CÂU HỎI Lịch sử phát triển của ngoại thương Việt Nam? Chỉ rõ chính sách TMQT áp dụng trong mỗi giai đoạn này? Phân tích ưu điểm, hạn chế của chính sách TMQT mà chúng ta đã sử dụng? 1 Ngoại thương Việt. CÂU HỎI: Lịch sử phát triển của ngoại thương Việt Nam? Chỉ rõ chính sách TMQT áp dụng trong mỗi giai đoạn này? Phân tích ưu điểm, hạn chế của chính sách TMQT mà chúng ta đã sử dụng? 1. Ngoại thương Việt Nam trước cách mạng tháng tám 1945 1.1. Ngoại thương Việt Nam dưới chế độ phong kiến Lịch sử: Kinh tế nước ta thời gian này là kinh tế tự nhiên, cho nên những thứ mà thương nhân nước ngoài ưa chuộng còn là những sản vật tự nhiên, lấy ở trên rừng, dưới biển về bán > Chủ yếu buôn bán các mặt hàng không có sẵn. Chính sách: Ngoại thương dưới thời phong kiến diễn ra giữa một số nước muốn bán sản phẩm công nghiệp của mình cho Việt Nam và mua hàng thủ công nghiệp cùng sản vật thiên nhiên. Những thể lệ mua bán thường không thành văn bản mà làm theo lệnh của vua chúa. Quan hệ buôn bán của Việt Nam thời phong kiến chủ yếu với Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha.... Đặc điểm nổi bật của kinh tế Việt Nam thời kỳ này là: Hoạt động sản xuất hàng hóa giản đơn và một thị trường trong nước chật hẹp, chia cắt. Tiến hành ngoại thương một cách tùy tiện, độc đoán. Những thể lệ mua bán thường không thành văn bản mà làm theo lệnh của vua chúa. Ưu điểm: Chính sách ngoại thương giúp ngăn ngừa, hạn chế được việc do thám của nước ngoài. Gắn chặt người dân với đồng ruộng, hạn chế được việc người dân rời quê đi buôn bán. Phát huy thế mạnh về nông nghiệp và tận dụng nguồn lực
Trang 1CÂU HỎI : Lịch sử phát triển của ngoại thương Việt Nam? Chỉ rõ chính sách TMQT áp dụng trong mỗi giai đoạn này? Phân tích ưu điểm, hạn chế của chính sách TMQT mà chúng ta đã sử dụng?
1 Ngoại thương Việt Nam trước cách mạng tháng tám 1945
1.1 Ngoại thương Việt Nam dưới chế độ phong kiến
*Lịch sử: Kinh tế nước ta thời gian này là kinh tế tự nhiên, cho nên những thứ
mà thương nhân nước ngoài ưa chuộng còn là những sản vật tự nhiên, lấy ở trên rừng, dưới biển về bán -> Chủ yếu buôn bán các mặt hàng không có sẵn
*Chính sách:
- Ngoại thương dưới thời phong kiến diễn ra giữa một số nước muốn bán sản phẩm công nghiệp của mình cho Việt Nam và mua hàng thủ công nghiệp cùng sản vật thiên nhiên
- Những thể lệ mua bán thường không thành văn bản mà làm theo lệnh của vua chúa
- Quan hệ buôn bán của Việt Nam thời phong kiến chủ yếu với Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha
*Đặc điểm nổi bật của kinh tế Việt Nam thời kỳ này là:
- Hoạt động sản xuất hàng hóa giản đơn và một thị trường trong nước chật hẹp, chia cắt
- Tiến hành ngoại thương một cách tùy tiện, độc đoán Những thể lệ mua bán thường không thành văn bản mà làm theo lệnh của vua chúa
*Ưu điểm:
- Chính sách ngoại thương giúp ngăn ngừa, hạn chế được việc do thám của nước ngoài
- Gắn chặt người dân với đồng ruộng, hạn chế được việc người dân rời quê đi buôn bán
- Phát huy thế mạnh về nông nghiệp và tận dụng nguồn lực tự nhiên quốc gia (rừng, biển,…)
*Hạn chế:
- Tình hình kinh tế trong nước ở trạng thái không có nhiều sản phẩm cần
được tiêu thụ
- Việc mua bán hầu như do bọn vua quan độc quyền để kiếm lời cho bản thân
1.2 Ngoại thương Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
*Lịch sử phát triển:
- Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam là một “thuộc địa khai thác”, thuộc địa kém phát triển nhất trong các thuộc địa ở Châu Á
- Xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng thuộc nhóm nông sản và khoáng sản, chủ yếu là gạo, cao su và than đá Trong đó, hai mặt hàng là gạo và cao su chiếm 70-80% kim ngạch xuất khẩu
Trang 2- Nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng và một số nguyên liệu như xăng dầu, bông, vải Ngoài ra, nước ta cũng có nhập khẩu máy móc thiết bị nhưng chiếm
tỷ lệ thấp
*Chính sách: Pháp thực hiện ở Đông Dương một hàng rào thuế quan rất chặt chẽ, có lợi cho chúng
- Ngày 11/11/1892, Pháp ban hành luật về “đồng hóa thuế quan”, Việt Nam và Pháp nằm trong một hàng rào thuế quan chung -> tạo điều kiện cho hàng hóa của Pháp có thể cạnh tranh dễ dàng so với hàng hóa của các nước khác, và giữ địa vị trí độc quyền trên thị trường Việt Nam (Theo chính sách này, hàng hóa của Pháp nhập khẩu vào Việt Nam được miễn thuế hoàn toàn (vì coi VN như là lãnh thổ của Pháp), còn hàng của các nước khác nhập vào Việt Nam phải nộp thuế từ 25% đến 130% giá trị hàng hóa tùy theo từng loại Chính sách này đã tạo điều kiện cho hàng hóa của Pháp có thể cạnh tranh dễ dàng so với hàng hóa của các nước khác, và giữ vị trí độc quyền trên thị trường Việt Nam Từ đó, hàng nhập khẩu của Pháp dần dần chiếm ưu thế trên thị trường Việt Nam Tỷ lệ hàng của Pháp trong tồng số hàng nhập khẩu tăng lên rõ rệt,
từ 37% năm 1894 lên 50% năm 1898, và lên tới 62% vào các năm 1929-1930 )
- Tháng 10/1940, chính sách “đồng hóa thuế quan” được Pháp thay bằng chế
độ “thuế quan tự trị” và bắt đầu thi hành từ 1/1/1941
Nội dung chính sách “thuế quan tự trị”:
+ Hàng của nước Pháp nhập khẩu và Đông Dương và của các nước Đông
Dương nhập vào Pháp ko đc miễn thuế, trừ những mặt hàng do chính phủ Pháp quy định trong danh mục cụ thể
+ Thuế nhập khẩu áp dụng ở Đông Dương do các nước Đông Dương quy định nhưng phải được chính phủ Pháp phê duyệt
- Hàng rào thuế quan được nới lỏng, thuế suất tối đa được bãi bỏ, thuế suất tối thiểu được áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ nước ngoài
Tuy nhiên, đối với hàng nhập khẩu từ Nhật Bản được hưởng thuế suất đặc biệt, thấp hơn thuế suất tối thiểu
- Chính sách xuất khẩu sản phẩm thô được thực thi dựa trên sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện thuận lợi của Việt Nam
*Ưu điểm:
- Kinh tế có bước phát triển, nhất là trong nông nghiệp đạt được nhiều thành tựu
- Sau khi thay đổi sang chính sách “thuế quan tự trị”, các nước thuộc địa có lợi hơn so với chính sách “đồng hóa thuế quan” (ý thứ 3 của chính sách)
- Cán cân ngoại thương của Việt Nam thời Pháp thuộc trong 50 năm
(1890-1939) chỉ có 9 năm nhập siêu, còn 41 năm xuất siêu
- Xuất hiện nhiều mặt hàng mới theo chân người Pháp du nhập sang Việt Nam như: bánh mì, bơ, pho mát, các loại nông sản: súp lơ, tỏi tây,…
Trang 3*Hạn chế:
- Khối lượng xuất siêu phản ánh mức độ tước đoạt, bóc lột của thực dân Pháp
- Tất cả người Pháp đến Việt Nam để xâm lược, áp đặt nền thống trị Pháp và tận thu tài nguyên, áp đặt buôn bán có lợi cho người Pháp
- Nền công nghiệp và thương mại giai đoạn này hoàn toàn cho người Pháp khởi xướng và áp đặt
- Chính sách “đồng hóa thuế quan” tạo điều kiện cho hàng hóa của Pháp có thể cạnh tranh dễ dàng so với hàng hóa của các nước khác, và giữ địa vị trí
độc quyền, chiếm ưu thế trên thị trường Việt Nam
2 Ngoại thương Việt Nam thời kỳ 1945 - 1954
*Lịch sử TMQT:
- Cuối năm 1950, quan hệ chính thức về kinh tế và thương mại giữa nước ta với nước ngoài về mặt nhà nước được thiết lập
- ký Hiệp định thương mại với Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
(1952) và Nghị định thư về mậu dịch tiểu ngạch biên giới (1953), quy định việc trao đổi hàng hóa giữa nhân dân các tỉnh biên giới Việt - Trung
*Chính sách:
- Tranh thủ thuận lợi do thắng lợi của chiến dịch biên giới đưa lại, ngoại giao
đã thành công thúc đẩy thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt nam (Đầu năm 1950, lần đầu tiên chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân ở châu Á, Đông Âu Các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành chỗ dựa quan trọng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Phối hợp với mặt trận quân sự, Việt nam đã tham gia Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, buộc các nước lớn công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Đông Dương, giải phóng được miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.)
- Tập trung xuất khẩu nông, lâm, thổ sản: chè, sơn gỗ, hoa hồi, quế… sang Trung Quốc và đồng thời nhập khẩu từ Trung Quốc máy móc, dụng cụ, sắt thép, hóa chất, vải sợi, hàng tiêu dùng…
*Ưu điểm:
- Kinh tế có bước chuyển biến mới: giá trị hàng hóa trao đổi với nước ngoài năm 1954 tăng gấp 4 lần so với năm 1952
- Phát triển mạnh cả về nông nghiệp lẫn lâm nghiệp và thổ sản
*Hạn chế:
- Chính sách áp bức bóc lột của Pháp và Nhật những năm trước đó để lại những hậu quả nặng nề Mọi ngành sản xuất đều bị sa sút, đình trệ; hàng hóa khan hiếm; thị trường đình đốn, tiêu điều
Trang 4- Thời kì này nước ta gặp nhiều khó khăn vì bị địch bao vây, cấm vận nền kinh
tế, khối lượng buôn bán với bên ngoài rất hạn chế do hoàn cảnh chiến tranh
và chịu sự bao vây, phong tỏa của kẻ địch
- Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp bị đình đốn, giảm sút mạnh, nguồn hàng hóa cung ứng cho thị trường rất tham hiếm, giá cả hàng hóa tăng vụt
3 Ngoại thương Việt Nam thời kỳ 1955 - 1975
*Lịch sử:
- Từ năm 1955 , chính phủ ta đã ký với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác các hiệp định về viện trợ hàng hóa và kỹ thuật
- Đối với các nước ngoài hệ thống XHCN, Chính phủ ta ký Hiệp định thương mại với Chính phủ Pháp (1955), Ấn Độ (1956), Indonesia (1957),
- Các tổ chức kinh tế của ta cũng đặt quan hệ buôn bán với các công ty Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Hà Lan, Anh , đến năm 1964, Miền Bắc có mối quan hệ thương mại với 40 nước
*Chính sách:
- Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, ký các hiệp định với các nước Liên Xô, XHCN về viện trợ hàng hóa, kỹ thuật
- Chủ động cơ hội phát triển, đặt quan hệ buôn bán với nhiều nước
*Đặc điểm cơ bản của hoạt động ngoại thương thời kỳ này là:
- Về hoạt động: Xuất khẩu tăng rất chậm nhưng nhập siêu cực kỳ lớn
- Về chính sách: Ngoại thương chủ yếu với các nước XHCN (chiếm 85-90% tổng kim ngạch)
*Ưu điểm:
- Có mối quan hệ gắn kết với các nước ngoài hệ thống XHCN về thương mại (Pháp , Ấn Độ, Indonesia,…)
- Mở rộng thị trường (có quan hệ mua bán với các công ty Nhật, Hong
Kong,…)
- Kim ngạch xuất khẩu tăng mỗi năm
- Kim ngạch nhập khẩu tăng rất nhanh (chủ yếu là nhập tư liệu sản xuất)
*Hạn chế:
- Kim ngạch XK tuy tăng mỗi năm nhưng tăng rất chậm Trong kim ngạch nhập khẩu, tỷ trọng viện trợ không hoàn lại lớn
- Công nghiệp và thương mại phụ thuộc vào viện trợ, công nghiệp hướng nội, chưa giải quyết được vấn đề năng lượng, thương mại chủ yếu nhập khẩu và tiêu thụ hàng viện trợ
- Trình độ phát triển kinh tế lạc hậu và không ổn định, hàng xuất khẩu chủ yếu
là nông sản, khoáng sản và gỗ,…
4 Ngoại thương Việt Nam thời kỳ 1976 - 2000
4.1 Giai đoạn trước khi đổi mới nền kinh tế 1976 – 1985
*Lịch sử:
Trang 5- Năm 1977, nước ta tham gia Ngân hàng Đầu tư Quốc tế và Ngân hàng Hợp tác Quốc Tế
- Tháng 7/1978 nước ta gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế
- Ngày 18/4/1977, Chính phủ ta ban hành Điều lệ về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
*Chính sách:
- Chủ yếu hợp tác với các nước XHCN, như: mở rộng và tăng cường hợp tác toàn diện với Liên Xô và phát triển hợp tác với các nước trong hội đồng
tương trợ kinh tế
- Đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế với các nước ngoài hệ thống XHCN (mục đích 2 của chính sách trên là để tranh thủ đc sự giúp đỡ về vật chất của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh)
- Hoạt động theo nguyên tắc Nhà nước độc quyền về ngoại thương và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác
*Đặc điểm chung của hoạt động ngoại thương thời kỳ này là: Nước ta tiếp tục nhận được sự hợp tác và hỗ trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa ( Tuy nhiên,
Mỹ và các nước phương Tây thực hiện cấm vận kinh tế và phân biệt đối xử trên thị trường quốc tế như ngưng viện trợ đầu tư, ngừng các khoản tín dụng
đã cam kết đã gây cho ta rất nhiều khó khăn trong phát triển ngoại
thương.)
*Ưu điểm:
+ Tạo tiền đề để từng bước thâm nhập thị trường thế giới, từng bước tham gia vào lộ trình hội nhập với kinh tế thế giới
+ Có những thành tựu, sự kiện đáng chú ý ở hoạt động lĩnh vực ngoại
thương (Xuất khẩu tăng qua các năm: Dẫn số liệu bảng 6.3 trong sách trang
188 ra)
*Hạn chế:
- Việt Nam chưa thực sự nỗ lực trong việc thúc đẩy, phát triển quan hệ hợp tác song phương, đa phương (vì còn chậm trễ trong nhận thức về các vấn đề của khu vực, nhất là những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong ASEAN.)
- Trong quá trình phát triển ngoại thương còn gặp nhiều khó khăn (vì nc ta bị
Mỹ và các nước phương Tây thực hiện cấm vận kinh tế và phân biệt đối xử trên thị trường quốc tế như ngưng viện trợ đầu tư, ngừng các khoản tín dụng
đã cam kết…)
- Hoạt động theo nguyên tắc Nhà Nước độc quyền về ngoại thương đã kiềm hãm sự phát triển các hoạt động ngoại thương
Trang 6- So với nhập khẩu, tỷ lệ xuất khẩu hàng năm chỉ đạt khoảng từ 21-40%
(Trong vòng 10 năm từ 1976-1985, nước ta đã nhập siêu khoảng 10 tỷ rúp trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng năm chỉ đạt vài trăm triệu Rúp )
4.2 Giai đoạn từ sau khi đổi mới nền kinh tế đến 2000
4.2.1 Giai đoạn từ năm 1986 - 1995
*Lịch sử: Công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 họp cuối năm 1986
- Tính đến năm 1995, nước ta đã quan hệ buôn bán với hơn 100 nước và lãnh thổ thuộc đủ các châu lục trên thế giới;
- Ký Hiệp định hợp tác thương mại với EU; bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ (12/7/1995);
- Ngày 28/7/1995, VN gia nhập ASEAN
*Chính sách: Thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ kinh tế đối ngoại
*Ưu điểm:
- Nhờ thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, đã tạo những điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế ,
- Mở rộng thị trường buôn bán và hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới
và các tổ chức kinh tế khu vực
+ Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế (Bằng chứng là XK tăng bình quân 24%/năm so với 10 năm trước đó chỉ 13,5%, NK tăng 16%/năm so với 10 năm trươc chỉ 7%/năm)
+ Giảm khoảng cách giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu (xuất khẩu
chiếm tỉ lệ từ 33,6% đến 101,5% so với nhập khẩu hàng năm)
+ Đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ nước ta và đầu tư trong nước gia tăng
*Hạn chế:
- Sử dụng nguồn lực kém hiệu quả, chưa kiên quyết tập trung cho các chương trình, dự án kinh tế - xã hội cấp thiết
- XK hàng công nghiệp nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp tăng nhanh về tổng trị giá nhưng tỉ lệ trong cơ cấu XK ít thay đổi
4.2.2 Giai đoạn từ năm 1995 – 2000
*Lịch sử:
Sang năm 1995, Việt Nam có nhiều sự kiện quan trọng mà là nguồn gốc để giúp cho hoạt động ngoại thương của Việt Nam phát triển nhanh vượt bậc so với các giai đoạn trước đó
- Mỹ chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam;
- Tháng 7/1995 Việt Nam chính thức trở thành hội viên của Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và tham gia ngay vào chương trình khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA);
Trang 7- Tháng 11/1997, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)
*Chính sách:
- Tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại
- Chuyển các hoạt động ngoại thương từ cơ chế tập trung, bao cấp sang hạch toán kinh doanh
- Mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu trực tiếp cho các cơ sở sản xuất thuộc các thị phần kinh tế
- Tăng cường sự quản lý thống nhất của nhà nước đối với mọi hoạt động ngoại thương bằng luật pháp và chính sách (Hình thành hệ thống biện pháp, chính sách khuyến khích xuất khẩu Quản lý nhập khẩu chủ yếu thông qua chính sách thuế; giảm thiểu các biện pháp quản lý phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu…)
*Ưu điểm:
- Hoạt động thương mại phát triển nhanh vượt bậc so với các giai đoạn trước
đó
- Tốc độ tăng trưởng trung bình kim ngạch xuất khẩu cao so với các nước trong khu vực (Tốc độ tăng trưởng trung bình kim ngạch xuất khẩu từ năm 1995-2000 là 22% Riêng năm 2000, kim ngạch XK đạt 14.428,7 triệu USD bằng 1,65 lần kim ngạch XK năm 1995, gấp 18 lần năm 1986)
- Thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng theo hướng đa dạng hóa thị trường và đa phương hóa quan hệ kinh tế
- Xóa bỏ bao cấp và bù lỗ cho kinh doanh xuất nhập khẩu (ý 2 của chính sách)
- Sự độc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu như trước đây không còn (ý 3 của chính sách)
=> Những thay đổi trong quản lý và chính sách ngoại thương trong giai đoạn này đã góp phần tích cực vào sự phát triển buôn bán của nước ta với nước ngoài, đặc biệt là với thị trường các nước phát triển
*Hạn chế:
- Chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, nguy cơ tụt hậu xa hơn còn lớn, lực lượng sản xuất nhỏ bé, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng lạc hậu, trình độ khoa học chuyển biến chậm, năng suất lao động xã hội tăng chậm
- Việc xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng, vừa buông lỏng
- Tài chính, tiền tệ chưa ổn định và thiếu lành mạnh
5 Ngoại thương Việt Nam từ 2001 đến nay
*Lịch sử:
- Từ năm 2001 đến nay, hoạt động ngoại thương Việt Nam tăng trưởng rất nhanh, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2001 là 31 tỷ USD đã tăng hơn
Trang 8gấp 8,5 lần, đến năm 2013 là 264 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu trong giai đoạn này trung bình hàng năm khoảng 20%
- Tháng 7/2000 : Chính phủ Việt Nam và Mỹ đã ký kết Hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực từ tháng 11/2001
- Ngày 11/1/2007 : Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO
- Ngày 25/12/2008 : Việt Nam và Nhật Bản chính thức ký thông qua Hiệp định
đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
- Từ tháng 3/2010 đến nay : Việt Nam tham gia vòng đàm phán ký kết Hiệp
định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
*Chính sách:
- Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa
- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện nước ta đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ đa phương và song phương
*Ưu điểm:
- Hoạt động ngoại thương tăng trưởng rất nhanh (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2001 là 31 tỷ USD đã tăng hơn gấp 8,5 lần, đến năm 2013 là 264 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu trong giai đoạn này trung bình hàng năm khoảng 20%)
- Tỷ lệ xuất khẩu cao hơn nhập khẩu
- Cơ cấu xuất khẩu đã được cải thiện theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô
- Tạo được một số mặt hàng có khối lượng lớn và có thị trường ổn định
*Hạn chế:
- Quy mô xuất khẩu còn nhỏ, tăng trưởng xuất khẩu chưa vững chắc, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu thấp
- Chưa khai thác tốt các cơ hội và còn thiếu sự chủ động trong việc hạn chế thách thức do hội nhập quốc tế và tham gia khu vực mậu dịch tự do FTA (nếu
bị hỏi thì có gì lật sách chương 5 trang 79 chắc sẽ có đê giải thích)
- Khả năng đối phó với các biến động lớn của thị trường thế giới còn nhiều hạn chế