Nghiên cứu Địa Lý thế giới là một trong những nội dung cơ bản của Địa Lý. Nhiệm vụ của nó là nghiên cứu tổng hợp thế giới, các châu lục, khu vực, quốc gia cụ thể cả về mặt tự nhiên và kinh tế xã hội. Bản đồ có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong quá trình nghiên cứu này. Có được hệ thống bản đồ Địa Lý thế giới thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Bản đồ cũng là công cụ hiệu quả, hết sức quan trọng trong công tác điều tra cơ bản hay hoạch định, tổng hợp lãnh thổ. Chính vì thế, việc nghiên cứu Địa Lý thế giới nói chung hay nghiên cứu một mặt nào đó về Địa Lý khu vực, quốc gia nói riêng đòi hỏi cần phải xây dựng các bản đồ chuyên đề. Bản đồ là sản phẩm khoa học là mô hình phản ánh lãnh thổ hết sức trực quan và biện chứng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập Địa Lý thế giới ở các trường phổ thông và cả các trường chuyên nghiệp. Bản đồ vừa là công cụ giảng dạy, lại vừa là nguồn tư liệu, là đối tượng nghiên cứu, học tập những kiến thức Địa Lý. Bản đồ được dùng như là cuốn sách giáo khoa thứ hai, chứa đầy đủ các tri thức cần thiết cho quá trình dạy và học, đặc biệt trong những năm gần đây, việc đổi mới chương trình dạy học trong nhà trường, đổi mới sách giáo khoa, trang bị những phương tiện dạy học để nâng cao hoạt động nhận thức và nâng cao năng lực tự làm việc của học sinh đã ngày càng được chú trọng. Đối với bộ môn Địa Lý, ngoài sách và các tài liệu tham khảo khác bản đồ Địa Lý đóng vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy, là phương tiện chủ lực trong giảng dạy Địa Lý ở trường phổ thông. Trong chương trình cải cách giáo dục cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ của môn Địa Lý không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức Địa Lý nói chung mà còn phải cho học sinh hiểu biết những vấn đề Địa Lý thế giới. Yêu cầu học sinh phải có khả năng nhận biết, phân tích được một số hiện tượng Địa Lý trên thế giới. Với vốn hiểu biết đó, khi bước ra ngoài xã hội học sinh có thêm hành trang hiểu biết có thể trở thành một công dân toàn cầu với khả năng hội nhập tốt, góp phần xây dựng sự thịnh vương của Việt Nam cũng như sự thinh vượng nhân loại. Thực tế giảng dạy môn Địa Lý ở nhà trường phổ thông đang gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu bản đồ Địa Lý, nhất là bản đồ Địa Lý thế giới, bên cạnh đó những bản đồ đã có thường có tính cập nhật không cao trong khi thế giới thay đổi không ngừng chính vì vậy việc biên tập Tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới là giải pháp quan trọng giúp khắc phục điểm yếu đó trong thực tế, trên một nền Địa Lý có sẵn, người giáo viên có thể dễ dàng cập nhật cơ sở dữ liệu để tạo nên các sản phẩm đáp ứng như cầu giảng dạy của thực tiễn. Từ yêu cầu của chương trình cải cách giáo dục, nhu cầu của thực tiễn tác giả thực hiện đề tài: “Xây dựng tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới phục vụ dạy học Địa Lý lớp 11 trung học phổ thông”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LẠI QUÝ DƯƠNG
X¢Y DùNG TËP B¶N §å GI¸O KHOA §IÖN Tö THÕ GIíI PHôC Vô D¹Y HäC §ÞA Lý LíP 11 TRUNG HäC PHæ TH¤NG
Chuyên ngành: Bản đồ viễn thám và hệ thông tin Địa lí
Mã số: 8440214
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN NGỌC ÁNH
Hà Nội - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn khoa học này là kết quả nghiên cứu cá nhân của tôi Mọi số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là do bản thân tôi thu thập, từ các nguồn tài liệu chính thống, rõ ràng Kết quả nghiên cứu của tôi chưa từng được
sử dụng để bảo vệ một học vị nào trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Lại Quý Dương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm theo học chương trình cao học tại Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội và kết thúc bằng việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi thấy bản thân mình trưởng thành hơn, đã đạt được nguyện vọng trở thành Thạc sĩ Địa lý, đem kiến thức mình có được trong quãng thời gian học tập tại Khoa để truyền đạt cho các thế hệ học trò, đồng thời làm giàu thêm vốn hiểu biết của bản thân Và để đạt được kết quả như ngày hôm nay, không chỉ là sự nỗ lực của bản thân mà còn là
sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tâm, tận tình của các thầy cô khoa Địa lý và các thầy cô trong Nhà trường, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Với tất cả tình cảm và sự kính trọng của mình, trước tiên em xin được cảm ơn
chân thành nhất tới TS Nguyễn Ngọc Ánh, người Thầy hướng dẫn khoa học đã
đầu tư nhiều thời gian, công sức, trí tuệ, luôn sẵn sàng giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Địa lý, các thầy cô giáo trong Khoa đã nhiệt tình giảng dạy, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học đã nhận xét và góp ý quý báu để Đề tài luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phòng Thư viện Khoa Địa lý đã hỗ trợ, tạo điều kiện để cho tôi hoàn thành luận văn Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Hội đồng sư phạm trường THPT Bắc Đông Quan – Thái Bình, cùng các bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Con xin cảm ơn bố mẹ, ông bà, anh chị, cả gia đình đã động viên, giúp đỡ con Cảm ơn vợ và hai con đã vất vả và luôn ở bên anh trong suốt cả quá trình Tôi xin hứa, sau khi hoàn thành chương trình cao học tại khoa vẫn sẽ cố gắng trau dồi kiến thức bản thân, tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu đề tài của mình thêm nữa
để có thể đóng góp những ý kiến phát triển quê hương ngày một giàu đẹp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
Tác giả
Lại Quý Dương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐICH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 3
6 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 11
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆC XÂY DỰNG TẬP BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 12
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ 12
1.1.1 Bản đồ giáo khoa 12
1.1.2 Bản đồ giáo khoa điện tử 13
1.1.3 Tập bản đồ giáo khoa điện tử 16
1.2 CƠ SỞ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG TẬP BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI 18
1.2.1 Định nghĩa hệ thông tin Địa Lý - GIS 18
1.2.2 Thành phần chức năng của hệ thông tin Địa Lý 19
1.2.3 Giới thiệu phần mềm sử dụng xây dựng tập bản đồ 20
1.3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DẠY HỌC 24
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh THPT 24
1.3.2 Vai trò của bản đồ trong dạy học Địa Lý 26
1.3.3 Mục tiêu, chương trình môn Địa Lý 11 ở trường THPT 27
1.3.4 Thực trạng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa Lý ở trường THPT 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Trang 5CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG TẬP BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI
PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 11 – THPT 33
2.1 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA TẬP BẢN ĐỒ 33
2.1.1 Mục đích 33
2.1.2 Yêu cầu 33
2.2 CẤU TRÚC TẬP BẢN ĐỒ 33
2.3 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG 35
2.3.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 35
2.3.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 36
2.3.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm 36
2.3.4 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan 36
2.3.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiện đại và tính cập nhật 37
2.4 QUY TRÌNH XÂY DỰNG 37
2.5 XÂY DỰNG NỘI DUNG MỘT SỐ BẢN ĐỒ TRONG TẬP BẢN ĐỒ 38
2.5.1 Những vấn đề chung về xây dựng một bản đồ giáo khoa điện tử các quốc gia, khu vực 38
2.5.2 Xây dựng nhóm bản đồ thế giới 49
2.5.3 Xây dựng nhóm bản đồ Tây Nam Á 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 88
CHƯƠNG 3 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TẬP BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ LỚP 11 VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89
3.1 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TẬP BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ LỚP 11 89
3.1.1 Một số nguyên tắc sử dụng 89
3.1.2 Sử dụng trong soạn giáo án 90
3.1.3 Sử dụng trong dạy học trên lớp 90
3.1.4 Sử dụng trong thiết kế bài giảng 92
3.1.5 Sử dụng trong thiết kế bài tự học cho học sinh 96
3.2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ THỰC NGHIỆM 97
Trang 63.2.1 Mục đích thực nghiệm 97
3.2.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 98
3.2.3 Nguyên tắc thực nghiệm 98
3.3 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 98
3.4 TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 99
3.5 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 99
3.5.1 Tổng hợp kết quả thăm dò ý kiến của GV về xây dụng tập và sử dụng bản đồ 99
3.5.2 Đánh giá thông qua kiểm tra trên lớp 101
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BĐGK Bản đồ giáo khoa
CNTT Công nghệ thông tin
EU European Union
Liên minh Châu Âu GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội GDP (PPP) Gross Domestic Product (Purchasing Power Parity)
Tổng sản phẩm quốc nội quy đổi theo sức mua tương đương
GV Giáo viên
GIS Geographic Information System
Hệ thống Thông tin Địa Lý
HS Học sinh
HDI Human Development Index
Chỉ số phát triển con người MERCOSUR Mercado Común del Sur
Khối thị trường chung Nam Mỹ NAFTA North American Free Trade Agreement
Hiệp định Mậu dịch tự do Bắc Mỹ PTTQ Phương tiện trực quan
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Kí hiệu bản đồ 41
Bảng 2.2 Mười nước có diện tích lớn nhất và nhỏ nhất 50
Bảng 2.3 Các nước được đánh số trên bản đồ 50
Bảng 2.4 Mười nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất và thấp nhất theo GDP (Danh nghĩa) năm 2017 53
Bảng 2.5 Thu nhập bình quân đầu nười ASEAN+3 và trung bình thế giới năm 2017 54
Bảng 2.6 Mười nước có chỉ số phát triển con người HDI cao nhất và thấp nhất năm 2017 56
Bảng 2.7 Chỉ số phát triển con người HDI của các nước ASEAN+3 và trung bình thế giới năm 2017 57
Bảng 2.8 Mười nước có tuổi thọ trung bình cao nhất và thấp nhất thế giới năm 2017 59
Bảng 2.9 Tuổi thọ trung bình các nước ASEAN+3 năm 2017 60
Bảng 2.10 Dân số thế giới theo châu lục năm 2017 63
Bảng 2.11 Dân số các nước Đông Nam Á năm 2017 64
Bảng 2.12 Tỷ lệ dân số thế giới tính theo quốc gia năm 2017 65
Bảng 2.13 Diện tích và dân số các quốc gia của khu vực Tây Nam Á năm 2017 70
Bảng 2.14 Cơ cấu dân số theo thành thị, nông thông Tây Nam á năm 2017 79
Bảng 2.15 GDP bình quân đầu người các nước Tây Nam Á năm 2017 83
Bảng 2.16 Giá trị GDP theo ngành kinh tế các quốc gia Tây Nam Á 84
Bảng 2.17 Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế các quốc gia Tây Nam Á 85
Bảng 2.18 Tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước khu vực Tây Nam Á năm 2017 86
Bảng 3.1 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Bắc Đông Quan - Thái Bình 101
Bảng 3.2 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Văn Hiến - Hà Nội 102
Bảng 3.3 Kết quả thực nghiệm tại trường Trung cấp Xiếc và tạp kỹ - Hà Nội 102
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả thực nghiệm tại trường THPT Bắc Đông Quan, THPT Văn Hiến, TC Xiếc và Tạp kỹ 102
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cấu trúc tập bản đồ giáo khoa điện tử lớp 11 35
Hình 2.2 Quy trình xây dựng tập bản đồ 37
Hình 2.3 Tháp tuổi các nước đang phát triển 60
Hình 2.4 Tháp tuổi các nước phát triển 61
Hình 2.5 Biểu đồ dân số thế giới theo châu lục năm 2017 63
Hình 2.6 Biểu đồ dân số các nước Đông Nam Á năm 2017 64
Hình 2.7 Biểu đồ tỷ lệ dân số thế giới tính theo quốc gia năm 2017 65
Hình 2.8 Biểu đồ tỷ lệ nhóm quốc gia theo trình độ phát triển năm 2017 68
Hình 2.9 Thang phân tầng độ cao địa hình tương ứng với màu sắc thể hiện trên bản đồ tự nhiên Tây Nam Á 73
Hình 2.10 Biểu đồ tương nhiệt độ lưọng mưa Têhêran 74
Hình 2.11 Biểu đồ tương nhiệt độ lưọng mưa Ixtanbun 75
Hình 2.12 Biểu đồ tương nhiệt độ lưọng mưa E Riat 75
Hình 2.13 Thang mật độ dân số tương ứng với màu sắc thể hiện trên bản đồ dân số Tây Nam Á 79
Hình 2.14 Thang phân cấp GDP/người tương ứng với màu sắc thể hiện trên bản đồ kinh tế chung Tây Nam Á 83
Hình 3.1 Bài kiểm tra của học sinh (Tây Nam Á và Trung Á) 101
Hình 3.2 Biểu đồ kết quả thực nghiệm tại trường THPT Bắc Đông Quan, THPT Văn Hiến, TC Xiếc và Tạp kỹ 102
Hình 3.3 Học sinh tham gia trò chơi hoạt động khởi động 103
Hình 3.4 Học sinh tổ chức cho học sinh tranh luận phản biện 104
Trang 10Bản đồ là sản phẩm khoa học là mô hình phản ánh lãnh thổ hết sức trực quan
và biện chứng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập Địa Lý thế giới ở các trường phổ thông và cả các trường chuyên nghiệp Bản đồ vừa là công cụ giảng dạy, lại vừa là nguồn tư liệu, là đối tượng nghiên cứu, học tập những kiến thức Địa Lý Bản đồ được dùng như là cuốn sách giáo khoa thứ hai, chứa đầy đủ các tri thức cần thiết cho quá trình dạy và học, đặc biệt trong những năm gần đây, việc đổi mới chương trình dạy học trong nhà trường, đổi mới sách giáo khoa, trang bị những phương tiện dạy học để nâng cao hoạt động nhận thức và nâng cao năng lực tự làm việc của học sinh đã ngày càng được chú trọng
Đối với bộ môn Địa Lý, ngoài sách và các tài liệu tham khảo khác bản đồ Địa Lý đóng vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy, là phương tiện chủ lực trong giảng dạy Địa Lý ở trường phổ thông Trong chương trình cải cách giáo dục cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ của môn Địa Lý không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức Địa Lý nói chung mà còn phải cho học sinh hiểu biết những vấn đề Địa
Lý thế giới Yêu cầu học sinh phải có khả năng nhận biết, phân tích được một số hiện tượng Địa Lý trên thế giới Với vốn hiểu biết đó, khi bước ra ngoài xã hội học sinh có thêm hành trang hiểu biết có thể trở thành một công dân toàn cầu với khả năng hội nhập tốt, góp phần xây dựng sự thịnh vương của Việt Nam cũng như sự thinh vượng nhân loại
Trang 11Thực tế giảng dạy môn Địa Lý ở nhà trường phổ thông đang gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu bản đồ Địa Lý, nhất là bản đồ Địa Lý thế giới, bên cạnh đó những bản đồ đã có thường có tính cập nhật không cao trong khi thế giới thay đổi không ngừng chính vì vậy việc biên tập Tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới là giải pháp quan trọng giúp khắc phục điểm yếu đó trong thực tế, trên một nền Địa Lý có sẵn, người giáo viên có thể dễ dàng cập nhật cơ sở dữ liệu để tạo nên các sản phẩm đáp ứng như cầu giảng dạy của thực tiễn
Từ yêu cầu của chương trình cải cách giáo dục, nhu cầu của thực tiễn tác giả thực hiện đề tài: “Xây dựng tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới phục vụ dạy
học Địa Lý lớp 11 trung học phổ thông”.
2 MỤC ĐICH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới bằng công nghệ GIS phục vụ dạy học Địa Lý lớp 11 THPT nhằm bổ sung nguồn tư liệu bản đồ-số, cập nhật các số liệu mới, chương trình giáo dục mới, giúp học sinh và giáo viên thuận lợi hơn trong quá trình dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Địa Lý ở trường THPT
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, cần thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu
- Hướng dẫn sử dụng tập bản đồ trong dạy học Địa Lý lớp 11 ở trường THPT
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Xây dựng hệ thống kí hiệu bản đồ với khả năng mã hóa các tri thức địa lý phức tạp để dạy học Địa Lý lớp 11 bậc trung học phổ thông ở Việt Nam
Điều kiện công nghệ thành lập bản đồ, điều kiện sử dụng trong dạy học, đặc điểm của đối tượng sử dụng bản đồ
Trang 124 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về không gian: Thế giới, châu lục, khu vực, một số quốc gia
- Về thời gian: Các số liệu xây dựng bản đồ chủ yếu lấy năm 2017 Một số số liệu khác thu thập trong giai đoạn 2005 – 2017 nhằm mục đích so sánh, phân tích và đánh giá
- Về nội dung: Luận văn tập trung thành lập các trang bản đồ hành chính thế giới, sự phân chia các nhóm nước trên thế giới, các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới theo GDP bình quân đầu người, theo theo số phát triển con người HDI, theo tuổi thọ trung bình, theo mật độ dân số, bản đồ một số tổ chức liên kết kinh tế khu vực trên thế giới, bản đồ khu vực Tây Nam Á
Khả năng áp dụng của đề tài là dành cho học sinh khối lớp 11 bậc Trung học phổ thông và học sinh khối lớp 7, 8 bậc Trung học cơ sở trong quá trình học tập ở trên lớp và tìm hiểu ở nhà, hỗ trợ giáo viên soạn bài và thiết kế bài giảng
Các bài thực nghiệm:
+ Sự Phân chia thành các nhóm nước trên thế giới
+ Các vấn đề khu vực: Khu vực Tây Nam Á
Địa bàn thực nghiệm: Trường THPT Bắc Đông Quan – Thái Bình, THPT Văn Hiến – Hà Nội, Trung cấp Xiếc và Tạp kỹ - Hà Nội
5 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Ở Việt Nam, Địa Lý đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử, như tác phẩm ―Dư địa chí‖ của Nguyễn Trãi vào cuối thế kỉ XV được coi là nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu Địa Lý, tiếp đến các công trình nghiên cứu của Lê Quý Đôn như ―Phủ biên tạp lục‖, ―Vân đài loại ngữ‖, của Phan Huy Chú như ―Lịch triều hiến chương loại chí‖, của Quốc sử quán triều Nguyễn như ―Đại Nam nhất thống chí‖, ―Bắc thành dư địa chí‖, ―Gia Định thành thông chí‖ Hay các công trình của các học giả nước ngoài viết về Việt Nam như ―An Nam Chí Nguyên‖ của Cao Hùng Trưng nhà Minh, ―Xứ Đàng trong‖ của Cristoforo Borri, ―Lịch sử vương quốc Đàng ngoài‖ của Alexandre de Rhodes, …Sau năm 1945 Địa Lý là một bộ môn khoa học quan trọng, đã có rất nhiều tác phẩm khoa học Địa Lý có giá trị ra đời tạo nền móng
Trang 13cho Khoa học Địa Lý Việt Nam hiện đại gắn liền với tên tuổi của các GS đầu ngành như Lê Bá Thảo, Vũ Tự Lập, …
Bản đồ là tài liệu khoa học quan trọng trong dạy học Địa Lý Bản đồ không chỉ lưu giữ, hiển thị những thông tin Địa Lý mà còn là công cụ để truyền bá một cách có hiệu quả những thông tin đó, nhằm nâng cao năng lực bản đồ cho toàn dân, giới thiệu cho đông đảo mọi người về đất nước, quê hương và các quốc gia khác trên thế giới
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lí luận, phương pháp xây dựng bản đồ và Atlat dùng trong trường học được đề cập trong các tác phẩm bản đồ của các tác giả nổi tiếng như: K.A Xalisev ―Nhập môn bản đồ học‖ (năm 1986);
―Bản đồ học‖ (năm 2005), A.M Berliant ―Phương pháp nghiên cứu bằng bản đồ‖ (năm 2004), David Lambert và David Balderstone ―Học cách dạy Địa Lý ở trường THPT‖ (năm 2009)… tất cả các tác giả đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc nghiên cứu và sử dụng bản đồ trong dạy học Địa Lý
Đối với lĩnh vực giáo dục cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về bản đồ
và Atlat tiêu biểu như ―Bản đồ học‖ của tác giả Ngô Đạt Tam, Lê Ngọc Nam, Nguyễn Trần Cầu, Phạm Ngọc Đĩnh (năm 1983), ―Bản đồ chuyên đề‖ của tác giả
Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh, Vũ Bích Vân, Nguyễn Minh Ngọc (năm 2005),
―Thành lập bản đồ kinh tế - xã hội‖ của tác giả Lâm Quang Dốc (năm 2008), ― Thành lập tập bản đồ dân cư Việt Nam nhờ sự trợ giúp của mảy tỉnh điện tử, đề tài
khoa học cấp Bộ, mã số B2002 - 75 - 27, (2002- 2003), chủ nhiệm đề tài Lâm
Quang Dốc; “Xây dựng tập bản đồ Năng lượng Việt Nam dùng để dạy phần năng lượng Việt Nam ở khoa Địa Lý, trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhờ sự trợ giúp của máy tỉnh điện tử”, đề tài khoa học cấp Bộ, mã số B2004 - 75 -108, (2004- 2005), chủ nhiệm đề tài Lâm Quang Dốc; “Xây dựng atlat giáo khoa điện tử hỗ trợ dạy học Địa Lý lớp 9”, Luận án Tiến sĩ khoa học Giáo Dục - Kiều Văn Hoan; “Xây dựng atlas giáo khoa điện tử hỗ trợ dạy học Địa lý lớp 12”, đề tài khoa học cấp Bộ,
(2008 -2009), chủ nhiệm đề tài Kiều Văn Hoan, ―Cơ sở khoa học để xác định hệ
Trang 14thống nội dung bản đồ môi trường đất cấp tỉnh‖ Nguyễn Ngọc Ánh (2011), Journal
of science of HNUE – Natural Sci., 2001, Vol.56, No 3, pp 142-150…
Một số đĩa CD - Rom đã được nghiên cứu triển khai phát hành từ những năm
2004 như: Ebook lớp 6, Ebook lớp 7, Ebook lớp 10, đĩa VCD tư liệu của Trung tâm Địa Lý ứng dụng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, phần mềm DBmap do Đặng Văn Đức phối họp với Viện công nghệ thông tin thực hiện Đây đều là những tài liệu rất
bổ ích cung cấp nguồn tư liệu phong phú về bản đồ, biểu đồ, phim ảnh hỗ trợ giáo viên giảng dạy ở nhà trường phổ thông
Ngoài ra, các Luận án, Luận văn, đã nghiên cứu về bản đồ ngày càng nhiều với nội dung nghiên cứu đa dạng, các Thạc sĩ đã ứng dụng công nghệ trong việc xây dựng các tập bản đồ điện tử phục vụ dạy học Địa Lý địa phương đã bảo vệ từ năm
2000 trở lại đây
Qua sự thống kê sơ bộ trên cho thấy, số lượng các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về bản đồ và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng thành lập bản đồ ngày càng nhiều, nội dung nghiên cứu ngày càng được mở rộng và đa dạng Tuy nhiên hầu hết các công trình đã được hoàn thành chủ yếu đề cấp đến việc xây dựng tập bản đồ điện tử chung, tập bản đồ Địa
Lý địa phương chưa có công trình nghiên cứu xây dựng và hướng dẫn cụ thể, hoàn thiện tập bản đồ Địa Lý thế giới phục vụ dạy học Địa Lý 11 Tuy nhiên, theo chương trình sách giáo khoa mới đang được sử dụng ở Việt Nam trong trường phổ thông hiện nay, ngoài những chủ đề nội dung kiến thức chung mang tính đại cương thì còn có chủ đề về Địa Lý thế giới Chủ đề Địa Lý thế giới trong sách giáo khoa được biên soạn một cách khái quát, các công trình nghiên cứu về chủ đề địa lý thế giới chưa nhiều, giáo viên khi dạy học nội dung này gặp nhiều khó khăn, bên cạnh
đó thế giới thay đổi không ngừng, để có thể cập nhật cho phù hợp với thực tại thì người giáo viên phải tự nghiên cứu và biên soạn giáo án dựa trên những tài liệu có sẵn hoặc sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau Tuy vậy, những công trình này
là nền tảng bổ ích và là nguồn tư liệu tham khảo quan trọng để tác giả vận dụng hoàn thiện luận văn của mình
Trang 156 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Quan điểm nghiên cứu của đề tài
6.1.1 Quan điểm hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của khoa học Địa Lý là tất cả các đối tượng, hiện tượng tự nhiên, kinh tế xã hội trong mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại lẫn nhau Sự biến đối, vận động của bất kì thành phần nào trong hệ thống cũng kéo theo
sự biến đổi của các thành phần khác và có thể dẫn đến sự thay đổi của cả hệ thống Quan điểm hệ thống là quan điểm nghiên cứu truyền thống trong nghiên cứu Địa Lý bởi các đối tượng, thành phần Địa Lý luôn tồn tại, ảnh hưởng và phát triển trong một chỉnh thể thống nhất Theo quan điểm này, khi nghiên cứu về một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong vị trí tương quan với nhiều vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn và trong phân vị thấp hơn
Vận dụng quan điểm hệ thống khi nghiên cứu các khu vực, quốc gia cần đặt nó trong một đơn vị cấu thành tổ chức lãnh thổ lớn hơn là châu lục, thế giới, đồng thời qua đó t có thể nhận thấy mối quan hệ hữu cơ giữa các châu lục, khu vực, quốc gia
Tập bản đồ là một hệ thống, dưới đó là một hệ thống nhỏ hơn về hành chính – chính trị, các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội Trong các hệ thống nhỏ hơn gồm các hệ thống khác Trong thế giới, các châu lục, khu vực, quốc gia, các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một thể tổng hợp thống nhất và hoàn chỉnh Với quan điểm nghiên cứu này, trong quá trình phân tích, đánh giá các đối tượng cần phải xem xét toàn bộ các yếu
tố ảnh hưởng và cấu thành nên nó một cách hệ thống và thống nhất, nhằm đảm bảo tính logic của đề tài nghiên cứu
Mặt khác, tập bản đồ là một hệ thống được biểu hiện ở sự thống nhất cao về cơ sở toán học, hệ thống ngôn ngữ và nội dung bản đồ Sự thống nhất đó được biểu hiện:
+ Có sự thống nhất giữa phần bản đồ và phần thuyết minh: hệ thống chữ, biểu đồ, bản đồ phụ, hình ảnh minh họa…
Trang 16+ Thống nhất giữa các phương pháp hiển thị và các chỉ số được thể hiện trên bản đồ, cơ sở toán học, nội dung bản đồ, bảng chú giải của bản đồ
+ Thống nhất ở việc thể hiện bố cục các trang bản đồ Bản đồ biên vẽ lãnh thổ được coi là nội dung chính được bố trí ở trung tâm bản đồ, các nội dung phụ không được lấn át nội dung chính
6.1.2 Quan điểm tổng hợp
Tính tổng hợp được xem là tiêu chuẩn hàng đầu trong đánh giá giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu về các địa tổng thể Trong nghiên cứu Địa Lý, đây là quan điểm quan trọng và được biểu hiện như sau:
+ Tổng hợp là nghiên cứu đồng bộ, toàn diện các hợp phần của thể tổng hợp Địa Lý trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng để tạo ra sự phân dị lãnh thổ
+ Tổng hợp là sự kết hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng
bộ và toàn diện các hợp phần của các địa tổng thể, đồng thời phát hiện và xác định những đặc điểm đặc thù của các địa tổng thể
6.1.3 Quan điểm lịch sử – Viễn cảnh
Trái đất có sự phân hóa trong không gian về điều kiện tự nhiên cũng như tài nguyên thiên nhiên tạo nên những thể tổng hợp tự nhiên khác nhau trên các lãnh thổ Chính sự khác biệt về tự nhiên trên các lãnh thổ dẫn tới sự khác biệt về các đặc trưng kinh tế xã hội, các điều kiện sản xuất nông nghiệp, tạo nên các nết đặc thù của địa phương Quán triệt quan niệm lãnh thổ nhằm xác định chính xác những yếu tố nông nghiệp nổi trội của châu lục, khu vực, quốc gia, địa phương, để biết được các thế mạnh và triển vọng phát triển của chúng, bên cạnh đó cũng thấy được những hạn chế trong phát triển để đưa ra được những biện pháp khắc phục Quán triệt quan điểm lãnh thổ có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định nôi dung, lựa chọn các chỉ số, chỉ tiêu và đặc biệt là tiến hành tổng quát hóa các đối tượng phù hợp với mục đích thành lập
6.1.4 Quan điểm lịch sử – Viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng Địa Lý đều có quá trình hình thành và phát triển qua các thời kì khác nhau, trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể Quán triệt quan
Trang 17điểm lịch sử là nghiên cứu các sự vật, hiện tượng đang tồn tại trong bối cảnh của nó, phản ánh quá trình phát triển của các đối tượng, sự vật, hiện tượng
Sự phát triển thế giới là không ngừng biến động theo không gian và thời gian Các biến động đó diễn ra trong những điều kiện Địa Lý nhất định, thời gian cụ thể và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, việc thành lập tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới cần phải quan tâm đến yếu tố lịch sử
Trên cơ sở coi mọi sự vật hiện tượng Địa Lý luôn có sự vận động và phát triển, quan điểm Viễn cảnh mang tính chất dự báo, nó nhằm phản ánh khả năng biến đổi và phát triển các đối tượng Địa Lý trong tương lai Việc thực hiện đề tài góp phần thể hiện những định hướng, dự báo sự phát triển kinh tế xã hội … trên
cơ sở đó nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu trên bản đồ phù hợp với sự phát triển của thực tiễn
6.1.5 Quan điểm thực tiễn
Các đề tài, phương pháp và phương tiện dạy học Địa Lý phải xuất phát từ thực tiễn, nghiên cứu giải quyết các vấn đề cấp thiết và nan giải đặt ra của thực tiễn dạy học Địa Lý trên các vùng, miền khác nhau ở nước ta, đúc rút kinh nghiệm có tính lí luận phục vụ dạy học Địa Lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học Địa Lý ngang tầm với yêu cầu của thời đại Quan điểm thực tiễn phải xuất phát ―từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan‖ – V.I Lênin Đồng thời cũng phải nhận thức đầy đủ hai chiều hướng tư duy
có liên quan đến việc nhận thức, đó là tư duy của các khoa học nói chung cũng như
tư duy của khoa học Địa Lý nói riêng có thể đi từ trừu tượng đến thực tiễn và ngược
lại, từ thực tiễn đến khái quát hóa, trừu tượng hóa
6.1.6 Quan điểm dạy học tích cực, phát triển năng lực học sinh
Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người sống trong thiên nhiên và
xã hội để tồn tại và phát triển Từ khi xã hội loài người xuất hiện đến nay, con người luôn luôn phải hoạt động, tích lũy kinh nghiệm, học tập và đấu tranh chống lại mọi thế lực có hại cho loài người Do đó, việc dạy học để truyền lại cho thế hệ
Trang 18sau học tập thế hệ trước rồi truyền lại cho thế hệ sau nữa là việc làm có tính quy luật Nhưng việc dạy như thế nào, học như thế nào đã được loài người tích lũy, tổng kết, đúc rút qua bao thế hệ nâng thành quan điểm dạy học tích cực Chỉ có như thế, con người mới nhanh chóng tiếp cận với kiến thức hiện đại để bảo vệ thành quả lao động và phát triển bền vững
Dạy học tích cực đem lại hiệu quả cao trong việc nhận thức kiến thức, kĩ năng Địa Lý Song, dạy học ngày nay không dừng ở việc dạy học tích cực, chủ động chiếm lĩnh kiến thức mà còn phải biết vận dụng kiến thức vào giải quyết tình huống thực tiễn được đặt ra, hình thành phẩm chất và phát triển năng lực học sinh Một vấn đề của thực tiễn chứa đựng tri thức của nhiều môn học Muốn giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, học sinh cần phải liên kết các kiến thức của nhiều môn học Nghĩa là dạy học theo phương pháp mới phải biết cách liên kết kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, hình thành phẩm chất và năng lực giải quyết vấn
đề trong cuộc sống Đây là một tiến trình tư duy và nhận thức mang tính phát triển
tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động, trong đó có lĩnh vực hoạt động dạy học Địa Lý
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu trong việc thành lập bản đồ là rất quan trọng Phương pháp đúng đắn, hợp lí sẽ cho kết quả tốt Trong nghiên cứu và thành lập bản đồ có nhiều phương pháp khác nhau trong đó có cả phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại Trong đề tài của mình, tác giả đã vận dụng các phương pháp sau:
6.2.1 Phương pháp thu thập, xử lí dữ liệu
Thu thập dữ liệu là công việc rất quan trọng trong nghiên cứu Mục đích của việc thu thập dữ liệu từ các tài liệu nghiên cứu khoa học đã có từ trước, từ quan sát
và thực nghiệm thực tiễn… làm cơ sở lí luận khoa học, luận cứ chứng minh giả thuyết hay tìm ra vấn đề nghiên cứu
Ở đề tài này, dữ liệu được tiến hành thu thập, xử lí, phân tích các tài liệu liên quan đến tự nhiên, kinh tế xã hội, Bản đồ học, các số liệu thống kê thế giới và các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp, các bài báo khoa học có nội dung liên
Trang 19quan… Sau đó, dữ liệu được xử lí để cho các số liệu cần thiết và phù hợp với đề tài nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và đánh giá
Phân tích, đánh giá và dự báo sự phát triển của dân cư, kinh tế hay xã hội trong một thời gian dài là một vấn đề phức tạp Do vậy, việc tiến hành thu thập tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu và vận dụng cơ sở lí luận vào việc phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu đã thu thập để rút ra những nhận xét, kết luận về sự phát triển của một đối tượng Địa Lý là công việc cần thiết
Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu mối liên hệ về mặt không gian, thời gian giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các số liệu đã thu thập và thực tế từ
đó lựa chọn các chỉ số quan trọng về kinh tế xã hội để đưa lên hệ thống tập bản đồ
6.2.3 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê toán học là một phương pháp ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu Địa Lý Trong thành lập bản đồ điện tử thế giới các số liệu thống kê là những tài liệu để xây dựng bản đồ, để nghiên cứu sự phân bố theo lãnh thổ Những số liệu thống kê không chỉ đơn thuần thể hiện mặt lượng của hiện tượng mà còn phản ánh mối quan hệ mật thiết với mặt chất của sự vật, hiện tượng Địa Lý
Thông qua việc phân tích và từ những mối liên hệ của các số liệu thống kê đã được công bố và một số tài liệu đã thu thập được, tác giả đã sử dụng để phân tích,
xử lí số liệu, xác định nội dung, cách thức thể hiện các đối tượng
6.2.4 Phương pháp bản đồ và ứng dụng hệ thông tin Địa Lý
Phương pháp bản đồ là một bộ phận của khoa học bản đồ, vừa là công cụ, vừa là phương pháp nghiên cứu để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài Phương pháp bản đồ được vận dụng trong tất cả các khâu của quá trình biên tập như phân tích, xử lí số liệu, phân tích lựa chọn các phương pháp biểu hiện, so sánh đối chiếu để xác định sự phân bố, những biến động của đối tượng, hiện tượng trong không gian
Xây dựng mô hình tượng trưng không gian lãnh thổ, sử dụng các kí hiệu, sử dụng các bản đồ với mục đích mô tả, phân tích, tổng hợp nhằm nhận thức hiện
Trang 20tượng, xác lập mối liên hệ liên kết không gian và dự báo các hiện tượng Do đó, để xây dựng được tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới thì không thể thiếu phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ cũng là phương pháp chủ đạo được tác giả thực hiện trong quá trình nghiên cứu đề tài Việc sử dụng các phần mềm trong Microsoft Office: Excel, Word, … và đặc biệt sử dụng công nghệ GIS với các phần mềm chuyên ngành như: Mapinfo, ArcMap, … giúp cho việc cập nhật dữ liệu, phân tích, xử lí và thành lập bản
đồ trở nên nhanh chóng, chính xác và chất lượng bản đồ tốt hơn
7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Tổng quan cơ sở khoa học và công nghệ xây dựng tập bản đồ dùng hỗ trợ dạy học Địa Lý lớp 11 ở trường THPT
- Xây dựng các trang bản đồ hành chính thế giới, sự phân chia các nhóm nước trên thế giới, các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới theo GDP bình quân đầu người, theo theo số phát triển con người HDI, theo tuổi thọ trung bình, theo mật độ dân số, bản đồ một số tổ chức liên kết kinh tế khu vực trên thế giới, bản đồ khu vực Tây Nam Á
- Hướng dẫn sử dụng tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới trong dạy học Địa
Lý lớp 11 ở trường THPT
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và phần nội dung Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học và công nghệ của việc xây dựng tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới phục vụ dạy học Địa Lý lớp 11 trung học phổ thông
Chương 2: Xây dựng tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới phục vụ dạy học địa lý lớp 11 trung học phổ thông
Chương 3: Hướng dẫn sử dụng tập bản đồ giáo khoa điện tử thế giới trong dạy học địa lý lớp 11 và thực nghiệm sư phạm
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆC XÂY DỰNG
TẬP BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI PHỤC VỤ DẠY HỌC
ĐỊA LÝ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ
1.1.1 Bản đồ giáo khoa
Bản đồ Địa Lý hành chính, tự nhiên, kinh tế - xã hội dùng trong các nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục được gọi chung là bản đồ giáo khoa
Theo ngài U.C Bilich và ngài A.C Vasmut định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa
là những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh đến việc đào tạo các chuyên gia Những bản đồ đó cũng được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trước nhất
là Địa Lý và lịch sử” [7]
Qua định nghĩa trên ta có thể thấy mục đích của bản đồ giáo khoa là để phục
vụ cho giáo dục từ cấp phổ thông đến giáo dục chuyên nghiệp cũng như đầy đủ các hình thức đào tạo chính quy hay không chính quy Tuy nhiên, theo định nghĩa này lại chưa làm rõ bản chất của bản đồ giáo khoa là bản đồ Địa Lý và cũng chưa làm rõ việc ứng dụng các công nghệ mới vào việc thành lập bản đồ
Theo Lâm Quang Dốc: “Bản đồ giáo khoa là biểu hiện thu nhỏ bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng dựa trên cơ sở toán học Bằng ngôn ngữ bản đồ, phương tiện (đồ họa) phản ảnh sự phân bố, trạng thái, mối liên hệ tương hỗ của khách thể - tương ứng với mục đích, nội dung và phương pháp của môn học trên những nguyên tắc chặt chẽ của tổng quát hóa bản đồ; phù hợp vói trình độ phát triển trí óc của lứa tuổi học sinh, có xét đến cả yêu cầu giáo dục thẩm mĩ và vệ sinh học đường‖ [7]
Quan niệm nói trên về bản đồ giáo khoa đã nói lên được bản chất của bản đồ giáo khoa là bản đồ Địa Lý, bản đồ giáo khoa có những đặc trưng cơ bản của bản đồ Địa Lý như là sự thu nhỏ bề mặt Trái Đất dựa trên cơ sở toán học; phản ánh sự phân
bố, trạng thái, mối liên hệ tương hỗ của khách thể, tương úng với mục đích, nội
Trang 22dung và phương pháp của môn học bằng ngôn ngữ bản đồ, tổng quát hóa bản đồ sao cho phù hợp với trình độ phát triển trí óc của lứa tuổi học sinh và yêu cầu của giáo dục thẩm mĩ
Quan niệm trên có thể coi là định nghĩa trọn vẹn nhất, đầy đủ nhất, đối với mọi loại tài liệu bản đồ giáo khoa, kể cả khi dùng các phương pháp cũng như các phương tiện hiện đại để thành lập và sử dụng bản đồ giáo khoa nói riêng và bản đồ nói chung
1.1.2 Bản đồ giáo khoa điện tử
Hiện nay công nghệ thông tin và truyền thông có sự phát triển như vũ bão Bản đồ giáo khoa cũng phong phú hơn với sự ra đời của bản đồ giáo khoa điện tử Loại bản đồ này thực hiện đầy đủ chức năng của bản đồ giáo khoa bình thường mặt khác còn thể hiện tính ưu việt rõ nét trong hình thức thể hiện, nội dung cũng như trong việc xây dựng và lưu trữ, quản lí và sử dụng Sử dụng bản đồ giáo khoa điện
tử không những rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh mà còn phát triển được các
kĩ năng công nghệ thông tin cần thiết
Để làm rõ thế nào là bản đồ giáo khoa điện tử, trước hết cần làm rõ khái
niệm bản đồ số (digital map) Bản đồ số là bản đồ được thiết kế và xây dựng trên
máy tính điện tử bằng phần mềm chuyên dụng như Mapinfo, Acr GIS, Auto Cad, Microstation, Bản đồ số tập hợp các dữ liệu, các nguồn thông tin bản đồ, sắp xếp trình tự theo quy luật Quy luật sắp xếp dữ liệu bản đồ dựa theo cấu trúc của phần mềm Các bản đồ số được lưu trong bộ nhớ của các máy tính, hay các website hoặc
có thể lưu ở các bộ nhớ ngoài, ổ đĩa CD, USB,
Theo A.M Berliant: “Bản đồ số là mô hình số của bản đồ địa hình, bản đồ chuyên đề, bản đồ chuyên môn được thể hiện ở dạng số đối với tọa độ mặt bằng (x,y), độ cao và số liệu thuộc tính đã được mã hóa Bản đồ số được thành lập trong phép chiếu, hệ thống kí hiệu quy định đối với các bản đồ cùng kiểu đã biết có tính đến tổng quát hóa và các yêu cầu về độ chính xác”[10]
Bản đồ số bao gồm các dạng cơ bản: các bản đồ dạng graphic, các bản đồ dạng CAD là các bản đồ số nhưng không gắn với dạng dữ liệu thuộc tính, bản đồ
Trang 23trên internet và các bản đồ dạng ảnh, các bản đồ dạng GIS là các bản đồ dạng số gắn với một cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, trong đó có cả cơ sở dữ liệu thuộc tính mà khi thay đổi dữ liệu thuộc tính này GIS có thể chiết xuất ra bản đồ mới
Theo A.M.Berliant: “Bản đồ điện tử là bản đồ số được hiển thị hóa (trực quan hóa) trên màn hình hay môi trường máy tính, được làm sẵn để nhìn trực quan (đĩa quang hay vật ghi nào đó) nhờ sử dụng các phương tiện kỹ thuật và chương trình, trong phép chiếu, hệ thống kí hiệu, có xét đến độ chính xác đã đặt ra và sự trình bày”[10]
Theo Stepanovich: “Bản đồ điện tử là tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên các thiết bị có khả năng đọc bằng mảy tính điện tử, và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ”[10]
- Việc chuyển đổi và hiển thị hình ảnh thành bản đồ thông thường từ bản đồ điện tử là việc dễ dàng, có thể thông qua các phương tiện khác nhau như: giấy, ảnh,
có thể đưa màn hình, qua mạng internet,
Bản đồ điện tử có ưu điểm:
- Có tính năng linh hoạt, có khả năng chứa đựng thông tin rất chi tiết và phong phú nhưng không hề ảnh hưởng đến khả năng hiển thị cũng như các phương pháp sử dụng bản đồ do đặc điểm tổ chức bản đồ điện tử là các lớp thông tin
- Bản đồ điện tử có sự chuẩn hóa cao về dữ liệu, tổ chức dữ liệu, thể hiện dữ liệu,
Trang 24- Bản đồ điện tử dễ dàng cập nhật thông tin, hình thức, có thể dễ dàng chỉnh sửa hoặc thay đổi về ký hiệu, thiết kế cũng như trình bày Do đó người thành lập và
sử dụng bản đồ có thể làm mới bản đồ một cách đơn giản theo ý muốn trong khi đó các thông tin trước vẫn có thể bảo lưu nguyên vẹn
- Với bản đồ điện tử có thể tiến hành bảo mật ở các mức độ khác nhau
Như vậy, bản đồ giáo khoa điện tử là bản đồ giáo khoa hoàn chỉnh được xây dựng bằng các phần mềm chuyên dụng có đầy đủ những ưu điểm của bản đồ điện tử
Sự khác biệt giữa bản đồ giáo khoa điện từ và bản đồ giáo khoa truyền thống:
- Về thể hiện:
+ Thông tin: Ở bản đồ giáo khoa điện tử các nguồn thông tin được lưu trữ và thể hiện theo nhiều lớp, chúng có thể ẩn hoặc hiển thị tạm thời tùy vào yêu cầu của người sử dụng với đối tượng Việc này đã giải quyết được mâu thuẫn cơ bản giữa tính khoa học và tính trực quan trong quá trình biên vẽ bản đồ: đầy đủ thông tin nhung vẫn đảm bảo tính trực quan Mặt khác với bản đồ giáo khoa truyền thống, các thông tin cần thiết đều được trình bày trên mặt giấy, như vậy không thể đưa quá nhiều thông tin lên bản đồ, điều này ảnh hưởng đến tính trực quan của bản đồ trong dạy học, nhưng nếu lược bỏ quá nhiều thông tin thì bản đồ sẽ sơ sài, đơn điệu, thiếu nôi dụng
+ Hình thức: Nếu như hình thức thể hiện trong bản đồ giáo khoa điện tử được người sử dụng chọn theo ý muốn để phù hợp với yêu cầu cụ thể thì bản đồ giáo khoa truyền thống là cố định, bất biến
+ Kích thước: Đôi với bản đồ giáo khoa điện tử, người dùng có thể thu nhỏ - phóng to tùy ý, tùy theo mục đích sử dụng trong khi đó bản đồ giáo khoa truyền thống không thể làm được Càng hữu ích hơn khi người dùng muốn nhấn mạnh hoặc tập trung vào một khu vực nào đó, chúng ta có thể sử dụng các công cụ để di chuyển đến từng khu vực riêng biệt
- Về mặt sử dụng:
+ Người dùng có thể nhanh chóng thực hiện các phép toán thống kê, chồng xếp các lớp bản đồ
Trang 25+ Người dùng có thể sử dụng các công cụ trên bản đồ giáo khoa điện tử điện
tử như: phóng to, thu nhỏ, dịch chuyển các bản đồ khi sử dụng
+ Người dùng ngoài việc khai thác thông tin trên bản đồ còn có các thông tin khác như: hình ảnh, biểu đồ, để tăng tính hấp dẫn của bài học, tăng hiệu quả sử dụng
- Về mặt lưu trữ và quản lí: Bản đồ giáo khoa truyền thống chỉ có thể lưu trữ thông thường như lưu trữ các dạng tài liệu giấy Bản đồ giáo khoa điện tử có thể lưu trữ và quản lý dưới dạng số đơn giản, hiệu quả, tiện ích hơn Việc cập nhật, hiệu đính, chia sẻ thông tin của bản đồ giáo khoa điện tử có thể được thực hiện kịp thời Tính đại chúng, hiện đại và chính xác của bản đồ giáo khoa điện tử phù hợp với yêu cầu của sự phát triển xã hội Mặt khác do có khả năng quản lí, lưu trữ ở dạng số bản
đồ giáo khoa điện tử còn có chức năng in ấn, cho phép in ra các trang bản đồ câm, bản đồ giấy để sử dụng khi thực hành, làm các bài tập trên lớp
- Về mặt xây dựng: Có thể áp dụng các công nghệ bản đồ số đem lại nhiều tiện ích trong quá trình xây dựng bản đồ
Chất lượng nội dung: Biên tập bản đồ được thực hiện trên máy nên có nhiều phương án để lựa chọn về màu sắc, nội dung, kí hiệu
1.1.3 Tập bản đồ giáo khoa điện tử
a Tập bản đồ:
Tập bản đồ là một tập hợp các bản đồ thống nhất nhau về tỷ lệ, lãnh thổ, ý nghĩa hoặc theo một tiêu chí nào đó Tập bản đồ được xây dựng nhằm mục đích phân tích, so sánh các đối tượng, hiện tượng hoặc lãnh thổ cần nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết, khoa học hơn
Đặc điểm của tập bản đồ:
- Có tính thống nhất về độ chính xác, nội dung và trình bày
- Được lưu trữ và sử dụng dưới dạng tờ bản đồ giấy, đóng quyển hoặc đóng gáy đơn giản
- Sự khác biệt về tỷ lệ, phép chiếu, chủ đề trong một tập bản đồ không nhiều: nhiều trường hợp mỗi tập chỉ 1 tỷ lệ hoặc 1 chủ đề, 1 phép chiếu
- Tập bản đồ khi thành lập thường thiết kế chung theo 1 chuẩn nội dung và trình
Trang 26bày, chung 1 cơ sở Địa Lý hoặc thống nhất về mức độ tổng quát hóa cơ sở Địa Lý
Tương tự như Atlat, tập bản đồ không phải là một tổng số các bản đồ khác nhau, không phải là một sự hợp nhất máy móc chúng lại Tập bản đồ chứa đựng trong nó một hệ thống bản đồ có quan hệ hữu cơ với nhau và bổ sung cho nhau, là một hệ thống được qui định bởi mục đích và đặc điểm sử dụng nó
Do vậy, có thể tham khảo một khu vực, một vấn đề nào đó một cách đầy đủ, toàn diện Vì vậy, giá trị của Tập bản đồ vượt hơn cả giá trị của từng bản đồ rời
Tập bản đồ được coi là đầy đủ khi nó đề cập một cách đầy đủ và cần thiết đến tất cả các vấn đề và chủ đề do mục đích mà Tập bản đồ đặt ra
b Tập bản đồ giáo khoa điện tử:
Tập bản đồ giáo khoa điện tử là một tập hợp các bản đồ có quan hệ chặt chẽ với nhau về nội dung, hình thức và lãnh thổ thể hiện Tập bản đồ giáo khoa điện tử phải bao trùm nội dung cơ bản của sách giáo khoa, các bản đồ phải làm rõ và đầy đủ mọi vấn đề mà chủ đề mục đích đặt ra và phải có tính thống nhất cao để đảm sự thống nhất và hoàn chỉnh với cả hệ thống bản đồ giáo khoa hiện hành [23]
Bản đồ giáo khoa điện tử thường có:
+ Tập bản đồ chỉ xem (View only): người sử dụng chỉ có thể xem các bản đồ
có sẵn mà thường không thể thực hiện các phép phân tích cũng như khó thể khai thác các dữ liệu bản đồ trên đó
+ Tập bản đồ tương tác (Interactive): người sử dụng có thể tạo thêm các bản
đồ theo nhu cầu
+ Tập bản đồ phân tích (Analytical): người sử dụng có thể thực hiện các phép toán phân tích như trên các hệ thống cơ sở dữ liệu GIS
Tuy nhiên, hiện nay trong thực tế, hầu hết các tập bản đồ hoặc Atlat đều được xây dựng kết hợp cả 3 dạng trên và xem chúng như 3 mức độ sử dụng trong một tập bản đồ hoặc Atlat
Ngoài ra theo đặc điếm khi xây dựng:
+ Loại Tập bản đồ hướng chủ yếu về dữ liệu (data - oriented)
Trang 27+ Loại Tập bản đồ hướng chủ yếu về hình ảnh và đa phương tiện (graphics and multimedia oriented) [23]
Đặc điểm chung của Tập bản đồ giáo khoa điện tử: Xét khía cạnh tổng thể tập bản đồ giáo khoa điện tử là một sản phẩm, nó phải đáp ứng được các tiêu chuẩn như một tập bản đồ thông thường như: có tính liên kết và thống nhất nội tại của cả tập và giữa các bản đồ với nhau, có tính thống nhất về phương pháp thể hiện, ngôn ngữ bản đồ và hệ thống chú giải cũng như cơ sở toán học của cả tập như
hệ tọa độ, phép chiếu và tỉ lệ, các bản đồ trong tập phải có đầy đủ các đặc điểm của thể loại bản đồ chuyên đề, có nội dung phong phú và đa dạng, có tính hệ thống và nhất quán cao theo mục đích và chủ đề đã định của toàn tập [23]
1.2 CƠ SỞ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG TẬP BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI 1.2.1 Định nghĩa hệ thông tin Địa Lý - GIS
GIS được ra đời đầu tiên trên thế giới 1964 ở Canada với hệ thống GIS Theo thời gian GIS ngày càng phát triển và trở nên hoàn chỉnh hơn vào thập kỉ 90 của thế
kỉ XX Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của công nghệ thông tin thì GIS cũng phát triển rất mạnh mẽ với nhiều phần mềm hỗ trợ với nhiều tính năng ưu việt dễ sử dụng
Theo Viện nghiên cứu môi trường (ESRI) của Hoa Kì (1994) thì:“GIS là một
tổ chức tổng thể của bốn hợp phần: phần cứng máy tính, phần mềm, tư liệu Địa Lý
và người điều hành được thiết kế hoạt động một cách có hiệu quả nhằm tiếp nhận, lưu trữ, điều khiển, phân tích và hiển thị toàn bộ các dạng dữ liệu Địa Lý GIS có mục tiêu đầu tiên là xử lí hệ thống dữ liệu trong môi trường không gian Địa Lý” và
“GIS là công cụ trên cơ sở máy tính để thành lập bản đồ và phân tích những cái đang tồn tại và các sự kiện đang xảy ra trên Trái Đất Công nghệ GIS tích hợp các thao tác cơ sở dữ liệu truy cập và phân tích thống kê với lợi thế quan sát thống kê bản đồ Các khả năng này của GIS khác với các hệ thống thông tin khác Có rất nhiều chương trình máy tính sử dụng dữ liệu không gian như AutoCAD và các chương trình thống kê, nhưng chúng không phải là GIS vì chúng không có khả năng thực hiện các thao tác không gian”
Trang 281.2.2 Thành phần chức năng của hệ thông tin Địa Lý
- Hệ thông tin địa lý gồm 4 thành phần chính:
+ Phần cứng: Bao gồm hệ thống máy tính và thiết bị ngoại vi nhằm thực hiện chức năng vào, ra, xử lí dữ liệu
+ Phần mềm: Các phần mềm có thể giống nhau về chức năng nhưng khác nhau về tên gọi, hệ điều hành, môi trường giao diện, khuôn dạng, dữ liệu không gian và hệ trị cơ sở dữ liệu Phần mềm có các chức năng nhập thông tinh không gian và thông tin thuộc tính từ các nguồn, lưu trữ, điều chỉnh, cập nhật các thông tin; phân tích biến đổi thông tin và chức năng hiển thị, trình bày thông tin dưới các dạng khác nhau
+ Cơ sở dữ liệu: Gồm dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian liên kết với nhau làm cơ sở để xác định các đối tượng Địa Lý và thực hiện các thao tác phân tích, tổng hợp Dữ liệu không gian là các thành phần chính làm nên bản đồ gồm ba dạng điểm, đường, vùng Nguồn dữ liệu này phản ánh sự phân bố, vị trí và hình dạng các đối tượng Địa Lý, gồm hai dạng cấu trúc là cấu trúc raster và vecter:
Cấu trúc raster: biểu thị các số có giá trị liên tục như địa hình, không gian được chia nhỏ ra thành các ô, trong đó điểm tương ứng là một ô, đường là các ô, vùng là một mảng các ô xếp cạnh nhau
Cấu trúc vecter: để mô tả vị trí và phạm vi của đối tượng không gian bằng tọa độ cùng các kết hợp hình học nút, cạnh, mặt và các mối quan hệ giữa chúng Các dạng đối tượng Địa Lý được biểu diễn: các dữ liệu điểm là một cặp tọa độ, dữ liệu thường là chuỗi cặp tọa độ có điểm đầu và điểm cuối trùng nhau
Dữ liệu phi không gian: có chức năng mô tả đặc điểm của đối tượng, nó có thể là định tính mô tả chất lượng hay định lượng còn về mặt nguyên tắc dữ liệu thuộc tính của một đối tượng là không giới hạn
+ Con người: gồm người trực tiếp sử dụng và người quản lí GIS
- Hệ thông tin địa lý có 4 chức năng:
+ Nhập dữ liệu: dữ liệu gồm nhiều loại: ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, bản đồ, văn bản, số liệu đo đạc thực địa, dữ liệu số từ các cơ sở dữ liệu khác
+ Quản lí dữ liệu: lưu trữ cơ sở dữ liệu, khôi phục dữ liệu từ cơ sở dữ liệu, tổ chức dữ liệu trong những dạng cấu trúc thích hợp, thực hiện các chức năng lưu trữ
Trang 29và khôi phục trong các thiết bị lưu trữ
+ Thao tác dữ liệu: Là chức năng quan trọng nhất của GIS, cung cấp phương tiện cần thiết để phân tích dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính và tổng hợp các loại dữ liệu nhằm tạo ra thông tin mới, trợ giúp các quyết định không gian
+ Kết xuất dữ liệu: Sản phẩm của GIS có thể kết xuất ở nhiều dạng: bản đồ giấy, bản đồ in trên màn hình, bản đồ số, ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, ảnh mặt đất dạng số, bản báo cáo, bảng số, các dạng dữ liệu lưu trong hệ thống máy tính
1.2.3 Giới thiệu phần mềm sử dụng xây dựng tập bản đồ
1.2.3.1 Giới thiệu phần mềm ứng dụng Mapinfo
Mapinfo là sản phẩm của công ty Mapinfo Corporration của Mỹ Đây là một phần mềm GIS khá hữu hiệu để tạo ra và quản lí một cơ sở dữ liệu Địa Lý vừa và nhỏ trên máy tính cá nhân Đây là một phần mềm tương đối gọn nhẹ, dễ sử dụng, có thể nhập dữ liệu, quản lí dữ liệu phân tích và xử lí dữ liệu Đặc biệt, Mapinfo có thể biên tập và tạo ra các trang in bản đồ (Layout) rất tiện lợi, đẹp và chính xác ở các tỉ lệ khác nhau
Hiện nay với các công cụ bổ sung trên Tools, mapinfo có thể sử dụng mô hình không gian, xử lí các phép toán phân tích không gian trên dữ liệu raster và vecter
Nhờ có nhiều tính năng ưu việt trên nên Mapinfo được sử dụng trong nhiều lĩnh vực trong đó có giảng dạy
- Cửa sổ giao diện của Mapinfo chính trong Maponfo
Khi làm việc với lớp dữ liệu trong Mapinfo, các cửa sổ chính thường xuyên xuất hiện đó là: map windown: hiển thị dữ liệu không gian (điểm, đường, vùng), browser windown: hiển thị dữ liệu thuộc tính dưới dạng bảng, graph windown: tạo
và hiển thị biểu đồ dựa vào dữ liệu thuộc tính, layout windown: trình bày trang in bản đồ Các thanh công cụ chính: Tools: thanh công cụ, Standard: thanh chuẩn, Main: thanh chính, Drawing: thanh vẽ
Trang 30Hình 1.1 Giao diện phần mềm Mapinfo và các cửa sổ chính
- Tổ chức thông tin: theo tệp tin và các lớp đối tượng
Theo tệp tin:
+ * Tab: chứa thông tin mô tả cấu trúc bảng dữ liệu Đây là một tập tin dạng văn bản mô tả khuôn dạng của file lưu trữ thông tin
+ * Dat: Là file chứa các thông tin nguyên thủy
+ * Map: Gồm các thông tin mô tả về không gian của đối tượng Địa Lý
+ * Id: Gồm các thông tin liên kết đối tượng với nhau
+ * Ind: Chứa các thông tin về chỉ số đối tượng, chỉ số có trong cấu trúc của table, có ít nhất một trường được chọn làm chỉ số
+ * Wor: Là tập tin quản lí tổng hợp các cửa sổ thông tin và lưu lại những kết quả làm việc với dữ liệu không gian
Trang 31+ Lớp chứa dạng đường: Thể hiện đối tượng chạy dọc theo một khoảng cách nhất định và không có đường viền khép kín Có thể là các đoạn thẳng, đường gấp khúc
+ Lớp chứa dạng vùng: Thể hiện các đối tượng có đường viền kín, bao phủ một diện tích nhất định
Dạng text Dạng điểm Dạng đường Dạng vùng
Hình 1.2 Các đối tượng hình học trong xây dựng bản đồ
1.2.3.2 Giới thiệu phần mềm ứng dụng Arc GIS
ArcGIS là phần mềm tích hợp của các thành phần:
- ArcGIS System: sử dụng mô hình dữ liệu hướng đối tượng có quan hệ gọi
là Geodatabase để biểu diễn thông tin Địa Lý trong một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) Mô hình Geodatabases không chỉ thể hiện những đặc trưng không gian
mà cả những hành vi, quy tắc và những mối liên hệ của chúng với các lớp đặc trưng khác và những đối tượng khác trong Geodatabase Sự hợp nhất các tính chất với các đặc trưng cho phép tạo ra những mô hình GIS phức tạp, tiên tiến hơn Xây dựng và quản lý một Geodatabase dùng chung cho nhiều người đòi hỏi phải có một hệ thống GIS, cơ sở dữ liệu, ArcGIS Desktop và ArcSDE Sử dụng ArcGIS Desktop với ArcSDE để thiết kế cơ sở dữ liệu, xác định các tính chất của các đặc trưng, bổ sung
và biên tập nội dung Geodatabase
Trang 32Hình 1.3 Giao diện phần mềm Arc Map trong Bộ Arc GIS và các cửa sổ chính
- ArcGIS Desktop bao gồm 3 ứng dụng, mỗi ứng dụng có những chức năng ngày càng được nâng cấp
+ ArcMap để xây dựng, hiển thị, xử lý và phân tích các bản đồ ArcMap là một chương trình quan trọng trong bộ ArcGIS
+ ArcCatalog để quản lý, theo dõi các dữ liệu đã có hoặc tạo mới và mô tả các dữ liệu mới
+ ArcToolbox cung cấp các công cụ và các lệnh để xử lý, xuất - nhập dữ liệu
từ ArcGIS sang các định dạng khác như MapInfo, MicroStation, AutoCAD
Như vậy, ArcGIS10.1 có những chức năng cơ bản đó là:
+ Nhập thông tin không gian và thông tin thuộc tính từ các nguồn khác nhau + Lưu trữ, điều chỉnh, cập nhật và tổ chức các thông tin không gian và thông tin thuộc tính
+ Phân tích biến đổi thông tin trong cơ sở dữ liệu nhằm giải quyết các bài toán tối ưu và mô hình mô phỏng không gian - thời gian (như bài toán biến động, đền bù, )
+ Hiển thị và trình bày thông tin dưới các dạng khác nhau (bản đồ, ảnh, bảng biểu…) với các biện pháp khác nhau
Trang 331.3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DẠY HỌC
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh THPT
1.3.1.1 Tâm lý
Đối tượng sử dụng chính của tập bản đồ là học sinh phổ thông đây là thời kỳ học sinh phát triển rất mạnh về cả cơ thể và tâm sinh lý Cách ứng của của học sinh đối với các môn học dần trở nên có lựa chọn hơn Học sinh có thể hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp và trong giai đoạn cuối của bậc học phổ thông học sinh có thể đã xác định được cho mình một sự hứng thú nhất định đối với một môn học hoặc một số môn học nào đó, sự hứng thú đối với một lĩnh vực tri thức hay một số lĩnh vực tri thức nhất định Những hứng thú này có thường liên quan với vấn đề lựa chọn một nghề nghiệp nhất định của học sinh Thái
độ học tập ở khá đông học sinh là bên cạnh việc học sinh học tập rất tích cực một số môn học mà học sinh cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, thì mặt khác học sinh lại lơ là, sao nhãng các môn học khác, các môn mà học sinh cho rằng không quan trọng với định hướng nghề nghiệp, định hướng thi cử của mình hoặc chăng học sinh chỉ học cho qua, chỉ để đạt được điểm trung bình Do vậy, nhà giáo dục, giáo viên cần làm cho học sinh hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo dục phổ thông đối với giáo dục mỗi chuyên ngành và với bản thân học sinh, xã hội
Thái độ học tập có ý thức sẽ thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của người học trong các hoạt động học tập [25]
1.3.1.2 Nhân cách
Học sinh phổ thông lứa tuổi trung học (15 - 18 tuổi) là lứa tuổi mà nhân cách
đã và đang trong giai đoạn định hình So với học sinh trung học lứa tuổi cơ sở, học sinh trung học phổ thông có năng lực nhận thức hoàn thiện hơn, học sinh có thể tự tìm hiểu sâu và nắm được bản chất của các vấn đề chứ không hẳn chỉ nhìn nhận sự việc một cách nông nổi và phiến diện Nếu kích thích được hứng thú học tập, được khuyến khích học sinh sẽ có những suy nghĩ mạnh dạn, độc đáo [25]
Đối với học sinh lớp 11, học sinh đã được trang bị những hiểu biết khoa học
cơ bản và những vấn đề đại cương từ THCS và đặc biệt là từ quá trình học tập năm
Trang 34lớp 10, nên nhu cầu cũng như năng lực tư duy, khái quát, vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tế của học sinh là rất cao Học sinh không còn chấp nhận kiến thức một cách áp đặt hiên nhiên mà luôn đặt câu hỏi cho tri thức, cho các khái niệm, vấn
đề, các hiện tượng mới, học sinh luôn ham mê tìm hiểu, mở rộng vốn hiểu biết của mình mà đặc biệt là các tri thức Địa Lý với các nội dung học tập gần gũi thực tế, đó
là các vấn đề khái quát về nền kinh tế - xã hội thế giới và sự phát triển cũng như đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của các khu vực, quốc gia lại càng thu hút sự quan tâm của học sinh hơn
Do đó, bản thân giáo viên là nhà giáo dục chủ động cần phải có những hoạt động, phương pháp dạy học phù hợp, để phát huy tối đa năng lực của học sinh, đồng thời hình thành tình yêu, niềm đam mê tri thức, thu hút, nuôi dưỡng tình yêu, niềm đam mê học tập, nghiên cứu của học sinh đối với các môn học nói chung và với môn Địa Lý nói riêng
1.3.1.3 Đặc điếm của sự phát triển trí tuệ
Ở lứa tuổi thanh niên, vấn đề học sinh ghi nhớ có chủ định sẽ giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động trí tuệ, đồng thời tầm quan trọng của việc ghi nhớ logic trìu tượng, ghi nhớ ý nghĩa, sự tư duy ngày một tăng (học sinh biết cách sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ như tóm tắt ý chính, so sánh tương quan, đối chiếu, )
Đặc biệt, học sinh tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ nội dung cái gì cần hiểu mà không cần nhớ, Với một số học sinh còn xuất hiện tư duy ghi nhớ đại khái, chung chung, thậm chí đánh giá thấp việc ôn tập tài liệu Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển, sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung và bản thân mỗi học sinh nói riêng, do ảnh hưởng của các hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của các học sinh có thay đổi quan trọng Bản thân học sinh
có khả năng tư duy lí luận, khả năng tư duy trừu tượng một cách sáng tạo, độc lập trong những đối tượng quen biết đã được học ở trường Khả năng tư duy của học sinh chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm này đã tạo điều kiện cho học sinh có năng lực thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của các khái niệm
Trang 35trừu tượng hoặc nắm được những mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội Đó chính là cơ sở để hình thành thế giới quan
Tuy nhiên, không phải học sinh phổ thông nào cũng vậy, hiện nay số học sinh trung học phổ thông đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều Nhiều khi các em chưa thể phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận nhanh chóng, vội vàng theo cảm tính Vì vậy, việc giúp học sinh phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ cần thiết, quan trọng của giáo viên
Tóm lại, ở tuối phổ thông trung học, những đặc điểm chung của con người
về mặt trí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện [25]
1.3.2 Vai trò của bản đồ trong dạy học Địa Lý
Trong dạy học Địa Lý, phương tiện dạy học có nhiều loại bao gồm cả truyền thống và hiện đại như: phòng bộ môn Địa Lý, vườn Địa Lý, các máy móc, các trang thiết bị, dụng cụ, và các đồ dùng dạy học như: bản đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, đầu video, máy vi tính, Các loại phương tiện này có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học Địa Lý ở nhà trường phổ thông [30]
Tuy nhiên, tri thức của môn học Địa Lý có tính lãnh thổ, không gian, vận động và biến đổi theo thời gian, có mối quan hệ, liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các sự vật, hiện tượng khác nhau nên các phương tiện học tập: bản đồ, bảng số liệu, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh, video clip, càng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động học tập Thông qua các phương tiện này, học sinh có hình ảnh trực quan về đối tượng nhận thức, chủ thể và đối tượng nhận thức gặp nhau, làm cho quá trình nhận thức được dễ dàng và sâu sắc hơn [30]
Trong các PTTQ thường được sử dụng trong hoạt động học tập Địa Lý thì bản đồ là một phương tiện đóng vai trò quan trọng bậc nhất, phương pháp dạy học bằng bản đồ là phương pháp dạy học đặc thù của Địa Lý
Mục đích chủ yếu của quá trình hoạc tập Địa Lý ở nhà trường phổ thông là hình thành cho học sinh những biểu tượng, những khái niệm Địa Lý, những quan điểm về
sự phát triển của tự nhiên và xã hội Bản đồ sẽ giúp học sinh dễ dàng nhận thức được không gian và mối quan hệ không gian giữa các sự vật, hiện tượng Địa Lý
Trang 36Thực hiện dạy học Địa Lý bằng bản đồ sẽ giúp cho giáo viên truyền tải tới học sinh được một khối lượng lớn tri thức Địa Lý trong trong hoàn cảnh thời gian học tập có hạn mà việc truyền tải đó lại hấp dẫn, nhẹ nhàng, sinh động và hiệu quả Dạy học Địa Lý bằng bản đồ còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy Địa Lý, năng lực quan sát, tưởng tượng, năng lực tư duy phân tích tổng hợp và năng lực khái quát hóa [30]
Bản đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành cho học sinh quy luật phân bố các đối tượng Địa Lý, quy luật phân bố lực lượng sản xuất của mỗi một vùng, một nước, một khu vực, quy luật phân công lao động theo lãnh thổ, Bản đồ giúp cho học sinh hiểu được trên lãnh thổ có cái gì? ở đâu, khi nào và tại sao? Bản đồ phản ánh đầy đủ về sự khai thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, việc phát triển tổng hợp và chuyên môn hóa các ngành sản xuất, việc hoàn thiện sự phân công lao động xã hội giữa các vùng kinh tế [2]
Bản đồ được coi là chìa khóa của tri thức Địa Lý, là một trong những phương tiện tốt nhất để nhận thức thế giới, vì vậy dạy và học Địa Lý bằng bản đồ, việc khai thác tri thức Địa Lý trên bản đồ sẽ giúp học sinh chủ động tiếp nhận, lĩnh hội tri thức và ghi nhớ tri thức lâu bền Việc rèn luyện kĩ năng bản đồ là cần thiết và sẽ phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh
1.3.3 Mục tiêu, chương trình môn Địa Lý 11 ở trường THPT
1.3.3.1 Mục tiêu
Hoàn thành chương trình Địa Lý lớp 11 (chương trình Chuẩn), học sinh phải đạt được:
Về kiến thức: Hiểu và trình bày được những kiến thức phổ thông, cơ bản
- Đặc điểm chung của nền kinh tế thế giới đương đại:
+ Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm nước: phát triển, đang phát triển, nước kém phát triển, nước công nghiệp mới (NIC)
+ Đặc điếm nổi bật, tác động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đến sự phát triển kinh tế thế giới và mỗi quốc gia
+ Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá trên thế giới
Trang 37+ Một số vấn đề mang tính toàn cầu: bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường, + Một số vấn đề của châu lục và khu vực: tiềm năng phát triển cũng như một
số vấn đề cần giải quyết để phát triển kinh tế - xã hội của các châu lục và khu vực trên thế giới
- Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội cũng như sự ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế và tình hình phát triển của một số quốc gia, khu vực (Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Liên Bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, Ôxtrâylia) tiêu biểu cho trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau trên toàn thế giới
Về kỹ năng: Củng cố và tiếp tục phát triển các kĩ năng:
- Nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng Địa Lý
- Xây dựng biếu đồ, sử dụng và khai thác bản đồ, số liệu thống kê liên quan đến Địa Lý kinh tế- xã hội thế giới, khu vực và một số quốc gia tiêu biểu
- Thu thập, phân tích, trình bày các thông tin Địa Lý của một số khu vực hay quốc gia tiêu biểu trên thế giới
- Vận dụng kiến thức ở mức độ nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng Địa Lý đang diễn ra trên thế giới, trong khu vực, phù họp với khả năng của học sinh
- Thu thập, tìm hiểu, phân tích các thông tin xung quanh đời sống có liên quan đến Địa Lý
Về thái độ:
- Có tình yêu đất nước, con người trên tinh thần quốc tế
- Biết phân biệt và ủng hộ những xu thế tiến bộ, tất yếu của thời đại với những xu thế khác
- Có ý thức quan tâm đến những vấn đề cấp thiết mang tình toàn cầu như dân
Trang 38thác tri thức từ bản đồ, bên cạnh kết hợp sử dụng các phương tiện trực quan khác, cũng như các kĩ thuật dạy học tích cực
1.3.3.2 Chương trình Địa Lý lớp 11 - THPT
Chương trình Địa Lý 11 mới là sự mở rộng, đào sâu kiến thức Địa Lý thế giới trên cơ sở những kiến thức Địa Lý thế giới đã cung cấp cho học sinh ở bậc trung học cơ sở, lớp 7,8
Chương trình Địa Lý 11 mới - Địa Lý kinh tế - xã hội thế giới theo định hướng đổi mới sách giao khoa của bộ được thể hiện ở Phụ lục 6
Một số vấn đề về khu vực Tây Nam Á bao gồm nội dung về ủy hội sông
Mê Công, nội dung hợp tác hòa bình trong khai thác biển Đông được trình bày ở Phụ lục 7
Phương pháp viết báo cáo Địa Lý bao gồm quan niệm về báo cáo, quy tình viết một bản báo cáo, chọn đề tài báo cáo được thể hiện trong Phụ lục 8
Sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên là những tài liệu cụ thể hóa nội dung của chương trình Toàn bộ nội dung sách giáo khoa Địa Lý bao gồm những tri thức Địa Lý được lựa chọn, cấu tạo phù hợp với cấu trúc logic nội dung và cấu trúc logic của quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh
Sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên là những tài liệu cụ thể hóa nội dung của chương trình Toàn bộ nội dung sách giáo khoa Địa Lý bao gồm những tri thức Địa Lý được lựa chọn, cấu tạo phù hợp với cấu trúc logic nội dung và cấu trúc logic của quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh
1.3.4 Thực trạng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa Lý ở trường THPT
Dựa trên việc tham khảo, thu thập ý kiến khảo sát tình hình sử dụng bản đồ trong dạy học Địa Lý 11 trên địa bàn một số tỉnh, thành phố: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai của gần 30 giáo viên là những nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy Địa Lý 11 - THPT qua biểu mẫu được phổ biến theo đường liên kết sau:
https://docs.google.eom/forms/d/14NtTq6d6qbtaBeEfeOOS6PBy_Ckfzc3C2Xvx8nƯd3FQ/viewform?c=0&w=l
Trang 39Có thể thấy phần lớn các giáo viên đều có chung một số nhận định về thực trạng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa Lý lớp 11 - THPT:
- Nhìn chung các giáo viên đều nhìn nhận, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của bản đồ trong dạy học Địa Lý, đặc biệt với nội dung chương trình Địa Lý 11
- Trong hoạt động học tập các giáo viên thường sử dụng bản đồ trong dạy bài mới và củng cố bài, ôn tập Bản đồ được sử dụng như một nguồn tài liệu để học sinh khai thác tri thức, ngoài ra bản đồ còn để minh họa cho bài giảng của giáo viên
- Tại hầu hết các trường phổ thông hiện nay, bản đồ đều thiếu cả về chất và lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy và học
- Các loại bản đồ cơ bản mà giáo viên sử dụng gồm có: bản đồ sách giáo khoa, bản đồ giáo khoa treo tường, tập bản đồ ―thế giới và các châu lục‖, tập bản đồ
- bài tập và thực hành Địa Lý 11 và một số bản đồ trên các phương tiện thông tin đại chúng do giáo viên tự sưu tầm Trong đó, bản đồ trong sách giáo khoa và bản đồ giáo khoa treo tường là hai loại được sử dụng rộng rãi nhất (chiếm 87%) Bản đồ trong sách giáo khoa khá đầy đủ, phân bố theo từng đơn vị kiến thức của bài học, tuy nhiên không phải tất cacr các nội dung đều được thể hiện trên các hệ thống bản
đồ, vẫn còn thiếu một số bản đồ như: Bản đồ về sự phân chia các nhóm nước trên thế giới theo các tiêu chí khác nhau hay như bản đồ dân cư, kinh tế Tây Nam Á, các bản đồ hành chính quốc gia Bản đồ treo tường ở một số trường đã cũ và không còn đầy đủ, thông tin không cập nhật đặc biệt là các thông tin về dân cư kinh tế trong khi thế giới biến đổi không ngừng
- Tập bản đồ ―thế giới và các châu lục‖ chỉ sử dụng ở một số bài trong phần khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới, còn phần Địa Lý khu vực và quốc gia sử dụng không hiệu quả vì tập bản đồ này không có các bản đồ cụ thể các khu vực và quốc gia riêng như chương trình sách giáo khoa
- Công nghệ ngày càng phát triển các giáo viên trẻ cũng đã biết đến bản đồ giáo khoa điện tử nhưng chưa thực sự biết biên tập và sử dụng các bản đồ Thông thường các giáo viên khi thiết kế bài giảng điện tử thường dùng hình ảnh bản đồ
Trang 40được chụp hay scan từ sách giáo khoa hoặc sưu tầm từ các phương tiện thông tin đại chúng Chỉ có phần nhỏ giáo viên (26.7% GV trong số GV được khảo sát) đã từng
sử dụng các phần mêm chuyên dụng như Mapinfo, ArcMap để tự xây dựng bản đồ các quốc gia và khu vực để dạy học Tuy vậy, trong quá trình thiết kế bản đồ còn gặp nhiêu khó khăn về thời gian, về trình độ công nghệ thông tin, hoặc nguồn cơ sở
dữ liệu
- Giáo viên mong muốn có được một hệ thống bản đồ các khu vực - quốc gia với đầy đủ các bản đồ có nội dung phù hợp, cập nhật và bám sát chương trình sách giáo khoa, và định hướng đổi mới giáo dục để phục vụ cho việc dạy và học Địa Lý
11 đạt hiệu quả
Thiết nghĩ cần thiết phải xây dựng một hệ thống tập bản đồ giáo khoa điện tử phục vụ cho dạy và học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Địa Lý lớp 11 - THPT