1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài giảng thống kê kinh tế xã hội học

125 1,6K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Thống Kê Kinh Tế Xã Hội Học
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thống kê

Trang 1

Chương I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THỐNG KÊ HỌC

I Sơ lược sự ra đời và phát triển của Thống kê

Thống kê học là môn khoa học xã hội, ra đời và phát triển theo nhu cầu củahoạt động thực tiễn xã hội Trước khi trở thành môn khoa học, Thống kê có nguồngốc lịch sử phát triển khá lâu dài, với cả một quá trình tích luỹ kinh nghiệm vàđược đúc rút dần thành lý luận khoa học

Trong thời cổ đại, tại các quốc gia có sự phát triển như: Hy lạp, La Mã,Trung Quốc,… người ta đã biết cách ghi chép số liệu Tuy nhiên, công việc nàycòn khá đơn giản, tiến hành trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa mang tính thống kê rõrệt

Đến thời chiếm hữu nô lệ, các chủ nô thường tìm cách ghi chép, tính toán

để nắm được tài sản của mình như: số nô lệ, số súc vật,… Dưới chế độ phongkiến, hầu hết các quốc gia Châu Âu, Chấu á đã tổ chức việc đăng ký, kê khai với

phạm vi rộng, nội dung phong phú, có tính chất thống kê rõ rệt Ví dụ: Đăng ký

nhân khẩu, kê khai ruộng đất,… Thường các cuộc kê khai này phục vụ cho thuthuế và bắt lính của nhà nước phong kiến; Thời kỳ này, thống kê tuy đã có nhiềutiến bộ nhưng chưa được đúc rút thành lý luận

Mãi đến cuối thế kỷ XVII, lực lượng sản xuất phát triển mạnh, phương thức

tư bản chủ nghĩa ra đời, kinh tế hàng hoá, phân công lao động phát triển, tính chất

xã hội hoá của sản xuất ngày càng cao, thị trường được mở rộng không chỉ trongphạm vi một nước mà còn trên phạm vi thế giới, hoạt động kinh tế xã hội ngàycàng phức tạp, các giai cấp xã hội phân hoá nhanh và đấu tranh giai cấp càng gaygắt Để phục vụ cho mục đích kinh tế, chính trị, quân sự; nhà nước tư sản, các chủ

tư sản cần nhiều thông tin thường xuyên về thị trường, giá cả, sản xuất, nguyênliệu, dân số,… Do đó công tác thống kê phát triển nhanh chóng Sự cố gắng tìmhiểu các hiện tượng và quá trình kinh tế, xã hội thông qua các biểu hiện về mặt sốlượng, đòi hỏi những người làm công tác khoa học, quản lý nhà nước đi vàonghiên cứu lý luận và phương pháp thu thập tính toán số liệu thống kê Thời kỳnày, các tài liệu sách báo về thống kê được xuất bản và đưa vào giảng dạy ở cáctrường đại học, như nhà kinh tế học người Đức H.Conhring (1606 - 1681) đã

Trang 2

giảng phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào số liệu điều tra cụ thể;Năm 1682 nhà kinh tế học người Anh William Petty (1623 - 1687) cho xuất bảncuốn “Số học chính trị”, trong cuốn này ông đã dùng phương pháp so sánh đểnghiên cứu hiện tượng thông qua con số thống kê Đến năm 1759, một giáo sưngười Đức G Achenwall (1719 - 1772) lần đầu tiên dùng từ “Statistik” để chỉphương pháp nghiên cứu trên Và sau này người ta dịch nó là “Thống kê”.

Chủ nghĩa tư bản tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của Thống kêhọc Thống kê là công cụ quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bêncạnh đó, còn một bộ phận khác của thống kê học gắn liền với các khoa học tựnhiên và kỹ thuật như thống kê vật lý, thống kê sinh vật học và thống kê hoá học,

II Đối tượng nghiên cứu thống kê

Thống kê học là môn khoa học xã hội, nó ra đời và phát triển gắn liền với

sự phát triển của nền sản xuất xã hội Các hiện tượng mà thống kê học nghiên cứu

là các hiện tượng và quá trình xã hội, chủ yếu là các hiện tượng và quá trình kinh

tế xã hội, bao gồm:

- Các hiện tượng về quá trình tái sản xuất mở rộng của cải vật chất xã hội

- Các hiện tượng về dân số và nguồn lao động

- Các hiện tượng về đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của dân cư

- Các hiện tượng về sinh hoạt chính trị, xã hội

Thống kê học nghiên cứu các hiện tượng xã hội, không nghiên cứu các hiệntượng tự nhiên Nhưng giữa các hiện tượng xã hội và hiện tượng tự nhiên có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, cho nên khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội thống kêcũng phải nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên (thời tiết, khí hậu, địa

Trang 3

lý) và kỹ thuật (cải tiến công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới,…) đến các hiện tượng

và quá trình xã hội Khác với các môn khoa học khác, thống kê học không trựctiếp nghiên cứu bản chất và quy luật của các hiện tượng xã hội Thống kê họcnghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng xãhội Mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng xã hội lànhững biểu hiện bằng số lượng về bản chất và tính quy luật của hiện tượng trongthời gian và địa điểm cụ thể Những biểu hiện số lượng đó được thể hiện bằng quy

mô, kết cấu, quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển,… của các hiện tượng Mặt lượng đókhông phải là con số trìu tượng mà là những số liệu có ý nghĩa, gắn liền với nộidung kinh tế - xã hội nhất định, giúp chúng ta nhận thức được cụ thể bản chất củahiện tượng Các con số thống kê phản ánh được mặt chất của hiện tượng vì chất

và lượng là hai mặt không thể tách rời nhau của sự vật và hiện tượng

Khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội thống kê học coi tập hợp gồm nhiềuhiện tượng cá biệt là một tổng thể hoàn chỉnh để nghiên cứu và dùng phương phápquan sát số lớn để loại trừ những ảnh hưởng mang tính chất ngẫu nhiên, qua đónêu lên đầy đủ và nổi bật những đặc trưng của bản chất và tính quy luật của hiệntượng nghiên cứu Nhưng khi nghiên cứu các hiện tượng số lớn thống kê họccũng không bỏ qua nghiên cứu các hiện tượng cá biệt nhằm

giúp cho nhận thức hiện tượng xã hội được toàn diện, phong phú và sâu sắc hơn

Hiện tượng kinh tế - xã hội bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện cụ thể vềthời gian và không gian Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, hiện tượngkinh tế xã hội có đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng khác nhau Do vậy, khi

sử dụng tài liệu thống kê vào phân tích tình hình kinh tế - xã hội, phải luôn xét tớiđiều kiện về thời gian và không gian cụ thể của hiện tượng mà tài liệu phản ánh

Tóm lại, thống kê học là môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế -

xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể

Trang 4

III Một số khái niệm thường dùng trong thống kê

3.1 Tổng thể thống kê

Tổng thể thống kê là khái niệm quan trọng của thống kê học Nó xác địnhphạm vi nghiên cứu của hiện tượng nào đó đang là đối tượng nghiên cứu cụ thểcủa ta Từ đó, ta có thể xác định phạm vi điều tra, tổng hợp và phân tích số liệucủa hiện tượng đó trong thời gian và địa điểm chính xác

Tổng thể thống kê là một hiện tượng số lớn, là tập hợp các đơn vị (hoặc

phần tử) thuộc hiện tượng nghiên cứu, cần được quan sát, thu thập và phân tích

mặt lượng của chúng theo một hoặc một số tiêu thức nào đó Hay đơn giản hơn nó

là tập hợp nhiều đơn vị cá biệt trên cơ sở một hoặc một số đặc điểm chung Ví dụ:

Toàn bộ dân số nước ta có vào 0giờ ngày 01 /04/1999 là 76.323.173 người thì đây

là một tổng thể thống kê (ở đây là một tập hợp những người Việt Nam không phân

biệt già, trẻ, nam, nữ, ) Còn các đơn vị (phần tử) cấu thành tổng thể thống kê

được gọi là đơn vị tổng thể.

Vậy đơn vị tổng thể là gì? nó là từng đơn vị cá biệt cấu thành nên tổng thể

Ví dụ: Với tổng thể là toàn bộ dân số cả nước thì đơn vị tổng thể là từng người

dân, còn trong tổng thể các Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thì từng doanh

nghiệp là một đơn vị tổng thể Và đặc điểm của đơn vị tổng thể là những phần tử

không thể chia nhỏ được nữa Ngoài đặc điểm giống nhau để cấu thành tổng thể,

mỗi đơn vị tổng thể còn có nhiều đặc điểm riêng

Cho nên trong nhiều trường hợp, các đơn vị tổng thể được biểu hiện rõ

ràng, dễ xác định, người ta gọi đó là tổng thể bộc lộ Chẳng hạn: Số công nhân

trong một công ty, số lượng thóc thu hoạch trong vụ mùa, số hàng hoá bán ratrong một tuần của một cửa hàng,… Tuy nhiên, có những trường hợp ta lại gặp

những tổng thể tiềm ẩn, ta không thể nhận biết được các đơn vị của chúng một

cách trực tiếp, ranh giới của tổng thể không rõ ràng Loại tổng thể này thường cótrong lĩnh vực xã hội như: số người mê tín dị đoan, số người ham thích chèo, sốngười thích xem bóng đá,…

Ta thấy rằng, các đơn vị tổng thể chỉ giống nhau ở đặc điểm cơ bản là đặctrưng của tổng thể, các đặc điểm còn lại có thể khác nhau nhiều hay ít Khi đó, ta

có tổng thể đồng chất và tổng thể không đồng chất

Tổng thể đồng chất là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau về các đặc điểm chủ yếu có liên quan tới mục đích nghiên cứu Ví dụ: Các Doanh nghiệp sản

Trang 5

xuất công nghiệp có thể xem là tổng thể đồng chất khi đem so sánh chúng với các

đơn vị sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải,… Còn tổng thể không đồng chất

là tổng thể bao gồm các đơn vị có nhiều đặc điểm chủ yếu khác nhau Ví dụ: Khi đi

sâu nghiên cứu các loại hình trong tổng thể các Doanh nghiệp sản xuất côngnghiệp thì chúng lại là những tổng thể không đồng chất (có Doanh nghiệp sảnxuất máy móc, Doanh nghiệp sản xuất sắt thép, )

Ngoài ra, khi nghiên cứu tổng thể người ta còn có tổng thể chung và tổngthể bộ phận Vậy, nếu tổng thể chung bao gồm tất cả các đơn vị của tổng thể thì

tổng thể bộ phận chỉ bao gồm một phần của tổng thể chung Chẳng hạn ta nói toàn bộ sinh viên Việt Nam - đây là tổng thể chung Còn khi nói toàn bộ sinh viên trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thái Nguyên - đây là tổng thể bộ phận nằm trong tổng thể chung (toàn thể sinh viên Việt Nam).

3.2 Tiêu thức thống kê

Khi nghiên cứu thống kê phải dựa vào đặc điểm của đơn vị tổng thể Mỗiđơn vị tổng thể đều có nhiều đặc điểm, trong đó có một đặc điểm cấu thành tổng

thể (tức là các đơn vị tổng thể đều có đặc điểm đó) và các đặc điểm khác Ví dụ

tổng thể nhân khẩu nước ta đều có đặc điểm chung (cấu thành tổng thể) là ngườiViệt Nam, ngoài ra còn các đặc điểm khác như giới tính, độ tuổi, tình trạng hônnhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cư trú,… Và các

đặc điểm này được gọi là các tiêu thức thống kê.

Tiêu thức thống kê được chia thành hai loại sau:

3.2.1 Tiêu thức thuộc tính (Hay tiêu thức chất lượng)

Tiêu thức thuộc tính (tiêu thức chất lượng) phản ánh tính chất của đơn vịtổng thể, nó không biểu hiện trực tiếp bằng các con số mà biểu hiện bằng chữ viếtnhư: giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nhân cách,…

Tiêu thức thuộc tính có thể biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp Chẳng hạn

giới tính, nghề nghiệp là tiêu thức thuộc tính biểu hiện trực tiếp còn nhân cách làtiêu thức biểu hiện gián tiếp (thấy được thông qua các chỉ tiêu khác)

3.2.2 Tiêu thức số lượng

Tiêu thức số lượng là tiêu thức được biểu hiện bằng con số Chẳng hạn: số

nhân khẩu tại một địa phương, số lao động trong một nông trường,…

Trang 6

Các tiêu thức thuộc tính, số lượng đều góp phần vào việc xác định đơn vịtổng thể cũng như tổng thể, nhờ đó chúng ta có thể phân biệt đơn vị này với đơn

vị khác, tổng thể này với tổng thể khác

3.3 Chỉ tiêu thống kê

Chỉ tiêu thống kê phản ánh lượng gắn với chất của các mặt, các tính chất cơbản của hiện tượng số lớn trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể Tính chấtcủa các hiện tượng cá biệt được khái quát hoá trong chỉ tiêu thống kê Do đó, chỉtiêu thống kê thường mang tính tổng hợp, biểu hiện đặc điểm của cả tổng thể.(Đây cũng chính là căn cứ để phân biệt chỉ tiêu và tiêu thức)

Trong bản thân mỗi chỉ tiêu thống kê có hai mặt: Khái niệm và con số Khái

niệm quy định nội dung kinh tế - xã hội của chỉ tiêu Con số của chỉ tiêu nêu lênmức độ của chỉ tiêu trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể

Khi căn cứ vào nội dung, có thể chia các chỉ tiêu thống kê thành hai loại:Chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu khối lượng Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện tính chất,trình độ phổ biến, mối quan hệ của tổng thể Có một số chỉ tiêu chất lượng khôngthể biểu hiện được bằng con số một cách trực tiếp (chỉ dừng lại ở khái niệm vàbiểu hiện một cách gián tiếp thông qua các chỉ tiêu khác) như giá thành đơn vị sảnphẩm, năng suất lao động,… Còn chỉ tiêu khối lượng biểu hiện quy mô của tổng

thể Chẳng hạn như số công nhân trong một xưởng sản xuất, số sản phẩm sản xuất

ra của một doanh nghiệp,… Đây là hai loại chỉ tiêu thường được sử dụng nhiềutrong phân tích kinh tế cũng như trong phân tích thống kê

Trang 7

Chương II

QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ

I Điều tra thống kê

1.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của điều tra thống kê

* Khái niệm: Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học và theo một

kế hoạch thống nhất để thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượngnghiên cứu trong điều kiện về thời gian, không gian cụ thể

- Tài liệu thống kê chính xác và được cung cấp có hệ thống sẽ là những căn cứthực tế vững chắc để xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, đồng thời

là cơ sở để đề ra các chính sách phát triển kinh tế – xã hội

* Nhiệm vụ: là cung cấp tài liệu cần thiết cho các khâu tiếp theo của quá trình

nghiên cứu

Do vậy, nó phải đảm bảo các yêu cầu sau :

- Tính trung thực nghĩa là người thu thập thông tin phải tuyệt đối trung thực

ghi chép những điều được nghe, được thấy, các câu hỏi đạt ra phải khách quan,không gợi ý, không áp đặt Đối với người cung cấp thông tin yêu cầu phải chínhxác, không được che dấu và khai man thông tin

- Tính chính xác nghĩa là tài liệu điều tra phải phản ánh đúng trạng thái của các

đơn vị tổng thể Vì vậy, phải ghi chép trung thực, có trình độ chuyên môn và có tinhthần trách nhiệm

- Tính kịp thời nghĩa là cung cấp tài liệu phải đúng lúc cần thiết để phát huy

hết tác dụng của tài liệu đó Yêu cầu kịp thời được khẳng định bởi thời gian kếtthúc việc thu thập ghi trong tài liệu điều tra

Trang 8

- Tính đầy đủ có nghĩa là tài liệu điều tra phải được thu thập theo đúng nội dung

và số đơn vị tổng thể đã quy định trong văn kiện điều tra Tài liệu điều tra đầy đủmới đáp ứng được mục đích nghiên cứu, đảm bảo việc xử lý được hoàn hảo

1.2 Các loại điều tra thống kê

1.2.1 Điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên

Căn cứ vào tính chất liên tục, tính hệ thống của các cuộc điều tra, ta có thể phânbiệt hai loại điều tra thống kê: Điều tra thường xuyên và điều tra không thườngxuyên

a Điều tra thường xuyên là thu thập tài liệu một cách liên tục gắn với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng Chẳng hạn: Sự biến động nhân khẩu tại một địa

phương, hay số sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp, số nguyên vật liệu tiêu dùngcho sản xuất,… Loại điều tra này giúp theo dõi tỷ mỉ tình hình phát triển của hiệntượng theo thời gian Nó được áp dụng đối với hiện tượng biến động nhanh Tài liệuđiều tra thường xuyên là cơ sở để lập báo cáo thống kê định kỳ, là căn cứ để kiểm tratình hình thực hiện kế hoạch, phản ánh kết quả tích luỹ của hiện tượng trong một thời

kỳ

b Điều tra không thường xuyên là thu thập tài liệu ban đầu về hiện tượng

không thường xuyên, liên tục, không gắn liền với quá trình phát sinh, phát triểncủa hiện tượng Điều tra không thường xuyên có thể chia thành điều tra khôngthường xuyên định kỳ và điều tra không thường xuyên không định kỳ Trong đó:điều tra không thường xuyên định kỳ được tiến hành lặp đi lặp lại theo một chu kỳnhất định như tổng điều tra dân số, kiểm kê hàng hoá tồn kho định kỳ,… Còn điềutra không thường xuyên không định kỳ như điều tra nghiên cứu thị trường, thăm

dò ý kiến khách hàng hay điều tra thiên tai,… Loại điều tra này thường áp dụngcho những trường hợp không xảy ra thường xuyên hoặc xảy ra thường xuyênnhưng không cần theo dõi thường xuyên Điều tra không thường xuyên thường đisâu vào khía cạnh chuyên môn thường nghiên cứu

1.2.2 Điều tra toàn bộ và không toàn bộ

Căn cứ vào phạm vi của đối tượng được điều tra thực tế, điều tra thống kêđược phân thành điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ

a Điều tra toàn bộ là thu thập tài liệu của toàn bộ tổng thể (hay tổng điều tra).

Ví dụ: tổng điều tra dân số, tổng điều tra đàn gia súc,… Điều tra toàn bộ cung cấp

tài liệu đầy đủ nhất cho nghiên cứu thống kê, giúp cho việc tính toán các chỉ tiêu

Trang 9

phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng được chính xác làm cơ sở đề ranhững quyết định trong quản lý Tuy nhiên, chi phí cho điều tra toàn bộ rất lớn,đòi hỏi phải tổ chức chỉ đạo khoa học chặt chẽ Song, trong thực tế có nhữngtrường hợp nhất thiết phải điều tra toàn bộ như tổng điều tra dân số mặc dù kinhphí điều tra rất lớn.

b Điều tra không toàn bộ là thu thập tài liệu của một số đơn vị chọn ra từ tổng thể chung Ví dụ: điều tra thu nhập và chi tiêu gia đình, điều tra dư luận xã hội,

điều tra giá cả hàng hoá trên thị trường,… Điều tra không toàn bộ được sử dụngnhiều trong nghiên cứu thống kê vì có những ưu điểm: tiến hành gọn nhẹ, nhanhchóng, đáp ứng yêu cầu quản lý, tiết kiệm chi phí Ngoài ra, do phạm vi điều trađược thu hẹp nên có thể mở rộng nội dung điều tra để nghiên cứu hiện tượng toàndiện và chi tiết hơn

Tuỳ theo yêu cầu nghiên cứu người ta chia điều tra không toàn bộ ra thành 3 loại:

+ Điều tra chọn mẫu là điều tra trên một số đơn vị tổng thể chung theo phương

pháp khoa học Kết quả điều tra mẫu được suy rộng cho tổng thể chung Loại điềutra này có thể thay thế cho điều tra toàn bộ, khi chưa có điều kiện điều tra toàn bộ

Ví dụ: Điều tra năng suất lúa, điều tra mức sống dân cư,…

+ Điều tra trọng điểm là chỉ điều tra ở một bộ phận chủ yếu của tổng thể

chung Kết quả điều tra mặc dù không suy rộng cho toàn tổng thể, nhưng vẫn giúp

ta nắm được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong

tổng thể Ví dụ: điều tra các vùng chuyên canh một loại cây trồng cụ thể như trồng

chè ở Thái Nguyên, hay cà phê ở Đắk Lắk,…

+ Điều tra chuyên đề là chỉ điều tra một số rất ít, thậm chí chỉ một đơn vị tổng

thể, nhưng lại đi sâu nghiên cứu chi tiết mọi khía cạnh khác nhau của đơn vị đó.Loại điều tra này thường nhằm nghiên cứu kỹ những điển hình để phân tích, tìmhiểu nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm nên kết quả điều tra chuyên đề thường

không dùng để suy rộng Ví dụ: Điều tra các điển hình tiên tiến hay lạc hậu trong

sản xuất kinh doanh,…

Bất kỳ cuộc điều tra nào cũng đều chứa đựng hai sự phân loại trên: thường xuyên hoặc không thường xuyên, toàn bộ hoặc không toàn bộ.

1.3 Phương pháp thu thập tài liệu điều tra

Để thu thập thôn tin trong điều tra thống kê, người ta có thể sử dụng nhiềuphương pháp khác nhau Tuỳ theo điều kiện thực tế về đặc điểm của hiện tượng

Trang 10

nghiên cứu, khả năng về tài chính, thời gian, kinh nghiệm, trình độ của người tổchức và điều tra viên để lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp Phần này sẽtrình bày những vấn đề chung của một số phương pháp chủ yếu trong điều tra thốngkê.

1.3.1 Thu thập trực tiếp

* Quan sát: Quan sát là thu thập dữ liệu bằng cách quan sát các hành động, thái

độ của đối tượng khảo sát trong những tình huống nhất định

* Phỏng vấn trực tiếp: Người điều tra viên trực tiếp hỏi đối tượng được điều tra

và tự ghi chép dữ liệu vào bảng câu hỏi hay phiếu điều tra Phương pháp phỏng vấntrực tiếp phù hợp với những cuộc điều tra phức tạp cần thu thập nhiều dữ liệu Ưuđiểm là thời gian phỏng vấn có thể ngắn hay dài tuỳ thuộc vào số lượng dữ liệu cầnthu thập và người điều tra viên trực tiếp phỏng vấn có điều kiện để có thể giải thíchmột cách đầy đủ, cặn kẽ, đặt những câu hỏi chi tiết để khai thác thông tin và kiểmtra dữ liệu trước khi ghi chép vào phiếu điều tra

1.3.2 Thu thập gián tiếp:

Người điều tra viên thu thập tài liệu qua trao đổi bằng điện thoại, hoặc thư gửi qua bưu điện với đơn vị điều tra hoặc qua chứng từ, sổ sách có sẵn ở đơn vị điều tra

Đặc điểm cơ bản của phương pháp này là người hỏi và người trả lời không trựctiếp gặp nhau Quá trình hỏi - đáp diễn ra thông qua một vật trung gian là phiếuđiều tra Muốn nâng cao chất lượng các thông tin thu được cần chú ý đến một sốđiều kiện cơ bản:

- Người được hỏi phải có trình độ văn hoá cao, có ý thức trách nhiệm và tự giác

- Phiếu điều tra phải ngắn gọn

- Các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời

- Phải thiết lập được một mạng lưới phân phát và thu hồi phiếu điều tra hợp lý,hoạt động có kết quả, không để bị thất lạc phiếu

Ưu điểm cơ bản của phương pháp là dễ tổ chức, tiết kiệm chi phí và điều tra viên.Tuy nhiên, lại khó có thể kiểm tra, đánh giá được độ chính xác của các câu hỏi, tỷ lệthu hồi phiếu trong nhiều trường hợp là không cao, nội dung điều tra bị hạn chế.Phương pháp này có thể sử dụng hiệu quả trong điều kiện trình độ dân trí cao

1.4 Tổ chức phương án điều tra

Trang 11

Để tổ chức tốt một cuộc điều tra chuyên môn, đòi hỏi phải xây dựng đượcphương án điều tra thật chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể và toàn diện Đây chính là văn kiệnhướng dẫn thực hiện cuộc điều tra, trong đó xác định rõ những bước tiến hành,những vấn đề cần phải giải quyết, cần được hiểu thống nhất trong suốt quá trìnhthực hiện Đối với các cuộc điều tra lớn, có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành,như Tổng điều tra dân số, việc xây dựng phương án điều tra cần có sự phối hợp,bàn bạc thống nhất giữa cơ quan thống kê và các ngành có liên quan và phải đượccấp trên có thẩm quyền phê duyệt Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phương

án điều tra thường được xây dựng dưới dạng "đề xuất kỹ thuật" và "đề xuất tàichính" cho cuộc nghiên cứu Đây chính là căn cứ đến cơ quan có thẩm quyền phêduyệt hoặc là căn cứ để cơ quan chủ quan tiến hành xét chọn thầu theo quy địnhchung của nhà nước

Phương án của mỗi cuộc điều tra có thể khác nhau, tuỳ thuộc điều kiện cụ thểcủa nó Nhưng nhìn chung, mỗi phương án điều tra thường gồm những nội dungchủ yếu sau:

- Xác định mục đích điều tra

- Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra

- Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra

- Chọn thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra

- Lựa chọn phương pháp điều tra, tổng hợp số liệu và phương pháp tính các chỉtiêu điều tra

- Xây dựng phương án tài chính cho cuộc điều tra

- Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra

1.4.1 Xác định mục đích điều tra

Bất kỳ một hiện tượng kinh tế - xã hội nào cũng đều có thể được quan sát, xemxét, nghiên cứu trên nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau Nghiêncứu trên mỗi mặt, mỗi khía cạnh khác nhau sẽ cho ta đưa ra những kết luận khácnhau về hiện tượng và phục vụ những yêu cầu nghiên cứu cũng khác nhau Vì vậy,trước khi tiến hành điều tra, cần xác định rõ xem cuộc điều tra này nhằm tìm hiểuvấn đề gì, phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu nào Đó chính là mục đích của cuộcđiều tra

Mục đích điều tra còn là một trong những căn cứ quan trọng để xác định đốitượng, đơn vị điều tra, xây dựng kế hoạch và nội dung điều tra Vì vậy, việc xác

Trang 12

định đúng, rõ ràng mục đích điều tra sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thu thập sốliệu ban đầu đầy đủ, hợp lý, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu đặt ra.

Căn cứ để xác định mục đích điều tra thường là những nhu cầu thực tế cuộcsống, hoặc những nhu cầu hoàn chỉnh lý luận Những nhu cầu này được biểuhiện trực tiếp bằng các yêu cầu, đề nghị, mong muốn của cơ quan chủ quản(người sử dụng thông tin) Đối với những cuộc điều tra lớn ở nước ta, có liên quanđến toàn bộ đất nước, như Tổng điều tra dân số, việc xác định mục đích điều tracần phải căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, và đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ cụ thể Mụcđích của cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 nhằm phục vụ công tác nghiên cứu,phân tích quá trình phát triển kinh tế - xã hội và dân số nước ta, Kiểm điểm tìnhhình thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến dân số, lao động Trên cơ sở đó, đápứng yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2010

1.4.2 Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra

Xác định đối tượng điều tra là xác định xem những đơn vị tổng thể nào thuộcphạm vi điều tra, cần được thu thập thông tin Như vậy, khi các đối tượng điều trađược chỉ rõ, cũng có nghĩa là phạm vi nghiên cứu đã được xác định, gianh giớigiữa hiện tượng nghiên cứu với các tổng thể khác, hiện tượng khác cũng đượcphân biệt rõ ràng, tránh được tình trạng trùng lặp hay bỏ sót khi tiến hành điều tra.Muốn xác định chính xác đối tượng điều tra, một mặt phải dựa vào sự phân tích

lý luận, nêu lên những tiêu chuẩn cơ bản phân biệt hiện tượng nghiên cứu với cáchiện tượng liên quan, phân biệt đơn vị tổng thể này với các đơn vị tổng thể khác,đồng thời cũng còn phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu Trong cuộc tổng điều tradân số ngày 1/4/1999 ở nước ta, đối tượng điều tra được xác định là "nhân khẩuthường trú" Điều này, vừa giúp thực hiện tốt các mục đích điều đã được nêu rõtrong mục trên, vừa giúp cho quá trình điều tra không bị trùng hay bỏ sót bất kỳmột nhân khẩu nào của nước ta Tuy nhiên, trong phương án điều tra cũng cần phảinhững quy định cụ thể về tiêu chuẩn xác định "nhân khẩu thường trú" để tránhnhầm lẫn

Đơn vị điều tra là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được điều tra thực tế Đơn

vị điều tra chính là nơi phát sinh các tài liệu ban đầu, điều tra viên cần đến đó thểthu thập trong mỗi cuộc điều tra Như vậy, nếu việc xác định đối tượng điều tra làtrả lời câu hỏi "điều tra ở đâu? Trong một số trường hợp, đơn vị điều tra và đốitượng điều tra có thể trùng nhau Ví dụ, trong cuộc điều tra nghiên cứu tình hình

Trang 13

phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước thành phố Thái Nguyên,thì cả đối tượng và đơn vị điều tra đều là các doanh nghiệp công nghiệp nhà nướccủa thành phố Nhưng cũng có nhiều trường hợp, chúng lại khác nhau Ví dụ,

trong tổng điều tra dân số ở nước ta ngày 1/4/1999, đối tượng điều tra là "nhân khẩu thường trú", còn đơn vị điều tra lại được xác định là các "hộ gia đình" và các

"hộ tập thể" Trong các cuộc điều tra chọn mẫu, đơn vị điều tra chỉ bao gồm

những đối tượng được chọn vào mẫu

Cần phân biệt đơn vị điều tra và đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể là các phần

tử, các đơn vị cấu thành hiện tượng, mà qua đó ta có thể xác định được quy môtổng thể Việc xác định số đơn vị tổng thể liên quan đến việc lập phương án điềutra, chọn phương pháp điều tra, ước lượng kinh phí điều tra còn việc xác định sốđơn vị điều tra lại liên quan đến việc tổ chức ghi chép, đăng ký tài liệu, phân bổcán bộ

1.4.3 Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra

Xác định nội dung điều tra là việc trả lời các câu hỏi "điều tra cái gì?" Nội

dung điều tra là toàn bộ các đặc điểm cơ bản của từng đối tượng, từng đơn vị điềutra, mà ta cần thu được thông tin Trong thực tế, các đơn vị của hiện tượng nghiêncứu thường có rất nhiều đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, ta không thể và cũngkhông cần thiết phải thu thập thông tin của toàn bộ các tiêu thức đó, mà chỉ cầnnhững tiêu thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu, phục vụ được cho việcnghiên cứu Vì vậy, bất kỳ cuộc điều tra nào cũng cần phải xác định rõ, thật cụ thểnội dung điều tra

Việc xác định nội dung điều tra, cần căn cứ vào các yếu tố sau:

- Mục đích điều tra: Mục đích điều tra chỉ rõ cần thu thập những thông tin nào

để đáp ứng yêu cầu của nó Mục đích điều tra khác nhau, nhu cầu thông tin cũngkhác nhau Mục đích càng nhiều, nội dung điều tra càng rộng, càng phong phú

- Đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu: Tất cả những hiện tượng mà thống kênghiên cứu đều tồn tại trong những điều kiện cụ thể về thời gian và không gian.Khi điều kiện này thay đổi, đặc điểm của hiện tượng cũng thay đổi Khi đó, cácbiểu hiện của chúng cũng khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn tiêu thức nghiên cứucũng phải khác nhau

- Năng lực, trình độ thực tế của đơn vị, của người tổ chức điều tra Điều nàybiểu hiện ở khả năng về tài chính, về thời gian, về kinh nghiệm và trình độ tổ chức

Trang 14

điều tra Nếu tất cả các yếu tố này được đảm bảo tốt, có thể mở rộng nội dung điềutra, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng của các thông tin thu được Trường hợp ngượclại, cần kiên quyết loại bỏ những nội dung chưa thực sự cần thiết.

Ngoài ra, nội dung điều tra cũng chỉ nên bao gồm những tiêu thức có liên hệchặt chẽ với nhau, để có thể kiểm tra tính chính xác của những thông tin thu được

Để có thể thu được những thông tin một cách chính xác và đầy đủ, nội dungcủa mỗi cuộc điều tra phải được diễn đạt thành những câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng,

dễ hiểu và mọi người đều hiểu theo một nghĩa thống nhất Về mặt hình thức, các

câu hỏi này có thể được diễn đạt theo hai cách: Câu hỏi đóng là các câu hỏi đã có

sẵn các phương án trả lời (thang điểm) có thể người trả lời chỉ cần chọn 1 trong

những cách trả lời đã được đưa ra Câu hỏi mở không có trước những phương án

trả lời, người được hỏi tự diễn đạt câu trả lời Các cuộc điều tra thống kê ít sửdụng loại câu hỏi thứ hai này Trong cuộc Tổng điều tra dân số được tiến hànhvào 21/4/1999 ở nước ta, nội dung điều tra được thể hiện trong 18 câu hỏi Nhữngnội dung chủ yếu của cuộc tổng điều tra này là: Họ tên, quan hệ với chủ hộ, giớitính, dân tộc, tôn giáo, nơi thực tế thường trú, tình trạng đi học và trình độ học vấncao nhất đã đạt được, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng việc làm, lĩnh vựclàm việc,

Phiếu điều tra là tập hợp các câu hỏi của nội dung điều tra, được sắp xếp theo

một trật tự logic nhất định Tuỳ theo yêu cầu, nội dung và đối tượng, mỗi cuộcđiều tra có thể phải xây dựng nhiều loại phiếu khác nhau Trong tổng điều tra dân

số, người ta xây dựng hai loại phiếu: Phiếu hộ và phiếu cá nhân Trong hai cuộcđiều tra mức sống dân cư Việt Nam (1997-1998 và 2002-2003) do Tổng cụcThống kê thực hiện, ngoài việc thu thập những thông tin chủ yếu từ các hộ giađình, còn cần những thông tin về cộng đồng, về giá cả thị trường có ảnh hưởngtrực tiếp đến mức sống của người dân, nên người ta phải sử dụng đến 5 loại phiếukhác nhau: Bảng câu hỏi hộ gia đình, bảng câu hỏi xã/thôn, bảng câu hỏi trườnghọc, bảng câu hỏi trạm y tế và bảng câu hỏi về giá

Thông thường, trong các văn kiện của cuộc điều tra, người ta còn ban hành bảngiải thích cách ghi phiếu điều tra Bản giải thích này thường đi kèm theo phiếu điềutra và người trả lời nhận thức thống nhất các câu hỏi được đặt ra, cách thu thập và ghichép số liệu Đối với những câu hỏi phức tạp, khó trả lời người ta còn đặt ra những ví

dụ cụ thể và những quy định về các trường hợp ngoại lệ

Trang 15

1.4.4 Chọn thời điểm, thời kỳ và quyết định thời hạn điều tra

Các hiện tượng kinh tế - xã hội mà thống kê nghiên cứu luôn thay đổi theo thờigian và không gian Muốn thu thập được chính xác các thông tin về chúng, cần cóquy định thống nhất về thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra

Thời điểm điều tra: Là mốc thời gian được quy định thống nhất mà cuộc điều tra

phải thu thập thông tin về hiện tượng tồn tại đúng thời điểm đó, thì người trả lờiphải hồi tưởng lại để "miêu tả trạng thái của hiện tượng" vào đúng thời điểm điềutra Ví dụ, thời điểm của cuộc tổng điều tra dân số lần thứ ba ở nước ta được xácđịnh vào 0 giờ ngày 1/4/1999 Như vậy, số dân nước ta có tại cuộc điều tra này chỉtính những người sinh trưởng 0 giờ 1/4/1999 và đến thời điểm này đang còn sống

Thời kỳ điều tra: Là khoảng thời gian (tuần, tháng, năm ) được quy định để

thu thập số liệu về lượng của hiện tượng được tích luỹ trong cả thời kỳ đó

Thời hạn điều tra: Là khoảng thời gian dành cho việc thực hiện nhiệm vụ thu

thập số liệu Thời hạn dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp của hiệntượng nghiên cứu và nội dung điều tra, khả năng, kinh nghiệm của điều tra viên.Nhìn chung, thời hạn điều tra không nên quá dài, cách quá xa thời điểm điều tra vì

có thể làm mất thông tin do người trả lời không nhớ đầy đủ các sự kiện đã xảy ra

1.4.5 Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra

Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra là một vấn đề trọng yếu của điều trathống kê Kế hoạch này quy định cụ thể từng bước công việc phải tiến hành trongquá trình từ khâu tổ chức đến triển khai điều tra thực tế Vì vậy, nó được xây dựngcàng chi tiết, tỷ mỉ, rõ ràng, cụ thể thì càng dễ thực thi, chất lượng của cuộc điềutra càng được nâng cao Tuy nhiên, đây là một công việc phức tạp, đòi hỏi ngườilập kế hoạch phải có kinh nghiệm và am hiểu tình hình thực tế Một kế hoạch tổchức và tiến hành điều tra gồm rất nhiều khâu công việc Thông thường, nó có thểgồm một số khâu chủ yếu là:

- Thành lập ban chỉ đạo điều tra và quy định nhiệm vụ cụ thể cho cơ quan điềutra các cấp

- Chuẩn bị lực lượng cán bộ điều tra, phân công trách nhiệm, địa bàn cho từngcán bộ và tiến hành tập huấn nghiệp vụ cho họ

- Lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp

- Định các bước tiến hành điều tra

- Phân chia khu vực và địa bàn điều tra

Trang 16

- Tổ chức các cuộc hội nghị chuẩn bị.

- Tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ chocán bộ điều tra và hoàn thiện phương án điều tra, phiếu điều tra

- Xây dựng phương án tài chính và chuẩn bị các phương tiện vật chất khác

- Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra

1.5 Xây dựng bản câu hỏi và kỹ thuật đặt câu hỏi

1.6 Sai số trong điều tra và biện pháp khắc phục

- Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa trị số của đặc điểm điều trathu thập được so với trị số thực của hiện tượng nghiên cứu

Có hai nguyên nhân tạo ra sai số:

+ Sai số do ghi chép: Do người điều tra quan sát sai, sử dụng công cụ đo lườngsai, do vô tình ghi chép sai, đối tượng trả lời sai do không hiểu nội dung câu hỏihoặc do người điều tra và đối tượng điều tra cố tình làm sai

+ Sai số do tính chất đại biểu: Chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu do việc lựa

chọn số đơn vị mẫu để điều tra không đầy đủ tính chất đại biểu

- Biện pháp khắc phục:

+ Để hạn chế sai số, cần tập huấn kỹ nội dung điều tra, tuyển chọn điều tra viêntheo tiêu chuẩn nghiêm ngặt, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ đo lường nếu cuộc điều tracần và thường xuyên kiểm tra khi cuộc điều tra được tiến hành

+ Tài liệu thu thập cũng cần được kiểm tra về tính logíc, xem xét độ hợp lý củatài liệu, phát hiện các bất thường để thẩm tra lại và kiểm tra về mặt tính toán(cộng hàng và cột, đơn vị tính, biểu này và biểu trước) Làm tốt khâu này sẽ hạnchế được nhiều sai sót và không mất nhiều thời gian điều tra

II Tổng hợp thống kê

2.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của tổng hợp thống kê

* Khái niệm: Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống

hoá một cách khoa học các tài liệu ban đầu thu thập được trong điều tra thống kê

* ý nghĩa: Tổng hợp thống kê là căn cứ cho phân tích dự đoán thống kê; tổng

hợp thống kê chính xác làm cho kết quả điều tra trở nên có giá trị và tạo điều kiệncho phân tích sâu sắc bản chất và tính quy luật của hiện tượng Tài liệu của điềutra thống kê dù có phong phú và chính xác, mà tổng hợp thống kê không khoa học

Trang 17

thì cũng không rút ra được số liệu chính xác để làm căn cứ vững chắc cho phântích, dự đoán thống kê.

* Nhiệm vụ: Tổng hợp thống kê là một công tác phức tạp, bao gồm nhiều công

việc cụ thể như: Phân chia tổng thể thành các tổ có tính chất khác nhau, xác địnhcác chỉ tiêu nói rõ đặc trưng của từng tổ cũng như của toàn bộ tổng thể, áp dụngmột số biện pháp kỹ thuật để tính toán các con số cộng và tổng cộng, trình bày kếtquả tổng hợp thành các bảng thống kê hoặc đồ thị thống kê Số đơn vị điều tracàng nhiều, nội dung điều tra càng phong phú thì công tác tổng hợp càng phức tạp

và khó khăn, cho nên, khi tổng hợp phải tiến hành theo một kế hoạch nhất định

Trang 18

2.2 Các vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê

2.2.1 Mục đích của tổng hợp thống kê

Phân tích và dự đoán thống kê phải dựa vào những tài liệu biểu hiện hình ảnhthực của tổng thể nghiên cứu Kết quả tổng hợp là căn cứ cho phân tích và dự đoán.Cho nên mục đích của tổng hợp thống kê là khái quát hoá những đặc trưng chung,những cơ cấu tồn tại khách quan theo các mặt của tổng thể nghiên cứu bằng các chỉtiêu thống kê Khi xác định mục đích của tổng hợp thống kê phải căn cứ vào mụcđích yêu cầu tìm hiểu và phân tích những mặt nào của hiện tượng nghiên cứu, đểnêu khái quát chỉ tiêu cần đạt được trong tổng hợp

22.2 Nội dung tổng hợp

Nội dung tổng hợp là danh mục các biểu hiện của tiêu thức điều tra được chọnlọc và theo mỗi biểu hiện được phân chia thành các nhóm khác nhau để đáp ứngyêu cầu phản ánh các cơ cấu khác nhau phù hợp với mục đích nghiên cứu

2.2.3 Phương pháp tổng hợp

Yêu cầu quan trọng nhất của tổng hợp là phải nêu lên được cơ cấu theo các mặt củatổng thể nghiên cứu Để đáp ứng yêu cầu này, người ta sử dụng phương pháp phân tổthống kê

Phân tổ thống kê là phương pháp phân chia các đơn vị của tổng thể vào các tổ (vàtiểu tổ) khác nhau theo từng tiêu thức nghiên cứu Trị số được tính toán ở mỗi tổ cho

ta một cơ cấu về lượng cụ thể của tổng thể Việc phân chia các đơn vị tổng thể vàocác tổ không đơn giản mà phải tuân theo những căn cứ lý luận nhất định

2.2.4 Tổ chức và kỹ thuật tổng hợp

a Chuẩn bị tài liệu để tổng hợp

- Tập trung đầy đủ số lượng phiếu điều tra hoặc tài liệu khác để có thể đáp ứngviệc thực hiện nhiệm vụ tổng hợp

- Phải đóng các câu hỏi mở, đối với những nội dung điều tra mở

- Lượng hoá các biểu hiện của các tiêu thức thuộc tính

Trang 19

Trong tổng hợp tập trung, thường người ta phải sử dụng những phương tiệnhiện đại để tính toán nhanh chóng và chính xác những chỉ tiêu phức tạp Do đó,tổng hợp tập trung giảm bớt được nhiều công việc thủ công vất vả.

2.3 Phân tổ thống kê

2.3.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiện vụ của phân tổ thống kê

* Khái niệm: Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó

để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và tiểutổ) có tính chất khác nhau

Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình số công nhân của một công ty, căn cứ vào

tiêu thức “giới tính” để chia tổng số nhân khẩu thành hai tổ: nam và nữ; còn căn

cứ vào tiêu thức tuổi thì chia thành nhiều tổ có độ tuổi khác nhau

Giả sử ta chia thành 4 nhóm có độ tuổi giống nhau rồi ghi lại số công nhân rơivào mỗi nhóm (tổ) Ta được bảng sau:

Bảng 2.1: Phân tổ công nhân theo độ tuổi

Độ tuổi (tuổi) Số công nhân (người)

bảng tần số phân bố.

* ý nghĩa:

- Phân tổ thống kê giúp ta hệ thống hoá một cách khoa học các tài liệu thuđược trong điều tra; giúp ta phân chia tổng thể phức tạp thành các tổ khác nhau,trong đó các đơn vị trong cùng một tổ thì giống nhau, còn các đơn vị khác tổ thìkhác nhau về tính chất theo tiêu thức dùng làm căn cứ phân tổ Thông qua tài liệu

đã được phân tổ có thể nhận xét khái quát đặc trưng cơ bản của hiện tượng Chonên có thể nói phân tổ là phương pháp cơ bản để tổng hợp thống kê

Trang 20

- Phân tổ thống kê là một trong các phương pháp quan trọng của phân tích thống

kê, đồng thời là cơ sở thực hiện các phương pháp thống kê khác Bởi vì, chỉ sau khi

đã phân chia tổng thể phức tạp thành các tổ có tính chất đặc điểm khác nhau thì cácchỉ tiêu phân tích khác tính ra mới có ý nghĩa

* Nhiệm vụ:

- Phân chia các loại hình kinh tế - xã hội của hiện tượng nghiên cứu Bởi cácloại hình của hiện tượng nghiên cứu tồn tại một cách khách quan, sự vận động vàphát triển của nó là kết quả đấu tranh giữa các loại hình đối lập tồn tại ngay trongbản thân nó Do đó trong quá trình phân tích phải nêu rõ hiện tượng nghiên cứubao gồm những loại hình nào Muốn vậy, phải dựa vào việc phân tích lý luận đểphân biệt các bộ phận khác nhau về tính chất tồn tại ngay trong hiện tượng đó

- Biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu Vì nghiên cứu kết cấu là nghiêncứu trình độ phổ biến của hiện tượng trong cả một tổng thể mà sự vận động của cáchiện tượng không bao giờ đạt được một sự đồng đều Do vậy, ta phải nghiên cứutính chất của từng bộ phận để chỉ ra ưu điểm, nhược điểm trên cơ sở đó đề ra cácbiện pháp khắc phục nó trong tương lai

- Biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức Vì hiện tượng kinh tế - xã hội phátsinh và biến động không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời mà chúng có mối liên

hệ phụ thuộc lẫn nhau theo những quy luật nhất định Do đó ta có thể nói, sự thayđổi của tiêu thức này dẫn đến sự thay đổi của tiêu thức khác Vì vậy, tìm hiểu tínhchất và mức độ liên hệ giữa các hiện tượng nói chung và giữa các tiêu thức nóiriêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của phân tổ thống kê

2.3.2 Các loại phân tổ thống kê

* Phân tổ phân loại:

Phân tổ phân loại giúp ta nghiên cứu một cách có phân biệt các loại hình kinh tế

-xã hội, nêu lên đặc trưng và mối quan hệ giữa chúng với nhau Từ việc nghiên cứuriêng biệt mỗi loại hình đó, tiến thêm một bước nghiên cứu các đặc trưng của toàn bộhiện tượng phức tạp, giải thích một cách sâu sắc bản chất và xu hướng phát triển củahiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có thể phân loại các đơn vị theo nhiều tiêu thứckhác nhau Chẳng hạn, các Doanh nghiệp nước ta có thể phân loại theo thànhphần kinh tế, theo cấp quản lý, theo nhóm, theo ngành, theo quy mô…

* Phân tổ kết cấu:

Trang 21

Các bảng phân tổ kết cấu được sử dụng rất phổ biến, mục đích nêu lên bảnchất của hiện tượng trong điều kiện nhất định và để nghiên cứu xu hướng pháttriển của hiện tượng qua thời gian Kết cấu của tổng thể phản ánh một trong cácđặc trưng cơ bản của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.Chẳng hạn sự thay đổi kết cấu về tổng sản phẩm trong nước phân theo nhómngành kinh tế trong quá trình phát triển của tỉnh A như sau:

Bảng 2.2 Cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh A theo nhóm ngành

giai đoạn 2009 - 2013

n v %Đơn vị % ị %

Tổng sản phẩm trong tỉnh A

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 24,53 23,24 23,03 22,54 21,76

Công nghiệp và xây dựng 36,73 38,13 38,49 39,47 40,09

(Nguồn: Niên giám Thống kê 2014 trang 71)

Qua bảng phân tổ kết cấu trên, sự thay đổi về tỉ trọng của 3 nhóm ngành đã nóilên một phần quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành ở tỉnh A, cụ thể nhóm ngành côngnghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn và đang có xu hướng tăng, nhóm ngành nông,lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng nhỏ lại đang có xu hướng giảm

ý nghĩa:

- Phân tổ kết cấu giúp ta có thể so sánh được bản chất của các hiện tượng cùngloại trong điều kiện không gian khác nhau Ví dụ: So sánh cơ cấu cây trồng ở 2địa phương, cơ cấu giống lúa của hai hợp tác xã…

- Phân tổ kết cấu còn được vận dụng trong phân tích thực hiện kế hoạch đểthấy rõ tỉ trọng các bộ phận chưa hoàn thành, hoàn thành và hoàn thành vượt mức

kế hoạch Từ đó có thể đánh giá việc thực hiện kế hoạch; xem xét lại việc đặt kếhoạch

* Phân tổ liên hệ

Các tiêu thức có liên hệ với nhau được phân biệt thành hai loại: tiêu thức nguyên

nhân và tiêu thức kết quả Tiêu thức nguyên nhân là tiêu thức gây ảnh hưởng; sự

biến động của tiêu thức này sẽ dẫn đến sự thay đổi (tăng hoặc giảm) của tiêu thức

Trang 22

phụ thuộc mà ta gọi là tiêu thức kết quả một cách có hệ thống Như vậy, các đơn vị

tổng thể trước hết được phân tổ theo một tiêu thức (thường là tiêu thức nguyênnhân), sau đó trong mỗi tổ tiếp tục tính các trị số bình quân của tiêu thức còn lại(thường là tiêu thức kết quả) Quan sát sự biến thiên của hai tiêu thức này có thểgiúp ta kết luận về tính chất của mối liên hệ giữa hai tiêu thức Như trong nhiềudoanh nghiệp ta thường nhận thấy có mối liên hệ giữa năng suất lao động và giáthành đơn vị sản phẩm càng có điều kiện giảm Nếu ta phân tổ các doanh nghiệptrong cùng một ngành theo năng suất lao động, sau đó từ mỗi tổ tính ra giá thànhbình quân đơn vị sản phẩm, thì các kết quả tính toán sẽ cho thấy rõ mối liên hệ giữanăng suất lao động (là tiêu thức nguyên nhân) và giá thành đơn vị sản phẩm (là tiêuthức kết quả)

Phân tổ liên hệ còn có thể được vận dụng để nghiên cứu mối liên hệ giữa nhiềutiêu thức Có thể nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lúa với lượng phân bón,lượng nước tưới, mật độ cấy ; hoặc nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất laođộng của công nhân với tuổi nghề, bậc thợ, trình độ trang bị kỹ thuật

Khi phân tổ liên hệ giữa nhiều tiêu thức (ví dụ 3 tiêu thức) trước hết tổng thểđược phân tổ theo một tiêu thức nguyên nhân, sau đó mỗi tổ lại được chia thànhcác tiểu tổ theo tiêu thức nguyên nhân thứ hai, cuối cùng tính trị số tổng hoặc bìnhquân của tiêu thức kết quả cho từng tổ và tiểu tổ đó Sau đây là ví dụ về mối liên

hệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi nghề của công nhân trongmột doanh nghiệp, được trình bày dưới bảng phân tổ kết hợp như sau:

B ng 2.3: M i liên h gi a n ng su t lao ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ăng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi động với trình độ kỹ thuật và tuổing v i trình ới trình độ kỹ thuật và tuổi động với trình độ kỹ thuật và tuổi ỹ thuật và tuổi k thu t v tu iật và tuổi à tuổi ổi

nghề

Phân tổ công nhân

Số công nhân

Sảng lượng

cả năm (tấn)

NS lao động bình quân năm (tấn)

Đã được đào tạo

kỹ thuật

Theo tuổi nghề (năm)

Đã được đào tạo

kỹ thuật

Dưới 5 5-10 10-15 15-20

15 40 40 15

1.125 3.750 4.200 1.725

75 94 105 115

Trang 23

20 trở lên

10 30 20 10 10

510 2.140 1.580 860 910

51 71 79 86 91

- Phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc để chọn ra tiêu thứcbản chất nhất, phù hợp với mục đích nghiên cứu

- Phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu để chọn

ra tiêu thức phân tổ thích hợp

- Phải tuỳ theo mục đích nghiên cứu và điều kiện tài liệu thực tế mà quyết địnhphân tổ hiện tượng theo một hay nhiều tiêu thức

b Các chỉ tiêu giải thích

Trong phân tổ thống kê, sau khi đã lựa chọn được tiêu thức phân tổ, xác định

số tổ cần thiết và khoảng cách tổ, còn phải xác định các chỉ tiêu giải thích để nói

rõ đặc trưng của các tổ cũng như của toàn bộ tổng thể Chẳng hạn, sau khi phân tổcác doanh nghiệp theo khu vực và thành phần kinh tế, có thể đưa ra một số chỉtiêu giải thích ở bảng 2.4 như sau:

Bảng 2.4: Bảng phân tổ các doanh nghiệp theo khu vực và thành phố kinh tế

DT thuần b/quân 1 LĐ

Trang 25

các tổ với nhau và để tính ra hàng loạt chỉ tiêu phân tích khác Tuy nhiên, cũngkhông nên đề ra quá nhiều chỉ tiêu, mà phải lựa chọn một số chỉ tiêu nào thíchhợp nhất đối với mục đích nghiên cứu.

2.3.4 Các bước tiến hành phân tổ theo một tiêu thức

* Lựa chọn tiêu thức phân tổ: là bước đầu tiên làm cơ sở để tiến hành phân

tổ Lựa chọn tiêu thức chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu thì kết quảphân tổ mới thực sự có ích cho việc phân tích đặc điểm và bản chất của hiệntượng Việc lựa chọn phải đảm bảo các yêu cầu đã trình bày ở trên

* Xác định số tổ và khoảng cách tổ

a Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính

Sự khác nhau giữa các tổ được biểu hiện bằng sự khác nhau giữa các loại hình.Nếu loại hình nêu số lượng ít ta có thể coi mỗi loại hình là một tổ Vậy có baonhiêu loại hình sẽ phân làm bấy nhiêu tổ Trong một số trường hợp nêu số lượngnhiều và phức tạp, nếu coi mỗi loại hình là một tổ thì tổng thể nghiên cứu bị chianhỏ Đặc trưng của hiện tượng không được biểu hiện Do đó ta phải ghép một sốloại hình nhỏ với nhau vào một tổ theo nguyên tắc chúng phải giống nhau hoặc gầngiống nhau về một tính chất hay một công dụng kinh tế - xã hội nào đó

b Phân tổ theo tiêu thức số lượng

Đối với tiêu thức số lượng việc xác định số tổ và khoảng cách của từng tổ cũng cónét phức tạp riêng của nó Làm sao để gom được những đơn vị có tính chất, đặc điểmgiống nhau về cùng một tổ

- Trường hợp các lượng biến biến thiên ít và rời rạc: Số lượng người trong giađình, số điểm kết quả học tập, số máy do một công nhân phụ trách,… ở đây vìlượng biến thiên của tiêu thức phân tổ chỉ thay đổi trong phạm vi hẹp và biếnđộng rời rạc nên việc xác định số tổ sẽ rất đơn giản Có thể cứ mỗi lượng biến là

cơ sở hình thành một tổ, hoặc ghép một số lượng biến vào một tổ tuỳ theo đặc tínhcủa hiện tượng và mục đích nghiên cứu

- Trường hợp các lượng biến biến thiên nhiều và rời rạc hoặc liên tục: nếu mỗilượng biến hình thành một tổ thì số tổ sẽ quá nhiều mà không nói rõ sự khác nhau

về chất giữa các tổ Khi đó ta cần chú ý tới mối liên hệ giữa lượng và chất trongphân tổ Tức là phải xem xét sự thay đổi về lượng đến mức độ nào thì bản chất củahiện tượng thay đổi và làm nảy sinh ra tổ khác Như vậy, mỗi tổ sẽ bao gồm một

Trang 26

phạm vi lượng biến, có hai giới hạn rõ rệt: Giới hạn dưới là lượng biến nhỏ nhất đểlàm cho tổ được hình thành còn giới hạn trên là lượng biến lớn nhất của tổ, nếuvượt quá giới hạn này thì chất lượng thay đổi và chuyển sang tổ khác Trị số chênh

lệch giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của mỗi tổ gọi là khoảng cách tổ Khoảng

cách tổ có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau

Khi phân tổ có khoảng cách bằng nhau ta xác nh đị % động với trình độ kỹ thuật và tuổi ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi r ng c a kho ng cáchủa khoảng cáchtheo công th c:ức:

Độ rộng của khoảng cách tổ =

Lượng biến lớn nhất – Lượng biến nhỏ nhất

B ng 2.5 Phân t công nhân c a m t công ty nh sauổi ủa khoảng cách ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ư sau

(người)

Đã được đào tạo kỹ thuật Theo tuổi nghề (năm)

Đã được đào tạo kỹ thuật

Dưới 55-1010-1515-20

20 trở lên

1540401510

5-1010-1515-20

10302010Hay

Trang 27

Phân tổ công nhân Số công nhân

2.4.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của bảng thống kê

* Khái niệm: Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một

cách có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên đặc trưng về mặt lượng của hiệntượng nghiên cứu

* ý nghĩa: Bảng thống kê có nhiều tác dụng trong nghiên cứu kinh tế xã hội.

Các tài liệu trong bảng thống kê được sắp xếp một cách khoa học giúp cho ta tiếnhành đối chiếu, so sánh, phân tích theo các phương pháp khác nhau nhằm nêu lênmột cách sâu sắc về bản chất của hiện tượng nghiên cứu

2.4.1.2 Cấu tạo của bảng thống kê

* Về hình thức

Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và các số liệu Cáchàng ngang và cột dọc phản ánh quy mô của bảng Số hàng ngang và cột dọc càngnhiều thì bảng thống kê càng lớn và phức tạp Các hàng ngang, cột dọc cắt nhau tạothành các ô dùng để điền các số liệu thống kê vào đó Các hàng ngang, cột dọcthường được đánh số thứ tự để tiện cho việc sử dụng và trình bày vấn đề

Tiêu đề của bảng phản ánh nội dung của bảng và của từng chi tiết trong bảng.Trước hết có tiêu đề chung, là tên chung của bảng, thường viết ngắn, gọn, dễ hiểu

và đặt phía trên đầu mỗi bảng Các tiêu đề nhỏ (tiêu mục) là tên riêng của mỗihàng và cột phản ánh rõ nội dung của các hàng, cột đó

* Về nội dung

Bảng thống kê gồm hai phần: Phần chủ đề và phần giải thích.

- Phần chủ đề: Nêu lên tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng thống

kê Tổng thể này được phân thành các bộ phận, nó giải thích đối tượng nghiên cứu

là những đơn vị nào, loại hình nào Có khi phần chủ đề là các địa phương hoặcthời gian nghiên cứu khác nhau của hiện tượng nào đó

- Phần giải thích: Gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng

nghiên cứu, nghĩa là giải thích phần chủ đề của bảng

Phần chủ đề thường đặt bên trái của bảng còn phần giải thích thì đặt phía trên của bảng

Trang 28

Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện như sau:

Bảng 2.6: Tên bảng thống kê (tiêu đề chung)

* Bảng đơn giản: Là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ sắp xếp các

đơn vị tổng thể theo tên gọi, theo địa phương hoặc theo thời gian nghiên cứu

Bảng 2.7: Tình hình sản xuất tháng 1/2007 của các Doanh nghiệp tại thành phố

X

Tên

xí nghiệp

Số công nhân (người)

Giá trị sản lượng (triệu đồng)

NSLĐ bình quân/ 1 công nhân

2837,6 1254,2

53947 53335

* Bảng phân tổ: Là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ

đề được chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó

Trang 29

Bảng 2.8: Các xí nghi p công nghi p thu c khu v c N n m 2007ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ực N năm 2007 ăng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi

Phân tổ các xí nghiệp theo số công nhân viên

Thực chất của bảng này là phân tổ theo một tiêu thức

* Bảng kết hợp: Là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần

chủ đề được phân tổ theo hai, ba tiêu thức kết hợp với nhau Nó dùng để biểu hiệnkết quả của việc phân tổ theo nhiều tiêu thức

Bảng 2 9: Bảng phân tổ các Doanh nghiệp theo ngành kinh tế

(đơn vị %n v tính: doanh nghi p)ị % ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi

Trang 30

2.4.1.4 Những yêu cầu đối với việc xây dựng bảng thống kê

 Quy mô của bảng không nên quá lớn (không nên quá nhiều tổ và nhiều chỉ tiêu)

 Các tiêu đề và tiêu mục trong bảng thống kê cần được ghi chính xác, đầy đủ, gọn và

- Kí hiệu (-) biểu hiện cho hiện tượng không có số liệu đó

- Kí hiệu (…) biểu hiện số liệu còn thiếu sẽ bổ sung sau

- Kí hiệu (x) nói lên hiện tượng không có liên quan đến điều đó, nếu viết sốliệu vào ô đó sẽ vô nghĩa

Phần ghi chú ở cuối bảng thống kê dùng để giải thích rõ nội dung của một số chỉtiêu trong bảng, để nói rõ các nguồn tài liệu đã sử dụng trong bảng hoặc các chitiết cần thiết khác

 Trong bảng thống kê bao giờ cũng phải có đơn vị tính cụ thể cho từng chỉ tiêu

2.4.2 Đồ thị thống kê

a Khái niệm và ý nghĩa của đồ thị thống kê

* Khái niệm: Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để

miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê

* ý nghĩa: Đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp hình vẽ, đường nét và màu

sắc để trình bày và phân tích đặc trưng của hiện tượng nghiên cứu Ngoài ra đồ thịcòn giúp ta kiểm tra độ chính xác bằng hình ảnh của các thông tin

Trang 31

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

S¶n l îng

- Bản đồ thống kê

3.3 Những yêu cầu chung đối với việc xây dựng đồ thị thống kê

Khi xây dựng một đồ thị thống kê phải chú ý sao cho người đọc dễ xem, dễhiểu và đảm bảo chính xác Muốn vậy cần chú ý:

Trang 32

(a) Xác định qui mô của đồ thị cho vừa phải Qui mô của đồ thị được quyết địnhbởi chiều dài, chiều cao và quan hệ tỷ lệ giữa hai chiều đó Và qui mô to haynhỏ còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng.

(b) Lựa chọn các loại đồ thị cho phù hợp vì mỗi loại đồ thị đều có khả năng diễn tảnhiều khía cạnh

(c) Các thang đo tỷ lệ và độ rộng của đồ thị phải được xác định chính xác Ta biếtrằng thang đo tỷ lệ giúp cho việc tính chuyển các đại lượng lên đồ thị theokhoảng cách thích hợp Và độ rộng của đồ thị cũng phải xây dựng cho phùhợp

c Những yêu cầu chung đối với việc xây dựng đồ thị thống kê

Khi xây dựng một đồ thị thống kê phải chú ý sao cho người đọc dễ xem, dễhiểu và đảm bảo chính xác Muốn vậy cần chú ý:

 Xác định qui mô của đồ thị cho vừa phải Qui mô của đồ thị đượcquyết định bởi chiều dài, chiều cao và quan hệ tỷ lệ giữa hai chiều đó Và qui

mô to hay nhỏ còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng

 Lựa chọn các loại đồ thị cho phù hợp vì mỗi loại đồ thị đều có khả năngdiễn tả nhiều khía cạnh

 Các thang đo tỷ lệ và độ rộng của đồ thị phải được xác định chính xác Tabiết rằng thang đo tỷ lệ giúp cho việc tính chuyển các đại lượng lên đồ thị theokhoảng cách thích hợp Và độ rộng của đồ thị cũng phải xây dựng cho phù hợp

Bài tập chương 2

Bài 1 Cơ quan bảo vệ môi trường lấy các mẫu nước từ 12 sông và suốikhác nhau, sau đó đưa vào phòng thí nghiệm để xác định tỷ lệ ô nhiễm cho từngmẫu nước K t qu xét nghi m nh sau:ết quả xét nghiệm như sau: ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ư sau

Trang 33

b Xác định số mẫu nước có tỷ lệ nhiễm bẩn trong khoảng 30-40; 40-50; 50-60;60-70.

c Nếu theo các nhà khoa học tỷ lệ nhiễm bẩn 45% trở lên là quá mức thì cóbao nhiêu mẫu rơi vào trường hợp này

B i 2 T i m t to báo, ngà tuổi ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi à tuổi ư sauời ta thu thập thông tin về thời gian cần thiếti ta thu th p thông tin v th i gian c n thi tật và tuổi ề ời ta thu thập thông tin về thời gian cần thiết ần thiết ết quả xét nghiệm như sau:

ho n th nh trang nh t c a t báo Thu th p trong 50 ng y li n v c s

đ à tuổi à tuổi ất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ủa khoảng cách ời ta thu thập thông tin về thời gian cần thiết ật và tuổi à tuổi ề à tuổi đư sauợc số

li u sau (ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi đơn vị %n v tính: Phút)ị %

Mức độ

cơ giới hoá lao động (%)

Năng suất lao động ngày (m 3 )

ST T

Bậc thợ

Tuổi nghề (năm )

Mức độ

cơ giới hoá lao động (%)

Năng suất lao động ngày (m 3 )

Trang 34

Hãy phân tổ công nhân để nghiên cứu mối liên hệ:

a Giữa năng suất lao động và bậc thợ (3 tổ)

b Giữa năng suất lao động và tuổi nghề (3 tổ)

c Giữa năng suất lao động và mức độ cơ giới hoá lao động (3 tổ)

Mỗi phân tổ rút ra nhận xét

Bài 4 Phân tổ công nhân theo tài liệu bài 4 để nghiên cứu mối liên hệ:

a Giữa năng suất lao động với tuổi nghề, mức độ cơ giới hoá lao động

b Giữa năng suất lao động với tuổi nghề bậc thợ

c Giữa năng suất lao động với mức độ cơ giới hoá lao động, bậc thợ

Rút ra nhận xét qua mỗi bản phân tổ

Trang 35

Chương 3

CÁC MỨC ĐỘ CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ XÃ HỘI

Mọi hiện tượng kinh tế - xã hội đều tồn tại trong những điều kiện khônggian, thời gian nhất định và mặt lượng của hiện tượng được biểu hiện ở các mức

độ khác nhau với nội dung phản ánh khác nhau Ta có thể sử dụng các chỉ tiêu để

đo lường, tính toán các mức độ này như số tuyệt đối, số tương đối, các đặc trưng

đo lường khuynh hướng tập trung, các đặc trưng đo lường độ phân tán nhằm nêulên đặc trưng phân phối của dãy số Sau đây ta sẽ đi nghiên cứu nội dung vàphương pháp tính của một số chỉ tiêu trên

I Số tuyệt đối

1.1 Khái niệm và đặc điểm

Số tuyệt đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện qui mô, khối lượng của

hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể

Ví dụ: Tổng dân số nước ta lúc 0h ngày 1/4/1999 là 76.324.753 người.

Số tuyệt đối có thể biểu hiện bằng số đơn vị tổng thể của một tổng thể nào

đó như: số nhân khẩu, số doanh nghiệp, số công nhân, … hoặc là trị số của mộtchỉ tiêu kinh tế nào đó như: tổng sản lượng, tổng chi phí sản xuất, tổng số tiềnlương,…

Đặc điểm của số tuyệt đối trong thống kê là gắn liền với hiện tượng kinh tế

- xã hội cụ thể, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Số tuyệt đối trongthống kê phải thông qua các giai đoạn điều tra, thu thập, tổng hợp thực tế mà có

và phải có đơn vị tính cụ thể (Tuỳ theo tính chất của hiện tượng và mục đíchnghiên cứu chúng ta thường có: đơn vị tự nhiên như: cái, con, chiếc, ; đơn vị đolường như: m, kg, lít,…; đơn vị giá trị như: đồng, triệu đồng, $,…; đơn vị thờigian lao động như: ngày công, giờ công,… )

1.2 ý nghĩa

- Số tuyệt đối có ý nghĩa quan trọng, giúp ta nhận thức được một cách cụthể về quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu, thấy rõ được các kết quảđạt được về phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước, tiềm năng của nền kinh tếquốc dân Số tuyệt đối chính xác là chân lý khách quan có sức thuyết phục rất lớn

Trang 36

- Số tuyệt đối là số liệu đầu tiên để tiến hành phân tích thống kê, đồng thời

là cơ sở để tính ra số tương đối và số bình quân

- Số tuyệt đối trong thống kê còn là căn cứ không thể thiếu được trong việcxây dựng các chương trình dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chứcchỉ đạo thực hiện chúng

1.3 Các loại số tuyệt đối

Tuỳ theo tính chất của hiện tượng có thể phân biệt 2 loại số tuyệt đối:

1.3.1 Số tuyệt đối thời điểm

Số tuyệt đối thời điểm phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng tại một

thời điểm nhất định

Ví dụ: Số lao động của 1 xí nghiệp có vào ngày 1/1/2013 là 150 người; giá trị

TSCĐ của một đơn vị có ngày 12/02/2013 là 3 tỷ đồng; hay giá trị hàng tồn khocủa cửa hàng X vào ngày 1/1/2013 là 2 tỷ đồng;…

Như vậy, số tuyệt đối thời điểm chỉ phản ánh tình hình của hiện tượng tạimột thời điểm nào đó, trước và sau thời điểm đó trạng thái của hiện tượng có thểthay đổi

Đặc điểm của số tuyệt đối thời điểm là không có sự tích luỹ về lượng, trị sốcủa chỉ tiêu lớn hay nhỏ không phụ thuộc vào thời gian nghiên cứu dài hay ngắn

Ví dụ: Giá trị TSCĐ của Công ty A có ngày 1/2/2013 là 30 triệu đồng Giá trị

TSCĐ của Công ty A có ngày 2/2/2013 là 30 triệu đồng Ta không thể nói giá trịTSCĐ của Công ty A trong 2 ngày là 60 triệu đồng vì nó không có ý nghĩa

1.3.2 Số tuyệt đối thời kì

Số tuyệt đối thời kì phản ánh qui mô, khối lượng của hiện tượng nghiên

cứu trong một độ dài thời gian nhất định Nó được hình thành thông qua sự tíchluỹ (cộng dồn) về lượng của hiện tượng trong suốt thời gian nghiên cứu Các con

số tuyệt đối thời kì của cùng một chỉ tiêu có thể cộng được với nhau để có trị số củathời kì dài hơn Thời kỳ tính toán càng dài, trị số của chỉ tiêu càng lớn

Ví dụ:

Tại một Doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản tại một địa phương A nhưsau: (ĐVT: triệu đồng)

- Doanh thu ngày đầu tháng: 2

- Doanh thu ngày thứ 2 của tháng: 4,5

- Doanh thu ngày thứ 3 của tháng: 5

Trang 37

- …

- Doanh thu ngày cuối cùng trong tháng: 12

Vậy, tổng doanh thu cả tháng là: 108 (Đây là con số tuyệt đối của thời kỳ - trong 1tháng)

II Số tương đối

2.1 Khái niệm và ý nghĩa của số tương đối

Số tương đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai

mức độ của hiện tượng cùng loại nhưng khác nhau về thời gian, hoặc không gianhoặc so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng khác nhau nhưng lại có liên quanvới nhau, hoặc so sánh bộ phận với tổng thể và giữa các bộ phận trong cùng mộttổng thể

Ví dụ:

Giá trị sản lượng chè tại công ty chè Sông Cầu năm 2012: 10tỷ

Và giá trị sản lượng chè tại công ty chè Sông Cầu năm 2013: 12 tỷ

Khi đó ta có thể so sánh được giá trị sản lượng chè năm 2013 với năm 2012 như sau:

GTSL năm 2013 = 12 = 1,2 (lần) hay 120%

Ngo i ra, chúng ta c ng có th tính ch tiêu:à tuổi ũng có thể tính chỉ tiêu: ỉ tiêu:

Mật độ dân số = Tổng dân số bình quân = …

(người/km 2 )

Tổng diện tích

Số tương đối có ý nghĩa rất quan trọng và là một trong những chỉ tiêuphân tích thống kê Nó phân tích được các đặc điểm của hiện tượng, nghiên cứucác hiện tượng trong mối quan hệ so sánh với nhau Do vậy, số tương đối cũngcần thiết trong công tác xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Ngoài

ra, nó còn sử dụng để công bố khi muốn giữ bí mật của số tuyệt đối

* Số tương đối có đặc điểm và hình thức biểu hiện như sau:

- Số tương đối không có sẵn trong thực tế (nó phụ thuộc vào số tuyệt đối)

- Mỗi con số tương đối đều phải có gốc để so sánh và quan hệ so sánh phải

có ý nghĩa

- Hình thức biểu hiện của số tương đối là %, ‰, số lần, đơn vị kép,

2.2 Các loại số tương đối

Căn cứ vào nội dung phản ánh, có thể chia số tương đối thành các loại sau:

2.2.1 Số tương đối động thái (phát triển)

Trang 38

Số tương đối động thái là kết quả so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng

cùng loại nhưng khác nhau về thời gian Số tương đối phản ánh sự biến động củahiện tượng nghiên cứu theo thời gian nên nó còn được gọi là tốc độ phát triển haychỉ số phát triển

t  (lần) t: Số tương đối động thái

y1: Mức độ của HT kỳ nghiên cứu

Để tính được số tương đối động thái chính xác cần phải đảm bảo tính chất

so sánh được giữa các mức độ của kỳ nghiên cứu và kỳ gốc Cụ thể phải đảm bảogiống nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính và đơn vị tính, về phạm vi

và độ dài thời gian mà mức độ phản ánh

2.2.2 Số tương đối kế hoạch

Số tương đối kế hoạch được dùng để xây dựng kế hoạch và kiểm tra tìnhhình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội Và có hai loại số tương đối kế hoạch là:

*Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch là tỷ lệ so sánh giữa mức độ kế hoạch với

mức độ thực tế của chỉ tiêu ấy tại kỳ gốc

Công thức:

0

y

y Knk kh

Knk: Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch ykh : Mức độ của hiện tượng kỳ kế hoạch

y0 : Mức độ của hiện tượng kỳ gốc

*Số tương đối thực hiện kế hoạch là tỷ lệ so sánh giữa mức độ thực tế đạt

được trong kỳ nghiên cứu với mức độ kế hoạch đặt ra cùng kỳ của một chỉ tiêunào đó

Ktk: Số tương đối thực hiện kế hoạch

ykh : Mức độ của hiện tượng kỳ kế hoạch

y1 : Mức độ của hiện tượng kỳ nghiên cứu

* Mối liên hệ giữa số tương đối động thái (t) và số tương đối kế hoạch (K)

Ta biết:

Trang 39

y y

y Ktk Knk

Ta nói rằng: Số tương đối động thái bằng tích số giữa số tương đối nhiệm

vụ kế hoạch và số tương đối thực hiện kế hoạch

Ví dụ:

Sản lượng chè của công ty chè Sông Cầu năm 2003 là 2.500 kg, kế hoạch

dự kiến sản lượng năm 2004 là 3.000 kg, thực tế năm 2004 của công ty đã sảnxuất được là 2.800 kg Như vậy:

Số tương đối động thái: 1 , 12

2500

2800 0

y

y t

Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch năm 2004:

1 , 2

2500

3000 0

Số tương đối thực hiện hoạch năm 2004:

0 , 933

3000

2800 1

Như vậy mối liên hệ giữa ba số tương đối trên là:

x

Số tương đối thực hiện kế hoạch

2.2.3 Số tương đối kết cấu

Số tương đối kết cấu xác định tỷ trọng của mỗi bộ phận có trong tổng thể

Như vậy, phân tổ thống kê chính xác là cơ sở đảm bảo tính chính xác của

số tương đối kết cấu Muốn có số tương đối chính xác, các bộ phận của tổng thểphải được phân tổ rõ ràng, giữa các bộ phận phải có sự khác nhau về tính chất

Trang 40

Cho nên, việc tính số tương đối kết cấu có liên quan mật thiết với phương phápphân tổ thống kê.

Ví dụ: Một lớp có 60 sinh viên trong đó có 38 sinh viên nam Hãy tính tính tỷ

trọng sinh viên nữ trong lớp

Giải

Ta có số sinh viên nữ trong lớp học là: 60 – 38 = 22 (SV)

Vậy tỷ trọng sinh viên nữ trong lớp là: 100 % 36 , 67

60

22

2.2.4 Số tương đối cường độ

Số tương đối cường độ là kết quả so sánh mức độ của hai hiện tượng khác

nhau nhưng có liên quan tới nhau Trong đó: Mức độ của hiện tượng cần nghiên

cứu đặt ở tử số, còn mức độ của hiện tượng có liên quan được đặt ở mẫu số

Ví dụ: Mật độ dân số, GDP trên đầu người, số bác sĩ trên 1000 dân,…

Số tương đối cường độ được dùng để phản ánh trình độ phổ biến của hiệntượng, nó được sử dụng rộng rãi để biểu hiện trình độ phát triển sản xuất, trình độđảm bảo mức sống vật chất và văn hoá của dân cư của một nước Các chỉ tiêu nàythường dùng để so sánh trình độ phát triển sản xuất, đời sống giữa các nước khácnhau

2.2.5 Số tương đối không gian

Số tương đối so sánh là kết quả so sánh giữa các bộ phận trong cùng mộttổng thể hoặc là kết quả so sánh giữa hai hiện tượng cùng loại nhưng khác nhau

về không gian

Ví dụ: So sánh giá chè tươi tại Thái Nguyên với Phú Thọ,…

2.3 Điều kiện vận dụng chung số tương đối và số tuyệt đối

- Khi sử dụng số tương đối và số tuyệt đối phải xét đến đặc điểm của hiệntượng để đưa ra kết luận cho đúng đắn

- Phải vận dụng kết hợp cả số tương đối và số tuyệt đối ta sẽ nhận thứcđược sâu sắc và chính xác đặc điểm của hiện tượng cả về quy mô và sự hơn kém,

to nhỏ,…

III Số bình quân

3.1 Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm của số bình quân

Số bình quân trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện mức độ đại biểu theo một

tiêu thức số lượng nào đó của tổng thể bao gồm nhiều đơn vị cùng loại

Ngày đăng: 17/03/2014, 22:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Phân tổ công nhân theo độ tuổi - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng 2.1 Phân tổ công nhân theo độ tuổi (Trang 19)
Bảng 2.4: Bảng phân tổ các doanh nghiệp theo khu vực và thành phố kinh tế - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng 2.4 Bảng phân tổ các doanh nghiệp theo khu vực và thành phố kinh tế (Trang 23)
2.4.1. Bảng thống kê - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
2.4.1. Bảng thống kê (Trang 27)
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất tháng 1/2007 của các Doanh nghiệp tại thành phố - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất tháng 1/2007 của các Doanh nghiệp tại thành phố (Trang 28)
Bảng 2.6: Tên bảng thống kê (tiêu đề chung) - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng 2.6 Tên bảng thống kê (tiêu đề chung) (Trang 28)
Bảng 2. 9: Bảng phân tổ các Doanh nghiệp theo ngành kinh tế - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng 2. 9: Bảng phân tổ các Doanh nghiệp theo ngành kinh tế (Trang 29)
Bảng 2.8: Các xí nghi p công nghi p thu c khu v c N n m 2007 ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ực N năm 2007 ăng suất lao động với trình độ kỹ  - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng 2.8 Các xí nghi p công nghi p thu c khu v c N n m 2007 ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ực N năm 2007 ăng suất lao động với trình độ kỹ (Trang 29)
Bảng chu chuyển là một hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh các nguyên nhân biến động về mặt số lượng trong định kỳ. - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng chu chuyển là một hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh các nguyên nhân biến động về mặt số lượng trong định kỳ (Trang 97)
Bảng chu chuyển đàn bò theo trọng lượng - bài giảng thống kê kinh tế xã hội học
Bảng chu chuyển đàn bò theo trọng lượng (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w