Đường PPF là đường dốc xuống thể hiện sự đánh đổi hay chi phí cơ hội vì nguồn lực là có giới hạn, nên khi muốn có hàng hóa này nhiều hơn, doanh nghiệp đã phải giảm bớt số lượng hàng hóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VỚI
CHI PHÍ TĂNG
Nhóm thực hiện đề tài: Nhóm 03
Lớp HP: 2234FECO1711
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thùy Dương
Hà Nội, 08/2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài: 3
2 Đối tượng nghiên cứu: 3
3 Phạm vị, đối tượng nghiên cứu: 3
4 Kết cấu đề tài: 3
PHẦN LÝ THUYẾT 4
I ĐƯỜNG GIỚI HẠN SẢN XUẤT VỚI CHI PHÍ TĂNG 4
1 Đường giới hạn sản xuất và chi phí cơ hội 4
2 Minh họa đường giới hạn sản xuất với chi phí tăng 5
3 Tỷ lệ chuyển đổi cận biên (MRT - Marginal Rate of Transformation) 7
4 Lý do của chi phí cơ hội tăng và các đường giới hạn sản xuất khác nhau 7
II Đường bàng quan xã hội 9
1 Minh hoạ đường bàng quan xã hội: 9
2 Tỷ lệ thay thế cận biên MRS 10
3 Một số khó khăn với các đường bàng quan xã hội: 11
III Điểm cân bằng trong kinh tế đóng 12
1 Minh họa điểm cân bằng trong kinh tế đóng 12
2 Giá cả hàng hóa tương quan cân bằng và lợi thế so sánh 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Phát triển thương mại quốc tế, hội nhập, mở rộng và cạnh tranh quốc tế trong điều kiện kinh tế mở là vô cùng tất yếu và cấp bách Trong những thập kỉ vừa qua, khi xu hướng toàn cầu phát triển mạnh mẽ, thương mại quốc tế càng đóng vai trò ngày càng tăng đối với hầu hết các nền kinh tế trên thế giới, mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng trên toàn cầu, hợp tác kinh tế khu vực và thế giới Nhờ điều này mà doanh nghiệp
có thể mở rộng sản xuất, đáp ứng không chỉ cho nội địa mà cả nước ngoài, mang lại cho người tiêu dùng các nước sự lựa chọn đa dạng hơn về hàng hoá, dịch vụ Vậy nên để đảm bảo hoạt động này đạt được hiệu quả cao phải nắm được những vấn đề chung về thương mại quốc tế và chính sách thương mại quốc tế Đồng thời phải đánh giá được tiềm năng của chính mình để xây dựng cơ chế, chính sách, nhắm thúc đẩy hoạt động này Đặc biệt
là mô hình thương mại thương mại thức tế với các chi phí cơ hội tăng
2 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài: “Học thuyết thương mại quốc tế với chi phí tăng” Từ đó hiểu ra về quy luật về lợi thế tương đối được giải thích theo lý thuyết chi phí tăng
3 Phạm vị, đối tượng nghiên cứu:
- Cung cầu và giá cả, lợi thế so sánh thị trường hàng hoá
- Thặng dư khi có thương mại thông qua chuyên môn sản xuất, có lợi thế hay không, trong điều kiện chi phí tăng
- Giả thiết: khái quát trong mô hình quốc gia 1 và 2, hai loại hàng hoá X và Y
- Chi phí cơ hội tăng của các quốc gia trong thực tế
4 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Đường giới hạn khả năng sản xuất với chi phí tăng
Phần 2: Đường bàng quan xã hội
Phần 3: Điểm cân bằng trong nền kinh tế đóng
Trang 4PHẦN LÝ THUYẾT
I ĐƯỜNG GIỚI HẠN SẢN XUẤT VỚI CHI PHÍ TĂNG
1 Đường giới hạn sản xuất và chi phí cơ hội a Đường giới hạn sản xuất
Đường giới hạn khả năng sản xuất (Production Possibility Frontier – PPF) là Đường giới hạn khả năng sản xuất của một nền kinh tế là đường mô tả các tổ hợp sản lượng hàng hóa tối đa mà nó có thể sản xuất ra được khi sử dụng toàn bộ các nguồn lực sẵn có
Đường PPF là đường dốc xuống thể hiện sự đánh đổi (hay chi phí cơ hội) vì nguồn lực là có giới hạn, nên khi muốn có hàng hóa này nhiều hơn, doanh nghiệp đã phải giảm bớt số lượng hàng hóa khác sản xuất được
b Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội được xác định dựa trên nguồn lực khan hiếm Trong trường hợp này, bạn bắt buộc phải đánh đổi, chọn cái này và bỏ qua cái khác Chi phí cơ hội khi bạn lựa chọn một phương án là phần giá trị bị bỏ qua khi bạn chọn phương án đó và bỏ qua phương án tốt nhất khác Giá trị này không nhất định phải là giá trị kinh tế mà còn là những giá trị khác như tinh thần, văn hóa…
Ví dụ: Xã A quyết định xây một trường mẫu giáo ở khu đất trống bên cạnh trụ sở ủy
ban Khi chọn xây trường mẫu giáo, chính quyền xã A đã bỏ qua các sự lựa chọn khác gồm xây dựng bãi đỗ xe, bán đất ở cho người dân và bán đất cho doanh nghiệp xây siêu thị Chi phí cơ hội trong trường hợp này có thể là lợi ích thu được khi thực hiện 1 trong 3
dự án trên mà chính quyền xã A đã bỏ lỡ
Ta đã biết đường giới hạn khả năng sản xuất là đường thẳng do chi phí cơ hội không đổi Tuy nhiên trong thực tế, càng chuyên môn hoá sản xuất thì chi phí cơ hội càng tăng Chi phí cơ hội tăng có nghĩa là quốc gia phải hy sinh ngày càng nhiều hơn sản phẩm này để dành tài nguyên tăng sản xuất một đơn vị sản phẩm khác
Trang 5Trong điều kiện tải nguyên kinh tế hữu hạn (chi phi khai thác ngày càng tăng), việc tập trung nguồn lực cho các sản phẩm có lợi thế so sánh làm tăng tương đối chi phí sản xuất của các sản phẩm này
Ví dụ: Khi chúng ta mới bắt đầu khai thác dầu mỏ thì chi phí thăm dò thấp do tài
nguyên còn nhiều nên có thể dễ dàng tìm kiếm được mỏ dầu ở gần bờ Đến khi các mỏ dầu này đã được khai thác hết chúng ta phải đi thăm dò các mỏ dầu mới chi phí sẽ phải cao hơn do phải đi xa tốn thời gian, chi phí vận chuyển
2 Minh họa đường giới hạn sản xuất với chi phí tăng
Hình 1.2.1: Đường giới hạn sản xuất của quốc gia 1 và quốc gia 2 với chi phí tăng.
Đồ thị 1.2.1 mô tả đường giới hạn sản xuất giả thiết hai hàng hóa X và Y của quốc gia 1 và quốc gia 2 Cả hai đường giới hạn sản xuất cong ra phía ngoài do mỗi quốc gia đều có chi phí cơ hội tăng trong sản xuất cả hai hàng hóa
Khi quốc gia 1 muốn sản xuất thêm nhiều hàng hóa X, bắt đầu từ điểm A trên đường giới hạn sản xuất, tại điểm A quốc gia thực sự sử dụng hết nguồn lực và công nghệ
Trang 6tốt nhất của họ, quốc gia chỉ có thể sản xuất thêm hàng hóa X bằng cách giảm sản lượng sản xuất hàng hóa Y
Đồ thị 1.2.1 cho thấy, cho mỗi 20X sản xuất thêm, quốc gia 1 phải bỏ ngày càng nhiều hàng hóa Y Chi phí cơ hội tăng thể hiện qua lượng hàng hóa Y được đo lường bằng độ dài các mũi tên đi xuống theo trục tung, kết quả chung là đường giới hạn sản xuất vòng ra phía ngoài Quốc gia 1 cũng gặp phải chi phí cơ hội tăng trong sản xuất hàng hơn Y Điều này có thể trình bày bằng đồ thị cho thấy quốc gia 1 phải bỏ ngày càng nhiều hàng hóa X không sản xuất để chuyển nguồn lực mang sản xuất thêm được một đơn vị hàng hóa Y
Đường giới hạn sản xuất vòng ra phía ngoài phản ánh chi phí cơ hội tăng lên tại mỗi quốc gia trong sản xuất cả hai hàng hóa Quốc gia 1 phải bỏ ngày càng nhiều hàng hóa Y không sản xuất để sản xuất thêm được 20 đơn vị hàng hóa X Điều này được thể hiện bằng độ dài các mũi tên dốc xuống theo trục tung Tương tự như vậy, quốc gia 2 có chi phí cơ hội tăng trong tương quan lượng hàng hóa X phải bỏ không sản xuất để chuyển nguồn lực sang sản xuất được thêm 20 đơn vi hàng hóa Y Khi chuyển dịch lên phía trên
từ điểm A theo đường giới hạn sản xuất của quốc gia 2, quan sát các mũi tên trên trục hoành, độ dài các mũi tên theo hướng sang trái tăng dần, phản ánh các lượng tăng lên về hàng hóa X mà quốc gia 2 phải bỏ không sản xuất để chuyển nguồn lực sang sản xuất thêm được 20Y Như vậy, đường giới hạn sản xuất vòng ra phía ngoài của hai quốc gia phản ảnh các chi phi cơ hội tăng trong mỗi quốc gia trong sản xuất cả hai hàng hóa
Khi càng sản xuất chuyên môn hóa thì càng phải sử dụng những loại tài nguyên mà chúng ngày càng ít thích hợp để sản xuất ra loại sản phẩm đó Kết quả là quốc gia phải giảm đi càng nhiều sản phẩm này để dành tài nguyên cho việc sản xuất thêm mỗi đơn vị của sản phẩm kia hay nói cách khác là chi phí cơ hội tăng
Ví dụ: Xã A có diện tích trồng lúa màu và nuôi tôm gần bằng nhau Do nuôi tôm đạt
hiệu quả cao hơn trồng lúa nên nông dân thi nhau đào ruộng lúa thành vuông tôm Giai đoạn đầu thì họ chọn những ruộng kém màu mỡ cho nên chi phí cho một kilogam tôm khá thấp, nhưng càng về sau thì họ đào cả những ruộng lúa màu mỡ cho năng suất cao, lúc này chi phí sản xuất cho một kg tôm tăng cao hơn nhiều so với ban đầu
Trang 73 Tỷ lệ chuyển đổi cận biên (MRT - Marginal Rate of Transformation)
Khái niệm tỷ lệ chuyển đổi cận biên: Là tỷ lệ chi phí cận biên trong việc chế tạo sản phẩm, được tính bằng độ dốc của đường giới hạn năng lực sản xuất
Tỷ lệ chuyển đổi cận biên được định nghĩa là số đơn vị hàng hóa X sẽ bị bỏ qua để tạo ra một đơn vị hàng hóa Y, trong điều kiện các yếu tố sản xuất và công nghệ đang được sử dụng là không đổi
MRT là giá trị tuyệt đối của độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất
Hình 1.3.1 Tỷ lệ chuyển đổi cận biên
Trong đồ thị 1.3.1 độ dốc của đường giới hạn sản xuất (MRT) của quốc gia 1 tại điểm A là 1/4, điều này có nghĩa là quốc gia 1 phải bỏ 1/4 đơn vị hàng hóa Y không sản xuất để giải phóng nguồn lực đủ chuyển sang sản xuất thêm được 1 đơn vị hàng hóa X tại điểm A Tương tự như vậy, nếu độ dốc (MRT) bằng 1 tại điểm B, có nghĩa là quốc gia 1 phải bỏ 1 đơn vị hàng hóa Y không sản xuất để sản xuất thêm được 1 đơn vị hàng hóa X tại điểm B
Khi chuyển dịch từ điểm A xuống điểm B dọc theo đường giới hạn sản xuất của quốc gia 1, MRT tăng lên từ 1/4 tại A đến 1 tại B phản ánh chi phí cơ hội tăng khi sản xuất hàng hóa X tăng Trong chương trước, đường giới hạn sản xuất là đường thẳng thể hiện chi phí cơ hội của X cố định, coi như mức sản lượng được xác định bởi giá trị cố định của độ dốc (MRT) của đường giới hạn sản xuất
4 Lý do của chi phí cơ hội tăng và các đường giới hạn sản xuất khác nhau
Trang 8Chúng ta đã nghiên cứu ý nghĩa của chi phí cơ hội tăng được biểu thị thành đường giới hạn sản xuất vòng ra phía ngoài Nhưng chi phí cơ hội tăng như thế nào? tại sao chúng lại có tính thực tiễn hơn chi phí cơ hội cố định?
Chi phí cơ hội tăng vì hai vấn đề với nguồn lực của các yếu tố của sản xuất
Không đồng nhất (ví dụ tất cả các đơn vị của một nhân tố của sản xuất không giống nhau hoặc không cùng chất lượng)
Không được sử dụng với cùng một tỷ lệ cố định trong sản xuất tất cả các loại hàng hóa Điều này nghĩa là khi quốc gia sản xuất nhiều một hàng hóa, họ cần phải sử dụng những nguồn lực không hiệu quả để sản xuất hàng hóa đó Kết quả, quốc gia phải bỏ ngày càng nhiều hàng hóa thứ hai để giải phóng nguồn lực chuyển sang sản xuất thêm mỗi đơn vị hàng hóa thứ nhất tăng thêm
Ví dụ minh họa: Quốc gia A có:
- Vùng đồng bằng: đất đai màu mỡ thuận lợi cho trồng lúa
- Vùng đồi núi: thuận lợi cho trồng cỏ để nuôi gia súc lấy sữa
- Quốc gia này ban đầu muốn chuyên môn hóa trồng lúa, nhưng hiện nay lại muốn tập trung sản xuất sữa
Quốc gia muốn tập trung sản xuất sữa bằng cách
=> Điều chuyển nhân công sản xuất lúa sang sản xuất sữa
Giảm vốn đầu tư sản xuất lúa, tăng vốn đầu tư sản xuất
sữa Nguồn lực về đất đai thay đổi
Phân tích ví dụ:
Các trường hợp trên xảy ra đều dẫn đến số lượng lúa thu được sẽ giảm nhưng lại thu được nhiều sữa hơn
Nếu quá trình cứ tiếp tục, số lượng nguồn lực để sản xuất lúa sẽ chuyển sang sản xuất sữa nhiều hơn
>> Chi phí cơ hội của sữa sẽ tăng
>> Đường giới hạn sản xuất sẽ vòng ra phía ngoài từ điểm ban đầu
Sự khác nhau giữa hai đường giới hạn sản xuất của quốc gia 1 và quốc gia 2 trong
đô thị 1.2.1 do hai quốc gia có sự dư thừa nhân tố khác nhau về nguồn lực có thể sử dụng, hoặc là sử dụng những công nghệ khác nhau trong sản xuất Nói cách khác, các đường
Trang 9giới hạn sản xuất của các quốc gia luôn luôn khác nhau vì trên thực tế không có hai quốc gia có dư thừa nhân tố như nhau (thậm chí cả khi họ có công nghệ như nhau)
II Đường bàng quan xã hội
Đường bàng quan xã hội biểu thị các kết hợp khác nhau giữa hai hàng hoá đem lại lợi ích hay mức độ thoả mãn Giải thích cho sở thích thị hiếu người tiêu dùng trong một quốc gia (hay còn gọi là đường phúc lợi như nhau trong một cộng đồng)
1 Minh hoạ đường bàng quan xã hội:
Hai đường bàng quan giả thiết cho quốc gia 1 và 2 Khác nhau trên cơ sở lí thuyết thị hiếu khác nhau giữa hai quốc gia Mỗi điểm trên một đường bàng quan thể hiện một giỏ hàng hóa Những điểm này nằm trên cùng một đường bàng quan hàm ý rằng khi sử dụng các giỏ hàng hóa đó, người tiêu dùng thu nhận được cùng một độ thỏa dụng như nhau
Ví dụ:
+ Tại điểm A ( giả thiết khi quốc gia sử dụng hết nguồn lực và công nghệ tốt nhất) thì hàng hoá X chỉ có thể được sản xuất thêm khi giảm lượng hàng hoá Y
+ Điểm A có độ thoả dụng tương đương với B tuỳ vào thị hiếu tiêu dùng của quốc gia lúc đó
+ Mỗi 20 hàng hoá X sản xuất thêm, quốc gia này phải bỏ đi càng nhiều hàng hoá Y
Trang 10+ Chi phí cơ hội tăng thêm thể hiện qua lượng hàng hoá Y được đo lường bằng độ dài mũi tên đi xuống trục tung
Đường giới hạn sản xuất vòng ra ngoài
- Tương tự với quốc gia 2:
+ Có chi phí cơ hội tương quan lượng hàng hoá X phải bỏ không sản xuất để chuyển nguồn lực sang sản xuất thêm 20 hàng hoá Y
+ Dịch chuyển từ điểm A’ lên B’ theo đường giới hạn sản xuất của 2 quốc gia
+ Độ dài của các mũi tên tăng dần phản ánh các lượng tăng lên hàng hoá X phải bỏ sản xuất để sang sản xuất thêm 20 hàng hoá Y
Đường giới hạn sản xuất vòng ra ngoài
Giải thích: Đường giới hạn sản xuất của cả quốc gia 1 và 2 vòng ra ngoài phản ánh các
chi phí cơ hội tăng trong mỗi quốc gia trong sản xuất cả hai hàng hoá
Lưu ý: các đường bàng quan xã hội có độ dốc âm vì khi tiêu dùng càng nhiều hàng hoá
X, sẽ tiêu dùng ít hàng hoá Y (và ngược lại) để có độ thoả mãn không đổi
- Do đó, khi quốc gia 1 chuyển từ A xuống B, họ dùng ít hàng hoá Y hơn là X Tương với quốc gia 2 khi chuyên từ A’ tới B’ trên đường I’, họ dùng nhiều hàng hoá Y hơn nhưng
X giảm
- Nếu tiếp tục tiêu dùng một lượng hàng hoá Y không đổi mà tiêu dùng X nhiều hơn họ
sẽ chuyển lên đường bàng quang cao hơn tức đạt độ thoả mãn cao hơn trong tiêu dùng của quốc gia đó
2 Tỷ lệ thay thế cận biên MRS
a) Khái niệm:
Tỉ lệ thay thế biên trong tiếng Anh là Marginal Rate of Substitution, viết tắt là MRS Trong kinh tế học, tỉ lệ thay thế biên (MRS) là lượng hàng hóa mà người tiêu dùng sẵn sàng tiêu thụ liên quan đến hàng hóa khác, miễn là hàng hóa mới cùng mức độ thỏa mãn
MRS X /Y = ∆ ∆Y X
Trang 11b) Tính chất:
Nếu tỉ lệ thay thế biên tăng lên, đường bàng quan sẽ lồi Điều này thường không phổ biến vì nó có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tiêu thụ nhiều hàng hóa X hơn để tăng mức tiêu thụ hàng hóa Y và ngược lại
Thông thường, sự thay thế cận biên đang giảm dần, có nghĩa là người tiêu dùng chọn sản phẩm thay thế thay cho hàng hóa khác thay vì tiêu thụ nhiều hơn đồng thời các hàng hóa
Độ dốc của đường bàng quan trên thực tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với phân tích tỉ lệ thay thế biên
Tại bất kì điểm nào dọc theo đường bàng quan, tỉ lệ thay thế biên chính là độ cong của đường bàng quan tại điểm đó
Đa số các đường bàng quan là các đường cong, cũng chính bởi vì vậy độ cong thay đổi khi các chủ thể di chuyển dọc theo đường bàng quan
Đường bàng quan có thể là đường thẳng nếu độ cong không đổi, dẫn đến đường bàng quan biểu thị bằng đường thẳng dốc xuống
Ví dụ: Tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hoá Y cho hàng hoá X được đo lường bằng
lượng hàng hoá Y có thể bỏ để đổi lấy một đơn vị hàng hoá X tiêu dùng mà quốc gia 1 vẫn có cùng độ thoả mãn như trước
Tỷ lệ này được đo lường bằng độ dốc của đường bàng quang (như đã nếu trên) tại điểm cần xác định:
+ Tỷ lệ thay thế cận biên giảm xuống -> quốc gia chuyển dịch tiêu dùng từ phía trên xuống phía dưới trên cùng một đường bàng quan (ví dụ MRS tại điểm A lớn hơn tại điểm B
ở đường bàng quan quốc gia 1, MRS của điểm B’ lớn hơn A’ ở đường bàng quan quốc gia 2)
+ MRS giảm dần là do khi tiêu dùng càng nhiều hàng hoá X, ít hàng hoá Y, hàng Y sẽ trở nên quý so sáng với hàng X Vì vậy quốc gia sẽ phải bỏ lượng hàng hoá Y ít hơn để tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá X
+ MRS giảm -> các đường bàng quan xã hội vòng vào phía trong (ngược lại với đường giới hạn) => cơ sở cho sự lựa chọn điểm cân bằng tiêu dùng duy nhất cho mỗi quốc gia