ly thuyet thong ke
Trang 1CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
I Sơ lược sự ra đời và phát triển của Thống kê
Thống kê học là môn khoa học xã hội, ra đời và phát triển theo nhu cầu củahoạt động thực tiễn xã hội Trước khi trở thành môn khoa học, Thống kê có nguồngốc lịch sử phát triển khá lâu dài, với cả một quá trình tích luỹ kinh nghiệm và đượcđúc rút dần thành lý luận khoa học
Trong thời cổ đại, tại các quốc gia có sự phát triển như: Hy lạp, La Mã, TrungQuốc,… người ta đã biết cách ghi chép số liệu Tuy nhiên, công việc này còn khá đơngiản, tiến hành trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa mang tính thống kê rõ rệt
Đến thời chiếm hữu nô lệ, các chủ nô thường tìm cách ghi chép, tính toán đểnắm được tài sản của mình như: số nô lệ, số súc vật,… Dưới chế độ phong kiến, hầuhết các quốc gia Châu Âu, Chấu á đã tổ chức việc đăng ký, kê khai với phạm vi rộng,
nội dung phong phú, có tính chất thống kê rõ rệt Ví dụ: Đăng ký nhân khẩu, kê khai
ruộng đất,… Thường các cuộc kê khai này phục vụ cho thu thuế và bắt lính của nhànước phong kiến; Thời kỳ này, thống kê tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng chưa được đúcrút thành lý luận
Mãi đến cuối thế kỷ XVII, lực lượng sản xuất phát triển mạnh, phương thức tưbản chủ nghĩa ra đời, kinh tế hàng hoá, phân công lao động phát triển, tính chất xãhội hoá của sản xuất ngày càng cao, thị trường được mở rộng không chỉ trong phạm
vi một nước mà còn trên phạm vi thế giới, hoạt động kinh tế xã hội ngày càng phứctạp, các giai cấp xã hội phân hoá nhanh và đấu tranh giai cấp càng gay gắt Để phục
vụ cho mục đích kinh tế, chính trị, quân sự; nhà nước tư sản, các chủ tư sản cần nhiềuthông tin thường xuyên về thị trường, giá cả, sản xuất, nguyên liệu, dân số,… Do đócông tác thống kê phát triển nhanh chóng Sự cố gắng tìm hiểu các hiện tượng và quátrình kinh tế, xã hội thông qua các biểu hiện về mặt số lượng, đòi hỏi những ngườilàm công tác khoa học, quản lý nhà nước đi vào nghiên cứu lý luận và phương phápthu thập tính toán số liệu thống kê Thời kỳ này, các tài liệu sách báo về thống kêđược xuất bản và đưa vào giảng dạy ở các trường đại học, như nhà kinh tế học ngườiĐức H.Conhring (1606 - 1681) đã giảng phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hộidựa vào số liệu điều tra cụ thể; Năm 1682 nhà kinh tế học người Anh William Petty(1623 - 1687) cho xuất bản cuốn “Số học chính trị”, trong cuốn này ông đã dùngphương pháp so sánh để nghiên cứu hiện tượng thông qua con số thống kê Đến năm
1759, một giáo sư người Đức G Achenwall (1719 - 1772) lần đầu tiên dùng từ
Trang 2“Statistik” để chỉ phương pháp nghiên cứu trên Và sau này người ta dịch nó là
“Thống kê”
Chủ nghĩa tư bản tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của Thống kê học.Thống kê là công cụ quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh đó,còn một bộ phận khác của thống kê học gắn liền với các khoa học tự nhiên và kỹthuật như thống kê vật lý, thống kê sinh vật học và thống kê hoá học,…
Sự ra đời của thống kê học là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự pháttriển của nền sản xuất xã hội, nó là công cụ phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tếcủa một nước, một giai cấp nhất định Tính chất và trình độ phát triển của nó phụthuộc vào chế độ xã hội, giai cấp sử dụng nó
Sự phát triển của thống kê học ở nước ta nhìn chung còn nhiều hạn chế, nhưngcũng đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin cho lãnh đạo, hình thành hệ thốngthông tin thống kê thống nhất, phản ánh mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội trên cảnước và phục vụ cho các yêu cầu nhận thức và quản lý của mọi cấp, mọi ngành vàmọi người dân
II Đối tượng nghiên cứu thống kê
Thống kê học là môn khoa học xã hội, nó ra đời và phát triển gắn liền với sựphát triển của nền sản xuất xã hội Các hiện tượng mà thống kê học nghiên cứu là cáchiện tượng và quá trình xã hội, chủ yếu là các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội,bao gồm:
- Các hiện tượng về quá trình tái sản xuất mở rộng của cải vật chất xã hội
- Các hiện tượng về dân số và nguồn lao động
- Các hiện tượng về đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của dân cư
- Các hiện tượng về sinh hoạt chính trị, xã hội
Thống kê học nghiên cứu các hiện tượng xã hội, không nghiên cứu các hiệntượng tự nhiên Nhưng giữa các hiện tượng xã hội và hiện tượng tự nhiên có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, cho nên khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội thống kêcũng phải nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên (thời tiết, khí hậu, địa lý)
và kỹ thuật (cải tiến công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới,…) đến các hiện tượng và quátrình xã hội Khác với các môn khoa học khác, thống kê học không trực tiếp nghiêncứu bản chất và quy luật của các hiện tượng xã hội Thống kê học nghiên cứu mặtlượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng xã hội Mặt lượngtrong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng xã hội là những biểu hiệnbằng số lượng về bản chất và tính quy luật của hiện tượng trong thời gian và địa điểm
Trang 3lệ, tốc độ phát triển,… của các hiện tượng Mặt lượng đó không phải là con số trìutượng mà là những số liệu có ý nghĩa, gắn liền với nội dung kinh tế - xã hội nhấtđịnh, giúp chúng ta nhận thức được cụ thể bản chất của hiện tượng Các con số thống
kê phản ánh được mặt chất của hiện tượng vì chất và lượng là hai mặt không thể táchrời nhau của sự vật và hiện tượng
Khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội thống kê học coi tập hợp gồm nhiều hiệntượng cá biệt là một tổng thể hoàn chỉnh để nghiên cứu và dùng phương pháp quansát số lớn để loại trừ những ảnh hưởng mang tính chất ngẫu nhiên, qua đó nêu lên đầy
đủ và nổi bật những đặc trưng của bản chất và tính quy luật của hiện tượng nghiêncứu Nhưng khi nghiên cứu các hiện tượng số lớn thống kê học cũng không bỏ quanghiên cứu các hiện tượng cá biệt nhằm giúp cho nhận thức hiện tượng xã hội đượctoàn diện, phong phú và sâu sắc hơn
Hiện tượng kinh tế - xã hội bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện cụ thể về thờigian và không gian Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, hiện tượng kinh tế xãhội có đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng khác nhau Do vậy, khi sử dụng tài liệuthống kê vào phân tích tình hình kinh tế - xã hội, phải luôn xét tới điều kiện về thờigian và không gian cụ thể của hiện tượng mà tài liệu phản ánh
Tóm lại, thống kê học là môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
III Một số khái niệm thường dùng trong thống kê
Tổng thể thống kê là một hiện tượng số lớn, là tập hợp các đơn vị (hoặc phần
tử) thuộc hiện tượng nghiên cứu, cần được quan sát, thu thập và phân tích mặt lượng
của chúng theo một hoặc một số tiêu thức nào đó Hay đơn giản hơn nó là tập hợp nhiều đơn vị cá biệt trên cơ sở một hoặc một số đặc điểm chung Ví dụ: Toàn bộ dân
số nước ta có vào 0giờ ngày 01/04/1999 là 76.323.173 người thì đây là một tổng thể thống kê (ở đây là một tập hợp những người Việt Nam không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, ) Còn các đơn vị (phần tử) cấu thành tổng thể thống kê được gọi là đơn vị tổng thể.
Trang 4Vậy đơn vị tổng thể là gì? nó là từng đơn vị cá biệt cấu thành nên tổng thể Ví dụ: Với tổng thể là toàn bộ dân số cả nước thì đơn vị tổng thể là từng người dân, còn trong tổng thể các Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thì từng doanh nghiệp là một đơn vị tổng thể Và đặc điểm của đơn vị tổng thể là những phần tử không thể chia
nhỏ được nữa Ngoài đặc điểm giống nhau để cấu thành tổng thể, mỗi đơn vị tổng thể
còn có nhiều đặc điểm riêng
Cho nên trong nhiều trường hợp, các đơn vị tổng thể được biểu hiện rõ ràng, dễ
xác định, người ta gọi đó là tổng thể bộc lộ Chẳng hạn: Số công nhân trong một công
ty, số lượng thóc thu hoạch trong vụ mùa, số hàng hoá bán ra trong một tuần của một
cửa hàng,… Tuy nhiên, có những trường hợp ta lại gặp những tổng thể tiềm ẩn, ta
không thể nhận biết được các đơn vị của chúng một cách trực tiếp, ranh giới của tổngthể không rõ ràng Loại tổng thể này thường có trong lĩnh vực xã hội như: số người
mê tín dị đoan, số người ham thích chèo, số người thích xem bóng đá,…
Ta thấy rằng, các đơn vị tổng thể chỉ giống nhau ở đặc điểm cơ bản là đặctrưng của tổng thể, các đặc điểm còn lại có thể khác nhau nhiều hay ít Khi đó, ta cótổng thể đồng chất và tổng thể không đồng chất
Tổng thể đồng chất là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau về các đặc điểm chủ yếu có liên quan tới mục đích nghiên cứu Ví dụ: Các Doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp có thể xem là tổng thể đồng chất khi đem so sánh chúng với các đơn vị
sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải,… Còn tổng thể không đồng chất là tổng thể bao gồm các đơn vị có nhiều đặc điểm chủ yếu khác nhau Ví dụ: Khi đi sâu nghiên cứu
các loại hình trong tổng thể các Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thì chúng lại lànhững tổng thể không đồng chất (có Doanh nghiệp sản xuất máy móc, Doanh nghiệpsản xuất sắt thép, )
Ngoài ra, khi nghiên cứu tổng thể người ta còn có tổng thể chung và tổng thể
bộ phận Vậy, nếu tổng thể chung bao gồm tất cả các đơn vị của tổng thể thì tổng thể
bộ phận chỉ bao gồm một phần của tổng thể chung Chẳng hạn ta nói toàn bộ sinh viên Việt Nam - đây là tổng thể chung Còn khi nói toàn bộ sinh viên trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thái Nguyên - đây là tổng thể bộ phận nằm trong tổng
thể chung (toàn thể sinh viên Việt Nam)
3.2 Tiêu thức thống kê
Khi nghiên cứu thống kê phải dựa vào đặc điểm của đơn vị tổng thể Mỗi đơn
vị tổng thể đều có nhiều đặc điểm, trong đó có một đặc điểm cấu thành tổng thể (tức
là các đơn vị tổng thể đều có đặc điểm đó) và các đặc điểm khác Ví dụ tổng thể nhân
Trang 5còn các đặc điểm khác như giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình
độ học vấn, nơi cư trú,… Và các
đặc điểm này được gọi là các tiêu thức thống kê.
Tiêu thức thống kê được chia thành hai loại sau:
3.2.1 Tiêu thức thuộc tính (Hay tiêu thức chất lượng)
Tiêu thức thuộc tính (tiêu thức chất lượng) phản ánh tính chất của đơn vị tổngthể, nó không biểu hiện trực tiếp bằng các con số mà biểu hiện bằng chữ viết như:giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nhân cách,…
Tiêu thức thuộc tính có thể biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp Chẳng hạn giới
tính, nghề nghiệp là tiêu thức thuộc tính biểu hiện trực tiếp còn nhân cách là tiêu thứcbiểu hiện gián tiếp (thấy được thông qua các chỉ tiêu khác)
3.2.2 Tiêu thức số lượng
Tiêu thức số lượng là tiêu thức được biểu hiện bằng con số Chẳng hạn: số
nhân khẩu tại một địa phương, số lao động trong một nông trường,…
Các tiêu thức thuộc tính, số lượng đều góp phần vào việc xác định đơn vị tổngthể cũng như tổng thể, nhờ đó chúng ta có thể phân biệt đơn vị này với đơn vị khác,tổng thể này với tổng thể khác
3.3 Chỉ tiêu thống kê
Chỉ tiêu thống kê phản ánh lượng gắn với chất của các mặt, các tính chất cơbản của hiện tượng số lớn trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể Tính chất củacác hiện tượng cá biệt được khái quát hoá trong chỉ tiêu thống kê Do đó, chỉ tiêuthống kê thường mang tính tổng hợp, biểu hiện đặc điểm của cả tổng thể (Đây cũngchính là căn cứ để phân biệt chỉ tiêu và tiêu thức)
Trong bản thân mỗi chỉ tiêu thống kê có hai mặt: Khái niệm và con số Khái
niệm quy định nội dung kinh tế - xã hội của chỉ tiêu Con số của chỉ tiêu nêu lên mức
độ của chỉ tiêu trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Khi căn cứ vào nội dung, có thể chia các chỉ tiêu thống kê thành hai loại: Chỉtiêu chất lượng và chỉ tiêu khối lượng Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện tính chất, trình
độ phổ biến, mối quan hệ của tổng thể Có một số chỉ tiêu chất lượng không thể biểuhiện được bằng con số một cách trực tiếp (chỉ dừng lại ở khái niệm và biểu hiện mộtcách gián tiếp thông qua các chỉ tiêu khác) như giá thành đơn vị sản phẩm, năng suất
lao động,… Còn chỉ tiêu khối lượng biểu hiện quy mô của tổng thể Chẳng hạn như
số công nhân trong một xưởng sản xuất, số sản phẩm sản xuất ra của một doanhnghiệp,… Đây là hai loại chỉ tiêu thường được sử dụng nhiều trong phân tích kinh tếcũng như trong phân tích thống kê
Trang 6IV Các loại thang đo
Theo tính chất của việc đo lường, thường có 4 loại thang đo là: Định danh, thứ bậc, khoảng và tỷ lệ.
4.1 Thang đo định danh
Thang đo định danh (cách khác gọi là đặt tên) là đánh số các biểu hiện cùng
loại của tiêu thức Ví dụ: giới tính biểu hiện “nam” được đánh số 1 và “nữ” được
đánh số 2 Ta thấy rằng giữa các con số ở đây không có quan hệ hơn, kém Cho nên,các phép tính với chúng đều vô nghĩa Do vậy, thang này dùng để đếm tần số củabiểu hiện tiêu thức
4.2 Thang đo thứ bậc
Thang đo thứ bậc là thang đo định danh, nhưng giữa các biểu hiện tiêu thức cóquan hệ thứ bậc, hơn, kém Sự chênh lệch giữa các biểu hiện không nhất thiết phải
bằng nhau Ví dụ: Huân chương có ba hạng: hạng một, hai và ba Trình độ văn hoá
phổ thông có ba cấp: cấp I, cấp II và cấp III Con số có trị số lớn không có nghĩa làbậc cao và ngược lại, mà do sự quy định Vì vậy, thang này dùng để tính toán đặctrưng chung của tổng thể một cách tương đối, trong một số trường hợp như tínhbậc thợ bình quân của một xí nghiệp sản xuất
4.3 Thang đo khoảng
Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc của các khoảng cách đều nhau Cho nên
có thể đánh giá sự khác biệt giữa các biểu hiện bằng thang đo này Việc cộng trừ cáccon số có ý nghĩa, có thể tính các đặc trưng chung như số bình quân, phương sai Yêucầu có khoảng cách đều là đặt ra với thang đo, còn biểu hiện của tiêu thức được đokhông nhất thiết phải bằng nhau
4.4 Thang đo tỷ lệ
Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng với một điểm không (0) tuyệt đối (điểmgốc) để có thể so sánh được tỷ lệ giữa các trị số đo Với thang đo này ta có thể đolường được các biểu hiện của tiêu thức như các đơn vị đo lường vật lí thông thường(kg, lít, m,…) và thực hiện được tất cả các phép tính với trị số đo
Theo tuần tự, thang đo sau có chất lượng đo lường cao hơn thang đo trước,đồng thời việc xây dựng thang đo cũng phức tạp hơn Nếu như việc xây dựng thang
đo định danh là rất đơn giản thì để xây dựng các thang đo còn lại thông thường người
ta phải lấy ý kiến chuyên gia kết hợp với vận dụng phương pháp tính toán thích hợp
Và phương pháp xây dựng thang đo cụ thể sẽ được trình bày cụ thể trong giáo trìnhthống kê ngành hay lĩnh vực, khi phải vận dụng trực tiếp đến một thang đo nào đó
Trang 7Chương II QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ
I Điều tra thống kê
1.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của điều tra thống kê
* Khái niệm: Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học và theo một kếhoạch thống nhất để thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiêncứu trong điều kiện về thời gian, không gian cụ thể
- Tài liệu thống kê chính xác và được cung cấp có hệ thống sẽ là những căn cứthực tế vững chắc để xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, đồng thời là
cơ sở để đề ra các chính sách phát triển kinh tế – xã hội
* Nhiệm vụ: là cung cấp tài liệu cần thiết cho các khâu tiếp theo của quá trình
nghiên cứu
Do vậy, nó phải đảm bảo các yêu cầu sau :
- Tính trung thực nghĩa là người thu thập thông tin phải tuyệt đối trung thực ghi
chép những điều được nghe, được thấy, các câu hỏi đạt ra phải khách quan, khônggợi ý, không áp đặt Đối với người cung cấp thông tin yêu cầu phải chính xác, khôngđược che dấu và khai man thông tin
- Tính chính xác nghĩa là tài liệu điều tra phải phản ánh đúng trạng thái của các đơn vị
tổng thể Vì vậy, phải ghi chép trung thực, có trình độ chuyên môn và có tinh thần tráchnhiệm
- Tính kịp thời nghĩa là cung cấp tài liệu phải đúng lúc cần thiết để phát huy hết
tác dụng của tài liệu đó Yêu cầu kịp thời được khẳng định bởi thời gian kết thúc việcthu thập ghi trong tài liệu điều tra
- Tính đầy đủ có nghĩa là tài liệu điều tra phải được thu thập theo đúng nội dung và số
đơn vị tổng thể đã quy định trong văn kiện điều tra Tài liệu điều tra đầy đủ mới đáp ứngđược mục đích nghiên cứu, đảm bảo việc xử lý được hoàn hảo
1.2 Các loại điều tra thống kê
Trang 81.2.1 Điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên
Căn cứ vào tính chất liên tục, tính hệ thống của các cuộc điều tra, ta có thể phân biệthai loại điều tra thống kê: Điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên
a Điều tra thường xuyên là thu thập tài liệu một cách liên tục gắn với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng Chẳng hạn: Sự biến động nhân khẩu tại một địa phương,
hay số sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp, số nguyên vật liệu tiêu dùng cho sản xuất,
… Loại điều tra này giúp theo dõi tỷ mỉ tình hình phát triển của hiện tượng theo thờigian Nó được áp dụng đối với hiện tượng biến động nhanh Tài liệu điều tra thườngxuyên là cơ sở để lập báo cáo thống kê định kỳ, là căn cứ để kiểm tra tình hình thực hiện
kế hoạch, phản ánh kết quả tích luỹ của hiện tượng trong một thời kỳ
b Điều tra không thường xuyên là thu thập tài liệu ban đầu về hiện tượng không
thường xuyên, liên tục, không gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển của hiệntượng Điều tra không thường xuyên có thể chia thành điều tra không thường xuyênđịnh kỳ và điều tra không thường xuyên không định kỳ Trong đó: điều tra khôngthường xuyên định kỳ được tiến hành lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định nhưtổng điều tra dân số, kiểm kê hàng hoá tồn kho định kỳ,… Còn điều tra không thườngxuyên không định kỳ như điều tra nghiên cứu thị trường, thăm dò ý kiến khách hànghay điều tra thiên tai,… Loại điều tra này thường áp dụng cho những trường hợpkhông xảy ra thường xuyên hoặc xảy ra thường xuyên nhưng không cần theo dõithường xuyên Điều tra không thường xuyên thường đi sâu vào khía cạnh chuyênmôn thường nghiên cứu
1.2.2 Điều tra toàn bộ và không toàn bộ
Căn cứ vào phạm vi của đối tượng được điều tra thực tế, điều tra thống kê đượcphân thành điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ
a Điều tra toàn bộ là thu thập tài liệu của toàn bộ tổng thể (hay tổng điều tra) Ví dụ: tổng điều tra dân số, tổng điều tra đàn gia súc,… Điều tra toàn bộ cung cấp tài
liệu đầy đủ nhất cho nghiên cứu thống kê, giúp cho việc tính toán các chỉ tiêu phảnánh quy mô, khối lượng của hiện tượng được chính xác làm cơ sở đề ra những quyếtđịnh trong quản lý Tuy nhiên, chi phí cho điều tra toàn bộ rất lớn, đòi hỏi phải tổchức chỉ đạo khoa học chặt chẽ Song, trong thực tế có những trường hợp nhất thiếtphải điều tra toàn bộ như tổng điều tra dân số mặc dù kinh phí điều tra rất lớn
b Điều tra không toàn bộ là thu thập tài liệu của một số đơn vị chọn ra từ tổng thể chung Ví dụ: điều tra thu nhập và chi tiêu gia đình, điều tra dư luận xã hội, điều tra
giá cả hàng hoá trên thị trường,… Điều tra không toàn bộ được sử dụng nhiều trong
Trang 9yêu cầu quản lý, tiết kiệm chi phí Ngoài ra, do phạm vi điều tra được thu hẹp nên cóthể mở rộng nội dung điều tra để nghiên cứu hiện tượng toàn diện và chi tiết hơn.Tuỳ theo yêu cầu nghiên cứu người ta chia điều tra không toàn bộ ra thành 3 loại:
+ Điều tra chọn mẫu là điều tra trên một số đơn vị tổng thể chung theo phương
pháp khoa học Kết quả điều tra mẫu được suy rộng cho tổng thể chung Loại điều tranày có thể thay thế cho điều tra toàn bộ, khi chưa có điều kiện điều tra toàn bộ
Ví dụ: Điều tra năng suất lúa, điều tra mức sống dân cư,…
+ Điều tra trọng điểm là chỉ điều tra ở một bộ phận chủ yếu của tổng thể chung.
Kết quả điều tra mặc dù không suy rộng cho toàn tổng thể, nhưng vẫn giúp ta nắmđược những đặc điểm cơ bản của hiện tượng vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể
Ví dụ: điều tra các vùng chuyên canh một loại cây trồng cụ thể như trồng chè ở Thái
Nguyên, hay cà phê ở Đắk Lắk,…
+ Điều tra chuyên đề là chỉ điều tra một số rất ít, thậm chí chỉ một đơn vị tổng thể,
nhưng lại đi sâu nghiên cứu chi tiết mọi khía cạnh khác nhau của đơn vị đó Loại điềutra này thường nhằm nghiên cứu kỹ những điển hình để phân tích, tìm hiểu nguyênnhân, rút ra kinh nghiệm nên kết quả điều tra chuyên đề thường không dùng để suy
rộng Ví dụ: Điều tra các điển hình tiên tiến hay lạc hậu trong sản xuất kinh doanh,… Bất kỳ cuộc điều tra nào cũng đều chứa đựng hai sự phân loại trên: thường xuyên hoặc không thường xuyên, toàn bộ hoặc không toàn bộ.
1.3 Phương pháp thu thập tài liệu điều tra
Để thu thập thôn tin trong điều tra thống kê, người ta có thể sử dụng nhiều phươngpháp khác nhau Tuỳ theo điều kiện thực tế về đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu,khả năng về tài chính, thời gian, kinh nghiệm, trình độ của người tổ chức và điều traviên để lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp Phần này sẽ trình bày những vấn
đề chung của một số phương pháp chủ yếu trong điều tra thống kê
1.3.1 Thu thập trực tiếp
* Quan sát: Quan sát là thu thập dữ liệu bằng cách quan sát các hành động, thái độ
của đối tượng khảo sát trong những tình huống nhất định
* Phỏng vấn trực tiếp: Người điều tra viên trực tiếp hỏi đối tượng được điều tra và
tự ghi chép dữ liệu vào bảng câu hỏi hay phiếu điều tra Phương pháp phỏng vấn trựctiếp phù hợp với những cuộc điều tra phức tạp cần thu thập nhiều dữ liệu Ưu điểm làthời gian phỏng vấn có thể ngắn hay dài tuỳ thuộc vào số lượng dữ liệu cần thu thập vàngười điều tra viên trực tiếp phỏng vấn có điều kiện để có thể giải thích một cách đầy
đủ, cặn kẽ, đặt những câu hỏi chi tiết để khai thác thông tin và kiểm tra dữ liệu trướckhi ghi chép vào phiếu điều tra
Trang 101.3.2 Thu thập gián tiếp
Người điều tra viên thu thập tài liệu qua trao đổi bằng điện thoại, hoặc thư gửi quabưu điện với đơn vị điều tra hoặc qua chứng từ, sổ sách có sẵn ở đơn vị điều tra.Đặc điểm cơ bản của phương pháp này là người hỏi và người trả lời không trựctiếp gặp nhau Quá trình hỏi - đáp diễn ra thông qua một vật trung gian là phiếu điềutra Muốn nâng cao chất lượng các thông tin thu được cần chú ý đến một số điều kiện
cơ bản:
- Người được hỏi phải có trình độ văn hoá cao, có ý thức trách nhiệm và tự giác
- Phiếu điều tra phải ngắn gọn
- Các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời
- Phải thiết lập được một mạng lưới phân phát và thu hồi phiếu điều tra hợp lý,hoạt động có kết quả, không để bị thất lạc phiếu
Ưu điểm cơ bản của phương pháp là dễ tổ chức, tiết kiệm chi phí và điều tra viên.Tuy nhiên, lại khó có thể kiểm tra, đánh giá được độ chính xác của các câu hỏi, tỷ lệthu hồi phiếu trong nhiều trường hợp là không cao, nội dung điều tra bị hạn chế.Phương pháp này có thể sử dụng hiệu quả trong điều kiện trình độ dân trí cao
1.4 Tổ chức phương án điều tra
Để tổ chức tốt một cuộc điều tra chuyên môn, đòi hỏi phải xây dựng được phương
án điều tra thật chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể và toàn diện Đây chính là văn kiện hướng dẫnthực hiện cuộc điều tra, trong đó xác định rõ những bước tiến hành, những vấn đề cầnphải giải quyết, cần được hiểu thống nhất trong suốt quá trình thực hiện Đối với cáccuộc điều tra lớn, có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, như Tổng điều tra dân số,việc xây dựng phương án điều tra cần có sự phối hợp, bàn bạc thống nhất giữa cơquan thống kê và các ngành có liên quan và phải được cấp trên có thẩm quyền phêduyệt Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phương án điều tra thường được xâydựng dưới dạng "đề xuất kỹ thuật" và "đề xuất tài chính" cho cuộc nghiên cứu Đâychính là căn cứ đến cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc là căn cứ để cơ quan chủquan tiến hành xét chọn thầu theo quy định chung của nhà nước
Phương án của mỗi cuộc điều tra có thể khác nhau, tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của
nó Nhưng nhìn chung, mỗi phương án điều tra thường gồm những nội dung chủ yếusau:
- Xác định mục đích điều tra
- Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra
- Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra
Trang 11- Lựa chọn phương pháp điều tra, tổng hợp số liệu và phương pháp tính các chỉtiêu điều tra.
- Xây dựng phương án tài chính cho cuộc điều tra
- Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra
1.4.1 Xác định mục đích điều tra
Bất kỳ một hiện tượng kinh tế - xã hội nào cũng đều có thể được quan sát, xem xét,nghiên cứu trên nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau Nghiên cứu trênmỗi mặt, mỗi khía cạnh khác nhau sẽ cho ta đưa ra những kết luận khác nhau về hiệntượng và phục vụ những yêu cầu nghiên cứu cũng khác nhau Vì vậy, trước khi tiếnhành điều tra, cần xác định rõ xem cuộc điều tra này nhằm tìm hiểu vấn đề gì, phục vụcho yêu cầu nghiên cứu nào Đó chính là mục đích của cuộc điều tra
Mục đích điều tra còn là một trong những căn cứ quan trọng để xác định đốitượng, đơn vị điều tra, xây dựng kế hoạch và nội dung điều tra Vì vậy, việc xác địnhđúng, rõ ràng mục đích điều tra sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thu thập số liệu banđầu đầy đủ, hợp lý, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu đặt ra
Căn cứ để xác định mục đích điều tra thường là những nhu cầu thực tế cuộc sống,hoặc những nhu cầu hoàn chỉnh lý luận Những nhu cầu này được biểu hiện trực tiếpbằng các yêu cầu, đề nghị, mong muốn của cơ quan chủ quản (người sử dụng thôngtin) Đối với những cuộc điều tra lớn ở nước ta, có liên quan đến toàn bộ đất nước,như Tổng điều tra dân số, việc xác định mục đích điều tra cần phải căn cứ vào địnhhướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, và đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ cụ thể Mục đích của cuộc tổng điều tra dân
số năm 1999 nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển kinh
tế - xã hội và dân số nước ta, Kiểm điểm tình hình thực hiện các nhiệm vụ liên quanđến dân số, lao động Trên cơ sở đó, đáp ứng yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2010
1.4.2 Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra
Xác định đối tượng điều tra là xác định xem những đơn vị tổng thể nào thuộcphạm vi điều tra, cần được thu thập thông tin Như vậy, khi các đối tượng điều trađược chỉ rõ, cũng có nghĩa là phạm vi nghiên cứu đã được xác định, gianh giới giữahiện tượng nghiên cứu với các tổng thể khác, hiện tượng khác cũng được phân biệt rõràng, tránh được tình trạng trùng lặp hay bỏ sót khi tiến hành điều tra
Muốn xác định chính xác đối tượng điều tra, một mặt phải dựa vào sự phân tích lýluận, nêu lên những tiêu chuẩn cơ bản phân biệt hiện tượng nghiên cứu với các hiệntượng liên quan, phân biệt đơn vị tổng thể này với các đơn vị tổng thể khác, đồng thời
Trang 12cũng còn phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu Trong cuộc tổng điều tra dân số ngày1/4/1999 ở nước ta, đối tượng điều tra được xác định là "nhân khẩu thường trú" Điềunày, vừa giúp thực hiện tốt các mục đích điều đã được nêu rõ trong mục trên, vừa giúpcho quá trình điều tra không bị trùng hay bỏ sót bất kỳ một nhân khẩu nào của nước ta.Tuy nhiên, trong phương án điều tra cũng cần phải những quy định cụ thể về tiêuchuẩn xác định "nhân khẩu thường trú" để tránh nhầm lẫn.
Đơn vị điều tra là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được điều tra thực tế Đơn vịđiều tra chính là nơi phát sinh các tài liệu ban đầu, điều tra viên cần đến đó thể thuthập trong mỗi cuộc điều tra Như vậy, nếu việc xác định đối tượng điều tra là trả lờicâu hỏi "điều tra ở đâu? Trong một số trường hợp, đơn vị điều tra và đối tượng điềutra có thể trùng nhau Ví dụ, trong cuộc điều tra nghiên cứu tình hình phát triển củacác doanh nghiệp công nghiệp nhà nước thành phố Thái Nguyên, thì cả đối tượng vàđơn vị điều tra đều là các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước của thành phố Nhưngcũng có nhiều trường hợp, chúng lại khác nhau Ví dụ, trong tổng điều tra dân số ở
nước ta ngày 1/4/1999, đối tượng điều tra là "nhân khẩu thường trú", còn đơn vị điều tra lại được xác định là các "hộ gia đình" và các "hộ tập thể" Trong các cuộc điều tra
chọn mẫu, đơn vị điều tra chỉ bao gồm những đối tượng được chọn vào mẫu
Cần phân biệt đơn vị điều tra và đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể là các phần tử,các đơn vị cấu thành hiện tượng, mà qua đó ta có thể xác định được quy mô tổng thể.Việc xác định số đơn vị tổng thể liên quan đến việc lập phương án điều tra, chọnphương pháp điều tra, ước lượng kinh phí điều tra còn việc xác định số đơn vị điềutra lại liên quan đến việc tổ chức ghi chép, đăng ký tài liệu, phân bổ cán bộ
1.4.3 Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra
Xác định nội dung điều tra là việc trả lời các câu hỏi "điều tra cái gì?" Nội dung
điều tra là toàn bộ các đặc điểm cơ bản của từng đối tượng, từng đơn vị điều tra, mà tacần thu được thông tin Trong thực tế, các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thường córất nhiều đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, ta không thể và cũng không cần thiết phảithu thập thông tin của toàn bộ các tiêu thức đó, mà chỉ cần những tiêu thức có liênquan đến mục đích nghiên cứu, phục vụ được cho việc nghiên cứu Vì vậy, bất kỳ cuộcđiều tra nào cũng cần phải xác định rõ, thật cụ thể nội dung điều tra
Việc xác định nội dung điều tra, cần căn cứ vào các yếu tố sau:
- Mục đích điều tra: Mục đích điều tra chỉ rõ cần thu thập những thông tin nào đểđáp ứng yêu cầu của nó Mục đích điều tra khác nhau, nhu cầu thông tin cũng khácnhau Mục đích càng nhiều, nội dung điều tra càng rộng, càng phong phú
Trang 13- Đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu: Tất cả những hiện tượng mà thống kênghiên cứu đều tồn tại trong những điều kiện cụ thể về thời gian và không gian Khiđiều kiện này thay đổi, đặc điểm của hiện tượng cũng thay đổi Khi đó, các biểu hiệncủa chúng cũng khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn tiêu thức nghiên cứu cũng phảikhác nhau.
- Năng lực, trình độ thực tế của đơn vị, của người tổ chức điều tra Điều này biểuhiện ở khả năng về tài chính, về thời gian, về kinh nghiệm và trình độ tổ chức điều tra.Nếu tất cả các yếu tố này được đảm bảo tốt, có thể mở rộng nội dung điều tra, nhưng vẫnđảm bảo chất lượng của các thông tin thu được Trường hợp ngược lại, cần kiên quyếtloại bỏ những nội dung chưa thực sự cần thiết
Ngoài ra, nội dung điều tra cũng chỉ nên bao gồm những tiêu thức có liên hệ chặtchẽ với nhau, để có thể kiểm tra tính chính xác của những thông tin thu được
Để có thể thu được những thông tin một cách chính xác và đầy đủ, nội dung củamỗi cuộc điều tra phải được diễn đạt thành những câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
và mọi người đều hiểu theo một nghĩa thống nhất Về mặt hình thức, các câu hỏi này
có thể được diễn đạt theo hai cách: Câu hỏi đóng là các câu hỏi đã có sẵn các phương
án trả lời (thang điểm) có thể người trả lời chỉ cần chọn 1 trong những cách trả lời đã
được đưa ra Câu hỏi mở không có trước những phương án trả lời, người được hỏi tự
diễn đạt câu trả lời Các cuộc điều tra thống kê ít sử dụng loại câu hỏi thứ hai này.Trong cuộc Tổng điều tra dân số được tiến hành vào 21/4/1999 ở nước ta, nội dungđiều tra được thể hiện trong 18 câu hỏi Những nội dung chủ yếu của cuộc tổng điềutra này là: Họ tên, quan hệ với chủ hộ, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi thực tế thườngtrú, tình trạng đi học và trình độ học vấn cao nhất đã đạt được, trình độ chuyên môn
kỹ thuật, tình trạng việc làm, lĩnh vực làm việc,
Phiếu điều tra là tập hợp các câu hỏi của nội dung điều tra, được sắp xếp theo một
trật tự logic nhất định Tuỳ theo yêu cầu, nội dung và đối tượng, mỗi cuộc điều tra cóthể phải xây dựng nhiều loại phiếu khác nhau Trong tổng điều tra dân số, người taxây dựng hai loại phiếu: Phiếu hộ và phiếu cá nhân Trong hai cuộc điều tra mứcsống dân cư Việt Nam (1997-1998 và 2002-2003) do Tổng cục Thống kê thực hiện,ngoài việc thu thập những thông tin chủ yếu từ các hộ gia đình, còn cần những thôngtin về cộng đồng, về giá cả thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của ngườidân, nên người ta phải sử dụng đến 5 loại phiếu khác nhau: Bảng câu hỏi hộ gia đình,bảng câu hỏi xã/thôn, bảng câu hỏi trường học, bảng câu hỏi trạm y tế và bảng câuhỏi về giá
Trang 14Thông thường, trong các văn kiện của cuộc điều tra, người ta còn ban hành bản giảithích cách ghi phiếu điều tra Bản giải thích này thường đi kèm theo phiếu điều tra vàngười trả lời nhận thức thống nhất các câu hỏi được đặt ra, cách thu thập và ghi chép sốliệu Đối với những câu hỏi phức tạp, khó trả lời người ta còn đặt ra những ví dụ cụ thể
và những quy định về các trường hợp ngoại lệ
1.4.4 Chọn thời điểm, thời kỳ và quyết định thời hạn điều tra
Các hiện tượng kinh tế - xã hội mà thống kê nghiên cứu luôn thay đổi theo thờigian và không gian Muốn thu thập được chính xác các thông tin về chúng, cần cóquy định thống nhất về thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra
Thời điểm điều tra: Là mốc thời gian được quy định thống nhất mà cuộc điều tra
phải thu thập thông tin về hiện tượng tồn tại đúng thời điểm đó, thì người trả lời phảihồi tưởng lại để "miêu tả trạng thái của hiện tượng" vào đúng thời điểm điều tra Ví dụ,thời điểm của cuộc tổng điều tra dân số lần thứ ba ở nước ta được xác định vào 0 giờngày 1/4/1999 Như vậy, số dân nước ta có tại cuộc điều tra này chỉ tính những ngườisinh trưởng 0 giờ 1/4/1999 và đến thời điểm này đang còn sống
Thời kỳ điều tra: Là khoảng thời gian (tuần, tháng, năm ) được quy định để thu
thập số liệu về lượng của hiện tượng được tích luỹ trong cả thời kỳ đó
Thời hạn điều tra: Là khoảng thời gian dành cho việc thực hiện nhiệm vụ thu thập
số liệu Thời hạn dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp của hiện tượngnghiên cứu và nội dung điều tra, khả năng, kinh nghiệm của điều tra viên Nhìnchung, thời hạn điều tra không nên quá dài, cách quá xa thời điểm điều tra vì có thểlàm mất thông tin do người trả lời không nhớ đầy đủ các sự kiện đã xảy ra
1.4.5 Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra
Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra là một vấn đề trọng yếu của điều trathống kê Kế hoạch này quy định cụ thể từng bước công việc phải tiến hành trong quátrình từ khâu tổ chức đến triển khai điều tra thực tế Vì vậy, nó được xây dựng càngchi tiết, tỷ mỉ, rõ ràng, cụ thể thì càng dễ thực thi, chất lượng của cuộc điều tra càngđược nâng cao Tuy nhiên, đây là một công việc phức tạp, đòi hỏi người lập kế hoạchphải có kinh nghiệm và am hiểu tình hình thực tế Một kế hoạch tổ chức và tiến hànhđiều tra gồm rất nhiều khâu công việc Thông thường, nó có thể gồm một số khâu chủyếu là:
- Thành lập ban chỉ đạo điều tra và quy định nhiệm vụ cụ thể cho cơ quan điều tracác cấp
- Chuẩn bị lực lượng cán bộ điều tra, phân công trách nhiệm, địa bàn cho từng cán
Trang 15- Lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp.
- Định các bước tiến hành điều tra
- Phân chia khu vực và địa bàn điều tra
- Tổ chức các cuộc hội nghị chuẩn bị
- Tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán
bộ điều tra và hoàn thiện phương án điều tra, phiếu điều tra
- Xây dựng phương án tài chính và chuẩn bị các phương tiện vật chất khác
- Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra
1.5 Xây dựng bản câu hỏi và kỹ thuật đặt câu hỏi
1.6 Sai số trong điều tra và biện pháp khắc phục
- Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa trị số của đặc điểm điều tra thuthập được so với trị số thực của hiện tượng nghiên cứu
Có hai nguyên nhân tạo ra sai số:
+ Sai số do ghi chép: Do người điều tra quan sát sai, sử dụng công cụ đo lường sai,
do vô tình ghi chép sai, đối tượng trả lời sai do không hiểu nội dung câu hỏi hoặc dongười điều tra và đối tượng điều tra cố tình làm sai
+ Sai số do tính chất đại biểu: Chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu do việc lựa chọn
số đơn vị mẫu để điều tra không đầy đủ tính chất đại biểu
- Biện pháp khắc phục:
+ Để hạn chế sai số, cần tập huấn kỹ nội dung điều tra, tuyển chọn điều tra viêntheo tiêu chuẩn nghiêm ngặt, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ đo lường nếu cuộc điều tra cần
và thường xuyên kiểm tra khi cuộc điều tra được tiến hành
+ Tài liệu thu thập cũng cần được kiểm tra về tính logíc, xem xét độ hợp lý của tàiliệu, phát hiện các bất thường để thẩm tra lại và kiểm tra về mặt tính toán (cộng hàng
và cột, đơn vị tính, biểu này và biểu trước) Làm tốt khâu này sẽ hạn chế được nhiềusai sót và không mất nhiều thời gian điều tra
II Tổng hợp thống kê
2.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của tổng hợp thống kê
* Khái niệm: Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống hoá
một cách khoa học các tài liệu ban đầu thu thập được trong điều tra thống kê
* ý nghĩa: Tổng hợp thống kê là căn cứ cho phân tích dự đoán thống kê; tổng hợp
thống kê chính xác làm cho kết quả điều tra trở nên có giá trị và tạo điều kiện chophân tích sâu sắc bản chất và tính quy luật của hiện tượng Tài liệu của điều tra thống
Trang 16kê dù có phong phú và chính xác, mà tổng hợp thống kê không khoa học thì cũngkhông rút ra được số liệu chính xác để làm căn cứ vững chắc cho phân tích, dự đoánthống kê.
* Nhiệm vụ: Tổng hợp thống kê là một công tác phức tạp, bao gồm nhiều công
việc cụ thể như: Phân chia tổng thể thành các tổ có tính chất khác nhau, xác định cácchỉ tiêu nói rõ đặc trưng của từng tổ cũng như của toàn bộ tổng thể, áp dụng một sốbiện pháp kỹ thuật để tính toán các con số cộng và tổng cộng, trình bày kết quả tổnghợp thành các bảng thống kê hoặc đồ thị thống kê Số đơn vị điều tra càng nhiều, nộidung điều tra càng phong phú thì công tác tổng hợp càng phức tạp và khó khăn, chonên, khi tổng hợp phải tiến hành theo một kế hoạch nhất định
2.2 Các vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê
2.2.1 Mục đích của tổng hợp thống kê
Phân tích và dự đoán thống kê phải dựa vào những tài liệu biểu hiện hình ảnh thựccủa tổng thể nghiên cứu Kết quả tổng hợp là căn cứ cho phân tích và dự đoán Chonên mục đích của tổng hợp thống kê là khái quát hoá những đặc trưng chung, những cơcấu tồn tại khách quan theo các mặt của tổng thể nghiên cứu bằng các chỉ tiêu thống
kê Khi xác định mục đích của tổng hợp thống kê phải căn cứ vào mục đích yêu cầutìm hiểu và phân tích những mặt nào của hiện tượng nghiên cứu, để nêu khái quát chỉtiêu cần đạt được trong tổng hợp
22.2 Nội dung tổng hợp
Nội dung tổng hợp là danh mục các biểu hiện của tiêu thức điều tra được chọn lọc vàtheo mỗi biểu hiện được phân chia thành các nhóm khác nhau để đáp ứng yêu cầu phảnánh các cơ cấu khác nhau phù hợp với mục đích nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp tổng hợp
Yêu cầu quan trọng nhất của tổng hợp là phải nêu lên được cơ cấu theo các mặt củatổng thể nghiên cứu Để đáp ứng yêu cầu này, người ta sử dụng phương pháp phân tổthống kê
Phân tổ thống kê là phương pháp phân chia các đơn vị của tổng thể vào các tổ (vàtiểu tổ) khác nhau theo từng tiêu thức nghiên cứu Trị số được tính toán ở mỗi tổ cho tamột cơ cấu về lượng cụ thể của tổng thể Việc phân chia các đơn vị tổng thể vào các tổkhông đơn giản mà phải tuân theo những căn cứ lý luận nhất định
2.2.4 Tổ chức và kỹ thuật tổng hợp
a Chuẩn bị tài liệu để tổng hợp
- Tập trung đầy đủ số lượng phiếu điều tra hoặc tài liệu khác để có thể đáp ứng
Trang 17- Phải đóng các câu hỏi mở, đối với những nội dung điều tra mở.
- Lượng hoá các biểu hiện của các tiêu thức thuộc tính
2.3 Phân tổ thống kê
2.3.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiện vụ của phân tổ thống kê
* Khái niệm: Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để
tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và tiểu tổ) cótính chất khác nhau
Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình số công nhân của một công ty, căn cứ vào tiêu
thức “giới tính” để chia tổng số nhân khẩu thành hai tổ: nam và nữ; còn căn cứ vàotiêu thức tuổi thì chia thành nhiều tổ có độ tuổi khác nhau
Giả sử ta chia thành 4 nhóm có độ tuổi giống nhau rồi ghi lại số công nhân rơi vàomỗi nhóm (tổ) Ta được bảng sau:
Bảng 2.1: Phân tổ công nhân theo độ tuổi
Độ tuổi (tuổi) Số công nhân (người)
Trang 18tính chất theo tiêu thức dùng làm căn cứ phân tổ Thông qua tài liệu đã được phân tổ
có thể nhận xét khái quát đặc trưng cơ bản của hiện tượng Cho nên có thể nói phân
tổ là phương pháp cơ bản để tổng hợp thống kê
- Phân tổ thống kê là một trong các phương pháp quan trọng của phân tích thống kê,đồng thời là cơ sở thực hiện các phương pháp thống kê khác Bởi vì, chỉ sau khi đã phânchia tổng thể phức tạp thành các tổ có tính chất đặc điểm khác nhau thì các chỉ tiêu phântích khác tính ra mới có ý nghĩa
* Nhiệm vụ:
- Phân chia các loại hình kinh tế - xã hội của hiện tượng nghiên cứu Bởi các loạihình của hiện tượng nghiên cứu tồn tại một cách khách quan, sự vận động và pháttriển của nó là kết quả đấu tranh giữa các loại hình đối lập tồn tại ngay trong bản thân
nó Do đó trong quá trình phân tích phải nêu rõ hiện tượng nghiên cứu bao gồmnhững loại hình nào Muốn vậy, phải dựa vào việc phân tích lý luận để phân biệt các
bộ phận khác nhau về tính chất tồn tại ngay trong hiện tượng đó
- Biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu Vì nghiên cứu kết cấu là nghiên cứutrình độ phổ biến của hiện tượng trong cả một tổng thể mà sự vận động của các hiệntượng không bao giờ đạt được một sự đồng đều Do vậy, ta phải nghiên cứu tính chấtcủa từng bộ phận để chỉ ra ưu điểm, nhược điểm trên cơ sở đó đề ra các biện pháp khắcphục nó trong tương lai
- Biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức Vì hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh
và biến động không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời mà chúng có mối liên hệ phụthuộc lẫn nhau theo những quy luật nhất định Do đó ta có thể nói, sự thay đổi của tiêuthức này dẫn đến sự thay đổi của tiêu thức khác Vì vậy, tìm hiểu tính chất và mức độliên hệ giữa các hiện tượng nói chung và giữa các tiêu thức nói riêng là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của phân tổ thống kê
2.3.2 Các loại phân tổ thống kê
* Phân tổ phân loại:
Phân tổ phân loại giúp ta nghiên cứu một cách có phân biệt các loại hình kinh tế - xãhội, nêu lên đặc trưng và mối quan hệ giữa chúng với nhau Từ việc nghiên cứu riêngbiệt mỗi loại hình đó, tiến thêm một bước nghiên cứu các đặc trưng của toàn bộ hiệntượng phức tạp, giải thích một cách sâu sắc bản chất và xu hướng phát triển của hiệntượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có thể phân loại các đơn vị theo nhiều tiêu thứckhác nhau Chẳng hạn, các Doanh nghiệp nước ta có thể phân loại theo thành phần
Trang 19* Phân tổ kết cấu
Các bảng phân tổ kết cấu được sử dụng rất phổ biến, mục đích nêu lên bản chấtcủa hiện tượng trong điều kiện nhất định và để nghiên cứu xu hướng phát triển củahiện tượng qua thời gian Kết cấu của tổng thể phản ánh một trong các đặc trưng cơbản của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Chẳng hạn sự thayđổi kết cấu về tổng sản phẩm trong nước phân theo nhóm ngành kinh tế trong quátrình phát triển của Việt Nam như sau:
Bảng 2.2 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo nhóm ngành giai đoạn 2000
-2007 Đơn vị %n v %ị %
Tổng sản phẩm trong nước
phân theo nhóm ngành 2002 2003 2004 2005 2006
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 24,53 23,24 23,03 22,54 21,76
Công nghiệp và xây dựng 36,73 38,13 38,49 39,47 40,09
(Nguồn: Niên giám Thống kê 2004 trang 71)
Qua bảng phân tổ kết cấu trên, sự thay đổi về tỉ trọng của 3 nhóm ngành đã nói lênmột phần quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành ở Việt Nam, cụ thể nhóm ngành côngnghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn và đang có xu hướng tăng, nhóm ngành nông,lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng nhỏ lại đang có xu hướng giảm
ý nghĩa:
- Phân tổ kết cấu giúp ta có thể so sánh được bản chất của các hiện tượng cùngloại trong điều kiện không gian khác nhau Ví dụ: So sánh cơ cấu cây trồng ở 2 địaphương, cơ cấu giống lúa của hai hợp tác xã…
- Phân tổ kết cấu còn được vận dụng trong phân tích thực hiện kế hoạch để thấy rõ
tỉ trọng các bộ phận chưa hoàn thành, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch
Từ đó có thể đánh giá việc thực hiện kế hoạch; xem xét lại việc đặt kế hoạch
* Phân tổ liên hệ
Các tiêu thức có liên hệ với nhau được phân biệt thành hai loại: tiêu thức nguyên
nhân và tiêu thức kết quả Tiêu thức nguyên nhân là tiêu thức gây ảnh hưởng; sự biến
động của tiêu thức này sẽ dẫn đến sự thay đổi (tăng hoặc giảm) của tiêu thức phụ thuộc
mà ta gọi là tiêu thức kết quả một cách có hệ thống Như vậy, các đơn vị tổng thể trước
hết được phân tổ theo một tiêu thức (thường là tiêu thức nguyên nhân), sau đó trongmỗi tổ tiếp tục tính các trị số bình quân của tiêu thức còn lại (thường là tiêu thức kếtquả) Quan sát sự biến thiên của hai tiêu thức này có thể giúp ta kết luận về tính chấtcủa mối liên hệ giữa hai tiêu thức Như trong nhiều doanh nghiệp ta thường nhận thấy
Trang 20có mối liên hệ giữa năng suất lao động và giá thành đơn vị sản phẩm càng có điều kiệngiảm Nếu ta phân tổ các doanh nghiệp trong cùng một ngành theo năng suất lao động,sau đó từ mỗi tổ tính ra giá thành bình quân đơn vị sản phẩm, thì các kết quả tính toán
sẽ cho thấy rõ mối liên hệ giữa năng suất lao động (là tiêu thức nguyên nhân) và giáthành đơn vị sản phẩm (là tiêu thức kết quả)
Phân tổ liên hệ còn có thể được vận dụng để nghiên cứu mối liên hệ giữa nhiềutiêu thức Có thể nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lúa với lượng phân bón,lượng nước tưới, mật độ cấy ; hoặc nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lao độngcủa công nhân với tuổi nghề, bậc thợ, trình độ trang bị kỹ thuật
Khi phân tổ liên hệ giữa nhiều tiêu thức (ví dụ 3 tiêu thức) trước hết tổng thể đượcphân tổ theo một tiêu thức nguyên nhân, sau đó mỗi tổ lại được chia thành các tiểu tổtheo tiêu thức nguyên nhân thứ hai, cuối cùng tính trị số tổng hoặc bình quân của tiêuthức kết quả cho từng tổ và tiểu tổ đó Sau đây là ví dụ về mối liên hệ giữa năng suấtlao động với trình độ kỹ thuật và tuổi nghề của công nhân trong một doanh nghiệp,được trình bày dưới bảng phân tổ kết hợp như sau:
B ng 2.3: M i liên h gi a n ng su t lao ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ăng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi động với trình độ kỹ thuật và tuổing v i trình ới trình độ kỹ thuật và tuổi động với trình độ kỹ thuật và tuổi ỹ thuật và tuổi k thu t v tu iật và tuổi à tuổi ổi
nghề
Phân tổ công nhân
Số công nhân
Sảng lượng
cả năm (tấn)
NS lao động bình quân năm (tấn)
Đã được đào tạo
kỹ thuật
Theo tuổi nghề (năm)
Đã được đào tạo
kỹ thuật
Dưới 5 5-10 10-15 15-20
20 trở lên
15 40 40 15 10
1.125 3.750 4.200 1.725 1.200
75 94 105 115 120
Chưa được đào
tạo kỹ thuật
Dưới 5 5-10 10-15 15-20
20 trở lên
10 30 20 10 10
510 2.140 1.580 860 910
51 71 79 86 91
2.3.3 Tiêu thức phân tổ và chỉ tiêu giải thích
a Tiêu thức phân tổ
Tiêu thức phân tổ là tiêu thức được chọn làm căn cứ để tiến hành phân tổ thống
kê Lựa chọn tiêu thức phân tổ là vấn đề quan trọng đầu tiên phải đề ra và giải quyết
Trang 21chính xác Tuy các đơn vị tổng thể có rất nhiều tiêu thức khác nhau, nhưng chúng takhông thể tuỳ tiện chọn bất kỳ tiêu thức nào làm căn cứ phân tổ.
Những yêu cầu sau đây về lựa chọn tiêu thức phân tổ
- Phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc để chọn ra tiêu thức bảnchất nhất, phù hợp với mục đích nghiên cứu
- Phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu để chọn ratiêu thức phân tổ thích hợp
- Phải tuỳ theo mục đích nghiên cứu và điều kiện tài liệu thực tế mà quyết địnhphân tổ hiện tượng theo một hay nhiều tiêu thức
b Các chỉ tiêu giải thích
Trong phân tổ thống kê, sau khi đã lựa chọn được tiêu thức phân tổ, xác định số tổcần thiết và khoảng cách tổ, còn phải xác định các chỉ tiêu giải thích để nói rõ đặctrưng của các tổ cũng như của toàn bộ tổng thể Chẳng hạn, sau khi phân tổ các doanhnghiệp theo khu vực và thành phần kinh tế, có thể đưa ra một số chỉ tiêu giải thích ởbảng 2.4 như sau:
Bảng 2.4: Bảng phân tổ các doanh nghiệp theo khu vực kinh tế và thành phố
n m 2003ăng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi
Phân tổ các DN theo thành phần
Số LĐ (người)
DT thuần (tỷ đồng)
DT thuần b/quân 1 LĐ (tr.đ/người)
DN liên doanh với nước ngoài 772 172.534 161.774 938
Khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài 2.641 860.259 292.932 341
Khu vực DN ngoài Nhà nước 64.526 2.049.891 485.104 237
(Nguồn: Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2002, 2003, 2004- Nhà xuất
bản Thống kê)
Trang 22Mỗi chỉ tiêu giải thích có ý nghĩa quan trọng riêng giúp ta thấy rõ các đặc trưng sốlượng của từng tổ cũng như của toàn bộ tổng thể, làm căn cứ để so sánh các tổ vớinhau và để tính ra hàng loạt chỉ tiêu phân tích khác Muốn xác định các chỉ tiêu giảithích, chủ yếu phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của phân tổ để chọn
ra các chỉ tiêu có liên hệ tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau nên chỉ tiêu giải thíchchọn ra phải hợp lý mới thoả mãn được mục đích nghiên cứu.Cũng cần chú ý tới mốiquan hệ nhất định giữa tiêu thức phân tổ với các chỉ tiêu giải thích Chẳng hạn, khiphân tổ các xí nghiệp theo quy mô, thì các chỉ tiêu giải thích như: Số lượng lao động,giá trị tài sản cố định, giá trị sản xuất là những chỉ tiêu giúp ta hiểu rõ thêm về quy
mô của xí nghiệp Trái lại, nếu chọn các chỉ tiêu giải thích như: mức độ hoàn thành
kế hoạch, tiền lương bình quân… thì các chỉ tiêu này thường không trực tiếp chịuảnh hưởng bởi quy mô của xí nghiệp
Mỗi chỉ tiêu giải thích có ý nghĩa quan trọng riêng giúp ta thấy rõ các đặc trưng sốlượng của từng tổ cũng như của toàn bộ tổng thể, làm căn cứ để so sánh các tổ vớinhau và để tính ra hàng loạt chỉ tiêu phân tích khác Tuy nhiên, cũng không nên đề raquá nhiều chỉ tiêu, mà phải lựa chọn một số chỉ tiêu nào thích hợp nhất đối với mụcđích nghiên cứu
2.3.4 Các bước tiến hành phân tổ theo một tiêu thức
* Lựa chọn tiêu thức phân tổ: là bước đầu tiên làm cơ sở để tiến hành phân tổ.
Lựa chọn tiêu thức chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu thì kết quả phân tổmới thực sự có ích cho việc phân tích đặc điểm và bản chất của hiện tượng Việc lựachọn phải đảm bảo các yêu cầu đã trình bày ở trên
* Xác định số tổ và khoảng cách tổ
a Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính
Sự khác nhau giữa các tổ được biểu hiện bằng sự khác nhau giữa các loại hình.Nếu loại hình nêu số lượng ít ta có thể coi mỗi loại hình là một tổ Vậy có bao nhiêuloại hình sẽ phân làm bấy nhiêu tổ Trong một số trường hợp nêu số lượng nhiều vàphức tạp, nếu coi mỗi loại hình là một tổ thì tổng thể nghiên cứu bị chia nhỏ Đặc trưngcủa hiện tượng không được biểu hiện Do đó ta phải ghép một số loại hình nhỏ vớinhau vào một tổ theo nguyên tắc chúng phải giống nhau hoặc gần giống nhau về mộttính chất hay một công dụng kinh tế - xã hội nào đó
b Phân tổ theo tiêu thức số lượng
Đối với tiêu thức số lượng việc xác định số tổ và khoảng cách của từng tổ cũng cónét phức tạp riêng của nó Làm sao để gom được những đơn vị có tính chất, đặc điểm
Trang 23- Trường hợp các lượng biến biến thiên ít và rời rạc: Số lượng người trong giađình, số điểm kết quả học tập, số máy do một công nhân phụ trách,… ở đây vì lượngbiến thiên của tiêu thức phân tổ chỉ thay đổi trong phạm vi hẹp và biến động rời rạcnên việc xác định số tổ sẽ rất đơn giản Có thể cứ mỗi lượng biến là cơ sở hình thànhmột tổ, hoặc ghép một số lượng biến vào một tổ tuỳ theo đặc tính của hiện tượng vàmục đích nghiên cứu.
- Trường hợp các lượng biến biến thiên nhiều và rời rạc hoặc liên tục: nếu mỗilượng biến hình thành một tổ thì số tổ sẽ quá nhiều mà không nói rõ sự khác nhau vềchất giữa các tổ Khi đó ta cần chú ý tới mối liên hệ giữa lượng và chất trong phân tổ.Tức là phải xem xét sự thay đổi về lượng đến mức độ nào thì bản chất của hiện tượngthay đổi và làm nảy sinh ra tổ khác Như vậy, mỗi tổ sẽ bao gồm một phạm vi lượngbiến, có hai giới hạn rõ rệt: Giới hạn dưới là lượng biến nhỏ nhất để làm cho tổ đượchình thành còn giới hạn trên là lượng biến lớn nhất của tổ, nếu vượt quá giới hạn nàythì chất lượng thay đổi và chuyển sang tổ khác Trị số chênh lệch giữa giới hạn trên và
giới hạn dưới của mỗi tổ gọi là khoảng cách tổ Khoảng cách tổ có thể bằng nhau hoặc
d i = x Max – x Min
Phân tổ có khoảng cách tổ không bằng nhau có nhược điểm là khó giải thích về tần sốphân phối
B ng 2.5 Phân t công nhân c a m t công ty nh sauổi ủa khoảng cách ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ư sau
(người)
Hay
Trang 24Phân tổ công nhân Số công nhân
(người)
5-1010-1515-20
20 trở lên
40401510
Chưa được đào tạo kỹ thuật
Dưới 55-1010-1515-20
20 trở lên
1030201010
2.4 Trình bày số liệu thống kê
2.4.1 Bảng thống kê
2.4.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của bảng thống kê
* Khái niệm: Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách
có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên đặc trưng về mặt lượng của hiện tượngnghiên cứu
* ý nghĩa: Bảng thống kê có nhiều tác dụng trong nghiên cứu kinh tế xã hội Các
tài liệu trong bảng thống kê được sắp xếp một cách khoa học giúp cho ta tiến hànhđối chiếu, so sánh, phân tích theo các phương pháp khác nhau nhằm nêu lên một cáchsâu sắc về bản chất của hiện tượng nghiên cứu
2.4.1.2 Cấu tạo của bảng thống kê
* Về hình thức
Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và các số liệu Cáchàng ngang và cột dọc phản ánh quy mô của bảng Số hàng ngang và cột dọc càng nhiềuthì bảng thống kê càng lớn và phức tạp Các hàng ngang, cột dọc cắt nhau tạo thành các
ô dùng để điền các số liệu thống kê vào đó Các hàng ngang, cột dọc thường được đánh
số thứ tự để tiện cho việc sử dụng và trình bày vấn đề
Tiêu đề của bảng phản ánh nội dung của bảng và của từng chi tiết trong bảng.Trước hết có tiêu đề chung, là tên chung của bảng, thường viết ngắn, gọn, dễ hiểu vàđặt phía trên đầu mỗi bảng Các tiêu đề nhỏ (tiêu mục) là tên riêng của mỗi hàng vàcột phản ánh rõ nội dung của các hàng, cột đó
* Về nội dung
Bảng thống kê gồm hai phần: Phần chủ đề và phần giải thích.
Trang 25- Phần chủ đề: Nêu lên tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng thống kê.
Tổng thể này được phân thành các bộ phận, nó giải thích đối tượng nghiên cứu lànhững đơn vị nào, loại hình nào Có khi phần chủ đề là các địa phương hoặc thời giannghiên cứu khác nhau của hiện tượng nào đó
- Phần giải thích: Gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên
cứu, nghĩa là giải thích phần chủ đề của bảng
Phần chủ đề thường đặt bên trái của bảng còn phần giải thích thì đặt phía trên của bảng
Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện như sau:
Bảng 2.6: Tên bảng thống kê (tiêu đề chung)
* Bảng đơn giản: Là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ sắp xếp các đơn vị
tổng thể theo tên gọi, theo địa phương hoặc theo thời gian nghiên cứu
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất tháng 1/2007 của các Doanh nghiệp tại thành phố X
Tên
xí nghiệp
Số công nhân (người)
Giá trị sản lượng (triệu đồng)
NSLĐ bình quân/ 1 công nhân
2837,6 1254,2
53947 53335
* Bảng phân tổ: Là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đề
được chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó
Bảng 2.8: Các xí nghiệp công nghiệp thuộc khu vực N năm 2007
Phân tổ các xí nghiệp theo số công nhân viên (người) Tổng số xí nghiệp (xn)
Thực chất của bảng này là phân tổ theo một tiêu thức
Trang 26* Bảng kết hợp: Là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần chủ
đề được phân tổ theo hai, ba tiêu thức kết hợp với nhau Nó dùng để biểu hiện kết quảcủa việc phân tổ theo nhiều tiêu thức
Bảng 2 9: Bảng phân tổ các Doanh nghiệp theo ngành kinh tế
(đơn vị %n v tính: doanh nghi p)ị % ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi
3.2.Thông tin liên lạc
2.4.1.4 Những yêu cầu đối với việc xây dựng bảng thống kê
Quy mô của bảng không nên quá lớn (không nên quá nhiều tổ và nhiều chỉ tiêu)
Các tiêu đề và tiêu mục trong bảng thống kê cần được ghi chính xác, đầy đủ, gọn và dễhiểu
Trong trường hợp cần thiết các hàng và cột thường được kí hiệu bằng chữ hoặc số đểtiện trình bày và theo dõi
Các chỉ tiêu giải thích trong bảng thống kê cần được sắp xếp theo thứ tự hợp lý, phù hợpvới mục đích nghiên cứu, các chỉ tiêu có liên hệ với nhau nên sắp xếp gần nhau
Cách ghi các kí hiệu vào bảng thống kê Theo nguyên tắc các ô trong bảng thống kê dùng
để ghi số liệu, song nếu không có số liệu thì dùng các kí hiệu qui ước sau đây:
- Kí hiệu (-) biểu hiện cho hiện tượng không có số liệu đó
- Kí hiệu (…) biểu hiện số liệu còn thiếu sẽ bổ sung sau
- Kí hiệu (x) nói lên hiện tượng không có liên quan đến điều đó, nếu viết số liệuvào ô đó sẽ vô nghĩa
Trang 27Phần ghi chú ở cuối bảng thống kê dùng để giải thích rõ nội dung của một số chỉtiêu trong bảng, để nói rõ các nguồn tài liệu đã sử dụng trong bảng hoặc các chi tiếtcần thiết khác.
Trong bảng thống kê bao giờ cũng phải có đơn vị tính cụ thể cho từng chỉ tiêu
2.4.2 Đồ thị thống kê
a Khái niệm và ý nghĩa của đồ thị thống kê
* Khái niệm: Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để
miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê
* ý nghĩa: Đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp hình vẽ, đường nét và màu sắc
để trình bày và phân tích đặc trưng của hiện tượng nghiên cứu Ngoài ra đồ thị còngiúp ta kiểm tra độ chính xác bằng hình ảnh của các thông tin
Trang 281 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
S¶n l îng
- Bản đồ thống kê
3.3 Những yêu cầu chung đối với việc xây dựng đồ thị thống kê
Khi xây dựng một đồ thị thống kê phải chú ý sao cho người đọc dễ xem, dễhiểu và đảm bảo chính xác Muốn vậy cần chú ý:
(a) Xác định qui mô của đồ thị cho vừa phải Qui mô của đồ thị được quyết định bởichiều dài, chiều cao và quan hệ tỷ lệ giữa hai chiều đó Và qui mô to hay nhỏ cònphụ thuộc vào mục đích sử dụng
(b) Lựa chọn các loại đồ thị cho phù hợp vì mỗi loại đồ thị đều có khả năng diễn tảnhiều khía cạnh
(c) Các thang đo tỷ lệ và độ rộng của đồ thị phải được xác định chính xác Ta biếtrằng thang đo tỷ lệ giúp cho việc tính chuyển các đại lượng lên đồ thị theo khoảngcách thích hợp Và độ rộng của đồ thị cũng phải xây dựng cho phù hợp
c Những yêu cầu chung đối với việc xây dựng đồ thị thống kê
Khi xây dựng một đồ thị thống kê phải chú ý sao cho người đọc dễ xem, dễ hiểu
và đảm bảo chính xác Muốn vậy cần chú ý:
Xác định qui mô của đồ thị cho vừa phải Qui mô của đồ thị được quyếtđịnh bởi chiều dài, chiều cao và quan hệ tỷ lệ giữa hai chiều đó Và qui mô to haynhỏ còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng
Lựa chọn các loại đồ thị cho phù hợp vì mỗi loại đồ thị đều có khả năngdiễn tả nhiều khía cạnh
Trang 29 Các thang đo tỷ lệ và độ rộng của đồ thị phải được xác định chính xác.
Ta biết rằng thang đo tỷ lệ giúp cho việc tính chuyển các đại lượng lên đồ thị theokhoảng cách thích hợp Và độ rộng của đồ thị cũng phải xây dựng cho phù hợp
Bài tập chương 2
B i 1 C quan b o v môi trà tuổi ơn vị % ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ư sauờng lấy các mẫu nước từ 12 sông và suốing l y các m u nất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ẫu nước từ 12 sông và suối ư sauới trình độ kỹ thuật và tuổi ừ 12 sông và suốic t 12 sông v su ià tuổikhác nhau, sau ó đ đư saua v o phòng thí nghi m à tuổi ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi để xác định tỷ lệ ô nhiễm cho từng xác đị %nh t l ô nhi m cho t ngỷ lệ ô nhiễm cho từng ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ễm cho từng ừ 12 sông và suối
m u nẫu nước từ 12 sông và suối ư sauới trình độ kỹ thuật và tuổic K t qu xét nghi m nh sau:ết quả xét nghiệm như sau: ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ư sau
Mẫu nước Tỷ lệ ô nhiễm (%) Mẫu nước Tỷ lệ ô nhiễm (%)
a Sắp xếp số liệu theo thứ tự giảm dần
b Xác định số mẫu nước có tỷ lệ nhiễm bẩn trong khoảng 30-40; 40-50; 50-60; 70
60-c Nếu theo các nhà khoa học tỷ lệ nhiễm bẩn 45% trở lên là quá mức thì cóbao nhiêu mẫu rơi vào trường hợp này
B i 2 T i m t to báo, ngà tuổi ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi à tuổi ư sauờng lấy các mẫu nước từ 12 sông và suốii ta thu th p thông tin v th i gian c n thi t ật và tuổi ề ờng lấy các mẫu nước từ 12 sông và suối ần thiết để ết quả xét nghiệm như sau: để xác định tỷ lệ ô nhiễm cho từng
ho n th nh trang nh t c a t báo Thu th p trong 50 ng y li n v à tuổi à tuổi ất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ủa khoảng cách ờng lấy các mẫu nước từ 12 sông và suối ật và tuổi à tuổi ề à tuổi đư sauợc số liệuc s li uệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổisau (đơn vị %n v tính: Phút)ị %
B i 3 Có t i li u sau ây c a 50 công nhân úc bê tông c a m t Xí nghi p Aà tuổi à tuổi ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi đ ủa khoảng cách đ ủa khoảng cách ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi
n m 2006ăng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi
Mức độ
cơ giới hoá lao động
Năng suất lao động ngày
ST T
Bậc thợ
Tuổi nghề (năm )
Mức độ
cơ giới hoá lao động
Năng suất lao động ngày
Trang 30Hãy phân tổ công nhân để nghiên cứu mối liên hệ:
a Giữa năng suất lao động và bậc thợ (3 tổ)
b Giữa năng suất lao động và tuổi nghề (3 tổ)
c Giữa năng suất lao động và mức độ cơ giới hoá lao động (3 tổ)
Mỗi phân tổ rút ra nhận xét
Bài 4 Phân tổ công nhân theo tài liệu bài 4 để nghiên cứu mối liên hệ:
a Giữa năng suất lao động với tuổi nghề, mức độ cơ giới hoá lao động
b Giữa năng suất lao động với tuổi nghề bậc thợ
c Giữa năng suất lao động với mức độ cơ giới hoá lao động, bậc thợ
Rút ra nhận xét qua mỗi bản phân tổ
Trang 31Chương 3 CÁC MỨC ĐỘ CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ XÃ HỘI
Mọi hiện tượng kinh tế - xã hội đều tồn tại trong những điều kiện không gian,thời gian nhất định và mặt lượng của hiện tượng được biểu hiện ở các mức độ khácnhau với nội dung phản ánh khác nhau Ta có thể sử dụng các chỉ tiêu để đo lường,tính toán các mức độ này như số tuyệt đối, số tương đối, các đặc trưng đo lườngkhuynh hướng tập trung, các đặc trưng đo lường độ phân tán nhằm nêu lên đặc trưngphân phối của dãy số Sau đây ta sẽ đi nghiên cứu nội dung và phương pháp tính củamột số chỉ tiêu trên
I Số tuyệt đối
1.1 Khái niệm và đặc điểm
Số tuyệt đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện qui mô, khối lượng của hiện
tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Ví dụ: Tổng dân số nước ta lúc 0h ngày 1/4/1999 là 76.324.753 người.
Số tuyệt đối có thể biểu hiện bằng số đơn vị tổng thể của một tổng thể nào đónhư: số nhân khẩu, số doanh nghiệp, số công nhân, … hoặc là trị số của một chỉ tiêukinh tế nào đó như: tổng sản lượng, tổng chi phí sản xuất, tổng số tiền lương,…
Đặc điểm của số tuyệt đối trong thống kê là gắn liền với hiện tượng kinh tế - xãhội cụ thể, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Số tuyệt đối trong thống kêphải thông qua các giai đoạn điều tra, thu thập, tổng hợp thực tế mà có và phải có đơn
vị tính cụ thể (Tuỳ theo tính chất của hiện tượng và mục đích nghiên cứu chúng tathường có: đơn vị tự nhiên như: cái, con, chiếc, ; đơn vị đo lường như: m, kg, lít,…;đơn vị giá trị như: đồng, triệu đồng, $,…; đơn vị thời gian lao động như: ngày công,giờ công,… )
1.2 ý nghĩa
- Số tuyệt đối có ý nghĩa quan trọng, giúp ta nhận thức được một cách cụ thể
về quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu, thấy rõ được các kết quả đạt được
về phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước, tiềm năng của nền kinh tế quốc dân Sốtuyệt đối chính xác là chân lý khách quan có sức thuyết phục rất lớn
- Số tuyệt đối là số liệu đầu tiên để tiến hành phân tích thống kê, đồng thời là
cơ sở để tính ra số tương đối và số bình quân
- Số tuyệt đối trong thống kê còn là căn cứ không thể thiếu được trong việc xâydựng các chương trình dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức chỉ đạothực hiện chúng
Trang 321.3 Các loại số tuyệt đối
Tuỳ theo tính chất của hiện tượng có thể phân biệt 2 loại số tuyệt đối:
1.3.1 Số tuyệt đối thời điểm
Số tuyệt đối thời điểm phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng tại một
thời điểm nhất định
Ví dụ: Số lao động của 1 xí nghiệp có vào ngày 1/1/2005 là 150 người; giá trị TSCĐ
của một đơn vị có ngày 12/02/2005 là 3 tỷ đồng; hay giá trị hàng tồn kho của cửahàng X vào ngày 1/1/2005 là 2 tỷ đồng;…
Như vậy, số tuyệt đối thời điểm chỉ phản ánh tình hình của hiện tượng tại mộtthời điểm nào đó, trước và sau thời điểm đó trạng thái của hiện tượng có thể thay đổi
Đặc điểm của số tuyệt đối thời điểm là không có sự tích luỹ về lượng, trị số củachỉ tiêu lớn hay nhỏ không phụ thuộc vào thời gian nghiên cứu dài hay ngắn
Ví dụ: Giá trị TSCĐ của Công ty A có ngày 1/2/2005 là 30 triệu đồng Giá trị TSCĐ
của Công ty A có ngày 2/2/2005 là 30 triệu đồng Ta không thể nói giá trị TSCĐ củaCông ty A trong 2 ngày là 60 triệu đồng vì nó không có ý nghĩa
1.3.2 Số tuyệt đối thời kì
Số tuyệt đối thời kì phản ánh qui mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu
trong một độ dài thời gian nhất định Nó được hình thành thông qua sự tích luỹ(cộng dồn) về lượng của hiện tượng trong suốt thời gian nghiên cứu Các con số tuyệtđối thời kì của cùng một chỉ tiêu có thể cộng được với nhau để có trị số của thời kì dàihơn Thời kỳ tính toán càng dài, trị số của chỉ tiêu càng lớn
Ví dụ:
Tại một Doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản tại một địa phương A nhưsau: (ĐVT: triệu đồng)
- Doanh thu ngày đầu tháng: 2
- Doanh thu ngày thứ 2 của tháng: 4,5
- Doanh thu ngày thứ 3 của tháng: 5
- …
- Doanh thu ngày cuối cùng trong tháng: 12
Vậy, tổng doanh thu cả tháng là: 108 (Đây là con số tuyệt đối của thời kỳ - trong 1tháng)
II Số tương đối
2.1 Khái niệm và ý nghĩa của số tương đối
Số tương đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức
Trang 33sánh giữa hai mức độ của hiện tượng khác nhau nhưng lại có liên quan với nhau,hoặc so sánh bộ phận với tổng thể và giữa các bộ phận trong cùng một tổng thể.
Ví dụ:
Giá trị sản lượng chè tại công ty chè Sông Cầu năm 2003: 10tỷ
Và giá trị sản lượng chè tại công ty chè Sông Cầu năm 2004: 12 tỷ
Khi đó ta có thể so sánh được giá trị sản lượng chè năm 2004 với năm 2003
như sau:
GTSL năm 2004 = 12 = 1,2 (lần) hay 120%
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tính chỉ tiêu:
Mật độ dân số = Tổng dân số bình quân = …
(người/km 2 )
Tổng diện tích
Số tương đối có ý nghĩa rất quan trọng và là một trong những chỉ tiêu phântích thống kê Nó phân tích được các đặc điểm của hiện tượng, nghiên cứu các hiệntượng trong mối quan hệ so sánh với nhau Do vậy, số tương đối cũng cần thiết trongcông tác xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Ngoài ra, nó còn sử dụng
để công bố khi muốn giữ bí mật của số tuyệt đối
* Số tương đối có đặc điểm và hình thức biểu hiện như sau:
- Số tương đối không có sẵn trong thực tế (nó phụ thuộc vào số tuyệt đối)
- Mỗi con số tương đối đều phải có gốc để so sánh và quan hệ so sánh phải có
ý nghĩa
- Hình thức biểu hiện của số tương đối là %, ‰, số lần, đơn vị kép,
2.2 Các loại số tương đối
Căn cứ vào nội dung phản ánh, có thể chia số tương đối thành các loại sau:
2.2.1 Số tương đối động thái (phát triển)
Số tương đối động thái là kết quả so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng cùng
loại nhưng khác nhau về thời gian Số tương đối phản ánh sự biến động của hiệntượng nghiên cứu theo thời gian nên nó còn được gọi là tốc độ phát triển hay chỉ sốphát triển
t (lần) t: Số tương đối động thái
y1: Mức độ của HT kỳ nghiên cứu
Trang 34Để tính được số tương đối động thái chính xác cần phải đảm bảo tính chất sosánh được giữa các mức độ của kỳ nghiên cứu và kỳ gốc Cụ thể phải đảm bảo giốngnhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính và đơn vị tính, về phạm vi và độ dàithời gian mà mức độ phản ánh.
2.2.2 Số tương đối kế hoạch
Số tương đối kế hoạch được dùng để xây dựng kế hoạch và kiểm tra tình hìnhthực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội Và có hai loại số tương đối kế hoạch là:
*Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch là tỷ lệ so sánh giữa mức độ kế hoạch với
mức độ thực tế của chỉ tiêu ấy tại kỳ gốc
Knk: Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch
ykh : Mức độ của hiện tượng kỳ kế hoạch
y0 : Mức độ của hiện tượng kỳ gốc
*Số tương đối thực hiện kế hoạch là tỷ lệ so sánh giữa mức độ thực tế đạt được
trong kỳ nghiên cứu với mức độ kế hoạch đặt ra cùng kỳ của một chỉ tiêu nào đó
kh
y
y
Ktk: Số tương đối thực hiện kế hoạch
ykh : Mức độ của hiện tượng kỳ kế hoạch
y1 : Mức độ của hiện tượng kỳ nghiên cứu
* Mối liên hệ giữa số tương đối động thái (t) và số tương đối kế hoạch (K)
y y
y Ktk Knk
Ta nói rằng: Số tương đối động thái bằng tích số giữa số tương đối nhiệm vụ
kế hoạch và số tương đối thực hiện kế hoạch
Trang 35Số tương đối thực hiện hoạch năm 2013:
Như vậy mối liên hệ giữa ba số tương đối trên là:
x
Số tương đối thực hiện kế hoạch
2.2.3 Số tương đối kết cấu
Số tương đối kết cấu xác định tỷ trọng của mỗi bộ phận có trong tổng thể
số tương đối kết cấu có liên quan mật thiết với phương pháp phân tổ thống kê
Ví dụ: Một lớp có 60 sinh viên trong đó có 38 sinh viên nam Hãy tính tính tỷ trọng
sinh viên nữ trong lớp
Giải
Ta có số sinh viên nữ trong lớp học là: 60 – 38 = 22 (SV)
Vậy tỷ trọng sinh viên nữ trong lớp là: 100 % 36 , 67
60
22
2.2.4 Số tương đối cường độ
Số tương đối cường độ là kết quả so sánh mức độ của hai hiện tượng khác nhau
nhưng có liên quan tới nhau Trong đó: Mức độ của hiện tượng cần nghiên cứu đặt ở
tử số, còn mức độ của hiện tượng có liên quan được đặt ở mẫu số
Ví dụ: Mật độ dân số, GDP trên đầu người, số bác sĩ trên 1000 dân,…
Số tương đối cường độ được dùng để phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng,
nó được sử dụng rộng rãi để biểu hiện trình độ phát triển sản xuất, trình độ đảm bảo mức
Trang 36sống vật chất và văn hoá của dân cư của một nước Các chỉ tiêu này thường dùng để sosánh trình độ phát triển sản xuất, đời sống giữa các nước khác nhau.
2.2.5 Số tương đối không gian
Số tương đối so sánh là kết quả so sánh giữa các bộ phận trong cùng một tổng thểhoặc là kết quả so sánh giữa hai hiện tượng cùng loại nhưng khác nhau về không gian
Ví dụ: So sánh giá chè tươi tại Thái Nguyên với Phú Thọ,…
2.3 Điều kiện vận dụng chung số tương đối và số tuyệt đối
- Khi sử dụng số tương đối và số tuyệt đối phải xét đến đặc điểm của hiệntượng để đưa ra kết luận cho đúng đắn
- Phải vận dụng kết hợp cả số tương đối và số tuyệt đối ta sẽ nhận thức đượcsâu sắc và chính xác đặc điểm của hiện tượng cả về quy mô và sự hơn kém, to nhỏ,…
III Số bình quân
3.1 Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm của số bình quân
Số bình quân trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện mức độ đại biểu theo một tiêu
thức số lượng nào đó của tổng thể bao gồm nhiều đơn vị cùng loại
Số bình quân có thể so sánh về không gian các hiện tượng không cùng quy
mô như: so sánh giá thành bình quân, năng suất lao động bình quân, tiền lương bìnhquân giữa các doanh nghiệp,…Theo dõi sự biến động của số bình quân theo thời gian
có thể thấy được xu hướng phát triển và tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu Sốbình quân còn được dùng để xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Sốbình quân có ý nghĩa trong việc vận dụng nhiều phương pháp phân tích thống kê như:Phân tích biến động, phân tích mối liên hệ, điều tra chọn mẫu, dự đoán thống kê,…
*Đặc điểm và hình thức biểu hiện:
- Số bình quân chịu tác động bởi giá trị mỗi quan sát (khi lượng biến của mỗi
quan sát thay đổi thì giá trị trung bình cũng thay đổi theo) Số bình quân chỉ dừngmột trị số để nói lên đặc điểm điển hình của một tổng thể hiện tượng nghiên cứu Nósan bằng mọi chênh lệch về lượng giữa các đơn vị tổng thể
- Hình thức biểu hiện của số bình quân thường là đơn vị kép như: năng suấtbình quân (kg/ha), lao động bình quân (lđ/sp),…
3.2 Các loại số bình quân
Trang 37Số bình quân cộng được sử dụng nhiều trong nghiên cứu thống kê, được tính bằngcách đem tổng số các lượng biến của tiêu thức chia cho tổng số các đơn vị tổng thể Sốbình quân cộng có hai loại:
- Số bình quân cộng giản đơn: áp dụng khi mỗi lượng biến chỉ có một đơn vị
tổng thể tương ứng (thường sử dụng cho những tài liệu không phân tổ)
n
x n
x x
x
x
n i
n: Số đơn vị tham gia tính x
Ví dụ: Tính n ng su t lao ăng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi động với trình độ kỹ thuật và tuổing trung bình c a m t nhóm công nhân nh sau:ủa khoảng cách ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ư sau
sp
- Số bình quân cộng gia quyền: trường hợp ứng với các lượng biến xi có số đơn
vị tổng thể là fi (tức là tần số) khác nhau, thì tổng lượng tiêu thức bằng tổng số củalượng biến (xi) nhân với số đơn vị tổng thể có lượng biến tương ứng và tổng số đơn vịtổng thể là fi (thường sử dụng cho những tài liệu có phân tổ).
n i i i
n
n n
f
f x f
f f
f x f
x f x x
1
1 2
1
2 2 1 1
fi: Tần số
Ví dụ: Tính năng suất lao động bình quân của một tổ công nhân theo tài liệu sau:
Năng suất lao động (SP) Số công nhân x i f i
Trang 38f
f x x
i i
i i i
+ Trong trường hợp tài liệu phân tổ có khoảng cách tổ thì x i l tr s gi aà tuổi ị % ữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi
c a t tính theo công th c:ủa khoảng cách ổi ức:
Xgiữa = XMax + XMin
2
XMax: Lượng biến lớn nhất của tổ
XMin:Lượng biến nhỏ nhất của tổ
Ta xét ví dụ sau:
Tính năng suất bình quân của một tổ công nhân từ tài liệu:
Năng suất lao động (SP) Số công nhân X giữa x i f i
5
f
f x x
i i
i i i
Ví dụ: Có tài liệu sau:
Năng suất lao động (SP) Số công nhân X i x i f i
Trang 39f
f x x
i i
i i i
3.2.2 Số bình quân điều hoà
Số bình quân điều hoà là số bình quân được sử dụng khi thiếu tài liệu về số
đơn vị tổng thể mà có tài liệu về lượng biến và tổng lượng tiêu thức
Ví dụ:
Có hai công nhân cùng làm việc trong 8h để sản xuất ra một loại sản phẩm.Người công nhân thứ nhất làm ra một sản phẩm mất 4 phút còn người công nhân thứhai làm một sản phẩm mất 6 phút
Yêu cầu: Xác định thời gian hao phí bình quân để sản xuất ra một sản phẩm của haicông nhân đó
N u nh bình thết quả xét nghiệm như sau: ư sau ư sauờng lấy các mẫu nước từ 12 sông và suốing khi xác đị %nh th i gian hao phí bình quân ta s sờng lấy các mẫu nước từ 12 sông và suối ẽ sử ử
d ng công th c sau: ụng công thức sau: ức:
t = 4 + 6
= 5 (phút)2
Nhưng ở trường hợp này ta không thể sử dụng công thức trên vì ta biết rằng đểtính thời gian hao phí bình quân để sản xuất ra một sản phẩm phải bằng tổng thờigian sản xuất ra chia cho số sản phẩm sản xuất ra Tức là:
200 4,8
960 6
8 60 4
8 60
8 60 8 60
n n n
x M M x
M x
M x
M
M M
1
2 1
Trang 40n i i
d x
d x
1
1 1
Còn khi M1 = M2 = …= Mn thì ta có số bình quân điều hoà giản đơn:
1
1
Ví dụ: Có s li u v m c thệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi ề ức: ư sauởng của một DN như sau:ng c a m t DN nh sau:ủa khoảng cách ộng với trình độ kỹ thuật và tuổi ư sau
3 4 5 3 200
1 150
1 120 1
3 1
(đ)
3.2.3 Số bình quân nhân
Số bình quân nhân được sử dụng trong trường hợp các lượng biến có mối quan
hệ tích số với nhau và được dùng để tính các tốc độ phát triển bình quân
Có hai loại:
* Số bình quân nhân giản đơn
n n i
n
n t t
t t
1
Trong đó: ti : Tốc độ phát triển của các năm
n: Số tốc độ phát triển tham gia tính t