mạng vĩ đại sinh ra bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân” (4) Như vậy, lợi ích là cái gắn bó
Trang 6người ta lại với nhau Lợi ích gắn liền với các cuộc đấu tranh, là động lực củacác cuộc đấu tranh, trong đó lợi ích thiết thân của cá nhân là động lực trựctiếp rất mạnh mẽ Công tác vận động quần chúng trong cách mạng vô sản làmột cuộc đấu tranh, hơn nữa- đó là cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn,gian khổ; cuộc đấu tranh ấy chưa kết thúc ngay cả khi giai cấp vô sản đãgiành được chính quyền, mà còn phải tiếp tục trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản vì lợi ích thiết thân của tuyệt đại đa sốnhân dân, của toàn xã hội nhưng với những hình thức khác Vì vậy, muốn vậnđộng quần chúng phải quan tâm lợi ích thiết thân của họ Lợi ích là một độnglực của sự phát triển.
Sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch Tuy nhiên, quần chúngnhân dân chỉ có thể phát huy được sức mạnh của mình khi họ được tổ chức
lại V.I Lênin còn nhấn mạnh: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người
cách mạng và chúng tôi sẽ làm đảo ngược nước Nga lên” (5) Vì vậy, V.I.Lênin rất chú ý đến tổ chức công đoàn của giai cấp công nhân Người chorằng, những công việc tổ chức như thế là của Đảng, Đảng phải biết cách làmcông tác tuyên truyền, tổ chức, cổ động sao cho dễ tiếp thu nhất, dễ hiểu nhất,
rõ ràng nhất và sinh động nhất đối với các “phố” thợ thuyền, nhà máy lẫn đốivới các vùng nông thôn
Muốn có sức mạnh phải thống nhất ý chí, phải đoàn kết, phải có tổchức V.I Lênin đã vận dụng tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời đạicủa mình- thời đại đế quốc chủ nghiã và cách mạng vô sản- và kêu gọi mởrộng khối đoàn kết của giai cấp công nhân với các dân tộc bị áp bức trên toàn
thế giới Người kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước, các dân tộc bị áp bức đoàn
kết lại” Ở nước Nga, sau cách mạng Tháng Mười năm 1917, giai cấp vô sản
Trang 7(5) V.I Lênin toàn tập, tập 6, tr 162, Nxb TB, M, 1978
nắm chính quyền, V.I Lênin đã khẳng định: “Chúng ta không chấp chính
bằng cách chia rẽ mà bằng cách tạo ra giữa tất cả mọi người lao động những mối liên hệ keo sơn về những quyền lợi thiết thân và ý thức giai cấp” (1) .Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I Lênin nhấn mạnh việc động viên vàphát huy mọi lực lượng của quần chúng nhân dân Người cảnh báo những aichỉ trông vào bàn tay của những người cộng sản để xây dựng xã hội cộng sản
là những kẻ có tư tưởng hết sức ngây thơ
Về phương pháp công tác dân vận, theo V.I.Lênin, phải dùng phươngpháp nêu gương và giúp đỡ Như vậy, chúng ta có thể nhận thức rằng, trongcông tác dân vận thì những tấm gương, những mô hình thực tiễn cụ thể có tácdụng cổ vũ, động viên, hướng dẫn quần chúng nhân dân rất lớn Điều nàynhắc nhở chúng ta rằng, đối với quần chúng nhân dân không được dùng mệnhlệnh, áp đặt ý chí chủ quan của cá nhân lãnh đạo đối với họ
Phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I Lênin rất coitrọng phương pháp thuyết phục, giáo dục và nêu gương đối với quần chúngnhân dân Người đề ra nhiệm vụ hàng đầu cho các Đảng Cộng sản là phải
“Thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của Cương lĩnh và sách lược của mình” (2) V.I Lênin cho đây là nhiệm vụ chiến lược quan trọng
cả thời kỳ chưa giành được chính quyền và thời kỳ đã giành được chínhquyền, xây dựngc hủ nghĩa xã hội Mặc dù trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa
xã hội, nhiệm vụ chủ yếu là quản lý, nhưng Người căn dặn: “Chúng ta phải
suy nghĩ kỹ rằng muốn quản lý được tốt, thì ngoài cái tài biết thuyết phục, biết chiến thắng trong cuộc nội chiến, còn cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn” (3) V.I.Lênin cũng cho rằng: “Việc giáo dục và rèn luyện quần
chúng lao động là nhiệm vụ cơ bản của công tác giáo dục của Đảng cộng sản
và của mọi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”(4) V.I.Lênin phê phán những
đảng viên, cán bộ, tổ chức không gương mẫu, không dũng cảm hoặc “rất ít
dùng những điển hình, những tấm gương cụ thể sinh động, lấy trong mọi lĩnh
Trang 8vực của đời sống để giáo dục quần chúng”(5) Người yêu cầu lấy kinh nghiệmlâu dài, lấy ví dụ thực tế để chứng minh cho quần chúng thấy rõ sự cần thiếtcủa công việc là một biện pháp có hiệu quả không nhỏ V.I.Lênin khuyếnkhích mở rộng dân chủ, công khai làm cho mọi người dân biết công việc củaĐảng, của Nhà nước Đó là phương pháp công tác quần chúng có tác dụng
(3) V.I Lênin toàn tập, tập 36, tr 210, Nxb TB, M, 1976
(5) V.I Lênin toàn tập, tập 37, tr 109, Nxb TB, M, 1977
nâng cao tính chủ động, tính tích cực sáng tạo cách mạng của quần chúng
Người viết: “Một nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng Nước
mạnh là khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái, quần chúng có thể phán đoán được về mọi cái và đi vào hành động một cách có ý thức”(1)
V.I.Lênin rất trân trong ý kiến của quần chúng nhân dân Ngườicoi đó là tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, là những nguồnthông tin cực kỳ quý báu để hình thành chính sách Vì vậy, Người yêucầu phải tập hợp, tổng kết những ý kiến của quần chúng V.I.Lênin cũng
đề nghị tìm mọi cách để duy trì, phát triển và mở rộng những hội nghị
công nhân, nông dân ngoài Đảng có thể: “…nhận xét tâm trạng của
quần chúng, gần gũi họ, giải quyết những nhu cầu của họ, giao cho những phần tử tốt nhất trong số họ đảm nhiệm những chức vụ trong bộ máy nhà nước ” (2) Đó cũng là một phương thức công tác quần chúngrất hiệu nghiệm
II QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1 Quan điểm chỉ đạo công tác dân vận của Hồ Chí Minh
Trang 91.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân vận
Trong hoạt động lý luận, rất nhiều lần Hồ Chí Minh đề cập đến côngtác dân vận Qua đó, Người đã từng bước làm rõ quan niệm của mình về
công tác dân vận Theo Người: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của
mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể giao cho”
Quan niệm trên đây của Hồ Chí Minh nêu bật 3 vấn đề:
Thứ nhất, dân vận nhằm huy động tất cả lực lượng của mỗi người dân
vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lực lượng của mỗi người dân được tạo nênbởi nhiều nhân tố (đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực, sức lực
và trí tuệ, tinh thần và vật chất) Hồ Chí Minh đòi hỏi công tác dân vận khôngchỉ dừng lại ở việc vận động, tuyên truyền, giáo dục chung chung mà phải đisâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của từng người dân Chỉ có như vậy mới độngviên, phát huy được tính tích cực, sáng tạo của mỗi người, biến tiềm năng,
khả năng của họ trở thành hiện thực Có thể coi đây là chiều sâu của công tácdân vận
Thứ hai, công tác dân vận phải huy động lực lượng của tất cả mỗi người
“không để sót một người dân nào” Chỉ có như vậy mới có thể xây dựng được khối
đại đoàn kết toàn dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Có thể coi đây là
bề rộng của công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ ba, dân vận là vận động quần chúng nhân dân làm cách mạng,
“đem tài dân, sức dân của dân để làm lợi cho dân” Theo Người, dân vận là
vận động toàn dân và mỗi người đem đức và tài, sức lực và của cải, khả năng
Trang 10và thực lực để thực hành những công việc nên làm từ xây dựng, giữ gìn, bảo
vệ xóm làng đến kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
1.2 Vị trí, vai trò của công tác dân vận
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhưng sức mạnh của quầnchúng chỉ có thể lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, giảiphóng chính mình khi được tổ chức dẫn dắt bởi một Đảng tiền phong Ý thứcsâu sắc được điều đó nên,vấn đề dân vận, vận động quần chúng tham gia vào
sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấn hưng đất nước được Hồ Chí Minh đặt ra
từ rất sớm Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Người đã đặt cho mình nhiệm
vụ trọng tâm là vận động dân chúng Năm 1923, Người đã nêu lên những vấn
đề cơ bản của công tác dân vận: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về
nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành độc lập, tự do” (1)
Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927), Người đã chỉ rõ: “cách mệnh
trước hết cần có Đảng, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là
“Trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” (2) Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền(1945), công tác dân vận được Hồ Chí Minh đặt ra một cách thường xuyên,cấp bách hơn Có thể nói, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận dân vận đạt tới
đỉnh cao thể hiện qua tác phẩm “Dân vận” do Người viết ngày 15 tháng 10
năm 1949 Tác phẩm hàm chứa rất nhiều nghĩa, nhiều nội dung, chuyển tải vàbiểu cảm đầy đủ, sâu sắc tư tưởng và triết lý Hồ Chí Minh về công tác dânvận, trở thành tác phẩm kinh điển về vận động quần chúng Để hiểu rõ đây là
sự tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, hiểu rõ hơn thực trạng công tác dân
vận đòi hỏi Hồ Chí Minh phải viết tác phẩm “Dân vận” Trước đó 2 năm
Người đã viết một số tác phẩm rất quan trọng về dân vận
Trang 11Tháng 3 năm 1947 dưới bút danh Tân Sinh, Hồ Chí Minh đã viết tác
phẩm “Đời sống mới” Trong tác phẩm này, Người đã đặt vấn đề thực hành đời
sống mới là đòi hỏi cấp bách của kháng chiến, kiến quốc Tuy vậy, việc thựchành đời sống mới gặp phải những lực cản mà một trong số đó, là nhiều cán bộkhông biết làm dân vận, vi phạm cả quyền công dân Điển hình là việc vận độngnhân dân đi học chữ quốc ngữ Để thúc đẩy phong trào, một số nơi đã áp dụngcác hình thức phạt, kể cả việc phạt tiền những ai không đi học Thậm chí có nơicòn lấy mực vẽ lên miệng những người không biết chữ Hồ Chí Minh kết luận:
“Làm như vậy chỉ bị người ta oán ghét, chứ không ích gì”.(1)
Đặc biệt, tháng 10 năm 1947, Người đã viết “Sửa đổi lối làm việc”.
Trong tác phẩm này, Người nêu rõ, cần phải sửa ngay trong cách tổ chức,cách làm dân vận còn nhiều biểu hiện quan liêu, xa rời dân chúng, nhiềucán bộ áp đặt ý muốn chủ quan của mình đối với dân chúng Hồ Chí Minh
gọi đó là những người làm việc theo lối “khoét chân cho vừa giầy” Chân
là quần chúng, giầy là cách tổ chức, cách làm việc của cán bộ Người còn
nói tới “một hạng người chỉ biết nói suông”, chỉ biết cho ý kiến, chỉ thị,
không kịp thời nắm bắt các hoạt động, tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu củanhân dân Những thiếu sót phổ biến, nghiêm trọng xảy ra trong công tác
dân vận là cơ sở để giải thích vì sao, câu đầu tiên trong tác phẩm “Dân
vận”, Hồ Chí Minh đã viết: “Vấn đề dân vận nói đã nhiều, bàn đã kỹ,
những vì nhiều địa phương, cán bộ chưa hiểu thấu, làm chưa đúng, cho nên cần phải nhắc lại” (2)
Thực chất, mục tiêu của dân vận là để có được lực lượng to lớn, mạnh mẽcủa nhân dân Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nếu không có dân, Đảng không lực lượng.Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bạibởi lực lượng vật chất Do đó Lực lượng quần chúng được giác ngộ, có tổ chức,
có lãnh đạo luôn là một nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng ViệtNam Không phải ngẫu nhiên mà Người gắn lực lượng to lớn, mạnh mẽ của nhân
dân với công tác dân vận và thắng lợi của cách mạng Việt Nam Người viết: “lực
Trang 12lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”(3) Từ đó, Hồ Chí Minh phêphán những cán bộ, đảng viên “xem khinh việc dân vận” Người gọi đây là
“khuyết điểm to” cần phải sửa chữa, khắc phục ngay
Thực tế cho thấy, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, HồChí Minh đã dồn nhiều công sức, trí tuệ cho một công việc to lớn, hệ trọng là
vận động, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cho độc lập, tự do
1.3 Về quy trình công tác dân vận
Mỗi lĩnh vực công tác đòi hỏi phải tuân theo một quy trình mang tínhđặc thù Quy trình của công tác dân vận được Hồ Chí Minh chỉ ra vào năm
1949 như sau:
“Trước hết, là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ ràng Điểm thứ hai là, bất cứ việc gì phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh, địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành.
Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân Khi thi hành xong, phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” (1)
Quán triệt tư tưởng của Người về công tác dân vận, đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã chính thức khẳng định quy trình
của công tác dân vận là: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Theo
tư tưởng Hồ Chí Minh, quy trình của công tác dân vận gồm bốn bước sau đây:
Thứ nhất, giải thích cho dân hiểu rõ quyền lợi và nhiệm vụ của họ (Dân biết).
Trang 13Dân biết là khâu đầu tiên của quy trình dân vận và cũng là khâu đầu
tiên thể hiện quyền làm chủ của nhân dân Trong bài “Dân vận”, vấn đề đầu
tiên Hồ Chí Minh thấy cần phải nhắc lại là: “Nước ta là nước dân chủ Vì
vậy, họ cần phải biết những điều mà người chủ cần biết” Theo Người, “dân
ta rất thông minh “dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng” (2)
Thứ hai, bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân (Dân bàn)
Dân biết và dân bàn có quan hệ chặt chẽ với nhau Người dân chỉ bànnhững điều họ biết, không thể bàn những gì chưa biết hoặc không biết Theo
Hồ Chí Minh, có hai cách làm với dân chúng:
Một là, làm việc theo cách quan liêu Nghĩa là cái gì cũng dùng mệnhlệnh, ép dân làm, đóng cửa mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cộtvào dân chúng, bắt dân chúng theo
Hai là, làm theo cách quần chúng, việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng,
cùng dân chúng bàn bạc, giải thích cho dân chúng hiểu rõ Hồ Chí Minh
muốn nhấn mạnh: “muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải
thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói” (1)
Thứ ba, động viên và tổ chức toàn dân thi hành (Dân làm)
Sau khi dân đã biết và đi đến thống nhất, Hồ Chí Minh chỉ rõ khâu tiếp
theo của công tác dân vận là: “Cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với
hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành” (2) Đây làkhâu tổ chức phong trào quần chúng hành động cách mạng dưới sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước để thực hiện “những công việc nên làm
về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng Vấn đề quan trọng đặt ra khi thực hiện “dân làm” là phân phối kết quả lao động bảo đảm công bằng” (3) Dânbiết, dân bàn và dân làm có quan hệ khăng khít với nhau Chỉ khi dân đượcbiết, được bàn bạc dân chủ, đi đến thống nhất, thì làm mới đạt kết quả cao Hồ
Trang 14Chí Minh phê phán những cán bộ không bàn bạc, không hỏi ý kiến dânchúng, bắt làm theo mệnh lệnh cá nhân; không để dân chúng phát biểu ý kiến.Cách làm ấy khiến dân chúng oán trách, nghi ngờ, uất ức, bất mãn Vì vậy, dù
việc đó có lợi cho dân chúng, họ cũng không làm đến nơi đến chốn và dù “có
chút thành công, nhưng mặt chính trị thì thất bại” ” (4) Trong dân làm cần đềphòng hai khuynh hướng đó là: buông lỏng lãnh đạo, quản lý để dân làm mộtcách tự phát và quan liêu, độc đoán, hạn chế hoặc triệt tiêu tính độc lập, sángtạo của dân
Thứ tư, cùng với dân kiểm thảo, rút kinh nghiệm, phê bình, khen
thưởng (Dân kiểm tra)
Đây là khâu cuối cùng của quy trình dân vận Dân kiểm tra là dân xemxét những việc dân đã biết, đã bàn, đã làm; kiểm tra việc thực hiện chế độ,chính sách đối với nhân dân của cán bộ Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị
Hồ Chí Minh không chỉ đặt vấn đề Đảng, Nhà nước phải đặc biệt coi trọngviệc kiểm tra đảng viên, cán bộ, công chức và quần chúng nhân dân màNgười còn đòi hỏi nhân dân cần tích cực tham gia kiểm tra Đảng Người cho
rằng, trừ một số việc thật là nội bộ không đưa ra ngoài, còn lại “Đảng có thể
công khai triệt để” Khi khai hội, Đảng sẽ mời anh em ngoài tham gia phát biểu phê bình Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “làm như vậy thì một mặt, trong Đảng có kiểm tra, đôn đốc; một mặt, có anh em ngoài kiểm tra đôn đốc Như thế, đảng viên và cán bộ ngoài Đảng cũng được giáo dục”.
Trang 15Trong tác phẩm “Dân vận” (tháng 10/1949), Hồ Chí Minh đã đặt hai
câu hỏi: “Ai phụ trách dân vận? Dân vận phải như thế nào?” Nghiên cứu
câu trả lời hai câu hỏi trên của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu rõ lực lượngphụ trách công tác dân vận
Theo Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân phải phụtrách công tác dân vận Thực chất của công tác dân vận là xác lập mối quan
hệ chặt chẽ giữa hệ thống chính trị với dân Để đạt được mục tiêu đó, Người
đã chỉ rõ: “tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội
viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận” (1)
Kể từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duynhất lãnh đạo cách mạng Thành công và hạn chế của mọi công việc, trong đó
có việc rất quan trọng là dân vận đều liên quan đến Đảng Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: “Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn
đèn, máy mạnh thì đèn sáng” (2) Đảng “phụ trách dân vận” không chỉ thôngqua việc đề ra chủ trương, đường lối dân vận, mà còn qua kiểm tra việc thựchiện công tác dân vận Theo Người, những ưu điểm và khuyết điểm trongcông tác dân vận đều quan hệ chặt chẽ với quá trình kiểm tra của Đảng
Vấn đề cơ bản của các cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước.Cách mạng Tháng Tám (1945) đã giành chính quyền về tay nhân dân, lập nênnước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhà nước kiểu mới xuất hiện đặt ra hàngloạt yêu cầu, trong đó công tác dân vận giữ vị trí cực kỳ quan trọng đối với sựhình thành và phát triển của bản thân Nhà nước Hồ Chí Minh khẳng định:nước ta là nước dân chủ, nước lấy dân làm gốc Điều đó có nghĩa rằng: dânvận là yêu cầu khách quan không thể thiếu là thuộc tính của nhà nước kiểumới ở Việt Nam Muốn duy trì chế độ dân chủ cộng hoà, Nhà nước phải đặcbiệt coi trọng việc giải quyết thành công mối quan hệ giữa cơ quan nhà nướcvới nhân dân ở tất cả các cấp, trên mọi lĩnh vực của đời sống theo nguyên tắcdân là chủ và dân làm chủ
Trang 16Cùng với việc thành lập Đảng, Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc thành lậpcác tổ chức đoàn thể nhân dân Điều này thể hiện rõ ngay từ năm 1941, khi Người
về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Năm 1941, Người thành lập Mặttrận Việt Minh và đưa ra Mười chính sách của Việt Minh Mười chính sách đó thực
sự có sức lôi cuốn tất cả mọi người Việt Nam, không bỏ sót một người nào, tập hợpnhau lại dưới ngọn cờ đại nghĩa Hồ Chí Minh
Để phù hợp với hoàn cảnh thực tế, trong quá trình cách mạng, tổ chức
và tên gọi các đoàn thể nhân dân có sự thay đổi, nhưng vị trí, vai trò của nóđối với cách mạng và công tác dân vận ngày càng được củng cố và tăngcường Hồ Chí Minh cho rằng, trong công tác dân vận, một mặt cần có sựphân biệt giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân, mặt khác phải có sựphối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức ấy Muốn vậy, Đảng, Chính quyền, Mặttrận và đoàn thể phải cùng nhau bàn bạc kỹ lưỡng, phân công rõ rệt, rồi cùngnhau giải thích cho dân chúng hiểu, giúp dân kế hoạch; tổ chức, khuyếnkhích, động viên dân làm; theo dõi, giúp đỡ dân tháo gỡ những khó khăn,vướng mắc
Đối với cán bộ phụ trách công tác dân vận, theo Hồ Chí Minh, cán bộ làcái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộtốt hay kém, có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong Do đó, thành công hay thấtbại của dân vận, xét đến cùng là do đội ngũ cán bộ làm công tác này quyếtđịnh Người cho rằng, đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận cần có tínhchuyên nghiệp cao Do đó, phải huấn luyện cán bộ như là người làm ra hàng:
“huấn luyện cán bộ là cốt để cung cấp cán bộ cho các ngành công tác như là người tiêu thụ hàng” (1)
Đối với cán bộ dân vận, thì trước hết “người phụ trách dân vận cần
phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” Có nghĩa là,
Trang 17người cán bộ dân vận phải cùng lao động, cùng sản xuất, cùng chiến đấu vớidân Khi đã thực sự nhúng tay vào việc, người cán bộ không chỉ hoà mình vàodân, hiểu được niềm vui, nỗi buồn của dân, mà còn trực tiếp góp phần vàoviệc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Một yêu cầu mang tính nguyên tắc đối với người phụ trách công tác dânvận, là phải “đi sâu, đi sát” quần chúng và cơ sở; điều tra, nghiên cứu nhữngvấn đề về tình hình nhân dân và công tác dân vận Người đòi hỏi phải thựchành dân chủ, dựa vào quần chúng, lắng nghe ý kiến của dân chúng, đó là nềntảng, lực lượng của Đảng, nhờ đó mà Đảng thắng lợi Hồ Chí Minh chốt lại:
“Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng” (2)
Bên cạnh những yêu cầu nêu trên, người cán bộ công tác dân vận phảiluôn quan tâm chăm lo bảo vệ lợi ích của nhân dân; biết tham mưu, đề xuấtvới cấp uỷ Đảng về tình hình đời sống của nhân dân, tâm tư, nguyện vọng vàtâm trạng của quần chúng và giúp cấp uỷ tổ chức sự phối hợp, liên kết trong
công tác này; chuẩn bị đội ngũ cán bộ dân vận cho Đảng Người yêu cầunhững người phụ trách dân vận còn phải biết tổ chức các hoạt động thực tiễn,hướng dẫn đồng chí và cấp dưới cùng tổ chức thực hiện các hoạt động đó mộtcách có hiệu quả, nghĩa là không nói suông, không chỉ ngồi viết chỉ thị, mệnhlệnh mà nói phải đi đôi với làm; thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát trong côngtác dân vận để biết các chủ trương, chính sách, các chỉ thị, nghị quyết về côngtác dân vận được thi hành đến đâu, có ưu- khuyết điểm, hạn chế gì, có những kinhnghiệm gì Từ đó, đề xuất sáng kiến và tổ chức thực hiện ngày càng tốt hơn
Những đòi hỏi về tiêu chuẩn và phong cách của người phụ trách dân vận do
Hồ Chí Minh nêu lên vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động củangười cán bộ làm công tác dân vận trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Trang 182 Quan điểm chỉ đạo công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam
2.1 Khái niệm công tác dân vận của Đảng
Công tác dân vận (công tác vận động quần chúng) của Đảng là toàn bộ hoạtđộng của Đảng Cộng sản nhằm tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhândân Trong chủ nghĩa xã hội, mối liên hệ đó được thể hiện sinh động bằng đường lối,chính sách và việc thực hiện đường lối, chính sách đó thông qua Nhà nước xã hội chủnghĩa, các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội và tổ chức đảng
Mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân được đặt trong mối quan hệ hai chiều:Đảng và Nhà nước, có trách nhiệm trước nhân dân, phục vụ nhân dân; nhân dân laođộng có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sảnlãnh đạo Mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân là một tất yếu khách quan để giànhthắng lợi của cách mạng
Thực chất công tác dân vận của Đảng là vận động, tuyên truyền, thuyết phục nhândân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
2.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng ta, ngay từ khi ra đời, đã đặc biệt quan tâm tới công tác dân vận
Trong “Sách lược vắn tắt” của Đảng, văn kiện mang tính cương lĩnh đầu
tiên, Hồ Chí Minh viết: “1 Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải
thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được quần chúng 2 Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt…để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”.
Những tư tưởng này là một trong những tiền đề lý luận quan trọngquyết định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Do vậy, Đảng đã thuphục, lãnh đạo và phát huy được các giai cấp, tầng lớp mà nòng cốt là khốiliên minh công- nông- trí thức đoàn kết xung quanh Đảng đóng góp vào sự
Trang 19nghiệp đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân, phấn đấu vìmục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp Ma Cao (Trung Quốc) đãđưa ra một loạt các Nghị quyết rất quan trọng về vận động nông dân, binhlính, phụ nữ, thanh niên nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoànkết dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân
Tiếp đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951)diễn ra tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đã ra Nghị quyết về công tác Mặt trận vàdân vận, trong đó nhấn mạnh chính sách đại đoàn kết dân tộc để kháng chiến,kiến quốc Đồng thời Đại hội cũng đã chỉ rõ: mục đích dân vận là làm cho Đảng
đi sát quần chúng nhân dân, chính sách của Đảng và chính phủ ăn sâu vào quầnchúng nhân dân; là phát huy khả năng của nhân dân, động viên nhân dân thihành chính sách đó, đặng mưu lợi ích cho nhân dân Ngoài ra, Nghị quyết Đạihội đã đỉnh rõ phương châm hành động và cách làm việc của Mặt trận, về mốiquan hệ giữa Đảng, Mặt trận và chính quyền để bảo đảm việc thống nhất hànhđộng trong khi thi hành chính sách của Đảng và Chính phủ
Đến Đại hội III (tháng 9/1960), Đảng ta thấy rõ tính cấp thiết của việctăng cường công tác dân vận nên đã ban hành một loạt các chỉ thị, nghị quyết,thông tri về việc vận động quần chúng như: Thông tri số 314-TT/TW của Ban
Bí thư Trung ương ngày 9/2/1960 về việc bổ sung một số điểm về hoàn thànhcải cách dân chủ trong cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp hoànthành cải cách dân chủ ở miền núi phía Bắc; Chỉ thị số 190-CT/TW của Ban
Bí thư ngày 29/2/1960 về việc thành lập Ban vận động Hợp tác xã thủ côngnghiệp cao cấp; Nghị quyết của Ban Bí thư số 107-NQ/TW ngày 19/3/1960
về việc thành lập Ban vận động Hợp tác xã thủ công nghiệp Trung ương…Điều đó cho thấy, công tác dân vận của Đảng đã có sự chuyển biến mới vềchất, tạo động lực thúc đẩy phong trào hành động cách mạng góp phần rất
Trang 20quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước vàxây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết Trung ươngtrước đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) đã khẳngđịnh: để tạo ra phong trào cách mạng sâu rộng và liên tục của giai cấp, phải khéokết hợp các biện pháp chính trị và kinh tế, giáo dục và hành chính, tư tưởng và tổchức Phát huy và không ngừng mở rộng đội ngũ tiên tiến trong phong trào quầnchúng, thu hẹp diện những người lạc hậu Cùng với việc thực hiện quyền làmchủ của nhân dân lao động chủ yếu bằng Nhà nước, phải thực hiện quyền làmchủ tập thể của nhân dân lao động bằng các đoàn thể quần chúng
Về tăng cường công tác dân vận và mặt trận, Chỉ thị số 05-CT/TWngày 08/3/1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu lên một số vấn đềrất cơ bản trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta là: xây dựng chế độ làm chủ tập thể và phát huy quyềnlàm chủ tập thể của nhân dân lao động Đó là mục tiêu chính của công tác dânvận trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội Các cấp bộ đảng phải tăng cườnglãnh đạo công tác dân vận và Mặt trận nhằm mục tiêu đó, thể hiện trước hết ởviệc nâng cao trách nhiệm của các cấp bộ đảng, chính quyền và đoàn thể quầnchúng đối với công tác dân vận và Mặt trận; lãnh đạo tốt sự phối hợp giữa các
bộ phận trong hệ thống chuyên chính vô sản; phát huy vai trò của các đoànthể quần chúng trên các mặt: giáo dục chính trị, tư tưởng trong các tầng lớpnhân dân; đẩy mạnh phong trào cách mạng của quần chúng, trước hết làphong trào thi đua lao động sản xuất, cần, kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội;động viên và tổ chức quần chúng tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyềncách mạng, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội; phát triển và củng
cố các đoàn thể cách mạng của quần chúng nhằm tập hợp mọi công dân vàocác hình thức tổ chức quần chúng thích hợp để mọi người được sinh hoạtchính trị hợp pháp ở cơ sở Đặc biệt, phải tăng cường sự lãnh đạo của các cấp
uỷ đảng với công tác dân vận và mặt trận
Trang 21Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Vì vậy, ở thời kỳ nào côngtác vận động và tổ chức quần chúng làm cách mạng cũng có ý nghĩa chiếnlược Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3/1982) đã nêu rõ
ý nghĩa quan trọng của công tác quần chúng trong giai đoạn mới, đồng thờichỉ ra những nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận, đó là: làm cho toànĐảng, toàn hệ thống chuyên chính vô sản quán triệt sâu sắc quan điểm quầnchúng và công tác quần chúng của Đảng trong giai đoạn mới; phát huy quyềnlàm chủ tập thể, sử dụng sức mạnh tổng hợp, đẩy mạnh phong trào cách mạngcủa quần chúng trên mọi lĩnh vực; cải tiến và nâng cao trình độ chỉ đạo côngtác quần chúng của các tổ chức đảng và cấp uỷ đảng; nâng cao trách nhiệmcác tổ chức chính quyền đối với công tác quần chúng; phát huy vai trò vàchức năng của các đoàn thể, tích cực củng cố tổ chức cơ sở của các đoàn thể
và mở rộng các hình thức tập hợp rộng rãi các tầng lớp quần chúng Theo đó,cần tăng cường công tác cán bộ làm công tác vận động quần chúng thông quaviệc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân vận và các đoàn thể
Bước vào thời kỳ đổi mới, vận dụng những quan điểm của Hồ ChíMinh về công tác dân vận và các bài học kinh nghiệm của cách mạng ViệtNam qua các thời kỳ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng12/1986) đã đặc biệt coi trọng việc củng cố sự liên hệ mật thiết giữa Đảng vànhân; tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục chủnghĩa quan liêu Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợiích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sựđồng tình, hưởng ứng của quần chúng Nét nổi bật ở Đại hội này là sự ra đời
của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8B-NQ/HNTW về “Đổi mới công tác
quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”
với bốn quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác quần chúng trong thời kỳ mới:cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân; động lực thúc đẩy phong tràoquần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà cáclợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ của công dân; các hình thức tập hợp