Trong những năm gần đây, không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà trên hầu khắp các quốc gia khác của thế giới, xu hướng hội nhập và tiến tới toàn cầu hóa đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, dần trở thành xu thế tất yếu. Các quốc gia cũng vì thế mà có sự liên kết nhất định cả về mặt kinh tế, xã hội, từ đó tạo ra những chuyển dịch về các mặt như tài chính, hàng hoá và cả con người, hay còn gọi là người lao động. Tại Việt Nam, các chính sách mở cửa thị trường của Nhà nước đã trở thành cơ hội tốt cho việc di chuyển lao động diễn ra, theo đó không chỉ người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc mà ngay cả người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc cũng trở nên sôi nổi. Việc di chuyển lao động đem đến nhiều tác động cho cả quốc gia sở tại và quốc gia có lao động di chuyển, bao gồm cả những tác động có lợi và thách thức nhất định. Hiểu được điều đó, nước ta đã dành sự quan tâm nhất định tới việc xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp trên cơ sở các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài tại Việt Nam và người lao động trong nước. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đất nước. Nhiều chính sách pháp luật đã được Nhà nước ban hành trong nhiều năm qua nhằm gia tăng vai trò và hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Về cơ bản, pháp luật đã ghi nhận và đạt được những kết quả đáng ghi nhận với sự tiến bộ ngày càng cao, tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng hệ thống các quy định điều chỉnh này trên thực tiễn vẫn tồn tại nhiều vấn đề phát sinh, bất cập vướng mắc cần phải sớm được giải quyết. Xuất phát từ lý do nêu trên, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài trong xu thế toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu trong bài Tiểu luận này.
Trang 1TRƯỜNG …
TIỂU LUẬN
Đề tài: Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài trong xu thế toàn cầu hóa
ở Việt Nam hiện nay
Họ và tên:
Mã sinh viên:
Lớp:
Năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA .2
1.1 Khái niệm chung về quản lý lao động nước ngoài 2
1.1.1 Khái niệm lao động nước ngoài 2
1.1.2 Khái niệm quản lý lao động nước ngoài 3
1.2 Đặc điểm quản lý lao động nước ngoài 3
1.3 Các mục tiêu quản lý lao động nước ngoài 5
1.4 Pháp luật quản lý lao động nước ngoài 6
1.4.1 Khái niệm pháp luật quản lý lao động nước ngoài 6
1.4.2 Nội dung của pháp luật quản lý lao động nước ngoài 6
1.4.3 Tác động của xu thế toàn cầu hoá đối với pháp luật về quản lý lao động nước ngoài 8
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÙ HỢP VỚI XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ 10
2.1 Quy định pháp luật về quản lý lao động nước ngoài 10
2.1.1 Tuyển dụng người lao động nước ngoài 10
2.1.2 Cơ chế quản lý lao động nước ngoài 12
2.2 Đánh giá quy định pháp luật về quản lý lao động nước ngoài trong xu thế toàn cầu hoá 13
2.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam 14
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà trên hầu khắp các quốc gia khác của thế giới, xu hướng hội nhập và tiến tới toàn cầu hóa đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, dần trở thành xu thế tất yếu Các quốc gia cũng vì thế mà có sự liên kết nhất định cả về mặt kinh tế, xã hội, từ
đó tạo ra những chuyển dịch về các mặt như tài chính, hàng hoá và cả con người, hay còn gọi là người lao động Tại Việt Nam, các chính sách mở cửa thị trường của Nhà nước đã trở thành cơ hội tốt cho việc di chuyển lao động diễn ra, theo đó không chỉ người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc
mà ngay cả người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc cũng trở nên sôi nổi
Việc di chuyển lao động đem đến nhiều tác động cho cả quốc gia sở tại
và quốc gia có lao động di chuyển, bao gồm cả những tác động có lợi và thách thức nhất định Hiểu được điều đó, nước ta đã dành sự quan tâm nhất định tới việc xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp trên cơ sở các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài tại Việt Nam và người lao động trong nước Qua
đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đất nước
Nhiều chính sách pháp luật đã được Nhà nước ban hành trong nhiều năm qua nhằm gia tăng vai trò và hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Về cơ bản, pháp luật đã ghi nhận và đạt được những kết quả đáng ghi nhận với sự tiến bộ ngày càng cao, tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng hệ thống các quy định điều chỉnh này trên thực tiễn vẫn tồn tại nhiều vấn đề phát sinh, bất cập vướng mắc cần phải sớm được giải quyết
Xuất phát từ lý do nêu trên, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài trong xu thế toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay” để
nghiên cứu trong bài Tiểu luận này
Trang 4NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN
LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG XU THẾ
TOÀN CẦU HÓA 1.1 Khái niệm quản lý lao động nước ngoài
1.1.1 Khái niệm lao động nước ngoài
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam không có quy định đề cập hay giải thích về thuật ngữ “lao động nước ngoài”, tuy nhiên lại có quy định nhắc đến
“lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam” và “lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam” Trước đây, theo Nghị định
số 58/CP năm 1996 về “cấp giấy phép cho lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam”, người nước ngoài làm việc tại
Việt Nam được định nghĩa là “người không có quốc tịch Việt Nam theo Luật Quốc tịch Việt Nam” 1 Bên cạnh đó, tuy không trực tiếp ghi nhận là “người nước ngoài” nhưng Nghị định này cũng đề cập tới trong phạm vi điều chỉnh và
trên tinh thần coi “người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam”2 có địa vị pháp lý tương tự so với “người nước ngoài làm việc tại Việt Nam”
Đến Nghị định số 05/2003/NĐ-CP về “quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ Luật lao động 1994 về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, khái niệm người lao động nước ngoài
được ghi nhận là “người không có quốc tịch Việt Nam theo Luật Quốc tịch Việt Nam”3 Như vậy, tại Nghị định này, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam vẫn được xác định thông qua đối chiếu và ghi nhận bởi một văn bản pháp luật khác
Đến Bộ luật Lao động năm 2012 (“BLLĐ năm 2012”) và tiếp tục được ghi nhận tại Bộ luật Lao động năm 2019 (“BLLĐ năm 2019”) thì người lao
động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được xác định là “người có quốc tịch nước ngoài” và phải đáp ứng một số điều kiện pháp lý nhất định4
1 Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 58/CP năm 1996 về “cấp giấy phép cho lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam”
2 Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 58/CP năm 1996 về “cấp giấy phép cho lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam”
3 Điều 2 Nghị định số 05/2003/NĐ-CP về “quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ Luật lao động
1994 về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”.
4 Khoản 1 Điều 151 BLLĐ năm 2019.
Trang 5Trên cơ sở các quy định đã được ghi nhận nêu trên có thể xác định:
“Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là công dân nước ngoài vào Việt Nam làm việc theo các hình thức mà pháp luật quy định”
1.1.2 Khái niệm quản lý lao động nước ngoài
Nhà nước được thành lập ra có chức năng và vai trò quản lý xã hội, bảo
vệ quyền và lợi ích cho các thành viên trong xã hội đó không bị xâm phạm Vì
lý do đó, trong quy định pháp luật về lao động, Nhà nước luôn đặt ra hệ thống các quy định nhằm bảo vệ cho người lao động là công dân của đất nước sở tại Đặc biệt trong tình hình hội nhập thế giới dẫn tới thực tế di trú lao động giữa các quốc gia diễn ra sôi nổi như hiện nay thì việc thành một một cơ chế riêng
để quản lý những người lao động là người nước ngoài là cần thiết để duy trì sự hài hoà giữa lợi ích cần thiết của người lao động nước ngoài và lao động trong nước Qua đó tiến xa hơn tới việc tăng cường quan hệ ngoại giao, hội nhập kinh tế quốc tế
Xét về ngữ nghĩa, “quản lý” nhìn chung được hiểu là “việc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”5 Hay nói cách khác, trong vấn đề quản lý chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra đã tác động lên đối tượng quản lý Quản lý lao động nước ngoài ở đây được hiểu là sự quản lý của nhà nước đối với nhóm đối tượng là lao động nước ngoài Trong đề tài này, quản lý nhà nước được nhắc đến ở góc độ rộng hơn, bao gồm cả hoạt động ban hành văn bản pháp luật hay chỉ đạo trực tiếp hoạt động,, Bởi vậy, trên cơ sở đó có thể
đưa ra khái niệm về quản lý lao động nước ngoài như sau: “Quản lý lao động nước ngoài là một quá trình tác động của Nhà nước vào quan hệ lao động giữa một bên là người sử dụng lao động và một bên là người lao động không phải là công dân của nước sở tại làm việc tại nước sở tại”
1.2 Đặc điểm quản lý lao động nước ngoài
Lao động nước ngoài là một đối tượng đặc biệt trong phạm vi quản lý của Nhà nước, bởi vậy, bên cạnh các ặc điểm chung giống với quản lý lao động trong nước thì quản lý lao động nước ngoài có những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, vấn đề quản lý lao động nước ngoài có tính quốc tế và liên
quan sâu sắc với mục tiêu bảo đảm quyền con người
5 Hoàng Phê (2003), “Từ điển Tiếng Việt”, Nxb.Đà Nẵng, Hà Nội – Đà Nẵng, tr.800
Trang 6Quyền con người là vấn đề không chỉ tại nước ta mà được pháp luật quốc tế hiện đại quan tâm, thừa nhận Trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, việc điều chỉnh của pháp luật hay quá trình quản lý của Nhà nước đều phải cân nhắc, xem xét thực hiện trên cơ sở đảm bảo quyền cơ bản của con
người, trong đó bao gồm cả lĩnh vực lao động Theo đó, “một loạt vấn đề đặt
ra có liên quan trực tiếp đến việc tôn trọng và đảm bảo thực thi quyền con người trong lĩnh vực lao động cần được giải quyết một cách hợp lý, như: đảm bảo việc làm, đảm bảo tiền lương, tiền công, đảm bảo nhân thân lao động, ”6 Chính bởi vậy, hoạt động của Nhà nước về người lao động nước ngoài cần phải hướng tới việc ngăn chặn những vi phạm, xâm hại trực tiếp tới quyền con người không chỉ của người lao động nước ngoài mà bao gồm cả người lao động của quốc gia Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về lao động nước ngoài luôn gắn liền với yêu cầu bảo đảm quyền con người
Bên cạnh đó, quản lý lao động nước ngoài thực chất là hoạt động quản
lý của Nhà nước đối với các lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Như vậy, ở đây tồn tại ít nhất mối quan hệ giữa hai quốc gia (Việt Nam và quốc gia
mà người lao động mang quốc tịch) Do đó, có thể khẳng định quản lý lao động nước ngoài luôn gắn liền với quan hệ quốc tế 7
Thứ hai, quá trình quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
là sự tham gia tổng hoà của nhiều ngành, địa phương và các mối quan hệ lao động khác nhau
Vấn đề quản lý nhà nước liên quan đến lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có liên quan tới nhiều nội dung khác nhau như: an sinh xã hội,
an ninh, giáo dục, y tế, việc làm, công đoàn, nhập cảnh, xuất cảnh, Bên cạnh
đó, người lao động nước ngoài với bản chất là người lao động có thể làm việc tại nhiều địa phương khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam, vì thế cũng tham gia vào nhiều mối quan hệ lao động khác nhau
Do vậy, để đảm bảo công tác quản lý nhà nước về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần phải có sự phối hợp, tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và địa phương Từ đó đảm bảo tính thống nhất, liên kết chặt chẽ và đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện
6 Phạm Công Trứ (2013), “Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam”, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, tr.11
7 Ngọc khánh và các đồng tác giả (2018), “Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài trong xu thế toàn cầu hoá
ở Việt Nam hiện nay”, nghiên cứu khoa học cấp Viện, tr.15
Trang 71.3 Các mục tiêu quản lý lao động nước ngoài
Một số mục tiêu được đặt ra nhằm hướng tới việc đáp ứng yêu cầu, hiệu quả cho công tác quản lý lao động nước ngoài được đặt ra như sau:
Thứ nhất, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế có liên
quan
Theo đó, các quốc gia trên thế giới và trong đó có Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế thường xuyên gia nhập và ký kết những điều ước quốc
tế chung, trong đó bao gồm cả những điều ước có nội dung liên quan đến vấn
đề về lao động Khi đó, các quốc gia là thành viên cần phải đảm bảo nội luật hoá và tuân thủ nghiêm chỉnh các điều ước đã được phê duyệt và ký kết
Trong số các điều ước mà Việt Nam ký kết, phải kể đến các Công ước
cơ bản của ILO Một số tiêu chuẩn lao động quốc tế đã được đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên nghiêm túc tuân thủ như:
Nhóm 1: Tự do hiệp hội và thương lượng tập thể (Công ước 87 và 98) Nhóm 2: Xóa bỏ hình thức lao động cưỡng bức và ép buộc (Công ước
29 và 105)
Nhóm 3: Xóa bỏ lao động trẻ em (Công ước số 138 và 182)
Nhóm 4: Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (Công ước số 100 và 111)
Thứ hai, đảm bảo nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài được đáp ứng
một cách hợp lý
Tại mỗi quốc gia sẽ có những đặc trưng riêng biệt về kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật, và nguồn lao động Chính bởi vậy, để đảm bảo việc quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiệu quả thì cần phải có sự xem xét, đánh giá và cân nhắc nhằm đảm bảo các chính sách, cơ chế được ban hành phù hợp với tình hình trong nước Qua đó, hướng tới mục tiêu xây dựng thị trường lao động phát triển, cân bằng tại các địa phương, hướng tới phát triển nền kinh tế xã hội quốc gia
Thứ ba, cần tạo sự liên kết giữa hoạt động sử dụng lao động nước ngoài
với lợi ích chung của toàn xã hội
Người lao động nói chung và người lao động nước ngoài nói riêng luôn
có mối liên hệ, gắn kết với nhiều chủ thể khác nhau, tác động trực tiếp đến đời
Trang 8sống xã hội Bởi lẽ, xoay quanh người lao động không chỉ có quan hệ pháp luật lao động mà còn tồn tại những mối quan hệ về gia đình, bạn bè, Không những vậy, quan hệ này còn tác động trực tiếp tới tình hình xã hội như tỷ lệ thất nghiệp, bảo đảm việc làm cho người lao động, Chính vì vậy, công tác quản lý lao động nước ngoài, sử dụng lao động nước ngoài cần phải xuất phát
và gắn liền với mục tiêu phát triển xã hội, tận dụng nguồn lao động chất lượng cao để phát triển nền kinh tế đất nước
1.4 Pháp luật quản lý lao động nước ngoài
1.4.1 Khái niệm pháp luật quản lý lao động nước ngoài
Pháp luật và Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, theo đó, Nhà nước sử dụng Pháp luật như một công cụ để đảm bảo việc thực hiện quyền lực của mình Theo đó, pháp luật được hiểu là “hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước được ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình”8
Như vậy, có thể khái quát được về khái niệm của pháp luật quản lý lao
động nước ngoài như sau: “Pháp luật quản lý lao động nước ngoài là tổng thể các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong việc Nhà nước tác động vào đối tượng bị quản lý là những người nước ngoài nhập cư vào nước sở tại để làm ăn, sinh sống nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài một cách hợp lý và gắn việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của xã hội”
1.4.2 Nội dung của pháp luật quản lý lao động nước ngoài
Xoay quanh vấn đề về pháp luật về quản lý lao động nước ngoài, một số nội dung chủ yếu có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc quản lý lao động nước ngoài
Nguyên tắc quản lý lao động nước ngoài là hệ thống các tư tưởng, quan điểm định hướng cơ bản điều chỉnh pháp luật chi tiết về quản lý lao động nước ngoài Từ những nhu cầu khác nhau, có thể phân nguyên tắc quản lý lao động nước ngoài thành 2 loại như sau:
8 Công ty Luật ACC (2022), “Khái niệm pháp luật là gì”, xem tại https://accgroup.vn/khai-niem-phap-luat-la-gi/
Trang 9“(i) Các nguyên tắc hình thành một cách khách quan do nhu cầu chung của đời sống quốc tế mà thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế không thể bỏ qua Đó là các nguyên tắc như tôn trọng quyền con người, và tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài
(ii) Các nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu bảo đảm sự tồn vong và phát triển của nước sở tại Các nguyên tắc này gồm có nguyên tắc bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, và nguyên tắc bảo đảm hiệu quả kinh tế và bảo vệ việc làm cho người lao động bản xứ.”9
Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay không quy định một cách cụ thể về các nguyên tắc này, tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng vẫn phải đảm bảo tuân thủ một cách tuyệt đối nhằm hướng tới duy trì mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác
Thứ hai, các quy định xác định và phân loại lao động nước ngoài.
Trong việc xác định đối tượng của hoạt động quản lý nhà nước và mô hình quản lý nhà nước, việc xác định lao động nước ngoài giữ vai trò rất quan trọng Theo đó, công tác này góp phần đưa ra được quy chế và phương thức quản lý phù hợp, tương ứng đối với từng nhóm đối tượng
Thứ ba, quy tắc thiết lập mô hình tổ chức quản lý.
Nhómquy định này bao gồm việc xác định thẩm quyền trong vấn đề quản lý lao động nước ngoài và bao gồm các quy tắc thiết lập các cơ quan quản lý chuyên trách lao động nước ngoài Theo đó, tuỳ từng quốc gia sẽ có
mô hình tổ chức quản lý lao động khác nhau được lập trên cơ sở đặc trưng riêng biệt của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước tại quốc gia đó Ví dụ như trong việc cấp Giấy phép lao động nước ngoài tuỳ từng nước có thể do nhà chức trách lao động hoặc nhà chức trách nhập cư cấp
Mặc dù vậy, dù theo mô hình nào, thì theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền thì vấn đề thẩm quyền trong quản lý lao động nước ngoài luôn được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản định chế quốc gia
Thứ tư, quy định các phương thức quản lý.
Trong nhóm này bao gồm các quy định liên quan đến việc xác định và phân loại đối tượng quản lý đối với từng nội dung khác nhau Tuy nhiên, kể cả
9 Ngọc khánh và các đồng tác giả (2018), “Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài trong xu thế toàn cầu hoá
ở Việt Nam hiện nay”, nghiên cứu khoa học cấp Viện, tr 20
Trang 10là ở nhóm đối tượng nào thì các quy định này cũng liên quan và điều chỉnh các vấn đề về cách thức, thủ tục áp dụng việc quản lý nhà nước
Thứ năm, về quy định liên quan đến quan hệ hợp đồng giữa người sử
dụng lao động và người lao động nước ngoài
Các quy định được xây dựng trong nhóm này nhằm hỗ trợ và ngăn cản hoặc giảm thiểu tối đa các hạn chế liên quan giữa mối quan hệ của người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động liên quan đến hợp đồng lao động Theo đó đây được xem là cơ sở quan trọng để xác định quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trên cơ sở đảm bảo tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật
Thứ sáu, quy định về giải quyết tranh chấp giữa người bị quản lý và
người quản lý
Trong nhóm quy định này bao gồm các nội dung liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp (như hình thức, thẩm quyền và thủ tục thực hiện) cùng các chế tài liên quan Quy định này cũng được xem là phương thức quản lý đối với Nhà nước trong quản lý lao động nước ngoài Trong quá trình giải quyết tranh chấp này, Nhà nước có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp chế tài đối với trường hợp người lao động nước ngoài vi phạm quy định như trục xuất hoặc phạt tiền tuỳ theo mức độ vi phạm
1.4.3 Tác động của xu thế toàn cầu hoá đối với pháp luật về quản lý lao động nước ngoài
Trong quá trình toàn cầu hoá, một quốc gia có thể chịu sự tác động của bởi nhiều yếu tố vượt ngoài phạm vi biên giới quốc gia tới tình hình kinh tế
-xã hội Theo đó, đối với một lĩnh vực pháp luật cụ thể về quản lý lao động nước ngoài, toàn cầu hoá có những tác động chi phối như sau:
Thứ nhất, toàn cầu hoá luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức
Về thuận lợi: Tham gia toàn cầu hoá chúng ta sẽ có cơ hội tiếp xúc với nguồn vốn dồi dào, công nghệ hiện đại, thị trường năng động, kinh nghiệm quản lý Trong hoạt động quản lý nhà nước về lao động nước ngoài, để phù hợp với thị trường lao động vô cùng đa dạng và ngày càng biển đổi mạnh mẽ
về cơ cấu, chất lượng thì việc tham khảo pháp luật quốc tế và các quốc gia phát triển là nhu cầu thiết yếu của mỗi quốc gia Để tạo ra môi trường kinh tế