báo cáo
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường và sự cạnhtranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra những khókhăn và thử thách cho các doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, để có thể khẳngđịnh được mình mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững tình hình cũng như kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh Để đạt được điều đó, các doanh nghiệpphải luôn quan tâm đến tình hình tài chính vì nó có quan hệ trực tiếp đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp chocác doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạtđộng tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanhnghiệp cũng như xác định được một cách đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân vàmức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng,hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như rủi ro và triển vọng trong tương laicủa doanh nghiệp để họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyếtđịnh chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế, nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình công
sự, nguồn vốn, tài sản, các chỉ tiêu về tình hình tài chính cũng như kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, những thông tin
mà báo cáo tài chính cung cấp là chưa đầy đủ vì nó không giải thích được chongười quan tâm biết rõ được về thực trạng hoạt động tài chính,những rủi ro,triển vọng và xu hướng phát triển của doanh nghiệp Phân tích tình hình tàichính sẽ bổ khuyết cho sự thiếu hụt này
Nhận thức được rõ tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tàichính đối với sự phát triển của doanh nghiệp kết hợp giữa kiến thức lý luậnđược tiếp thu ở nhà trường và tài liệu tham khảo thực tế, cũng với sự giúp đỡ,hướng dẫn nhiệt tình của các cô chú trong phòng kế toán Công ty Cổ phầnĐầu tư và xây dựng công trình 323_Hà Nội cùng thầy giáo Trần Lê Duy vàcác thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Trường Cao
Trang 2Đẳng Kinh Tế_Kỹ Thuật Thái Nguyên, em đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính và giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư
và xây dựng công trình 323_Hà Nội” Đề tài có 3 chương chính:
Chương 1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2 Phân tích tình hình tài chính và đánh giá thực trạng tàichính của Công ty Cổ phần Đầu tư và xây dựng công trình 323_Hà Nội
Chương 3 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính tạicông ty
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về phân tích tài chính của công ty
Đánh giá, phân tích tình hình tài chính của công ty
Hoàn thiện công tác tài chính tại công ty
3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư và xây dựng công trình 323_Hà Nội
3.2 Nội dung nghiên cứu
Tình hình tài chính của công ty
Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính cho công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tỷ số
Phương pháp so sánh
Phương pháp thu thập số liệu
Các phương pháp kế toán khác…
5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Năm 2009, 2010, 2011
Thời gian thực hiện: Từ 23/04/2012 đến 15/06/2012
Địa điểm: Công ty Cổ phần Đầu tư và xây dựng công trình 323_ Hà Nội
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là tập hợp các khái niệm, phương pháp, công cụtheo một hệ thống nhất định cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toáncũng như các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra nhữngđánh giá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát tình hình kinh doanh của doanhnghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như dự đoán trước những rủi ro
có thể xảy ra trong tương lai để đưa ra các quyết định xử lý phù hợp tùy theomục tiêu theo đuổi
1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việcphân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đốichiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trongquá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng nhưnhững rủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợpnhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quảkinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việcquản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối vớinhững người bên ngoài doanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo tài chính làmối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanhnghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà chovay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động Mỗi nhóm người này
có những nhu cầu thông tin khác nhau
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lýtài chính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác
Trang 4nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vựckinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, kháchhàng kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quantâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau.
1.1.2.1 Đối với người quản lý doanh nghiệp
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ làtìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bịcạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệpkhông có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệpphải giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây :
Thứ nhất : Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình
sản xuất kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn củadoanh nghiệp
Thứ hai : Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa làphải có tiền để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phảnánh bên phải của bảng cân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổphiếu hoặc vay nợ dài hạn, ngắn hạn Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một nămcòn nợ dài hạn có thời hạn trên một năm Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệchgiữa giá trị của tổng tài sản và nợ của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra ở đây làdoanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp
và mang lại lợi nhuận cao nhất
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày
như thế nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽđến vấn đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắnhạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chínhcần xử lý sự lệch pha của các dòng tiền
Trang 5Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanhnghiệp, nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất Phân tích tài chính doanhnghiệp là cơ sở để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gianhoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiệntài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởngcủa các doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tưvào doanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liênquan tới việc giảm giá cổ phiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản củadoanh nghiệp Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắcgiữa mức độ rủi ro và doanh lợi đạt được Vì thế, mối quan tâm hàng đầu củacác cổ đông là khả năng tăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trịchủ sở hữu trong doanh nghiệp Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư vànguồn tài trợ Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, vềkết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinhlợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết địnhphù hợp Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất cómột điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiền của dự
án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãisuất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có chonhững người sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức
và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tưhết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Hơn nữa các cổđông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của
họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròngtrong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếunăm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ
Trang 6phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được cácnhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính.
1.1.2.3 Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệpthực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng củadoanh nghiệp thì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cungcấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năngtrả nợ của doanh nghiệp
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệpđược xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoảncho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toánnhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối vớicác món nợ khi đến hạn trả Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người chovay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp màviệc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâmcủa họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú
ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thànhtiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thờicủa doanh nghiệp Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụngcũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảohiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phântích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho
dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơcấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp,
họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hànghay không, họ cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiệntại và trong thời gian sắp tới
Trang 71.1.2.4 Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp,người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thôngtin tài chính của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt độngcủa doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chínhcủa người lao động Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao độngđược tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng
là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn vớidoanh nghiệp
1.1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhànước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngkinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúngchính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giáthành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm làphân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông quamột hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sửdụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợpkhái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp,tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính,quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính của doanh nghiệp Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài
chính là việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính củadoanh nghiệp, bao gồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảovốn cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn
Trang 8- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh vàkết quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán.
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnhhưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biệnpháp có hiệu quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để nhữngnăng lực tiềm tàng của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh
1.1.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp choviệc ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương laicủa doanh nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giớihạn trong phạm vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sangcác lĩnh vực :
- Các thông tin chung về kinh tế, thuế, tiền tệ
- Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.4.1 Thông tin chung
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Sự suy thoái hoặc tăngtrưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sựbiến động của giá cả các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu
ra, từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi các tácđộng diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và nhờ đó kết quả kinh doanhtrong năm là khả quan Tuy nhiên khi những biến động của tình hình kinh tế
là bất lợi, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Chính vì vậy để có được sự đánh giá khách quan và chính xác về tình hìnhhoạt động của doanh nghiệp, chúng ta phải xem xét cả thông tin kinh tế bênngoài có liên quan
Trang 91.1.4.2 Thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành kinh tế là việc đặt sự pháttriển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngànhkinh doanh
Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan tới:
-Tính chất của các sản phẩm
- Quy trình kỹ thuật áp dụng
- Cơ cấu sản xuất : công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ, những cơcấu sản xuất này có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ
- Nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế
Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung vàcác thông tin liên quan khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất
về tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là
hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thểđánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.4.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mụctiêu của dự đoán tài chính Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bênngoài, thông tin số lượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thểđưa ra nhận xét, kết luận sát thực Tuy nhiên, thông tin kế toán là nguồn thôngtin đặc biệt cần thiết Nó được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế toán củadoanh nghiệp Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chínhđược hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán
Các báo cáo tài chính gồm có:
a Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chínhcủa một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báo cáotài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành
Trang 10tài sản Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợpgiữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả( nguồn vốn).
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu làbản cân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cáchtổng quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụngvốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phầnnguồn vốn
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phầndưới là phần nguồn vốn
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luônluôn bằng nhau
Tài sản = Nguồn vốnHay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
* Phần tài sản: Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp cóquyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi íchtrong tương lai
Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổngquát về quy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ
sử dụng vốn của doanh nghiệp
* Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phảnánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặtvật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn( Nhà nước, ngânhàng, cổ đông, các bên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bênphần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đãđăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toáncác khoản nợ( với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước )
Trang 11Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sảnhiện có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồngthời phần nguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính củadoanh nghiệp
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thôngqua các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn
+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tàisản lưu động, tài sản cố định
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và cáckhoản phải trả
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
b Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trongphân tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinhdoanh Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanhcho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹptrong tương lai Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp chonhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá,dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanhnghiệp Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh : lãihay lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệptrong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tìnhhình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độquản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
+ Phần I: Lãi, lỗ
+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
Trang 12+ Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, đượcmiễn giảm.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được lập trên
cơ sở các tài liệu:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước
+ Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9
+ Sổ kế toán các tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ” và tàikhoản 333 “Thuế GTGT phải nộp”
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanhthu, lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước củadoanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũngcho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳdoanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu vàvốn là bao nhiêu Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳtrước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhànước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Nếu
số thuế còn phải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp là không khả quan
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta cónhững nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc
mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụngthông tin của doanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồnlực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quảkinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗtrong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời cácvấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi
Trang 13ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào ra của tiền và các khoản coinhư tiền được tổng hợp thành ba nhóm : lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sảnxuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền
tệ từ hoạt động bất thường
d Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin
về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính,đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưađược trình bày nhằm giúp cho người đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báocáo tài chính có một cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về sự thay đổi nhữngkhoản mục trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh
“Thuyết minh báo cáo tài chính” được lập căn cứ vào những số liệu vànhững tài liệu sau:
+ Các sổ kế toán kỳ báo cáo
+ Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo
+ Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước
Tác dụng của việc phân tích” Thuyết minh báo cáo tài chính”
Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung nhữngthông tin chi tiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến hoạt động kinhdoanh trong kỳ của doanh nghiệp
1.1.5 Các bước tiến hành phân tích tài chính doanh
nghiệp
1.1.5.1 Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải vàthuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quátrình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến nhữngthông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác,những thông tin về số lượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán phảnánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, là những nguồn thông
Trang 14tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tíchcác báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.5.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin
đã thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độnghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhauphục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra : Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp cácthông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích,đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quátrình dự đoán và quyết định
1.1.5.3 Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiệncần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyếtđịnh tài chính Có thể nói mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyếtđịnh tài chính Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ranhững quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăngtrưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
1.1.6 Các phương pháp dùng để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình
sử dụng tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan
hệ và tình hình biến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính vàgiữa các báo cáo tài chính với nhau
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng haiphương pháp: phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọcbáo cáo tài chính
Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hìnhbiến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báocáo tài chính, còn phân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số
Trang 15thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữacác báo cáo tài chính với nhau để rút ra kết luận.
Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
1.1.6.1 Phương pháp so sánh.
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương phápchủ yếu trong phân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướngbiến đổi của chỉ tiêu phân tích
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳthuộc vào mục đích và yêu cầu của việc phân tích
+ So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc địnhmức Đây là phương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉtiêu kế hoạch, định mức và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạchđược đề ra
+ So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các nămcho thấy sự biến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứngcủa doanh nghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh
+ So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuấtkinh doanh khác nhau của doanh nghiệp
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện cóthể so sánh được của các chỉ tiêu:
+ Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng + Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng + Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nộidung, cơ cấu của các chỉ tiêu
+ Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêunày bằng những đơn vị tính đổi nhất định
+ Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể sosánh bằng các chỉ tiêu tương đôí Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một sốtrường hợp, việc so sánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc
Trang 16không mang một ý nghĩa kinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêutương đối thì hoàn toàn cho phép và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiện tượngnghiên cứu.
1.1.6.2 Phương pháp loại trừ.
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức
độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích Khi phân tích, đểnghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng củacác nhân tố khác Trong thực tế phương pháp loại trừ được sử dụng trongphân tích kinh tế dưới 2 dạng là: phương pháp thay thế liên hoàn và phươngpháp số chênh lệch
1.1.7 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được trình bày theohai cách sau:
- Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
- Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính
1.1.7.1 Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
a Phân tích khái quát tình hình tài chính
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiênphải so sánh tổng tài sản và tổng nguồn vốn qua các năm Qua so sánh, có thểthấy được sự thay đổi quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ cũngnhư khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, số tổng cộng củatài sản và nguồn vốn tăng giảm là do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần
đi sâu phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định.Hai loại tài sản này được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nhưngcân đối này chỉ mang tính lí thuyết tức là nguồn vốn chủ sở hữu chủ doanhnghiệp đủ trang trải các loại tài sản cho các hoạt động chủ yếu mà không phải
đi vay hoặc chiếm dụng Thực tế thường xảy ra 1 trong 2 trường hợp sau:
- Trường hợp doanh nghiệp thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên sẽ bịchiếm dụng
Trang 17- Trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn để trang trải tài sản nên doanhnghiệp phải đi vay hoặc chiếm dụng vốn từ bên ngoài
Qua phân tích các mối quan hệ cân đối, cho thấy số vốn doanh nghiệp
bị chiếm dụng (hoặc đi chiếm dụng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sảnphải thu và nợ phải trả
Bên cạnh đó, trong phân tích tổng quát ta còn tính toán và so sánh cácchỉ tiêu tỉ suất tài trợ đẻ thấy được khả năng đảm bảo về mặt tài chính và tínhchủ động trong kinh doanh của công ty Bên cạnh đó, về khả năng thanh toáncũng cần được quan tâm chú ý
b Phân tích chi tiết tình hình tài chính
Trong phân tích chi tiết tình hình tài chính ta đi phân tích tình hìnhphân bổ vốn, xem xét doanh nghiệp đã phân bổ vốn hợp lí và phát huy hiệuquả chưa? Để phân tích, ta tiến hành xác định tỉ trọng từng khoản vốn ở thờiđiểm đầu kì và cuối kì và so sánh sự thay đổi về tỉ trọng giữa đầu kì và cuối kìnhằm tìm ra nguyên nhân của sự chênh lệch này Qua so sánh ta thấy được sựthay đổi về số lượng, quy mô và tỉ trọng của từng loại vốn Để có thể thấyđược tình hình thay đổi của tài sản là hợp lí hay không cần đi sâu nghiên cứu
sự biến động của tài sản Việc đầu tư chiều sâu, mua sắm trang thiết bị, đổimới công nghệ để tạo tiền đề tăng năng suất lao động và sử dụng vốn đầu tư
có hiệu quả hoặc đầu tư tài chính dài hạn được xem xét thông qua các chỉtiêu: Tỉ suất đầu tư chung, tỉ suất đầu tư tài sản cố định, tỉ suất đầu tư tài chínhdài hạn Bên cạnh đó việc phân tích kết cấu nguồn vốn; phân tích tình hìnhcông nợ và khả năng thanh toán; phân tích hiệu quả và khả năng sinh lợi củavốn; phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽđược phân tích một cách cụ thể và được trình bày cụ thể trong Chương 2 của
Trang 18phản ánh hiệu quả vốn lưu động, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ
lệ về cấu trúc tài chính Nhìn chung, mối quan tâm trước hết của các nhà phântích tài chính là tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh không?Liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được những khoản nợ đến hạnkhông? Nhưng tuỳ theo mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích tàichính chú trọng nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ này hay nhóm tỷ lệ khác Chẳnghạn, các chủ nợ ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến tình hình khả năng thanh toáncủa người vay Trong khi đó, các nhà đầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơn đếnkhả năng hoạt động có lãi và hiệu quả sản xuất kinh doanh Họ cũng cầnnghiên cứu tình hình về khả năng thanh toán để đánh giá khả năng của doanhnghiệp đáp ứng nhu cầu chi trả hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính khảnăng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp
Các tỷ lệ tài chính cung cấp cho người phân tích khá đầy đủ các thôngtin về từng vấn đề cụ thể liên quan tới tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ củangười phân tích là phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các nhóm tỷ lệ để từ đó đưa
ra kết luận khái quát về toàn bộ tình hình tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên,trong quá trình phân tích nên lưu ý rằng một tỷ lệ tài chính riêng rẽ thì tự nókhông nói lên điều gì Nó cần phải được so sánh với tỷ lệ ở các năm khácnhau của chính doanh nghiệp đó và so sánh với tỷ lệ tương ứng của các doanhnghiệp hoạt động trong cùng ngành
Mỗi nhóm tỷ lệ trên bao gồm nhiều tỷ lệ và trong từng trường hợp các tỷ lệđược lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích
Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét cả bốn nhóm tỷ lệ thường dùng
để phân tích và đánh giá hoạt động tài chính doanh nghiệp
* Các tỷ lệ về khả năng thanh toán :
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tài trợ cho các tàisản của mình các doanh nghiệp không chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu màcòn cần đến nguồn tài trợ khác là vay nợ Việc vay nợ này được thực hiện vớinhiều đối tượng và dưới nhiều hình thức khác nhau Cho dù là đối tượng nào
Trang 19đi chăng nữa thì để đi đến quyết định có cho doanh nghiệp vay nợ hay khôngthì họ đều quan tâm đền khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chínhgiữa các khoản phải có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phảithanh toán trong kỳ Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán khôngnhững giúp cho các chủ nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và bảotoàn được vốn của mình mà còn giúp cho bản thân doanh nghiệp thấy đượckhả năng chi trả thực tế để từ đó có biện pháp kịp thời trong việc điều chỉnhcác khoản mục tài sản cho hợp lý nhằm nâng cao khả năng thanh toán
Các tỷ lệ về thanh toán bao gồm :
- Hệ số thanh toán hiện hành
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn.Tài sản lưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng,các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm cáckhoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trảnhà cung cấp, các khoản phải trả khác Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạnđều có thời hạn nhất định - tới một năm Tỷ lệ khả năng thanh toán chung làthước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độcác khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thểchuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứng với thời hạn của các khoản
Trang 20sinh thêm lợi nhuận Vì thế mà việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả Vấn đề nàyđòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân bổ vốn như thế nào cho hợp lý.
- Hệ số thanh toán nhanh:
` Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách chia tài sản quay vòngnhanh cho nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thểnhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm : tiền, chứng khoán ngắn hạn vàcác khoản phải thu Hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền hơn trongtổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ khi đem bán Do vậy, tỷ lệ khả năng thanhtoán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụthuộc vào việc bán dự trữ (tồn kho)
TSLĐ và đầu tư ngắn hạn- Hàng tồn kho
Hệ số thanh toán nhanh =
- Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số này đánh giá khả năng thanh toán tạm thời các khoản nợ ngắnhạn của công ty trong kỳ báo cáo Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy khảnăng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của công ty là cao hay thấp Nếu chỉtiêu này xấp xỉ bằng 1 thì công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắnhạn và tình hình tài chính của công ty là bình thường hoặc khả quan Ngượclại, nếu hệ số thanh toán nợ ngắn hạn càng nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán
Trang 21Để nắm được khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động là nhanhhay chậm, từ đó xác định được công ty có đủ tiền, thiếu tiền hay thừa tiềnphục vụ cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, khi phân tích cần xemxét chỉ tiêu "Hệ số thanh toán của vốn lưu động"
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số thanh toán của vốn lưu động =
- Hệ số tự tài trợ
Hệ số tự tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tàichính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này chobiết trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếmmấy phần Trị số của chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặttài chính của doanh nghiệp cao và ngược lại Ta có công thức tính:
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
- Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ
sở hữu Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy
Trang 22động vốn bằng vay nợ, doanh nghiệp chịu mức độ rủi ro thấp Tuy nhiên cũng
có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khaithác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế
Tổng nợ phải trả
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = x 100% Vốn chủ sở hữu
* Các tỷ lệ về khả năng hoạt động
Các tỷ lệ về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sửdụng nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp được đầu tưcho các loại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó,các nhà phân tích không chỉ quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng củatổng nguồn vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấuthành nguồn vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu doanh thu thuần được sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ nàynhằm tính tốc độ quay vòng của một số đại lượng rất cần cho quản lý tàichính ngắn hạn Các tỷ lệ này cho ta những thông tin hữu ích để đánh giá mức
độ cân bằng tài chính và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp
- Vòng quay tổng tài sản
Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụngtài sản của công ty Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi đồngtài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra Ta có công thức tính :
Doanh thu thuần
Trang 23tư vào công việc này, hiệu quả sử dụng vốn sẽ cao hơn Tuy nhiên, khi phântích cũng cần phải chú ý đến những nhân tố khác ảnh hưởng đến hệ số quayvòng tồn kho như việc áp dụng phương thức bán hàng, kết cấu hàng tồn kho,thị hiếu tiêu dùng, tình trạng nền kinh tế, đặc điểm theo mùa vụ của doanhnghiệp, thời gian giao hàng của nhà cung cấp
- Kỳ thu tiền bình quân
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tồn tại các khoản phải thu làđiều khó tránh khỏi Nhờ bán chịu, doanh nghiệp có thể thu hút thêm kháchhàng, mở rộng thị trường và duy trì thị trường truyền thống, do đó có thểgiảm hàng tồn kho, duy trì được mức sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụngmáy móc, thiết bị Hơn nữa, nó còn có thể mang lại lợi nhuận tiềm năng caohơn nhờ việc tăng giá do khách hàng mua chịu Song việc bán hàng chịu cũngđẩy doanh nghiệp vào tình trạng phải đối mặt không ít với các rủi ro Đó làgiá trị hàng hoá lâu được thực hiện dẫn đến giảm tốc độ chu chuyển của vốn,đặc biệt trong tình trạng thiếu vốn doanh nghiệp phải huy động nguồn tài trợcho việc bán chịu; một điều đáng lo ngại hơn là rủi ro về khả năng thu nợ, chiphí đòi nợ Vì vậy, nhiệm vụ của người quản lý doanh nghiệp là phải quantâm đến kỳ thu tiền bình quân và có biện pháp rút ngắn thời gian này
Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau (đơn vị của côngthức này là ngày) :
Số ngày trong năm
Kỳ thu tiền bình quân =
Vòng quay khoản phải thu
Trang 24Trong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khảnăng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp Các khoản phải thu lớnhay nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố :
+ Tính chất của việc doanh nghiệp chấp nhận bán hàng
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu
số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại Chỉ tiêunày còn được gọi là hệ số luân chuyển Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽgóp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng caohiệu quả sử dụng vốn
* Các tỷ lệ về khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là kết quả tổng hợp chịu tác động của nhiều nhân tố
vì thế khác với các tỷ lệ tài chính phân tích ở trên chỉ phán ánh hiệu quả từnghoạt động riêng biệt của doanh nghiệp, tỷ lệ về khả năng sinh lời phản ánhtổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanhnghiệp Mục đích chung của các doanh nghiệp là làm sao để một đồng vốn bỏ
ra mang lại hiệu quả cao nhất và khả năng sinh lời nhiều nhất Để đánh giákhả năng sinh lời người ta dùng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản ( ROA)
ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từlượng vốn đầu tư ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn vàphụ thuộc nhiều vào ngành nghề kinh doanh Tài sản của một công ty đượchình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng
Trang 25để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tưthành lợi nhuận được biểu hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì công
ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn Ta có công thức: Lợi nhuận ròng
ROA =
Tổng tài sản
- Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lườngkhả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường
Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tíchlũy tạo ra bao nhiêu đồng lời Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để
so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường,từ đó tham khảo quyết địnhmua cổ phiếu của công ty nào Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụnghiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòagiữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trongquá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên ROE càng cao thì các cổ phiếucàng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn Ta có công thức:
Lợi nhuận ròng
Vốn chủ sở hữu
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
ROS thể hiện tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán ra được Qua đóchúng ta biết tỷ lệ phần trăm của mỗi đô la doanh số sẽ đóng góp vào lợinhuận Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu được tính như sau:
Lợi nhuận ròng
ROS = x 100%
Doanh thu
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1.2.1 Chất lượng thông tin sử dụng
Trang 26Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tàichính, bởi một khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kếtquả mà phân tích tài chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì Vìvậy, có thể nói thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng củaphân tích tài chính.
Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệpđến những thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanhnghiệp, người phân tích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệptrong quá khứ, hiện tại và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai
Tình hình nền kinh tế trong và ngoài nước không ngừng biến động, tácđộng hàng ngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, tiền lại
có giá trị theo thời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác một đồng tiềntrong tương lai Do đó, tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làmnên sự phù hợp của thông tin Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tinkhông còn độ tin cậy và điều này tất yếu ảnh hưởng đến chất lượng phân tíchtài chính doanh nghiệp
1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành
Trang 27Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồntại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành Đây là cơ sở tham chiếu quantrọng khi tiến hành phân tích Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính củamột doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệtương ứng của doanh nghiệp khác có đặc điểm và điều kiện sản xuất kinhdoanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung bình ngành Thông qua đốichiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý tài chính biết được
vị thế của doanh nghiệp mình từ đó đánh giá được thực trạng tài chính doanhnghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình
Trang 28Chương 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
2.1 Giới thiệu chung về công ty.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
2.1.1.1 Tên, địa chỉ của công ty.
Tên công ty: Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng công trình 323_Hà Nội Địa chỉ: Số 207 ktt bưu điện vt 40 - Phố Nguyễn Công Hoan -PhườngGiảng võ – Quận Ba đình – Hà Nội
2.1.1.2 Đặc điểm kinh doanh của công ty
Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng công trình 323_Hà Nội hoạt độngchủ yếu ở các lĩnh vực sau:
-Khai thác vật liệu xây dựng (Cát, Đá, sỏi)
- San lấp mặt bằng, hoàn thiện và trang trí nội, ngoại thất các côngtrình xây dựng
- Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông (cầuđường), thủy lợi (Mương, Hồ, Đập), Điện năng (Đường dây điện, Trạmbiến áp)
- Đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật và bất động sản
- Cho thuê kho bãi, phương tiện vận tải giao thông đường bộ, máymóc và thiết bị xây dựng
- Dịch vụ vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách
Trang 29Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng công trình 323_Hà Nội chủ yếuhoạt động ở lĩnh vực xây dựng cơ bản, là công ty được tổ chức hoạch toánkinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ.
Quy trình công nghệ hoạt động xây dựng cơ bản tại công ty:
Nghiên cứu bản vẽ, xây dựng phương án thi công
Tổ chức bộ máy thi công nhận thầu
Chuẩn bị vật tư, phương tiện thi công
Thi công công trình
Hoàn thành công trình nghiệm thu
Thanh quyết toán công trình Khảo sát thiết kế
Trang 302.1.3 Tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh tại công ty
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty:
* Hội đồng quản trị công ty gồm các thành viên:
-Chủ tịch hội đồng quản trị là người đứng đầu công ty và chịu tráchnhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty, có trách nhiệm triệu tập
và chủ tọa đại hội đồng cổ đông và các cuộc họp của hội đồng quản trị
- Tổng giám đốc điều hành là chị trách nhiệm về kế hoạch sản xuất kinhdoanh và đầu tư, ký kết hợp đồng về tài chính thương mại
- Các phó tổng giám đốc điều hành có trách nhiệm tham mưu cho tổnggiám đốc và chỉ đạo các bộ phận được tổng giám đốc ủy quyền
- Ban kiểm soát: Có trách nhiệm đề xuất kiểm toán độc lập, kiểm tra cácbáo cáo tài chính hàng quý, hàng năm trước khi trình lên ban quản trị
Đội thi
công 1
Đội thi công 2
Đội thi công 3
Đội thi công 4
Đội thi công 5
Đội thi công 6
Trang 31* Các phòng ban chức năng
- Phòng hành chính nhân sự: Trực tiếp phụ trách về mặt nhân sự, con người
- Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ sửa số kế toán, ghi chép phảnánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng, tổng hợp thanh toán quyếttoán theo định kỳ, thường xuyên cung cấp thông tin về tình hình tài chính,tham mưu những quyết định chính xác kịp thời, có trách nhiệm quản lý và sửdụng vốn kinh doanh xây dựng kế hoạch tài chính cho công ty
- Phòng kế hoạch – kinh tế - chất lượng: Là phòng tham mưu giúp việccho lãnh đạo công ty trong công tác kinh tế kế hoạch, quản lý đấu thầu, muasắm vật tư, công tác quản lý thị trường và phát triển thương hiệu
- Phòng xe máy thiết bị: có trách nhiệm quản lý chung các thiết bị, thựchiện công việc hướng dẫn,kiểm tra giám sát đôn đốc các đơn vị thực hiện cácquy chế,thực hiện công tác an toàn lao động trong toàn công ty
* Tổ chức kế toán tại công ty
Trên cơ sở đặc điểm của lĩnh vực nghành nghề và quy mô của công ty,Công ty Cổ Phần Đầu tư xây dựng công trình 323_Hà Nội tổ chức bộ máy kếtoán theo phương thức tập trung
Sơ đồ bộ máy kế toán
Kế toán trưởng
Kế toán tổng hợp
Kế toán vật tư tài sản
Kế toán ngân hàng
Kế toán thanh toán công nợ
Kế toán
quỹ
Kế toán giá thành
Trang 32Chức năng và nhiệm vụ của từng người trong phòng kế toán
Căn cứ vào công việc và khả năng của kế toán viên và yêu cầu quản lý,
kế toán trưởng dã phân ra chức năng nhiệm vụ của từng nhân viên kế toánnhư sau:
- Kế toán trưởng: Là người đứng đầu bộ máy kế toán và chịu trách nhiệm
về nghiệp vụ kế toán trước ban lãnh đạo công ty và trước pháp luật Thammưu cho tổng giám đốc, kiểm tra các thông tin tài chính, tổ chức phân tíchhoạt động kinh tế
- Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ tổng hợp lại các chứng từ nghiệp vụ,lập biểu tổng hợp, lập báo cáo kết quả kinh doanh
- Kế toán vật tư tài sản: Là kế toán theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phátsinh về sự biến động của vật tư, tài sản tại công ty, kiểm tra ghi chép trước khichuyển chứng từ cho kế toán trưởng duyệt, lập các báo cáo, ghi sổ theo dõichi tiết
- Kế toán thanh toán công nợ: Có trách nhiệm kiểm tra chứng từ phátsinh về các khoản trình nộp ngân sách nhà nước, lập báo cáo chi tiết
- Kế toán giá thành: Là người có trách nhiệm tập hợp các chi phí để tínhgiá thành sản phẩm của công ty
- Kế toán quỹ: Là người quản lý các khoản biến động của tiền mặt của công ty tại bất cứ thời điểm nào
2.2 Đánh giá thực trạng công tác tài chính tại Công ty Cổ Phần Đầu tư
và xây dựng công trình 323_ Hà Nội.
2.2.1 Phân tích tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán.
2.2.1.2 Phân tích kết cấu tài sản và kết cấu nguồn vốn.
Bảng 2.1 Bảng kết cấu tài sản
Đơn vị: Đồng
Trang 33Tài sản
Số tiền
Tỷ Lệ (%)
Số tiền
Tỷ Lệ (%)
Số tiền
Tỷ Lệ (%)
Số tiền
Tỷ Lệ (%)
Số tiền
Tỷ Lệ (%)
I-TS ngắn hạn 32.987.368.153 74,60 53.998.186.429 78,72 42.961.446.703 71,15 21.010.818.276 63,69 -11.036.739.726 -20,44 1.Tiền và các khoản tương đương tiền 9.750.911.702 29,56 736.866.973 1,36 156.484.415 0,36 -9.014.044.729 92,44 -580.382.558 -78,76
-3.Các khoản phải thu ngắn hạn 9.769.606.116 29,62 20.621.576.767 38,19 9.250.702.599 21,53 10.851.970.651 111,09 -11.370.875.168 -55,14 4.Hàng tồn kho 12.898.612.312 39,1 30.114.584.511 55,77 30.033.434.711 69,91 17.215.972.199 133,47 -81.149.800 -0,27 5.TS ngắn hạn khác 568.238.023 1,72 2.525.158.178 4,68 3.520.824.978 8,20 1.956.920.155 344,38 995.666.800 39,43 II- Tài sản dài hạn 11.234.593.047 25,40 14.597.178.983 21,28 17.417.784.679 28,85 3.362.585.936 29,93 2.820.605.696 19,32 1.Các khoản phải thu dài hạn - - 395.000.000 2,71 400.532.000 2,30 395.000.000 100 5.532.000 1,40 2.TSCĐ 11.234.593.047 100 14.144.991.884 96,90 16.121.485.580 92,56 2.910.398.837 25,91 1.976.493.696 13,97
Trang 34Qua bảng phân tích ta thấy,do sự biến động của các loại tài sản là khácnhau nên tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài sản đều có biến động Tài sảnlưu động có tỷ trọng tăng từ 2009 đến 2010 và giảm từ 2010 đến 2011( năm
2009 là 74,60 %, đến năm 2010 là 78,72% và năm 2011 còn 71,15%) Còn tàisản cố định giảm từ 2009 đến 2010 nhưng lại tăng từ 2010 đến 2011 Trong đótài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng 21.010.818.276 đồng từ 2009 đến
2010 nhưng lại giảm 11.036.739.726 đồng từ 2010 đến 2011, trong khi đótổng số tài sản cố định và đầu tư dài hạn lại tăng 3.362.585936 đồng ở năm
2009 đến 2010 và tăng 2.820.605.696 đồng từ 2010 đến 2011 Nhìn vào sựsụt giảm này ta nhận thấy công ty đã chuyển một phần tổng số tài sản lưuđộng và đầu tư ngắn hạn thành tài sản cố định và đầu tư dài hạn Ở đây công
ty đã đầu tư vốn vào việc hiện đại hoá máy móc trong sản xuất kinh doanh,nâng cấp, sửa chữa và mua thêm thiết bị Bên cạnh đó do thị trường biến động
mà hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty gặp khó khăn, nhiều công trìnhthi công dở dang, phải chậm hoặc dừng hẳn lại
Trong tài sản lưu động thì tiền chiếm tỷ trọng nhỏ và giảm dần qua 3 năm.Hàng tồn kho chiếm một tỷ trọng lớn và tăng từ năm 2009 là 39,38 % năm 2010
là 55,77 % đến năm 2011 là 69,91 %, điều này cho thấy cách thức quản lý hàngtồn kho chưa được cải thiện qua các năm mà ngày càng bị tồn đọng Nhưng điềunày cũng là hợp lý với đặc trưng của ngành Trong tài sản dài hạn thì chiếm tỷtrọng lớn nhất là tài sản cố định và có xu hướng giảm, từ 100% năm 2009 còn92,56 năm 2011 Tài sản dài hạn tăng là một dấu hiệu không tốt đối với công ty,chứng tỏ khả năng quản lý của công ty chưa được chủ động
Trang 35III-Nợ phải trả 35.026.220.503 79,21 59.151.789.772 86,23 53.843.325.249 89,18 24.125.569.269 68,88 -5.308.464.523 -8,97 1.Nợ ngắn hạn 28.393.924.312 81,06 51.237.738.581 86,62 48.567.366.249 94,79 22.843.814.269 80,42 -2.670.372.332 -5,21 2.Nợ dài hạn 6.632.296.191 18,94 7.914.051.191 13,38 5.275.959.191 5,21 1.281.755.000 19,33 -2.638.092.000 -33,21