BÀI BÁO CÁO HỌC PHẦN LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TƯ, CHỦ ĐỀ: PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ, Thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia, phản ánh xu thế tất yếu của toàn cầu hóa. Để hàng hóa được trao đổi giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau phải cần đến vận tải. Tùy vào điều kiện, vị trí địa lý cũng như tập quán quốc tế mà hàng hóa xuất nhập khẩu giữa nước này với nước khác sẽ được vận chuyển qua phương thức nào. Về cơ bản, có 5 phương thức vận tải quốc tế bao gồm vận chuyển đường thủy, vận chuyển đường bộ, vận chuyển đường sắt, vận chuyển đường hàng không và vận chuyển đường ống. Tuỳ mục đích sử dụng, tính chất, số lượng hàng, ngân sách hiện có, sự thuận tiện trong quá trình giao nhận…mà chủ hàng cũng như nhà vận chuyển sẽ chọn hình thức vận chuyển hàng hóa quốc tế tối ưu và hiệu quả nhất.
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: ThS NGUYỄN TUẤN KIỆT NHÓM: 5
PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA
QUỐC TẾ
Cần Thơ, tháng 11 năm2022
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 3
3
Trương Nguyễn Hoàng Giang
B1902865
Mục 1.4 + Thuyết trình Chương 1 và Chương 2, Trả lời phản biện
4 Nguyễn Hữu
Duy Khánh B1902769
Mục 2.1, 2.2, Trả lời phản biện
5 Nguyễn Lê
Thế Minh B1902783
Mục 2.3, 2.4, Trả lời phản biện
6 Danh Thanh
Tuấn B1900308
Mục 2.5, Kết luận, Trả lời phản biện
7 Trần Quang
Dinh B1902744
Chương 3, Thuyết trình chương 3, Trả lời phản biện
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ 3
1 Khái quát chung về vận tải hàng hóa quốc tế 3
1.1 Khái niệm vận tải hàng hóa quốc tế 3
1.2 Đặc điểm của vận tải hàng hóa quốc tế 4
1.2.1 Phương thức vận tải đường bộ (Roadways) 4
1.2.2 Phương thức vận chuyển đường sắt (Railways) 4
1.2.3 Phương thức vận chuyển đường hàng không (Airways) 4
1.2.4 Phương thức vận chuyển đường thủy (Waterways) 4
1.2.5 Phương thức vận chuyển đường ống (Pipeline Transport) 4
1.3 Vai trò của vận tải hàng hóa quốc tế 5
1.4 Một số lưu ý về vận tải hàng hóa quốc tế 6
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ 8
2 Một số quy định cơ bản về vận tải hàng hóa quốc tế 8
2.1 Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển 8
2.1.1 Khái niệm Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển 8
2.1.2 Quy định của pháp luật về vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển 8
2.1.3 Trách nhiệm của người chuyên chở 9
2.1.3.1 Quy định pháp luật quốc tế 9
2.1.3.2 Quy định của pháp luật Việt Nam (Bộ luật hàng hải năm 2015) 11
2.2 Vận tải hàng không quốc tế 13
2.2.1 Khái niệm vận tải hàng không quốc tế 13
2.2.2 Quy định của pháp luật về vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường hàng không quốc tế 13
2.2.3 Trách nhiệm của người chuyên chở theo công ước Vacsava 1992 14
2.2.3.1 Phạm vi trách nhiệm 14
2.2.3.2 Cơ sở trách nhiệm và căn cứ miễn trách 14
2.2.3.3 Giới hạn trách nhiệm bồi thường 15
2.2.4 Trách nhiệm của người chuyên chở theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 16
2.3 Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường sắt 16
2.3.1 Khái niệm vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường sắt 17
2.3.2 Quy định của pháp luật về vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường sắt 17
2.3.3 Trách nhiệm của người chuyên chở 18
2.3.3.1 Phạm vi trách nhiệm 18
2.3.3.2 Căn cứ miễn trách nhiệm 18
Trang 52.3.3.3 Giới hạn trách nhiệm bồi thường 19
2.4 Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường bộ 19
2.4.1 Khái niệm vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường bộ 19
2.4.2 Quy định của pháp luật về vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường bộ 19
2.3.3 Trách nhiệm của người chuyên chở 20
2.3.3.1 Phạm vi trách nhiệm 20
2.3.3.2 Giới hạn trách nhiệm bồi thường 21
2.5 Vận tải quốc tế đa phương thức 21
2.5.1 Khái niệm vận tải quốc tế đa phương thức 21
2.5.2 Quy định của pháp luật về vận tải hàng hóa quốc tế đa phương thức 22
2.5.3 Trách nhiệm của người tổ chức kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế 22
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ HỢP ĐỒNG VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ THÔNG DỤNG 24
3.1 Thực tiễn vận tải hàng hóa quốc tế 24
3.2 Một số hợp đồng vận tải hàng hóa quốc tế thông dụng 25
KẾT LUẬN 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài: Thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển của một quốc gia, phản ánh xu thế tất yếu của toàn cầu hóa Để hàng hóa được trao đổi giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau phải cần đến vận tải Tùy vào điều kiện, vị trí địa lý cũng như tập quán quốc tế mà hàng hóa xuất nhập khẩu giữa nước này với nước khác sẽ được vận chuyển qua phương thức nào Về cơ bản, có 5 phương thức vận tải quốc tế bao gồm vận chuyển đường thủy, vận chuyển đường bộ, vận chuyển đường sắt, vận chuyển đường hàng không và vận chuyển đường ống Tuỳ mục đích sử du ̣ng, tính chất, số lượng hàng, ngân sách hiê ̣n có, sự thuận tiê ̣n trong quá trình giao nhận…mà chủ hàng cũng như nhà vâ ̣n chuyển sẽ cho ̣n hình thức vận chuyển hàng hó a quốc tế tối ưu và hiệu quả nhất Hiện nay, nhu cầu sử dụng hàng hóa và dịch
vụ của người tiêu dùng Việt Nam đã vượt ra khỏi phạm vi trong nước Thêm vào đó là
sự phát triển của những trang web thương mại điện tử đã trở thành xu hướng mua sắm được nhiều người ưa chuộng khiến cho dịch vụ vận chuyển hàng quốc tế trở nên vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong cuộc sống con người Vập khi áp dụng các phương thức vận tải này có những ưu điểm gì và pháp luật điều chỉnh ra sao đó cũng chính là câu hỏi được đặt ra khi muốn vận chuyển hàng hóa sao cho tối ưu hóa được lợi nhuận
Đó cũng chính là nguyên nhân chính mà nhóm báo cáo quyết định chọn đề tài: “Pháp
luật về vận tải hàng hóa quốc tế” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu: Nhằm tìm hiểu về các quy định của pháp luật quốc gia
và pháp luật quốc tế về vận tải hàng hóa quốc tế qua đó đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của các quy định của pháp luật trong lĩnh vực vận tải hàng hóa quốc tế để mang đến cho người đọc một góc nhìn rõ hơn về các quy định của pháp luật cũng như một số khó khăn và thuận lợi trong lĩnh vực vận tải hàng hóa quốc tế
3 Phương pháp nghiên cứu: Trong đề tài này nhóm sử dụng phương pháp diễn
dịch kết hợp với phương pháp tổng hợp vấn đề, bên cạnh đó nhóm cũng có sử dụng phương pháp phân tích luật viết để nghiên cứu đề tài này
4 Phạm vi nghiên cứu: trong đề tài này do phạm vi và thời lượng bài báo cáo
không cho phép nên nhóm nghiên cứu sẽ chỉ giới thiệu tổng quan về vận tải hàng hóa quốc tế, phân tích về nguồn luật điều chỉnh và trách nhiệm bồi thường cũng như mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển trong từng phương thức vận tải quốc tế phổ
biến và các vấn đề pháp lý liên quan tới từng phương thức vận tải
5 Bố cục của đề tài: Ngoài lời mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo thì bố
cục đề tài của nhóm được chia làm các phần cụ thể như sau:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ
Trang 7CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC
TẾ
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ HỢP ĐỒNG VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ THÔNG DỤNG
Trang 8CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1 Khái quát chung về vận tải hàng hóa quốc tế
1.1 Khái niệm vận tải hàng hóa quốc tế
Vận tải quốc tế (tiếng Anh: International Transport), là hình thức vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách giữa hai hay nhiều nước với nhau, vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ của quốc gia, vận tải quốc tế có hai hình thức phổ biến: vận tải quốc tế trực tiếp và vận tải quốc tế quá cảnh Vận tải quốc tế trực tiếp là hình thức vận chuyển được tiến hành giữa hai nước có chung biên giới quốc gia; còn vận tải quốc tế quá cảnh là hình thức vận chuyển được tiến hành qua lãnh thổ của ít nhất một nước thứ ba (gọi là nước cho quá cảnh)
Trong thực tiễn thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, có nhiều tiêu chí để phân loại vận tải Theo tiêu chí môi trường và điều kiện sản xuất, vận tải quốc
tế được chia thành vận tải đường bộ, vận tải đường biển, vận tải đường hàng không, vận tải đường sắt Căn cứ cách thức tổ chức vận chuyển hàng hoá, vận tải quốc tế được chia thành vận tải đơn phương thức (Unimodal transport) và vận tải đa phương thức (Multimodal transport) Vận tải đơn phương thức là phương thức vận tải trong đó hàng hoá được chuyển từ nơi đi tới nơi đến bằng một loại phương tiện vận tải duy nhất, Vận tải đa phương thức là việc vận chuyển hàng hoá từ nơi đi tới nơi đến bằng ít nhất hai loại phương tiện vận tải trở lên nhưng chỉ sử dụng một loại chứng từ vận tải duy nhất
do một người vận chuyển chịu trách nhiệm trong toàn bộ quá trình vận chuyển
Vận tải quốc tế được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng: Hợp đồng vận tải quốc tế, Hợp đồng vận tải quốc tế là hợp đồng vận tải có yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài trong hợp đồng vận tải quốc tế thường được thể hiện dưới một hoặc các dấu hiệu sau:
- Các bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng không cùng quốc tịch, không cùng nơi cư trú hoặc nơi đóng trụ sở
- Việc giao kết hợp đồng thực hiện ở nước ngoài;
- Hàng hoá, hành khách là đối tượng của hợp đồng được vận chuyển qua biên giới quốc gia
Hợp đồng vận tải quốc tế có mối quan hệ hữu cơ với đồng mua bán hàng hoá quốc
tế (MBHHQT) Hợp đồng MBHHQT là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người mua và người bán còn hợp đồng vận tải điều chỉnh quan hệ giữa người thuê chở (là người mua hoặc người bán tùy theo hợp đồng mua bán) với người chuyên chở Trong nhiều trường hợp, hợp đồng mua bán còn bao gồm cả hợp đồng vận tải hoặc có các điều khoản vận tải1
1
PGS.TS Nông Đức Bình (chủ biên), Giáo trình thương mại quốc tế, Nxb Công An Nhân Dân (2017)
Trang 91.2 Đặc điểm của vận tải hàng hóa quốc tế
Vận chuyển hàng hoá quốc tế được tiến hành thông qua hoạt động chuyên môn của các tổ chức vận chuyển chuyên ngành thực hiện Việc vận chuyển được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau hoặc có thể được kết hợp của nhiều phương thức đó
Do đó đặc điểm của vận tải hàng hoá quốc tế sẽ gắn liền với những đặc điểm cụ thể của từng phương thức vận tải
1.2.1 Phương thức vận tải đường bộ (Roadways)
Phương thức vận tải đường bộ có đặc điểm là phương thức vận tải phổ biến nhất hiện nay, tuy nhiên lại không được sử dụng nhiều trong vận tải quốc tế bởi còn phụ thuộc nhiều vào vị trí địa lý giữa các quốc gia Vận chuyển bằng đường bộ chỉ thích hợp với vận chuyển hàng hóa có khối lượng không quá lớn, cự li vận chuyển ngắn và trung bình, hàng hóa yêu cầu tốc độ giao hàng nhanh Hình thức này ngày nay vẫn chủ yếu phục vụ cho chuyên chở nội địa, còn đối với vận tải hàng hóa quốc tế thì bị hạn chế và phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia với nhau
1.2.2 Phương thức vận chuyển đường sắt (Railways)
Vận chuyển đường sắt có ưu điểm là năng lực vận chuyển lớn, tốc độ vận chuyển nhanh, thích hợp cho vận chuyển hầu hết các loại hàng hóa, giá thành thấp Tuy nhiên, với vận tải đường sắt thì chi phí đầu tư xây dựng tuyến đường cao, tính chất linh hoạt kém
1.2.3 Phương thức vận chuyển đường hàng không (Airways)
Vận chuyển đường hàng không thì không mất chi phí xây dựng tuyến đường, tốc
độ rất cao, an toàn và đều đặn Tuy nhiên phương thức này có giá cước cao, không thích hợp cho việc vận chuyển các loại hàng hóa giá trị thấp, khối lượng lớn và cồng kềnh cũng như đòi hỏi vốn đầu tư xây dựng lớn
1.2.4 Phương thức vận chuyển đường thủy (Waterways)
Vận tải đường biển có đặc điểm là có năng lực vận chuyển lớn, giá thành vận tải biển rất thấp, chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp, thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hóa (đặc biệt thích hợp với các loại hàng rời có khối lượng lớn và giá trị thấp như than đá, ngũ cốc, quặng, dầu mỏ…) Tuy nhiên, vận tải biển lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện hàng hải, thiên nhiên thời tiết, lại có tốc độ tương đối thấp nên khả năng xảy ra rủi ro cao hơn
1.2.5 Phương thức vận chuyển đường ống (Pipeline Transport)
Phương thức vận chuyển bằng đường ống khá đặc thù, chỉ phù hợp với những loại hàng đặc biệt như khí hóa lỏng, dầu…phục vụ cho đối tượng đặc biệt như các công ty
đa quốc gia, hoặc Công ty Nhà nước lớn2
2 Bảo Yến: “Các Hình Thức Vận Chuyển Hàng Ho ́a Quốc Tế Thông Dụng Hiện Nay”, https://ratracosolutions.com/n/hinh-thuc-van-chuyen-hang-hoa-quoc-te-thong-dung/, [truy cập 28-10-2022]
Trang 101.3 Vai trò của vận tải hàng hóa quốc tế
Vận tải quốc tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội – văn hoá nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, nó có một số vai trò có thể kể đến như:
Một là: Nó giúp thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa
Trước kia khi nền kinh tế khó khăn, hạn chế về mặt công nghệ, khoa học kỹ thuật làm cho việc vận tải giao thương khó khăn, nhất là những nước nằm xa nhau Nhưng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ kéo theo đó là sự phát triển của vận tải quốc tế làm cho tốc độ vận chuyển và sự an toàn của hàng hoá được tăng lên Cùng với đó là cước phí vận tải giảm xuống đã góp phần tăng nhanh khối lượng hàng hóa lưu chuyển trong thương mại quốc tế Từ đó thúc đẩy sự sản xuất và lưu thông hàng hóa trên toàn cầu
Hai là: Vận tải quốc tế phát triển làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường buôn bán quốc tế
Trước đây, khi phương tiện vận chuyển còn thô sơ, trọng tải nhỏ, cước phí cao việc buôn bán nhiều mặt hàng, đặc biệt là mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu và hàng nông sản giữa các quốc gia, khu vực là rất hạn chế (vì cước phí chiếm tỉ trọng quá cao trong giá
cả của các loại mặt hàng này sẽ không đem lại hiệu quả kinh doanh cho các thương nhân) Do đó, thương mại quốc tế chỉ tập trung ở các mặt hàng thành phẩm hoặc bán thành phẩm Cho đến ngày nay, do sự phát triển của các phương tiện vận tải, mạng lưới giao thông thuận tiện và cước phí giảm đã giúp cho phát triển đa dạng các mặt hàng buôn bán Mặt khác, khi vận tải chưa phát triển, giá cước vận tải cao dân đến thị trường tiêu thụ thường gần nơi sản xuất Cho đến khi vận tải phát triển đã giúp cho các quốc gia mở rộng thị trường buôn bán Điều này thể hiện qua cự ly vận chuyển trung bình tăng nhanh qua các năm
Ba là: Vận tải quốc tế cũng có tác động tích cực và tiêu cực tới cán cân thanh toán quốc tế
Việc phát triển của vận tải đặc biệt là tiềm năng của phương tiện vận tải của quốc gia có tác dụng tăng nguồn thu ngoại tệ thông qua việc xuất khẩu sản phẩm vận tải hoặc tiết kiệm chi ngoại tệ thông qua việc chống nhập khẩu sản phẩm vận tải (bằng cách mua theo giá CIF, bán theo giá FOB và sử dụng công cụ vận tải trong nước) Ngược lại, nếu vận tải trong nước không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở trong thương mại quốc tế, quốc gia buộc phải chi ngoại tệ trong việc thuê tàu nước ngoài để thực hiện chuyên chở (mua giá FOB, bán giá CIF)
Như vậy, vận tải quốc tế và hoạt động thương mại quốc tế có quan hệ chặt chẽ với nhau Vận tải quốc tế có tác dụng thúc đẩy buôn bán giữa các quốc gia phát triển về mọi mặt, đồng thời, buôn bán quốc tế lại tạo ra những tiền đề cho vận tải quốc tế phát triển không ngừng
Trang 111.4 Một số lưu ý về vận tải hàng hóa quốc tế
Hiện nay có nhiều loại phương thức vận chuyển hàng hóa quốc tế được các bên lựa chọn như là: vận tải bằng đường biển, vận tải bằng đường hàng không, vận tải bằng đường bộ…Tùy vào mỗi loại phương thức vận tải khác nhau mà sẽ có những lưu ý riêng cho từng loại phương thức nhất định
a Trường hợp vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển thì sẽ có một vài lưu ý sau đây:
Thứ nhất: Quy đi ̣nh về an toàn hàng hải: Khi vận chuyển hàng bằng đường biển,
đơn vị vận tải và chủ hàng luôn mong muốn hàng hóa ở trạng thái an toàn, nguyên vẹn
và đảm bảo chất lượng trước khi đến tay người tiêu dùng Nếu xảy ra sự cố các tàu hàng
va vào nhau, hai thuyền trưởng phải thông báo ngay và làm báo cáo với những nhà chức trách có thẩm quyền Thứ hai: Quy định đối với chủ hàng, cung cấp đầy đủ thông tin chi
tiết về hàng hóa (loại hàng, khối lượng), yêu cầu đặc biệt (hàng dễ vỡ hoặc bảo quản), thông tin cá nhân cần thiết (tên, địa chỉ, số điện thoại, email của người gửi và người
nhận hàng); chuẩn bị tất cả giấy tờ, chứng từ làm thủ tục khai báo hải quan Thứ ba:
Quy định đối với đơn vị vận tải, đơn vị vận chuyển bao gồm thuyền trưởng, thợ máy, thợ điện trên các phượng tiện tham gia di chuyển tuyến giao thông đường biển phải có bằng do cơ quan giao thông vận tải cấp Đồng thời, các nguồn nhân lực chủ chốt cần trải qua các buổi tập huấn, tổ chức đào tạo, sát hạch để cấp bằng Riêng các vô tuyến điện
viên sẽ được Tổng cục Bưu điện và truyền thanh trực tiếp huấn luyện và cấp bằng Thứ
tư: Quy đi ̣nh về phương tiện vận tải, các phương tiện phải được kiểm tra định kì theo
quy định Bộ Giao thông vận tải Bên cạnh đó, phương tiện còn nhận được yêu cầu khám xét bất thường từ phía cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý và sử dụng hoặc thuyền trưởng Thông qua những buổi kiểm tra, tàu thuyền nào không đạt chuẩn sẽ bị tước, rút giấy phép đến khi đáp ứng độ an toàn và vệ sinh cần thiết
b Trường hợp vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường hàng không thì sẽ có một vài lưu ý sau đây:
Một là: Hàng hóa bắt buộc phải có giấy tờ hợp lệ, Ví dụ: vận chuyển hàng hóa từ
Trung Quốc về Việt Nam bằng đường hàng không có những quy định nghiêm ngặt bắt buộc phải tuân thủ đúng theo những quy định của hàng Theo đó hàng hóa khi vận chuyển phải chứng minh được nguồn gốc xuất sứ, tem phiếu đầy đủ và các thủ tục giấy
tờ hợp lệ Hai là: Chú ý đến trọng lượng hàng hóa, vận chuyển hàng bằng đường hàng
không có quy định rất rõ ràng về trọng lượng hàng và giới hạn trọng lượng được phép vận chuyển Vận chuyển hàng không mang đến nhiều ưu điểm vượt trội hơn hẳn về tốc
độ và độ an toàn Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không chấp nhận trọng lượng hàng hóa ở mức nhỏ và vừa, nếu vận chuyển khối lượng lớn thì cần hình thức vận chuyển
đường bộ hoặc đường thủy Ba là: Hàng hóa phải được đóng gói theo đúng quy định
Trang 12Đối với hàng hóa được vận chuyển bằng đường hàng không thì cần tuân thủ đúng quy trình đóng gói theo quy định Hàng thực phẩm cần phải đóng trong thùng gỗ, đối với hàng hóa tươi sống cần phải giữ lạnh và có đá lạnh đi kèm, có thể là đá khô, đá ướt hoặc khí hóa lỏng Toàn bộ quy trình đóng gói hàng hóa phải được tuân thủ đúng với quy
định Bốn là: ghi thông tin rõ ràng địa chỉ người nhận Vì vận chuyển hàng hóa đường
hàng không thường áp dụng đối với những loại hàng hóa cần vận chuyển nhanh, hàng hóa có giá trị cao Chính vì thế khi điền thông tin người nhận, nên kiểm tra một cách kỹ càng để tránh trường hợp hàng hóa bị gửi trở lại do không xác định được nơi nhận, gây thiệt hại lớn
Bên cạnh đó khi vận tải những hàng hóa nguy hiểm được quy định tại Nghị định
số 42/2020/NĐ-CP thì phải lưu ý những điểm sau đây: phải xuất trình giấy phép vận tải hàng hóa nguy hiểm; Cung cấp bảng phân tích thành phần lý hóa (MSSD): trong chuyển phát hàng nguy hiểm quốc tế do an ninh kiểm soát gắt gao nên yêu cầu người gửi cung cấp bản MSDS (Material Safety Data Sheet) – một da ̣ng văn bản chứa các dữ liệu liên quan đến các thuộc tính của một hóa chất, dạng vật chất cụ thể nào đó Thường thì bảng phân tích sẽ bao gồm 16 phần (được viết bằng tiếng Anh và có dấu giáp lai); Xuất trình phiếu an toàn hóa chất đầy đủ thông tin yêu cầu: Nhận dạng hóa chất, thông tin về sinh thái, thông tin về độc tính, Biện pháp sơ cứu y tế,…; Quy định chung về cách đóng gói hàng hóa nguy hiểm: các loại hóa chất dễ cháy nổ phải được đóng gói kín và khi vận tải phải cẩn thận tránh xa lửa và các tác nhân gây ra lửa; Với những hóa chất độc hại, lây nhiễm khi đóng gói và gửi hàng cần được trang bị bảo hộ lao động phù hợp; Ngoài việc tránh lửa, các loại hàng hóa dễ bắt lửa, dễ gây cháy nổ phải được kê lên kệ, không tiếp xúc trực tiếp với thùng xe tránh trường hợp nước ngấm vào cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa…
Trang 13CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA
QUỐC TẾ
2 Một số quy định cơ bản về vận tải hàng hóa quốc tế
2.1 Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển
Vận tải quốc tế bằng đường biển có một ưu thế vượt trội chính là dịch vụ này thích hợp với tất cả các chủng loại hàng hóa, cho dù ở bất cứ nơi đâu hay ở bất cứ vùng miền nào trên thế giới Không những thế, đây còn là một trong những dịch vụ có tuyến đường
đi thẳng, tất cả những tuyến đường đều có sự liên kết chặt chẽ với các cảng lớn nhỏ trên thế giới, hay đúng hơn là tất cả những nơi mà nó từng đặt chân tới, cùng với đó chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải và cước phí vận tải lại thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải khác
2.1.1 Khái niệm Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển
Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển là quá trình sử dụng tàu biển để vận chuyển hàng hóa theo tuyến đường cố định hoặc không cố định từ nước này tới nước khác Theo nghĩa rộng vận chuyển hàng hóa quốc tế là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác, chuyên chở bằng tàu biển một cách có hiệu quả hàng hóa Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển thường được tiến hành thông qua các doanh nghiệp, tổ chức chuyên ngành thực hiện3
2.1.2 Quy định của pháp luật về vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển
Nguồn của pháp luật vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển chính là nguồn của luật hàng hải quốc tế gồm có các điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán hàng hải quốc tế
Điều ước quốc tế bao gồm:
Thứ nhất: Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển
(The International Convention for the Unification of certain rules of law relating ti bills
of lading), có hiệu lực ngày 02/06/1931 nên thường được gọi là Công ước Brucxen hay Quy tắc Hague Nội dung công ước gồm các điều khoản về phạm vi áp dụng, nghĩa vụ
và trách nhiệm của người vận chuyển, nghĩa vụ thông báo tổn thất hàng hóa của người nhận hàng, các căn cứ miễn trách nhiệm cho người chuyên chở, giới hạn trách nhiệm bồi thường,
Thứ hai: Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về
vận đơn đường biển được gọi là Nghị định thư 1968 hay Quy tắc Visby, nội dung sửa
Trang 14đổi bổ sung liên quan phạm vi áp dụng của quy tắc, trách nhiệm người chuyên chở, thời gian khởi kiện, giới hạn bồi thường và đồng tiền bồi thường
Thứ ba: Công ước Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển được
ký kết tại Hamburg ngày 30/03/1978, có hiệu lực ngày 01/11/1992, thường được gọi là Công ước Hamburg 1978 hay Quy tắc Hamburg, nội dung là quy định về thời gian khởi kiện, giới hạn trách nhiệm và nghĩa vụ hàng hóa của chuyên chở
Luật Quốc gia:
Luật pháp của mỗi quốc gia được hiểu là một hệ thống văn bản pháp quy của một quốc gia bao gồm Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và
án lệ Hầu hết các quốc gia có biển và thậm chí cả những quốc gia không có biển đã ban hành các văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động hàng hải Đó là các luật và các văn bản dưới luật tạo thành một hệ thống các quy phạm quy định cho các hoạt động hàng hải và vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Ở các nước khác nhau có cách thức ban hành hệ thống văn bản khác nhau, thường là một đạo luật chung quản lý nhà nước về hàng hải, còn các vấn đề liên quan có thể ban hành luật hoặc quy định trong các luật liên quan Song song với các điều ước quốc tế, hiện nay các quốc gia đều có luật chuyển chở hàng hóa bằng đường biển cụ thể ở Việt Nam có Bộ luật Hàng hải được ban hành năm
1990, văn bản pháp luật hiện hành hiện nay là Bộ luật Hàng hải 20154
Tập quán hàng hải:
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa nhận của đông đảo quốc gia Có thể ví dụ một tập quán đang được sử dụng rộng rãi hiện nay như các điều kiện giao dịch thương mại quốc tế mà Phòng thương mại quốc tế tập hợp và soạn thảo từ năm 1936, 1953, 1980, 2000, 2010, 2020, gọi tắt là Incoterms, là tập hợp các tập quán thương mại quốc tế khác nhau trong đó quy định các điều kiện mua bán, bảo hiểm, cước vận tải, trách nhiệm giữa các bên tham gia hợp đồng như FOB, CIF, CFR… được rất nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận và sử dụng trong hoạt động thương mại
2.1.3 Trách nhiệm của người chuyên chở
2.1.3.1 Quy định pháp luật quốc tế
Theo Quy tắc Hague và Quy tắc Hague Visby
Người vận chuyển có các trách nhiệm sau: cung cấp con tàu có đủ khả năng đi biển; tiến hành việc bốc xếp, di chuyển, bảo quản hàng hoá một cách cẩn thận và thích hợp cung cấp vận đơn đường biển Trách nhiệm này phát sinh từ khi hàng hoá được xếp
4 Khoản 1, điều 1 Bộ luật Hàng hải 2015: “Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền viên, cảng biển, luồng hàng hải, cảng cạn, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước về hàng hải và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học”
Trang 15lên tàu tại cảng đi đến khi hàng hoá được dỡ khỏi tàu tại cảng đến Trong trường hợp hàng hoá bị tổn thất trong quá trình vận chuyển mà giá trị hàng hoá không được kê khai trên vận đơn hay chứng từ vận tải, người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường theo quy định và trách nhiệm chứng minh lỗi thuộc về chủ hàng
Theo Quy tắc Hamburg năm 1978
Trách nhiệm của người vận chuyển được xác định theo nguyên tắc "lỗi suy đoán", theo đó người vận chuyển có lỗi nếu có mất mát, hư hỏng hàng hoá hoặc giao hàng chậm, trừ khi họ chứng minh mình không có lỗi hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lí để ngăn ngừa thiệt hại xảy ra Trách nhiệm này phát sinh từ khi người vận chuyển nhận hàng để chở tại cảng xếp hàng đến khi giao hàng tại cảng dỡ hàng
Theo Công ước về quản lí và an toàn quốc tế (ISM)5 có hiệu lực từ ngày 01/7/1998 trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường do tàu biển gây ra, chỉ khi đã được cấp giấy chứng nhận về hệ thống quản lí chất lượng khai thác tàu (Quality Management Systems - QMS) và chứng minh được đã thực hiện các quy định của ISM, các chủ tàu được miễn trách nhiệm đối với các tổn thất do sự cố, tai nạn xảy ra
Những trường hợp miễn trách nhiệm của người vận chuyển
Theo Điều 4 Công ước Brussels năm 1924 (Quy tắc Hague), người vận chuyển được miễn trách nhiệm đối với sự hư hỏng, mất mát của hàng hoá trong những trường hợp nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất: Do tàu không đủ khả năng đi biển trừ khi tình trạng đó do sự thiếu mẫn
cán thích đáng của người vận chuyển
Thứ hai: Sự hư hỏng/mất mát của hàng hoá do các nguyên nhân sau; hành vi, sơ
suất hay khuyết điểm của thuyền trưởng, thủy thủ, hoa tiêu6 hoặc người làm công của
5 Bộ luật Quản lý an toàn quốc tế (International Safety Management (ISM Code)) tên đầy đủ của Bộ luật là “Bộ luật Quản lý quốc tế về hoạt động an toàn của tàu và ngăn ngừa ô nhiễm”, được Tổ chức Hàng hải quốc tế thông qua ngày 04/11/1993, thực chất là bổ sung Chương IX mới cho Phụ lục của Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng eon người trên biển (SOLAS 1974) Bộ luật quy định các yêu cầu quản lý an toàn, áp dụng cho những tàu hoạt động vì mục đích thương mại (với tàu khách, bao gồm cả tàu khách tốc độ cao, tàu chở dầu, tàu chở hóa chất, tàu chở khí, tàu chở xô hàng khô (bulk carrier), và tàu hàng tốc độ cao có tổng dung tích 500 GT trở lên, áp dụng
từ ngày 01/7/1998, với những tàu hàng khác và các giàn khoan biển di động có tổng dung tích 500 GT trở lên, áp dụng từ ngày 01/7/2002
6 Hoa tiêu là người trên tàu hoặc máy bay chịu trách nhiệm về việc điều hướng của nó Trách nhiệm chính của hoa tiêu là luôn nhận thức được vị trí của tàu hoặc máy bay Các trách nhiệm bao gồm lập kế hoạch hành trình, tư vấn cho thuyền trưởng hoặc người chỉ huy tàu bay về thời gian ước tính đến các điểm đến trong khi trên đường bay và đảm bảo tránh được các mối nguy hiểm Hoa tiêu phụ trách việc duy trì hải đồ , ấn phẩm hàng hải và thiết bị dẫn đường của máy bay hoặc tàu thuyền , và họ thường chịu trách nhiệm về thiết bị khí tượng và thông tin liên lạc Với sự ra đời của định vị vệ tinh, nỗ lực cần thiết để xác định chính xác vị trí của một người đã giảm theo cấp độ,
vì vậy toàn bộ lĩnh vực này đã trải qua một quá trình chuyển đổi mang tính cách mạng kể từ những năm 1990 với các nhiệm vụ dẫn đường truyền thống, như thực hiện điều hướng thiên thể , ít được sử dụng hơn Sử dụng nhiều phương pháp sửa chữa vị trí độc lập mà không chỉ dựa vào hệ thống điện tử bị hỏng hóc giúp hoa tiêu phát hiện lỗi và các thủy thủ chuyên nghiệp vẫn thành thạo trong việc dẫn đường truyền thống và điều hướng thiên thể
Trang 16người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tàu (Navigation and Management
of Ship); cháy, trừ khi do lỗi cố ý của người vận chuyển; những rủi ro, nguy hiểm hoặc tai nạn bất ngờ trên biển, thiên tai; hành động chiến tranh; hành động cướp phá, thù địch; hành động bắt giữ, tịch thu của các nhà cầm quyền hay của toà án; hạn chế vì kiểm dịch; nếu phát hiện thấy có vi trùng truyền nhiễm, dịch bệnh mà tàu bị chính quyền cảng bắt phải ra ngoài khơi để loại trừ và thời gian chờ đợi làm tăng chi phí liên quan đến miễn dịch, hành vi hay thiếu sót của chủ hàng, đại lí, hoặc đại diện của chủ hàng, đình công, bãi công, cấm xưởng hay cản trở lao động bộ phận hay toàn bộ không kể vì lí do gì, bạo động và nổi loạn, cứu hay mưu toan cứu sinh mạng hay tài sản trên biển; hao hụt thể tích hay trọng lượng hoặc bất kì mất mát, hư hỏng nào khác xảy ra do nội tỳ7 (Inherant Vice) hay bản chất hay khuyết tật của hàng hoá (Nature of goods); bao bì không đầy đủ; thiếu sót hay sự không chính xác về kí, mã hiệu; những ẩn tỳ8 (Latent Defect) của tàu không phát hiện được mặc dù đã có sự cần mẫn thích đáng, mọi nguyên nhân khác không phải do lỗi lầm thực sự hay cố ý của người vận chuyển, đại lí, người làm công cho người vận chuyển, trừ khi họ không chứng minh được Trong bất kì trường hợp nào, người vận chuyển cũng không chịu trách nhiệm về mất mát hay hư hỏng của hàng hoá nếu người gửi hàng đã cố tình khai sai tính chất hoặc giá trị hàng hoá trên vận đơn
2.1.3.2 Quy định của pháp luật Việt Nam (Bộ luật hàng hải năm 2015)
Người vận chuyển có quyền ghi chú vào vận đơn tình trạng hàng hoá hoặc bao bì Thông thường, người vận chuyển không bắt buộc phải ghi cụ thể những bất ổn về tình trạng của hàng hoá hoặc bao bì Vì vậy, khi có tổn thất phát sinh mà vận đơn vẫn còn nằm trong tay người gửi hàng thì người vận chuyển có quyền chứng minh ngược lại về tình trạng hàng hoá đã được ghi trong vận đơn để từ chối trách nhiệm đối với hàng hoá
vì vận đơn chỉ là bằng chứng suy đoán, Nếu vận đơn đã được chuyển nhượng cho người thứ ba (kể cả người nhận hàng) thì vận đơn trở thành bằng chứng có tính chất quyết đoán
và sự chứng minh ngược lại của người vận chuyển sẽ không được thừa nhận và người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về tình trạng của hàng hoá như đã ghi trong vận đơn (Điều 161)
Người vận chuyển phải mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàu biển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung ứng đầy đủ trang thiết bị và vật
7Nội tỳ là tỳ vết xảy ra do bản chất hàng hóa Nội tỳ thường được sử dụng để mô tả nguyên nhân tổn thất do chính
bản chất hàng hóa đó Nguyên nhân này có thể là do sinh vật sống, côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc , họat động dẫn
đến sinh nhiệt, thối rữa, mốc mọt Ví dụ : Hàng nông sản thực phẩm bị mốc thối, nguyên nhân ban đầu được xác
định là thông gió không tốt hoặc tiếp xúc với hàng hóa ẩm ướt khác Thực tế khi đưa mẫu đến phòng thí nghiệm phân tích xác định trong hàng hóa đã có sẵn côn trùng/vi khuẩn và chính bản thân các côn trùng/vi khuẩn này trong môi trường thích hợp đã gây ra mốc thối
8Ẩn tỳ là tỳ vết dấu kín, khó phát hiện mà những kiểm tra thông thường trong giao/ nhận hàng hóa không phát
hiện được Đa số các ẩn tỳ phải qua thời gian hoặc qua sử dụng mới được phát hiện Ví dụ : Những lỗi chế tạo
máy móc thiết bị mà ban đầu khi kiểm tra khó có thể phát hiện được và đã gặp sự cố hỏng hóc khi đưa vào sử dụng
Trang 17phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hóa có
đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hóa phù hợp với tính chất của hàng hóa (Điều 150)
Về trách nhiệm dân sự của chủ tàu, theo Bộ luật hàng hải năm 2015, Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với mất mát, hư hỏng hàng hóa do việc tàu biển không đủ khả năng đi biển, nếu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 150 của Bộ luật này Trong trường hợp này, người vận chuyển có nghĩa vụ chứng minh đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẫn cán (khoản 1 Điều 151) Việc chứng minh không có lỗi thuộc nghĩa vụ của người vi phạm nghĩa vụ dân sự
Bên cạnh đó, chủ tàu cũng được hạn chế trách nhiệm bồi thường theo mức giới hạn khi bồi thường các tổn thất (Điều 150) Cụ thể là Mức giới hạn trách nhiệm dân sự cho người vận chuyển đối với hàng hóa khi xảy ra mất mát, hư hỏng như sau:
Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối
đa tương đương với 666,67 đơn vị tính toán9 cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào cao hơn
Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc
tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường10
Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hóa được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ
sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:
a) Đối với hàng hóa bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;
b) Đối với hàng hóa bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa
Giá trị còn lại của hàng hóa được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm
và địa điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được thì căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến
9 Đơn vị tính toán (unit of account) là thuộc tính hay chức năng của tiền cho phép mọi người sử dụng nó để tính toán và ghi chép giá trị của hàng hoá, dịch vụ, tài sản và các giao dịch tài chính Đơn vị tính toán có thể mang hình thức một vật cụ thể, ví dụ những đồng tiền của Nhà nước Việt Nam phát hành, hoặc nợ tài sản hàng năm trong sổ sách kế toán, chẳng hạn quyền Rút vốn Đặc biệt (SDR) theo đó quyền rút vốn đặc biệt, viết tắt là SDRs (từ các chữ tiếng Anh Special Drawing Rights) là đơn vị tiền tệ qui ước của một số nước thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc
tế
10
Xem khoản 1 Điều 152 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015