KINH TẾ NÔNG HỘ
Trang 1Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
I CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HỘ - NÔNG DÂN – KINH TẾ NÔNG HỘ VÀ SỰ PHÂN LOẠI
Như vậy, các cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về hộ khônggiống nhau Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân biệt về hộ, đó là:
+ Chung hay không cùng chung huyết tộc (huyết tộc và quan hệ hôn nhân)
+ Cùng chung sống dưới một mái nhà
+ Cùng chung một nguồn thu nhập (ngân quỹ)
+ Cùng ăn chung
+ Cùng tiến hành sản xuất chung
1.2 Phân biệt hộ và gia đình
Hộ và gia đình có vị trí và chức năng khác nhau tuy là cùng sống trong một máinhà Do không phân biệt nên còn một số ý kiến không nhất trí gọi kinh tế hộ mà phải làkinh tế gia đình
Trang 2Theo Trai a nốp nhà kinh tế của Nga: Khái niệm hộ, đặc biệt trong đời sốngnông thôn không phải bao giờ cũng tương đối với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho
nó, mà nội dung còn có cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống giađình Nếu xem xét kỹ giữa hộ và gia đình cũng có nét giống nhau nên cũng có nhữngtiêu thức chung để nghiên cứu như cơ sở kinh tế, quan hệ huyết thống và hôn nhân,tình trạng cư trú Nhưng cần phân biệt:
- Gia đình được xem xét trong mối tương quan về mặt xã hội
- Còn hộ là những đơn vị kinh tế nhỏ nằm trong nền kinh tế
Một gia đình có thể bao gồm nhiều hộ, từ lâu ở nước ta có nhiều gia đình có ba,bốn thậm chí năm thế hệ cùng sống chung dưới một mái nhà nhưng đã tách ra thànhcác nông hộ riêng, sống độc lập bằng sức lao động của mình: bằng đất được giaokhoán, thuê mướn hoặc do đấu thầu về sử dụng… và ăn riêng một mâm cơm vớingân quỹ riêng Sự phân biệt này có ý nghĩa rất lớn khi đánh giá kinh tế nông hộ vàmức thu nhập thực tế của họ để có biện pháp tác động đúng và kịp thời
1.3 Hộ nông dân
Theo Ellis năm 1988: Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất,
sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tếrộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trườngvới mức động hoàn hảo không cao
- Đặc điểm của hộ nông dân
Nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêudùng, vừa là một đơn vị kinh doanh, vừa là một đơn vị xã hội
- Mối quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
từ tự cấp, tự túc hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn Từ đó quyết định quan hệnông hộ và thị trường
- Các nông hộ ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phinông nghiệp với các mức độ khác nhau
Sự khác nhau giữa hộ nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp
Nông hộ là đơn vị kinh tế đặc biệt, nó khác với tầng lớp xã hội khác và vớidoanh nghiệp nông nghiệp, cụ thể:
Trang 3Tiêu thức Hộ nông dân Doanh nghiệp nông nghiệp
Chủ yếu là lao động thuê ngoài
Không hoàn hảo
Nông hộ được đánh giá như thế nào?
Nông nghiệp, nông hộ và nông dân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nông hộ nếu nóingắn gọn là hộ sống ở nông thôn và có tiến hành sản xuất nông nghiệp Vì vậy muốnphát triển nông nghiệp và nông thôn không thể không bàn đến nông dân Sở dĩ vậy làdo:
- Nông dân có đời sống vô cùng khó khăn
- Cơ sở hạ tầng yếu kém
- Trình độ dân trí của nông thôn thấp
- Nông dân nhất là với các nước chưa phát triển được coi là lực lượng chínhtrị, xã hội qua trọng trong các cuộc cách mạng
- Nông dân quản lý và sử dụng đại đa số nguồn lực như đất đai, lao động, tưliệu sản xuất …
- Mức GDP trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, 35% so với tổng số
Vì những lý do trên khi nghiên cứu kinh tế hộ nông dân không thể không bàn tời nôngdân
1.4 Kinh tế hộ nông dân
Trang 4Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đócác nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung
để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung: mọi quyếtđịnh trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được nhà nướcthừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển
Do vậy hộ không thuê lao động nên không có khái niệm về tiền lương và khôngtính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Nông hộ chỉ có thu nhập chung của tất cả cáchoạt động kinh tế Đó là sản lượng thu được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà hộ đã
bỏ ra để phục vụ sản xuất
* Phân biệt kinh tế nông hộ với kinh tế gia đình
Kinh tế gia đình được đặt trong mối quan hệ với kinh tế tập thể, kinh tế gia đình
xã viên là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế tập thể nên sự phát triển của kinh tếtập thể có thể ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế gia đình Vì thế không thể đồng nhất kinh
tế nông hộ với kinh tế gia đình nông dân
Ở các nước tây Âu và một số nước châu Á xác định kinh tế hộ là kinh tế cá thể
Nó thuộc thành phần kinh tế cá thể Ở nước ta kinh tế hộ không thuộc thành phần kinh
tế cá thể, nó chỉ là loại hình kinh tế dùng để phân biệt với kinh tế tập thể và kinh tế nhànước Nó là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng hiện tại chưa được xếp vào thành phần kinh tếnào, nó có mối quan hệ với các thành phần kinh tế và là cơ sở hình thành kinh tế hợptác và hợp tác xã nông nghiệp
* Tại sao cần nghiên cứu kinh tế nông hộ
Từ lâu chúng ta quan niệm: hộ gia đình ở nông thôn làm nông nghiệp là nông
hộ Phát triển kinh tế nông hộ là phát triển kinh tế gia đình nông dân Đây là đơn vịkinh tế xã hội ở nông thôn Trên thế giới ngay từ những năm 1960 đã có môn “nôngdân học” và để cho nó phát triển đã xuất hiện nhiều trung tâm nghiên cứu về nông dân
và các tạp chí khoa học nói về nông dân Đến nay hộ nông dân được xem là đối tượngnghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì hầu như tất
cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiệnqua những hoạt động của nông hộ
Trước đây quan niệm: kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ sống ở nông thôn, baogồm cả thu từ nông nghiệp và phi nông nghiệp nhưng thu từ phi nông nghiệp có cả thu
Trang 5từ những hoạt động có liên quan và không liên quan đến nông nghiệp thì cách xác địnhnhư thế nào cho chính xác trong kinh tế nông hộ Hoặc trong điều kiện đô thị hóa thì
hộ nông dân cũng cần phải được chính xác thu nhập của họ Cũng vì thế sở dĩ phảinghiên cứu kinh tế nông hộ là vì:
Nông hộ chính là thực thể kinh tế văn hoá xã hộichủ yếu ở nông thôn
Kinh tế nông hộ không thể tách rời nền kinh tế quốc dân, nó chính là bộ phậnquan trọng hợp thành của kinh tế quốc dân
Khoa học kinh tế nông hộ là nền tảng cho việc xem xét, phân tích, đánh giá vàxây dựng chiến lược phát triển nông thôn
2 Phân loại nông hộ
2.1 Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường loại này có mụctiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình họ Để có
đủ sản phẩm lao động trong nông hộ phải làm cật lực và đó cũng được coi là một lợiích, để có thể tự cấp, tự túc sự hoạt động của hộ phụ thuộc vào:
Khả năng mở rộng diện tích đất đai
Có thị trường lao động để học bán sức lao động, để có thu nhập
Có thị trường vật tư không để họ mua nhằm lấy lãi
Có thị trường sản phẩm để học trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
- Hộ nông dân bắt đầu có phản ứng với thị trường
Loại hộ này còn gọi là “ nửa tự cấp”, nó không giống như loại doanh nghiệpkhác là phụ thuộc hoàn tonà vào thị trường, vì cac yếu tố tự cấp còn lại nhiều và vẫnquyết định cách thức sản xuất của hộ Ở đây hộ có phản ứng với giá cả, với thị trườngnhưng ở mức độ thấp
- Hộ nông dân sản xuất hang hoá là chủ yếu
Loại này mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứnggay gắt với các thị trường vốn, ruộng đất, lao động…
2.2 Theo tính chất của ngành sản xuất
- Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp
Trang 6- Nông hộ kiêm: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ côngnghiệp.
- Nông hộ chuyên: là hộ chuyên làm các ngành nghề như khí, mộc, nề, rèn sảnxuất vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật chonông nghiệp
- Nông hộ buôn bán: ở nơi đông dân cư, họ có quầy hang riêng hoặc bán hàng ởchợ
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép Vìvậy xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ởnông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp – nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyênmôn hoá Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nôngthôn hiện nay làm lao động phi nông nghiệp tăng lên
2.3 Căn cứ vào thu nhập của nông hộ bao gồm:
- Hộ giàu - Hộ trung bình - Hộ đói
- hộ khá - Hộ nghèo
Sự phân biệt này thường dựa vào quy định chung hoặc quy định của từng địaphương
2.4 Căn cứ vào tính chất ổn định và của tình trạng ăn, ở và canh tác
- Hộ du canh du cư - Hộ định canh, du cư
- Hộ định cư, du canh - Hộ định canh, định cư
Sự phân loại này còn tồn tại ở các huyện vùng cao phía Bắc, Tây Nguyên…
3 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế nông hộ
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và quyền sửdụng các yếu tố sản xuất
- Sở hữu trong nông hộ là sự sở hữu chung, nghĩa là mọi thành viên trong hộ đều
có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có, cũng như các tài sản khác của hộ.Mặt khác Do dựa trên cơ sở kinh tế chung và cùng nhau chung một ngân quỹ nên mọingười trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí, sắp xếp công việctrong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý Từ đó hiệu quả sử dụng lao động trong kinh tếnông hộ rất cao
Trang 7- Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao.
Do kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng có sự thích ứng dễ dànghơn
so với các doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô lớn Nếu gặp điều kiện thuận lợi nông
hộ có thể tập trung mọi nguồn nhân lực Khi gặp các điều kiện bất lợi thì cũng có khănăng duy trì bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất có khi quy về sản xuất tự cung, tự cấp
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động.Trong kinh tế nông hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế , huyếttộc và cùng chung ngân quỹ nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực để phát triển kinh tế nông
hộ vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích của người lao động
và lợi ích kinh tế đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, lànhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế nông hộ
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả
Quy mô nhỏ nhưng không đồng nghĩa với lạc hậu, năng suất thấp Kinh tế nông
hộ vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để cho hiệuquả kinh tế cao thì đó là biểu hiện của sản xuất lớn Thực tế đã chứng tỏ kinh tế nông
hộ là loại hình thích hợp nhất với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, với cây trồng,vật nuôi trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần sự tác động kịp thời
- Kinh tế nông hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở NƯỚC TA
1 Trước khi thành lập hơp tác xã sản xuất nông nghiệp
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 xét trên cả nước giai cấp địa chủ chỉ có 3%dân số đã chiếm 41,4% ruộng đất, nông dân lao động chiếm 97% dân số nhưng chỉ có36% diện tích đất; số còn lại thuộc đồn điền của pháp và đất công Số hộ không córuộng đất chiếm 5%, trong số có ruộng đất khoảng 49% có từ 0,3 đến dưới 1ha/hộ Xéttừng miền, ở Nam Bộ ¾ số hộ nông dân, ở Bắc và Trung Bộ có ½ hộ nông dân không
có đất phải làm tá điền cho địa chủ hoặc làm thuê trong các đồn điền của thực dânpháp
- Giai đoạn này sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở hộ gia đình nông dân làchính, kinh tế nông hộ phát triển theo 2 cực
+ Phú nông, địa chủ: thuê mướn lao động, kinh doanh ruộng đất cho cấy rẽ
Trang 8+ Nông dân nghèo có ruộng thì tự tổ chức sản xuất, số còn lại phải tự đi làmthuê hoặc lĩnh canh
Sau cải cách ruộng đất ở miền bắc 1956 đa số hộ nông dân nhiều, ít đều có đất
và trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Nét đặc trưng của hộ nông dân ở giai đoạn này là nông hộ sản xuất hoàn toàn cá thể
2 Từ 1960 đến 1980
- Từ năm 1958 tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, cuối năm 1960 có 84% nông
hộ đã tham gia vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, từ đó làm cho môi trường sảnxuất kinh doanh của nông hộ thay đổi căn bản Hiến pháp 1959 đã xác định: đất đaithuộc sở hữu toàn dân, mọi quan hệ mua bán, trao đổi đất bị cấm nghiêm ngặt
Giai đoạn này sản xuất nông nghiệp được tổ chức chủ yếu theo các hợp tác xã vàcác nông lâm trường quốc doanh Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nông hộđược tập thể giành cho 5% đất canh tác để làm “ kinh tế phụ gia đình” hay “ kinh tếphụ xã viên” với 5% đất canh tác, nhưng đã sản ra 48% giá trị tổng sản lượng nôngnghiệp, 95% sản lượng chăn nuôi, 93% sản lượng rau, quả và chiếm từ 50% đến 60%thu nhập của hộ Tuy không công khai nhưng kinh tế nông hộ đã thực sự là cơ sở đảmbảo cho kinh tế tập thể tồn tại Nông hộ được chia thành 2 loại:
+ Số hộ nông dân cá thể ngày càng giảm có phân biệt đối xử, sản xuất luôn bịkìm hãm, bó buộc
+ Hộ gia đình xã viên trong hợp tác xã và hộ công nhân viên trong các lâmtrường loại hộ này có nguồn thu từ kinh tế tập thể thông qua ngày công đóng góp hoặctiền lương và thu từ đất 5% với số vật tư và lao động còn lại mà HTX huy động đến
- Kinh tế nông hộ chỉ giới hạn ở phần đất 5%, kinh tế HTX đình đốn, kinh tếquốc doanh luôn thua lỗ Nên thu nhập từ kinh tế tập thể trong tổng thu của hộ có sựbiến đổi, cụ thể:
+ Giai đoạn 1960 – 1965 thu tình hình kinh tế tập thể chiếm 70 đến 75% cònkinh tế nông hộ chiếm 25 – 30%
+ Giai đoạn 1975 đến 1980 thì ngược lại
- Do thu nhập từ kinh tế tập thể thấp đã làm cho nông dân xã viên chán nản,muốn xa rời kinh tế tập thể
3 Giai đoạn 1981 đến 1987
Trang 9- Trước thực trạng diễn biến của sản xuất nông nghiệp, của kinh tế nông hộ bịhạn chế, cuộc khủng hoảng về lương thực thường xuyên xảy ra nghị quyết TW 6 tháng
9 năm 1979 xác định “ Những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách” nhằm tìm giải phápcho sản xuất nông nghiệp phát triển
- Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13 tháng 1 năm 1981 về cải tiến công tác khoán, mởrộng “ khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” Xã viênđược đầu tư vốn, sức lao động/ ruộng đất được khoán và hưởng chọn phần vượt khoán,nên kinh tế nông hộ gia đình được khôi phục và phát triển nhanh chóng
- Năm 1986 đến 1987 giá vật tư nông nghiệp tăng lớn hơn giá thóc, chế độ thumua lương thực theo nghĩa vụ của nhà nước nặng nề, ruộng đất khoán mà tập thể đảmnhận 5 khâu là giống, làm đất, thuỷ lợi, phân bón, phòng trừ sâu bệnh; 3 khâu mànhóm và người lao động chịu trách nhiệm là cấy, chăm sóc và thu hoạch không được
ổn định, sản lượng khoán thường xuyên nâng cao dần Từ đó hiệu quả đầu tư giảm, thunhập của nông hộ cũng giảm dần, nông dân xã viên trả ruộng, có tâm trạng mong mấtmùa để được giảm sản lượng khoán hơn là được mùa
Kinh tế nông hộ ở giai đoạn này gồm thu từ đất 5% và phần vượt khoán
4 Kinh tế nông hộ từ năm 1988 đến nay
Trước tình trạng trên nghị quyết 10 NQ/TW ngày 5/4/1988 của bộ chính trị vềđổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trongnông hộ trong từng hộ nông dân Đặc biệt nghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên
là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự pháttriển của kinh tế nông hộ
Nghị quyết còn chủ trương giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài chohộ: Xoá bỏ chính sách thu mua lương thực theo nghĩa vụ cho nông hộ phát triển sảnxuất
Thực hiện khoán theo nghị quyết 10 đã làm cho người lao động quan tâm đếnsản phẩm cuối cùng
Các thành phần kinh tế và kinh tế hộ nông dân phát triển dẫn đến hiệu quả caotrong sản xuất và không ngừng nâng cao mức sống nông dân
Lực lượng khoa học kỹ thuật đã thực sự đi vào sản xuất của từng nông hộ cũnggóp phần tăng năng suất lao động trong nông hộ
Trang 10Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI, VII, và VIII đã đưa ra tiếp những chủtrương về phát triển 5 thành phần kinh tế và 3 chương trình kinh tế lớn của nhà nước:
Hộ nông dân là chủ thể sản xuất với việc ban hành những chính sách lớn như giao đất,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng cho vay vốn đến nông hộ, mở rộngtín dụng nông thôn, thực hiện xóa đói giảm nghèo … đã làm tăng lòng tin, mở rộngquyền tự chủ kinh doanh cho nông hộ, kinh tế nông hộ đã có nhiều thay đổi lớn, đã làmcho sản lượng lương thực không ngừng tăng lên
III TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ, VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI.
1 Tính tất yếu
- Trong quyển 1 bộ tư bản K.Mark đã phân tích kỹ lưỡng quá trình tước đoạtruộng đất của nông dân anh một cách ồ ạt làm phá vỡ nền nông nghiệp truyền thống.Người dự đoán: Kinh tế nông hộ sẽ hoàn toàn bị xóa bỏ trong điều kiện phát triển đạicông nghiệp
- Quyển 3 bộ tư bản, K.Mark lại viết “ Với thời gian đã thấy hình thức sản xuấtnông nghiệp cơ bản được phát triển không phải do các nông trại lớn mà là nông trại giađình không dùng lao động làm thuê Các nông trại lớn không có khả năng cạnh tranhvới nông trại gia đình vì giá lúa mì ở nông trại nhỏ lẻ nhiều hơn so với nông trại lớn.nông trại gia đình là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và phù hợpvới đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- LêNin cho rằng: cải tạo tiểu thôn không phải là tước đoạt họ mà phải tôn trọng
sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ lien kết với nhau một cách tự nguyện để tạođiều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ
- Traianôp một nhà kinh tế nông nghiệp nổi tiếng ở Nga từ năm 1920 kết luận:hình thức kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sảnxuất Ông rất chú ý đến đặc tính sinh học của cây trồng, vật nuôi cũng như các đặcđiểm khác của nông nghiệp để hướng tới một sự hợp tác mà không phải “ vô chủ hoá”hoặc “ tạp chủ hoá” trong nông nghiệp
- Causky một nhà tư tưởng lớn của Nga cho rằng: Nông trại nhỏ gia đình sảnxuất kinh doanh có hiệu quả hơn nông trại lớn tư bản chủ nghĩa Nông trại vẫn tồn tại
và phát triển ngay trong lòng tư bản chủ nghĩa
Trang 11Từ những đánh giá trên cho thấy kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản
và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành, tồn tại và phát triển một cách kháchquan, lâu dài dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất xóa bỏ chế độ tư hữu và đi liền với
nó là cơ sở kinh tế, là thủ tiêu kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế cóhiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọichế độ kinh tế xã hội, Sở dĩ có được như vậy là do:
- Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làmsao cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có
- Lợi ích kinh tế là động lực có tác động mạnh mẽ đến sản xuất kinh doanh củanông hộ Do thống nhất về lợi ích nên mọi người trong hộ cũng thống nhất về hànhđộng, đều cố gắng làm hết sức của mình để đem lại doanh thu cao nhất cho hộ, trong
đó có lợi ích riêng của từng người Vì vậy trong phân công và hiệp tác lao động của hộ
có nhiều ưu điểm mà các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp khác ít có, đó là tính tựnguyện, tự giác rất cao trong lao động
- Mối quan hệ giữu người quản lý sản xuất( thường chủ hộ là Bố, Mẹ) và ngườitrực tiếp sản xuất là thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau Nên các thông tin được sử lýnhanh, kịp thời, quyết định quản lý sản xuất đưa ra đúng đắn, phù hợp và có sức thuyếtphục cao
2 Vai trò của kinh tế nông hộ trong nông nghiệp và nông thôn
- Kinh tế nông hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hộinhư lương thực, thực phẩm, sản phẩm cây công nghiệp, nông sản xuất khẩu
Ví dụ: Mỹ là nước có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao với 1,94 triệu nông trại
đã cung cấp cho xã hội lượng nông sản hang hoá tới 50,2% so với tổng số
Hunggai: Sản phẩm hàng hoá của nông trại gia đình chiếm 60% tổng số sảnphẩm hàng hoá trên thị trường nông thôn
Đối với nước ta, kinh tế nông hộ quy mô còn nhỏ và phân tán Lượng vốn còn ítnhưng cũng đã cung cấp cho xã hội 95% sản lượng thịt, 90% lượng trứng và 93% sảnlượng rau quả Sản xuất nông nghiệp của hộ chiếm 48% giá trị tổng sản lượng củangành nông nghiệp
Góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, laođộng, tiền vốn và tư liệu sản xuất
Trang 12Tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn, vì vai trò
to lớn đó, Lênin viết: ý định dùng sắc lệnh, luật lệ để thiết lập chế độ canh tác tập thể,tước mất vai trò kinh tế nông hộ trong đời sống hiện thực là hết sức ngu xuẩn
IV NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ
1 Nguyên nhân tồn tại kinh tế nông hộ
Chúng ta đều biết kinh tế nông hộ tồn tại độc lập với các phương thức sản xuất
xã hội, nên khi phương thức sản xuất xã hội bị thủ tiêu nhưng kinh tế nông hộ vẫn tồntại Đồng thời nó cũng thích ứng với những hoàn cảnh khác nhau Sở dĩ như vậy là docác nguyên nhân sau:
- Nông dân tự duy trì được tái sản xuất giản đơn do họ có tư liệu sản xuất chủyếu như đất đai và lao động Nhờ đó họ có thể chủ động tiến hành tổ chức sản xuất
- Trong quá trình tồn tại và phát triển, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không phải
là mục tiêu duy nhất trong sản xuất của các nông hộ
- Quá trình tập trung hoá ruộng đất vào một số người bị hạn chế vì đất đai bịchia nhỏ do quá trình tách hộ và sự thừa kế Mỗi hộ cũng muốn giữ lại phần đất đó đểđảm bảo có thu nhập dù là ít cho cuộc sống
- nông dân có thể vượt qua các áp lực, xô đẩy của thị trường nhờ có sử dụngnguồn lao động trong phạm vi của hộ
- Từ lâu sản xuất nông nghiệp đã không hấp dẫn cho quá trình đầu tư thành tưbản nông nghiệp vì chu kỳ sản xuất nông nghiệp dài, lại phụ thuộc nặng nề vào điềukiện tự nhiên, vào thị trường nên mức lãi suất thấp và rất bấp bênh
- Nông dân có khả năng đa dạng hoá các hoạt động kinh tế ở hộ như phát triểntrồng trọt, chăn nuôi, nông nghiệp, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp để sử dụng triệt đểsức lao động, đất đai, vốn liếng của hộ vào sản xuất để tăng thu nhập Khi nông nhànlao động chuyển sang ngành nghề
2 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ
- Diện tích đất đai bình quân (đất nông nghiệp, đất canh tác)/ hộ/nhân khẩu
- Diện tích đất đai bình quân(đất nông nghiệp, đất canh tác/1 lao động quy đổi/ 1lao động nông nghiệp
- Số lao động, số nhân khẩu bình quân/ hộ
- Trình độ văn hoá, độ tuổi bình quân, giới tính của chủ hộ
Trang 13- Mức trang bị vốn cố định ( giá trị tài sản cố định) bình quân trên 1 lao động;trên 1 ha canh tác.
- Vốn lao động đầu tư cho sản xuất bình quân/ hộ …
3 Chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập, thu chi của nông hộ
- Tổng thu nhập của hộ; cơ cấu thu nhập
- Mức thu nhập bình quân/ 1 lao động/ tháng
- Mức thu nhập bình quân/khẩu/tháng
- Tổng chi của hộ: cơ cấu các khoản chi phí
- Mức chi tiêu bình quân/1khẩu/tháng
- Cân đối thu chi trong năm của nông hộ
- Các chỉ tiêu phản ánh tình hình ăn ở, trang bị tư liệu phục vụ sinh hoạt đờisống của nông hộ
4 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nông hộ
- Giá trị sản xuất trong năm
- Giá trị sản phẩm hàng hoá của hộ; tỷ trọng giá trị sản phẩm hàng hoá; cơ cấu…
- Chi phí trung gian (IC): toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm và dịch vụ
- Giá trị gia tăng (VA)
- Thu nhập hỗn hợp: (cả công lao động của hộ và lợi nhuận trong kỳ sản xuất)
CHƯƠNG II KINH TẾ TRANG TRẠI
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
1.1 Trang trại là gì?
Nghị quyết 03/2000 ngày 2/2/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã
khảng định “kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong
nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô
và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn với sản xuất chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản.”
Trang trại cũng giống như các đơn vị sản xuất nông nghiệp khác là sửdụng các tài nguyên của nông nghiệp để sản xuất sản phẩm cho xã hội Nhưng
Trang 14trang trại có những điểm giống và khác nhau với các cơ sở sản xuất nông nghiệpkhác ở quy mô và mục tiêu sản xuất.
1.2 Kinh tế trang trại giống và khác kinh tế hộ nông dân ở điểm nào?
Kinh tế trang trại xuất phát kinh tế hộ gia đình nói chung, hộ nông dân chỉ
là một trong các hộ làm trang trại
Chủ hộ và chủ trang trại đều là các cá nhân chịu trách nhiệm đối với kếtquả sản xuất của mình, sự khác nhau chủ yếu là trang trại sản xuất sản phẩmhàng hoá cho xã hội còn nông hộ sản xuất sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của
1.3 Kinh tế trang trại giống và khác kinh tế doanh nghiệp nông nghiệp
ở những vấn đề gì?
So với các doanh nghiệp, phần lớn các trang trại hiện nay sản xuất chủyếu dựa vào lao động của gia đình, còn doanh nghiệp lao động thuê; Kinh doanhchưa đăng ký còn doanh nghiệp muốn kinh doanh phải đăng ký và được cấp cóthẩm quyền cho phép, tuy nhiên trang trại giống doanh nghiệp là sản xuất hànghoá, lấy mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu
Như vậy kinh tế trang trại vừa là kinh tế hộ nông dân vừa là kinh tế của doanh nghiệp, vì vậy trang trại không tổ chức sản xuất như hộ nông dân nhưng không hoàn toàn tổ chức sản xuất như doanh nghiệp, tổ chức sản xuất của trang trại có những cơ sở khách quan và nội dung mang tính đặc thù của trang trại
Trong tương lai trang trại có thể trở thành các doanh nghiệp, công ty tráchnhiệm hữu hạn, như trang trại của ông Đỗ Công Thập ở Yên Bái …
2 KINH TẾ TRANG TRẠI Ở MỘT SỐ NƯỚC
2.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
2.1.1.Ở châu Âu
- Cuối TK 18
CNTB phát triển, dân số tăng nhanh hơn, nhu cầu nông sản và nhu cầu côngnghệ phẩm tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển -> cách mạng công nghiệp lầnthứ nhất
Trang 15Kỹ thuật nông nghiệp thấp, không cho phép tăng nhanh sản lượng nôngnghiệp, cho nên giá nông sản tăng lên.
+ Chế độ tư hữu ruộng đất, người nghèo ở nông thôn tăng lên, giá thuê laođộng rẻ
+ Trong điều kiện đó thì sản xuất nông nghiệp là ngành có lãi, các trang trại lớn
có lợi thế hơn trang trại nhỏ
+ Qui mô trang trại có xu thế tăng lên
- Cuối thế kỷ 19
Ngành đường sắt và tàu thuỷ phát triển , giá vận tải đường biển giảm mạnh,luồng dân châu Âu di cư sang châu Mỹ và châu Úc để mở rộng đất nông nghiệp.Công nghiệp phát triển nên cung cấp máy móc, phân hoá học cho nôngnghiệp, làm cho sản lượng nông nghiệp tăng mạnh, kéo theo giá nông sản giảm, +các trang trại lớn lại mất lợi thế và thúc đẩy trang trại nhỏ gia đình phát triển.Công nghiệp phát triển thu hút lao động nông nghiệp, kéo theo giá của laođộng nông nghiệp tăng lên làm trang trại lớn mất ưu thế và thúc đẩy trang trạigia đình phát triển trong điều kiện mới này
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, số trang trại ở các nước đã phát triển giảm
đi, qui mô trang trại tăng, lao động nông nghiệp giảm, Trang trại lớn có xuhướng chuyển thành trang trại gia đình (it thuê lao động) Qui mô có hiệu quả(Anh) 44-60 ha, lao động từ 3-4 lao động
2.1.2 Ở các nước đang phát triển, trong thời kỳ công nghiệp hoá
Các xu hướng phát triển:
Nhóm 1: Các nước có số trang trại bắt đầu giảm khi dân số bắt đầu giảm (Đàiloan, Hàn quốc)
Trang 16Nhóm 2: Các nước có lao động nông: nghiệp tiếp tục tăng, số trang trại tiếptục tăng, nhưng qui mô trang trại giảm: Inđônexia, Philippin, Băngladesch, Ấn
Độ
Nhóm 3: Qui mô ít thay đổi: Thái Lan, Pakistan
Tóm lại, xu thế chung là tăng số trang trại nhỏ và trung bình
2.1.3.Kinh tế trang trại ở một số nước
+ Trang trại gia đình ở Pháp
Phát triển khá sớm, ngay sau cách mạng năm 1789 ruộng đất được chuyểncho nông dân Đặc điểm nổi bật, đại đa số trang trại có ruộng đất riêng, máy mócriêng (1990: 70%), 30% là trang trại thuần nông, thu nhập ngoài nông nghiệp42% (1980)
Lực lượng lao động: 2 vợ chồng và 1-2 con
Tự canh tác, máy móc riêng hoặc của tổ hợp tác dùng chung máy
Qui mô bình quân 24ha
+ Trang trại gia đình ở Mỹ
Phát triển chậm hơn các nước châu Âu khoảng 30-40 năm, có bước phát triểnrất nhanh Qui mô bình quân hiện nay 180ha canh tác, 85% trang trại có đấtriêng Gần đây xuất hiện trang trại HTX- là trang trại liên kết một số gia đìnhvới nhau Số này chiếm khoảng 10-12% diện tích đất canh tác
Qui mô nông trai: Trong 20 năm (1944-1964) trang trại lớn và nhỏ tăng, sốtrang trại qui mô trung bình giảm Người ta tiên đoán trang trại gia đình qui mônhỏ sẽ dần mất đi, nhưng thực tế đã tăng lên
Sự biến động về số lượng trang trại ở Mỹ diễn ra như sau
Trang 17hiện đại hoá nhanh
+ Trang trại gia đình ở một số nước khác
Tây Âu diễn ra khác với Mỹ, quá trình tập trung hoá xảy ra không mạnh như
ở Mỹ
Tây Đức: vào khoảng những năm 1960 số trang trại nhỏ (<10ha) giảm,
Loại qui mô trung bình (10-20 và 20-50 ha) tăng (qui mô nhỏ hơn so với Mỹ) Chủ yếu sử dụng lao động gia đình, ít thuê lao động Nhờ thành quả CMKHKT, nông nghiệp được cơ giới hoá, 1 trang trại gia đình có thể canh tác 10-100ha mà không phải thuê lao động) Ví dụ:
Năm Tên nướcQM đất
(ha)
QM lao động của trang trại Lưu ý
Số lao động
Phân bổ lao động
1987 Hà lan 15,7 2,2 1,1 LĐ chính
0,5 LĐ vợ0,2 LĐ (con)0,4 LĐ thuê
so với các nước khác trang trại Hà Lan cần nhiều LĐ hơn vì trồng rau, quả
Trang 181985 ý 5,6 0,87 - Nhiều trang trại
không có LĐ thường xuyên
- Chủ nhân sống ở thành phố và thuê trại chủ
1989 Pháp 29 2,06 - 1 chủ trại
- 0,9 LĐ gia đình0,16 LĐ thuê Sau
* Ở các nước Đông Á
Đặc điểm chung: qui mô tăng chậm, Chủ yếu là trang trại nhỏ, chỉ > 1 ha Xuhướng: tìm thu nhập bên ngoài nông nghiệp Một số ví dụ điển hình một số nướcsau đây:
Nhật Bản:
- 1990, Trong 3 lao động của trang trại
- 1,3 LĐ làm ruộng
- 0,1 LĐ làm thêm công việc khác
- 1,2 LĐ làm thêm công việc khác + có làm ruộng
- 0,4 LĐ chỉ làm việc khác
Đài Loan
- 5,1 LĐ chỉ có 1,5 LĐ nông nghiệp
- Trang trại thuần nông chỉ còn chiếm 10%
- Thu nhập từ phi nông nghiệp: 62% thu nhập của hộ
Hàn Quốc
- 1985: 3,3 lao động
Trang 19- ->1,3 LĐ làm việc đến 3 tháng/năm
- ->0,16 LĐ làm nghề nông là chính
- ->0,23 LĐ làm thuê nghề khác là chính
- ->1,41 làm nghề khác
- -> thu nhập từ phi nông nghiệp 35%
Ở các nước Đông Nam Á
- (Trừ Malaixia) LĐ nông nghiệp tiếp tục tăng
- Phần lớn các nước có qui mô trang trại nhỏ
- Vì vậy muốn đủ lương thực cần thâm canh tăng vụ
- Thâm canh cũng chỉ có giới hạn, muốn tăng thu nhập, tạo việc làm phảiphát triển thêm ngành nghề -> trang trại kiêm ngành nghề có xu hướng tăng
Ở Thái Lan
- Trang trại gia đình đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra nông sản phẩm chotiêu dùng trong nước và XK
- Hiện có 4,5 triệu trang trại gia đình
- Qui mô 5,6 ha canh tác
- Nông trai qui mô 5-10 ha chiếm 28%,
- >10ha chiếm 14%
- 460.000 máy kéo nhỏ,
- cơ giới hoá 60% khâu làm đất , cơ giới hoá khâu chế biến cũng phát triển mạnh
Nhận xét chung về tình hình phát triển kinh tế TT gia đình trên thế giới
- Qui mô trang trại gia đình của đa số các nước trên thế giới không lớn, nhưng đãtạo ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn và tập trung Trong nền sản xuất hànghoá, nó là lực lượng sản xuất hàng hoá chủ yếu trong nông nghiệp
- Ở các nước đang phát triển, nông hộ sản xuất tự túc, tự cấp còn chiếm tỉ lệ lớn,nhưng cũng đã có một bộ phận đã chuyển sang sản xuất hàng hoá
- Cơ cấu kinh doanh của các hộ rất phong phú và đa dạng, gồm cả nông, lâm, ngư,chế biến, phi nông nghiệp
Trang 20- Phần lớn các trang trại sử dụng lao động gia đình là chính, thuê lao động rất ít,chỉ thuê vào thời vụ.
Ở các nước công nghiệp mới:
+ Khi lao động nông nghiệp bắt đầu giảm thì qui mô trang trại tăng dần lên + Nông dân ngày càng tăng thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp
+ Phát triển đi làm thuê: Nếu có cơ hội làm ngoài với mức lương cao hơn thì họphát triển cơ giới hoá nhỏ, hoặc thuê người canh tác để có thời gian làm ngoài
3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI Ở NƯỚC TA
3.1 Bối cảnh ra đời KTTT của nước ta.
Trên phạm vi cả nước, ngay từ những năm đầu thập niên 80 đến nay, Đảng
và Nhà nước đã và đang thực hiện những chủ trương và biện pháp nhất quántheo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại (KTTT) ra đời và pháttriển Kể từ năm 1986, qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, Đảng đã công nhận sựtồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, khảng định chính sách khuyến khíchphát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế các thể, tiểu chủ và tưbản tư nhân Điều đó đã tạo bối cảnh ra đời phát triển của KTTT, thể hiện ở cácmặt chủ yếu sau đây
3.1.1 Bằng các chủ trương và biện pháp thích hợp thay đổi về sở hữu
và sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, thừa nhận và khuyến kích phát triển kinh tế cá thể và tư nhân hoạt động trong nông nghiệp, nông thôn nước ta.
- Trước hết là sự thay đổi về sử dụng và các mối quan hệ kinh tế liên quan
đến việc sử dụng đất (CT 100/CT-TW của ban bí thư Trung ương ngày
13/1/1981)
- Bước tiếp thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn
đồng thời có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, kinh tế cá thể,kimh tế tư nhân trong nông, lâm, ngư (NLN) nghiệp theo tinh thần Nghị quyết
10 của Bộ chính trị ngày 4/4/1988 và nghị quyết 6 của Ban Chấp hành trungương (khóa VI) tháng 3/1989, các đường lối này được cụ thể hóa bằng Nghịđịnh 170/HĐBT ngày 14/11/1988 Các nội dung chủ yếu của các văn kiện trênliên quan đến tiến đề cho sự phát triển KTTT bao gồm:
- Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài, tác dụng tích cực của các hộ kinh
tế cá thể, tư nhân, thừa nhận tư cách pháp nhân và bảo đảm bình đẳng về quyềnlàm ăn của họ trong ngành NLN nghiệp trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xãhội ở nước ta
Trang 21- Nhà nước tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho kinh tế cá thể, tư
nhân phát triển NLN nghiệp, kinh doanh dịch vụ trong nông thôn
- Nhà nước bảo hộ các quyền về tài sản và thu nhập hợp pháp của cá thể
và tư nhân
- Nhà nước cho thuê hoặc giao quyền sử dụng đất lâu dài để tổ chức sản
xuất kinh doanh; Các hộ được thuê lao động, được quyền tự do tiêu thụ sảnphẩm
3.1.2 Thay đổi cách phân phối sản phẩm đầu ra phù hợp với thay đổi
về sở hữu và sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất NLN nghiệp.
- Trong CT 100/CT-TW hộ có toàn quyền sử dụng phần vượt khoán - Quyền
tử chủ của hộ nông dân với sản phẩm đầu ra được xác lập
- Hộ nông dân có quyền chủ động trong tìm kiếm các nguồn lực phù hợp vớiyêu cầu của nền KT thị trường
Tháng 3/1989 Nhà nước thi hành chính sách một giá, chế độ bao cấp về giákhông còn, giá cả đầu vào và đầu ra hình thành theo cơ chế thị trường… Bắt các
hộ nông dân phải học cách tính lỗ lãi, tìm hướng làm ăn có hiệu quả nhất Nhiều chủ hộ vươn lên làm giàu bằng KTTT
3.1.3 Chuyển hướng phục vụ của các chính sách kinh tế trong ngành NLN nghiệp
Các chính sách sau Nghị quyết 10 chuyển hướng phục vụ chủ yếu là kinh
tế cá thể và kinh tế hộ nông dân: ngày 2/3/1993 có Nghị định 14/CP về vay vốncủa hộ nông dân; Các dự án sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi venbiển, mặt nước theo Nghị định 327/CP
3.2 Đánh giá chung và những vấn đề dặt ra trong phát triển KTTT ở nước ta.
3.2.1 Nhận xét và đánh giá.
Qua nghiên cứu và khảo sát phát triển KTTT của cả nước chúng tôi có một
số kết luận sau:
- Trong những năm gần đây KTTT đã phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong
cả nước nhất là ở trung du, miền núi và ven biển
- KTTT là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn (Sản xuất hàng hóa,chuyển dịch cơ cấu kinh tế), là con đường tất yếu đề chuyền nông nghiệp tựcung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa lớn
- Các chủ trang trại với cơ cấu xuất thân rất đa dạng, trong đó chủ trang trại cónguồn gốc từ nông dân làm ăn giỏi là chủ yếu
Trang 22- Các chủ trang trại thường khởi sự làm TT từ vốn tự có là chủ yếu, lấy ngắn nuôidài.
- Một số TT chọn hướng kinh doanh chính phù hợp với quy hoạch của đạiphương, tạo nên vùng chuyên canh
- Phát triển KTTT góp phần sử dụng quỹ đất tốt hơn
- Các TT tạo ra việc làm cho một bộ phân đáng kể nông dân trong nông thôn
3.2.2 Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu và giải quyết.
- Về nhận thức và tiêu chí để nhận dạng KTTT
- Nhà nước còn thiếu chính sách cụ thể khuyến khích phát triển KTTT
- Quỹ đất của TT rất đa dạng, có phần đất còn chưa được giao… làm cho chủ TTchưa yên tâm đầu tư
- Sản phẩm của TT có quy mô tương đối lớn nhưng chế biến và thị trường tiêu thụcòn mang tính cục bộ
- Trình độ của các chủ trang trại về chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp
- Vốn phát triển TT còn hạn chế do dựa vào vốn tự có
- Hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn còn yếu nhất là là ở các vùng làm KTTT
- Sự hợp tác giữa các TT trong sản xuất - KD và tiêu thụ sản phẩm bị hạn chế
3.3 Quan điểm và giải pháp phát triển KTTTở nước ta.
Để phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế và mâu thuẫn đang đặt racủa KTTT cần có các quan điểm và những giải pháp phù hợp nhằm phát triểnKTTT có hiệu quả
3.1.1.Những quan điểm cơ bản về phát triển KTTT.
KTTT là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh hàng
hóa trong nông nghiệp và nông thôn.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, thực hiện đa
dạng hóa các loại hình TT, nhưng ở nước ta trong những năm tới đặc biệt chú
trọng sự phát triển TT gia đình
Phát triển đa dạng các loại hình kinh doanh của trang trại theo hướng
tập trung hóa, chuyên môn hóa, phát huy lợi thế so sánh ở mỗi vùng đất nước.Trong những năm trước mắt tập trung vào phát triển ở vùng trung du, miền núi
và những vùng có quỹ đất nông lâm nghiệp bình quân trên một nhân khẩu cao
Đẩy mạnh kinh tế hợp tác giữa các trang trại, trang trại và các tổ chức sản xuất
khác trong nông nghiệp, nông thôn
Phát triển KTTT phải có sự quản lý của Nhà nước.
3.1.2.Một số giải pháp chủ yếu phát triển KTTT.
Trang 23* Về đất đai:
- Hoàn thiện quy hoạch đất đai
- Tập trung đất đai hình thành các trang trại có quy mô hợp lý
- Khắc phục trình trạng ruông đất manh mún (dồn điền đổi thửa, …)
- Thừa nhận về pháp lý đất đai là một hàng hóa đặc biệt để có biện pháp tích tụ,quản lý và sử dụng có hiệu quả
* Về vốn sản xuất
- Có sự hỗ trợ vốn của ngân sách cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng như thủylợi, giao thông, điện…
- Cho trang trại vay vốn sản xuất kinh doanh
Phát triển nguồn nhân lực
Thị trường
Khoa học công nghệ
Thuế của trang trại
Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn để phát triển trang trại
Phát triển công nghệ chế biến nông sản
Tăng cường quản lý Nhà nước đối với KTTT
3.4 Tiêu chí nhận biết trang trại.
1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 hécta
b Có giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên
2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệuđồng/năm trở lên, đồng thời thỏa mãn các điều kiện về quy mô đàn như sau:
a Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,…; chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ
20 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên; trường hợp có cảchăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo
tỷ lệ 2,5 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại
b Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,…; chăn nuôi sinh sản đối với lợn có thường xuyên từ 30con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi thịt đối với lợn có thường
Trang 24xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê cừu thịt từ 300 con trở lên; trường hợp
có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quyđổi theo tỷ lệ 3 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại
c Chăn nuôi gia cầm: Đối với gà, vịt… thịt: có thường xuyên từ 5.000 con trở lên(không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với gà, vịt … đẻ (trứng thương phẩm,con giống…) có thường xuyên từ 2.000 con trở lên; trường hợp có cả chăn nuôi đẻ vàlấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 2,5 con sinh sản
Là bộ đội giải ngũ, phục viên về địa phương,
Những nông, lâm trường viên am hiểu về một số đặc tính một số cây con,
Là những cán bộ hưu trí có kinh nghiệm và còn sức khoẻ,
Một số công chức Nhà nước có điều kiện
- Ở góc độ quản lý dó là việc quyết định mục tiêu sản xuất cái gì? quản lý các
yếu tố như thế nào? có vị trí quan trọng đối với thành công hay thất bại của
trang trại Nó thể hiện vai trò người chủ trang trại Trả lời câu hỏi sản xuất cái
gì?, sản xuất bao nhiêu? sản xuất cho ai?
Trang 25- Ở góc độ sản xuất kinh doanh chủ trang trại phải có kiến thức sản xuất kinh
doanh, phải hiểu biết kỹ thuật cần thiết về cây con, đất đai Trả lời câu hỏi sản
xuất như thế nào có hiệu quả?
Để làm tốt cả hai chức năng quản lý và sản xuất chủ trang trại phải nắm được những vấn đề gì?
- Những mục tiêu để tổ chức sản xuất c
ủa trang trại
- Tổ chức các yếu tố sản xuất
Mục tiêu kinh tế - Tối đa hoá lợi nhuận
Trang trại là một cơ sở sản xuất- kinh doanh nên mục tiêu sản xuất -kinhdoanh của trang trại cũng giống các cơ sở sản xuất khác là tối đa hoá lợi nhuận,đây là mục tiêu cơ bản của trang trại
Để đạt mục tiêu này người chủ trang trại phải thường xuyên chăm lo đếntrang trại, sử dụng các yếu tố sản xuất và tổ chức sản xuất có hiệu quả Mặt khácchỉ đạt được chỉ tiêu này thì trang trại mới tồn tại trong cơ chế thị trường
Chuyển nền nông nghiệp tự túc, tự cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, góp phần xây dựng công nghiệp hoá hiện và đại hoá nông nghiệp nông thôn.
CNH & HĐH nông nghiệp đó là nền nông nghiệp hàng hoá
Mục tiêu này thể hiện đặc trưng của trang trại, thể hiện sự khác của trang trạivới hộ nông dân Nếu chúng ta có nhiều trang trang trại, nền nông nghiệp củanước ta không là nền sản xuất tư cấp tự túc
Trang trại tạo ra công ăn việc làm, giảm bớt lao động dư thừa của nôngnghiệp
Quy mô phát triển của trang trại phát triển dẫn đến mỗi trang trại là nhữngđơn vị kinh tế mạnh của địa phương
“ Kinh tế trang trại thức tỉnh nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, phát huy
được trí tuệ của một lớp người thông minh, có ý chí, có dũng khí vốn đã bị ràng buộc bởi kinh tế hộ nay thoạt được để vươn lên Phải nói đó là sự phát triển đột phá, là những đóng góp rất đáng quý! Hiệu quả đạt được không chỉ cho bản thân họ mà còn làm đầu tầu kéo nông dân đi vào con đường sản xuất hàng hoá lớn” Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn.
3.6 Những yếu tố ảnh hường dến SX-KD của trang trại 3.6.1 Quy luật tự nhiên
Trang 26Các quy luật của thời tiết, khí hậu, quy luật sinh trưởng và phát triển của câytrồng, vật nuôi, quy luật sản xuất trên đất đồi là những quy luật mà chúng tachỉ có thể lợi dụng và làm phù hợp với các yêu cầu của các quy luật đó, điều nàygiải thích tại sao chúng ta đi tham quan nhiều mô hình trang trại, thấy nơi nàyhay nơi khác trồng cây trồng nào đó mà không thể áp dụng cho trang trại củamình
3.6.2 Các quy luật kinh tế
Các quy luật kinh tế có nhiều, nhưng trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thịtrường thì những quy luật nào tác động đến hoạt động của trang trại? qua nghiêncứu yêu cầu của các quy luật này chúng ta hiểu tại sao phải quản lý chặt chẽ cácyếu tố sản xuất, tại sao sản phẩm và khó tiêu thu, tại sao bị ép cấp, ép giá
** Nhiều chủ trang trại cho rằng phải có sự can thiệp của Nhà nước, để trangtrại bán được sản phẩm, bảo đảm sản xuất của trang trại có lãi Vậy Nhà nướccan thiệp như thế nào trong cơ chế thị trường?
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có vai trò nhất định, điều tiết nền kinh
tế vĩ mô thông qua các chính sách như giá cả, thuế tuy nhiên không thể làmthay đổi yêu cầu của các quy luật khách quan
Các quy luật hoạt động là khách quan, các chính sách của Nhà nước, các vănbản chỉ thị chỉ có tác dụng hướng dẫn
Với các nông sản có tính chiến lược ảnh hưởng đến đại bộ phận nhân dân,Nhà nước dùng khả năng kinh tế và chức năng nhà nước để chi phối, khi đó cóchính sách trợ giá hay quy định giá sàn cho các đơn vị mua, còn với những nôngsản phẩm khác do các quy luật của nền kinh tế thị trường chi phối
Các đơn vị mua sản phẩm để sản xuất, chế biến cũng bị các quy luật của nềnkinh tế thị trường chi phối, họ cũng phải làm sao kinh doanh có lãi và càng lãicàng nhiều càng tốt Nhà nước không thể bắt các đơn vị này theo ý muốn chủquan của Nhà Nước
Các trang trại sản xuất và các doanh nghiệp mua phẩm của trang trại đều phảituân theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, vì vậy, các trang trại cần có sựthống nhất, có sự hợp tác trong kinh tế mới khắc phục được các điều kiện kháchquan của nền kinh tế thị trường khi không có lợi cho các trang trại Các trang trạikhông nên chuyên môn hoá sản xuất cao, nên phát triển toàn điện theo mô hìnhnông lâm kết hợp, chọn quy mô sản xuất hợp lý
Thực hiện được các yêu cầu của các quy luật khách quan trên, trang trại phảithực hiện tốt các nội dung của tổ chức sản suất - kinh doanh
Trang 273.7 Hợp tác xã giữa các trang trại, trang trại và các tổ chức KT khác
Các trang trại của ta được hình thành và phát triển dựa và kinh tế gia đình,
dự và tích luỹ nhiều năm Vốn và cơ sở vật chất chưa lớn, lại bị quy luật của nền kinh tế thị trường chi phối vì vậy các trang trại phải có quan hệ hợp tác với nhau
Hiện nay hợp tác xã nông nghiệp thực hiện chức năng dịch vụ cho sản xuất,nên trang trại cũng là đối tượng để hợp tác xã dịch vụ
“Kinh tế hợp tác (hợp tác xã, tổ hợp tác ) phải làm sao theo kịp KTTT, màmuốn vậy phải có người quản lý gỏi để hình thành kinh tế hợp tác giỏi, khi đómới gắn kinh tế hợp tác với KTTT, chứ không để KTTT đối lập với kinh tế hợptác và như vậy KTTT mới có thể phát triển mạnh”
CHƯƠNG III CÁC NGUỒN LỰC CỦA HỘ NÔNG DÂN VÀ TRANG TRẠI
1 VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI
1.1.Khái niệm về nguồn lực:
Là năng lực của tất cả các yếu tố hộ sử dụng để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Bao gồm: Đất đai; Lao động ; Tiền vốn ; Trình độ tổ chức quản lý,…
Trang 281.3.1 Nguồn lực trong nông hộ và trang trại
Là những nguồn lực mà hộ có quyền quản lý và sử dụng của nông hộ:
- Vốn
- Đất đai
- Lao động,
- Các tài sản của nông hộ
1.3.2 Nguồn lực ngoài nông hộ
Là những nguồn không thuộc quyền sở huu, quản lý của riêng hộ nhưng hộ có quyền khai thác và sử dụng trong SXKD của hộ:
- Cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi,….)
Là TLSX đặc biệt, chủ yếu, không thể thay thế
Là tài sản quốc gia
Các đặc điểm của đất đai:
+ Vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động
+ Vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của con người
+ Bị giới hạn bởi không gian
+ Phân bố không đồng đều
+ Có chỉ tiêu chất lượng là độ phì
Nguồn hình thành
- Với các nước TBCN: Thừa kế ; Mua ; Thuê
- Việt Nam
Đất ông cha để lại
Đất chia theo tiêu chuẩn
Trang 29Đất đấu thầu Thuê
Mua quyền sử dụng đất đai của hộ khác Khai hoang, phục hoá
Các vấn đề về đất đai của hộ hiện nay
Qui mô: Nhỏ lẻ, phân tán Sản xuất: Độc canh, tự cấp, tự túc Hiệu quả: Thấp
Phương hướng Từng hộ quản lý tốt đất đai của mình
Có kế hoạch khai thác sử dụng cụ thể với từng loại đất,
Bố trí các cây con phù hợp Quán triệt nguyên tắc sử dụng đầy đủ và hợp lý
Phát huy vai trò của địa phương trong quản lý
Các chỉ tiêu đánh giá:
- BQ đất canh tác/khẩu, lao động, hộ
- Hệ số SDRĐ
- Năng suất đất đai
- Thu nhập/đơn vị diện tích
2.2 Lao động của hộ
Nghiên cứu lao động của hộ nhằm mục đích:
- Nguồn lao động của hộ
- Hộ sử dụng lao động như thế nào?
- Biện pháp nâng cao chất lượng lao động của hộ
Nguồn lao động của hộ:
- Những thành viên có khả năng lao động của hộ
- Những người không phải là thành viên nhưng có khả năng tham gia
- Nguồn lao động của hộ có thể chia ra:
• Lao động chính
• Lao động phụ
• Lao động trong độ tuổi lao động
• Lao động ngoài độ tuổi lao động
Đặc điểm lao động của hộ
o Đa dạng nhưng ít chuyên sâu
o Mang tính thời vụ
o Là lao động của nhà,không tính công
Trang 30o Dư thừa nhiều.
o Trình độ văn hóa thấp,
o Kỹ thuật canh tác lạc hậu
o Thu nhập của lao động thấp
Cần làm gì?
+ Trong nội bộ hộ:
o Tự mình vươn lên, tận dụng tối đa năng lực hiện có
o Đa dạng hoá sản phẩm, chú ý các cây con có chất lượng cao
o Phát triển VAC
o Lựa chọn kỹ thuật phù hợp
o Phân công lao động hợp lý
o Nâng dần trình độ văn hoá
o Sinh đẻ có kế hoạch
o Phát triển ngành nghề phụ
+ Những vấn đề ngoài nông hộ:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Phát huy vai trò của các đoàn thể ở nông thôn
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
- Phát triển công nghiệp nông thôn
+ Trung bình + Nghèo