1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình lịch sử kinh tế

177 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình lịch sử kinh tế
Tác giả Trần Thị Mai Phương, Nguyễn Thị Mai
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử kinh tế
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 5,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 2. KINH TẾ MĨ.....................-s:cscs5ccccxccceec (13)
    • 2.1. Tình hình kinh tế — xã hội thuộc địa Bắc Mĩ trước ngày giành được độc lập (30)
  • Chương 3. KINH TẾ NHẬT BẢN..........................--- 2. Ls 22kS.k<21 21 E112 713 5EEEEEEEEEEkrrkerkrerrrkrcrre 41 3.1. Kinh tế Nhật Bản thời kì trước cải cách Minh Trị (1868)...........................---------scscsca 41 3,2. Kinh tế Nhật Bản từ cải cách Minh Trị đến Chiến tranh thế giới thứ hai On... .ẽ (42)
    • 3.3. Kinh tế Nhật Ban sau Chiến tranh thế giới thứ hai (từ 1945 đến nay) (0)
  • Chương 4. KINH TẾ CAC NUGC XA HOI CHU NGHIA veccescsssescssecssesessesetserseeeseesssecsseneees 50 4.1. Sự hỡnh thành hệ thống kinh tế xó hội Chi NGhia ô00... eceseeseeesseesseveresssanvevensen 50 4.2. Quá trình thực hiện những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của công cuộc xây dựng (51)
    • 4.3. Tình hình kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa thời kì 1965 — 1981 (55)
  • Chương 5. KINH TẾ LIÊN XÔ........................... 2... St. EEEEEEEEEEE7E11511E13E1 E411 111120112211 E12. 60 5.1. Đặc điểm kinh tế nước Nga thời kì trước Cách mạng tháng Mười 1917 (61)
    • 6.1. Khái quát tình hình kinh tế Trung Quốc trước cách mạng dân tộc dân chủ (71)
    • 6.2. Kinh tế Trung Quốc thời kì 1949 — 197................... ch HH Hàng nưện 70 6.3. Kinh tế Trung Quốc thời kì cải cách và mở cửa (1978 — nay)......................cceeercee 74 Câu hỏi ôn tập chƯơng 6......................... co c2n nà HH TH KT TH HH KH th cư HT 74 79 Chương 7. KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.........................----ccc-ccsc2cceccv2sesrrred 80 7.1. Lịch sử hỡnh thành cỏc nước đang phỏt triỂn.......................-.--ô---cccsceksscseeesexrxerrererke 80 7.2. Quá trình xây dựng kinh tế của các nước đang phát triỂn ..........................-. ------<-c++ 81 Ằ@ 108.5 82.8.i‹8-.i.. 0n .- (71)
  • Chương 8. KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á.............. HH HH S111 117kg rrkg 93 8.1. Đặc điểm kinh tế — xã hội các nước Đông Nam Á trước khi giành được độc lập (71)
    • 8.2. Quá trình giành độc lập và sự thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) daaif.ẩẳẢỶẮIẮIẮẶẮẶẮẶ (96)
    • 8.3. Quá trình phát triển kinh tế của các nước Đông Nam Á...........................-.c.ec<ec-ce-ee 96 Câu hỏi ôn tập chương 8......................... ôch HH TH TH nh HH TH nh 112 PHẦN HAI. LỊCH SỬ KINH TẾ VIỆT NAM (0)
  • Chương 9. KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ PHONG KIẾN.........................----5-cccccccsvcsccrssrrr 118 8.1. Vài nét về thời kì tiền phong kiến ........................... cv SH Hà HH HH HT nành 113 9.2. Kinh tế Việt Nam thời phong kiến (179 TCN — 185B)................ ii. SẰSeeeee 116 Câu hỏi ôn tập chương Q.................. .... << kg HH kh "ơ. 128 Chương 10. KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ PHÁP ĐÔ HỘ (1858 - 1945) (81)
    • 10.1. Từ khi thực dân Pháp xâm lược đến Chiến tranh thế giới lần thứ hai @[--:XL<:diddiiiAAÁẮIẮẶÁẶÁẶÁẶÁẮẮẶÝ (128)
    • 10.2. Thời kì Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 — 1945).................... Si Heke 132 Câu hỏi ôn tập chƯƠng T0................... cành TH KH TH HH HH kg hre 185 Chương 11. KINH TẾ VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THUC DAN PHAP lá ma. ............ÒÒỎ 136 11.1. Kinh tế những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (9/1945 — 12/1946) (133)
    • 11.2. Kinh tế kháng chiến ở vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát 0980106: Tổ (139)
    • 11.3. Kinh tế trong vùng tạm chiếm thời kì 1947 — 1954...............-.. An, 143 @ No 8sicR:-ser 3m08 .- (144)
  • Chương 12. KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ 1955 - 1975.........................-..cccscecrrrrererrerrieo 145 12.1. Kinh tế miền Bắc thời kì 1955 — 1975.............. cu TH HH ng nh TH ng ng ngư 145 12.2. Kinh tế miền Nam thời kì 1955 — 197B............... LH ng HH n TH ng kg gyn 183 Câu hỏi ôn tập chưƯƠng Í2...................... ch HH HH TH HH TH HH HH kg hư 155 Chương 13. KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ CẢ NƯỚC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1976 — NÀY) .......... Su SH. HH ng uc nọ B4 Bọ ng x9 nEnhrh 156 IE5ci. on r1 a (94)
    • 13.2. Thời kì đổi mới (1986. đến nay) ..............-.-s- 6c SGs SH. CA TxEErrrkgkrkrrkrrkrrkerree 161 Câu hỏi ôn tập chương Í.......................- Ác HH HT ni cv 171 (162)

Nội dung

Khái lược về sự hình thành và phát triển khoa học Lịch sử kinh tế Lịch sử kinh tế còn gọi là Lịch sử kinh tế quốc dân là môn khoa học xã hội nghiên cứu sự phát triển kinh tế của một nướ

KINH TẾ MĨ -s:cscs5ccccxccceec

Tình hình kinh tế — xã hội thuộc địa Bắc Mĩ trước ngày giành được độc lập

Nước Mi cũng như châu Mĩ ngày nay được người châu Âu biết đến thông qua cuộc thám hiểm của Christopher Colombus vào cuối thế kỉ XV Trên lãnh thổ vùng Bắc Mi lúc đó có khoảng 1 triệu người Anhđiêng sinh sống thành các bộ lạc với nghề săn bắn, hái lượm là chính

Từ thế kỉ XVI, Bắc Mi trở thành đối tượng xâm nhập và tranh giành ảnh hưởng của các thế lực đế quốc phương Tây, mà lịch sử gọi là cuộc “khẩn thực” của người châu Âu tới Bắc Mi, trong đó, đặc biệt nổi lên vai trò của nước Anh Với tiém lực kinh tế quân sự lớn mạnh so với các nước khác, thực dân Anh đã đẩy mạnh quá trình di dân, mở rộng vùng ảnh hưởng Đến cuối thế kỉ XVII, người Anh đã xây dựng được 13 vùng đất thực dân trải đài từ ven biển Đại Tây Dương đến dãy Appalaches với dân cư khoảng 4 triệu người Để phục vụ cho quá trình cướp đoạt, khai thác vùng thuộc địa rộng lớn và giàu có Bắc Mi, thực dân Anh đã tiến hành nhiều chính sách hà khắc và kìm hãm

— Về chính trị: Chính phủ Anh thực hiện chính sách chia để trị, quy định giữa các bang không được trực tiếp buôn bán với nhau mà chỉ trực tiếp buôn bán với Anh Chính sách này không chỉ giúp Anh cai trị dễ dàng hơn mà còn ngăn cản Bắc Mĩ tạo ra cộng đồng kinh tế nhằm kìm hãm sự phát triển của Bắc Mĩ

- Về kinh tế Thực dân Anh vừa khai thác vừa kìm hãm sự phát triển kinh tế của Bắc Mĩ như cấm đưa vào Bắc Mĩ những phát minh, sáng chế, những mẫu hàng, cấm thợ cả nhập cư vào Bắc Mi, quy định công nghiệp bản xứ chỉ được phép sản xuất bán thành phẩm (ví dụ: chỉ được sản xuất gang mà không được sản xuất thép)

~ Về thương mại: Ban hành nhiều đạo luật bảo vệ độc quyển thương mai Hàng hoá từ Bắc Mĩ bán sang các nước khác đều phải chuyên chở bằng tàu của Anh và hàng hoá của các nước nhập khẩu vào Bắc Mi đều phải chịu mức thuế rất cao

Sự thống trị của Anh đối với thuộc địa Bắc Mỹ ngày càng làm gia tăng mâu thuẫn giữa thực dân và dân cư Bắc Mỹ, khi các chính sách áp đặt và thuế khóa chồng chất lên người dân Sự bất bình trước quyền lực thực dân nảy sinh phong trào phản kháng và ý thức độc lập trong giới dân cư thuộc địa Những mâu thuẫn gay gắt này cuối cùng châm ngòi cho cuộc chiến tranh giải phóng, mở đường cho sự ra đời của một nước Mỹ tự do và có chủ quyền.

Bắc Mi bùng nổ tháng 4/1775 Ngày 04/7/1776, “Tuyên ngôn Độc lập” được công bố Hợp chúng quốc Hoa Kì ra đời

2.2 KINH TẾ MĨ THỜI KÌ TRƯỚC ĐỘC QUYỀN (1776 - 1865)

2.2.1 Cách mạng công nghiệp và sự phát triển kinh tế nước Mĩ

2.2.1.1 Tiên đề của cách mạng công nghiệp

- Về kinh tế Cách mạng công nghiệp của Mĩ kế thừa được nguồn vốn quan trọng ban đầu do những người dân di thực mang đến Nguồn vốn thứ hai không kém phần quan trọng là vốn khai thác đất đai ở những vùng lãnh thổ mới lấn chiếm của thực dân Hà Lan, Pháp, Anh Để tạo ra nguồn nhân công rẻ, có chất lượng và ổn định, Mi đã làm phá sản các chủ trại nhỏ để tạo nhân công và tích luỹ vốn cho cách mạng công nghiệp Ngoài ra, việc buôn bán vũ khí, lương thực cho cả hai bên trong cuộc chiến tranh của Napoleon cũng mang lại cho cách mạng công nghiệp một nguồn vốn không nhỏ

- Về chính trị: Cuộc đấu tranh giành độc lập (1776) thắng lợi đã mang lại sự ổn định về chính trị cho nước Mi Liên bang mới thành lập đã thiết lập những quy tắc pháp lí đối với các hoạt động kinh doanh và ban hành các chính sách phát triển kinh tế của từng bang Chính phủ liên bang nhận thức được sự cần thiết phải tiến hành cách mạng công nghiệp để giúp kinh tế nước Mĩ vượt trội, từ đó, đã có nhiều chính sách thúc đẩy cuộc cách mạng này được thực hiện nhanh chóng

2.2.1.2 Nội dung cuộc cách mạng công nghiệp

Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu ở các bang miền Bắc từ cuối thế kỷ XVII và sau đó lan rộng ra toàn nước Mỹ Đến cuối thế kỷ XVIII, những máy móc đầu tiên xuất hiện trong ngành dệt và đến đầu thế kỷ XIX, ngành dệt của Mỹ đã đứng thứ hai trên thế giới sau Anh.

Công nghiệp chế tạo máy của Mĩ cũng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là phát minh ra máy vô tuyến điện (1842) và nhiều kiểu máy phục vụ nông nghiệp được xuất khẩu sang châu Âu Ngành chế tạo máy phát triển kéo theo sự phát triển của ngành luyện kim Từ năm 1800 - 1850, sản lượng gang của Mĩ tăng gấp 9 lần

Trong thời kỳ phát triển công nghiệp, nhu cầu về giao thông vận tải được nâng lên Ở Mỹ, các tuyến đường bộ có thu phí được bắt đầu xây dựng và vận tải đường sông được đẩy mạnh bằng tàu thủy chạy bằng hơi nước Hệ thống đường sắt cũng phát triển nhanh chóng: năm 1840 Mỹ có 4.535 km đường sắt và đến năm 1860 đã lên tới 49.000 km Song song, sự ra đời của máy điện tín do Samuel F.B Morse phát minh năm 1837 mở ra một chương mới cho lĩnh vực thông tin; đến năm 1852 đã có 37.000 km dây điện tín kết nối nhiều thành phố lớn.

Ngay từ năm 1850, giá trị công nghiệp của Mỹ đã bằng giá trị sản lượng nông nghiệp, đưa Mỹ lên vị trí thứ tư về quy mô công nghiệp trên thế giới và đứng sau Anh, Pháp, Đức Cuộc cách mạng công nghiệp đã nâng cao vị thế ngoại thương của Mỹ, khi nền kinh tế chuyển trọng tâm từ nông nghiệp sang công nghiệp và thương mại Trong nửa thế kỉ từ năm 1850 đến 1900, Mỹ gia tăng sản xuất và xuất khẩu, củng cố vai trò của nước này trong thương mại toàn cầu và hình thành nền công nghiệp hiện đại.

1800 đến 1850 kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên 4 lần

2.2.2 Nội chiến Nam - Bắc Mĩ (1861 - 1865)

Nguyên nhân cơ bản của cuộc nội chiến Bắc-Nam Mỹ là sự mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất TBCN ở miền Bắc và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ nô lệ ở miền Nam Cách mạng công nghiệp phát triển ở miền Bắc và lan rộng khắp cả nước vào cuối thế kỉ XIX, trong khi miền Nam vẫn duy trì nền kinh tế dựa trên bóc lột nô lệ và hạn chế sử dụng máy móc kỹ thuật, không tạo nguồn lao động cho cách mạng công nghiệp Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt, dẫn tới cuộc nội chiến Bắc-Nam Thực chất, cuộc nội chiến mang tính chất của một cuộc cách mạng tư sản Thắng lợi thuộc về giai cấp tư sản công thương nghiệp ở miền Bắc; chế độ nô lệ ở miền Nam bị xóa bỏ hoàn toàn, mở ra điều kiện cho CNTB phát triển mạnh mẽ trên toàn nước Mỹ.

2.3 KINH TẾ MĨ THỜI KÌ ĐỘC QUYỀN (TỪ 1865 ĐẾN NAY)

2.3.1 Thời kì bùng nổ kinh tế Mĩ (1865 - 1914)

Sau cuộc nội chiến (1861-1865), kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng và từ một nước phụ thuộc châu Âu đã vươn lên trở thành nền kinh tế hàng đầu thế giới Nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 4,3%, cao hơn Đức 3%, Anh 2,4% và Pháp 1,1% Công nghiệp Mỹ có mức tăng giá trị tổng sản lượng cao hơn các nước châu Âu; năm 1885 sản xuất công nghiệp của Mỹ đã vượt Anh Đến năm 1913, giá trị sản xuất công nghiệp của Mỹ bằng với tổng sản xuất công nghiệp của Anh, Pháp và Đức cộng lại Có thể thấy Mỹ đã thực hiện một cuộc đua nước rút thành công: vào năm 1860 Mỹ chỉ đạt 68% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Anh, 91,1% của Pháp và 95,6% của Đức Những năm đầu thế kỉ XX, Mỹ trở thành nhà sản xuất công nghiệp lớn nhất thế giới, là nước xuất khẩu máy móc kỹ thuật cao, vật liệu thô và sản phẩm nông nghiệp Năm 1913, trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, Mỹ chiếm 33% sản lượng hàng hóa thế giới, so với 15% của Đức và 14% của Anh Thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ đạt 5.233 USD, trong khi mức trung bình của các nước tư bản Tây Âu là 3.458 USD (năm 1913).

Bảng 2.1 Giá trị sản lượng công nghiệp

Nguốn: Nguyễn Chí Hải - Nguyễn Văn Luân - Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Thuỳ Dương, “Giáo trình Lịch sử kinh tế quốc dân”,

Sau nội chiến, hệ thống đường sắt nước ta tăng 143% lên hơn 400.000 km, mang lại sự thống nhất về kinh tế và thu hẹp sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam Cùng với đó, nông nghiệp được cơ giới hoá khiến sản lượng tăng nhanh chóng.

Xuất khẩu cũng tăng nhanh, từ 1860 đến 1914 tăng 24 lần Từ năm 1894, Mĩ trở thành cường quốc mạnh nhất thế giới về kinh tế

KINH TẾ NHẬT BẢN - 2 Ls 22kS.k<21 21 E112 713 5EEEEEEEEEEkrrkerkrerrrkrcrre 41 3.1 Kinh tế Nhật Bản thời kì trước cải cách Minh Trị (1868) -scscsca 41 3,2 Kinh tế Nhật Bản từ cải cách Minh Trị đến Chiến tranh thế giới thứ hai On ẽ

KINH TẾ CAC NUGC XA HOI CHU NGHIA veccescsssescssecssesessesetserseeeseesssecsseneees 50 4.1 Sự hỡnh thành hệ thống kinh tế xó hội Chi NGhia ô00 eceseeseeesseesseveresssanvevensen 50 4.2 Quá trình thực hiện những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của công cuộc xây dựng

Tình hình kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa thời kì 1965 — 1981

vật chất kĩ thuật của CNXH, nhiều nước XHCN ở châu Âu đã tuyên bố chấm dứt thời kì quá độ bước vào giai đoạn xây dựng CNXH phát triển

4.3.1.1 Cải cách kinh tế Đến giữa những năm 1960, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tiến hành cuộc cải cách kinh tế Đây thực chất là cuộc cải cách hình thức và phương pháp quản lí nhằm đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao Nội dung cuộc cải cách này bao gồm:

- Cải tiến hệ thống tổ chức quản lí kinh tế

Vấn đề hợp lý hóa bộ máy quản lý kinh tế được đặt ra nhằm giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết, tăng hiệu quả điều hành và minh bạch trong quá trình ra quyết định Trước những năm 1960, hệ thống tổ chức quản lý từ cấp trung ương đến cấp địa phương tồn tại với nhiều tầng lớp trung gian, gây chậm trễ trong quyết định và lãng phí nguồn lực Vì vậy, cần thực hiện cải cách để tối ưu hóa cơ cấu quản lý, tập trung quyền quyết định ở những đầu mối then chốt, đơn giản hóa quy trình và nâng cao trách nhiệm giải trình Các nỗ lực này cũng nhấn mạnh sự kết hợp giữa quản lý hành chính và quản lý kinh tế, tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và tăng cường vai trò của doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trong quá trình ra quyết định.

Bộ xuống cơ sở có 4 cấp: Bộ, Cục, Liên hiệp xí nghiệp, Xí nghiệp Hệ thống này quá cổng kểnh nhiều đầu mối, cơ sở bị ràng buộc về nhiều mặt Do đó vào những năm 1960 các nước này đã cải tiến hệ thống tổ chức thành 2 hoặc 3 cấp: Bộ - Liên hiệp xí nghiệp hoặc Bộ - Liên hiệp xí nghiệp - Xí nghiệp

Cải tiến công tác kế hoạch hóa là nội dung cơ bản của cuộc cải cách kinh tế, trong đó việc điều chỉnh hệ thống chỉ tiêu có tầm quan trọng đặc biệt: giảm bớt các chỉ tiêu pháp lệnh, tăng cường các chỉ tiêu hướng dẫn nhằm tăng thêm tính năng động của các đơn vị sản xuất Đồng thời, nâng cao vai trò của các hợp đồng kinh tế để tăng cường khả năng xây dựng và thực hiện kế hoạch của các đơn vị sản xuất, kinh doanh.

~ Tăng cường sử dụng các đòn bẩy kinh tế

Trong thời kỳ hiện nay ở các nước XHCN, nhận thức về quan hệ hàng hóa – tiền tệ và các phạm trù giá trị dưới CNXH đã có sự thay đổi sâu sắc Tuy nhiên, thực tế cho thấy dưới CNXH sản xuất hàng hóa vẫn tồn tại khách quan và phân phối vẫn dựa trên lao động, nên quy luật giá trị vẫn tiếp tục phát huy tác dụng Đây là cơ sở để tăng cường sử dụng các đòn bẩy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tiền lương, tiền thưởng và tín dụng trong quản lý kinh tế quốc dân nhằm điều tiết thị trường và đảm bảo phân phối công bằng.

Nhìn chung, cải cách kinh tế vào giữa những năm 1960 ở các nước XHCN vẫn chưa thoát khỏi tư duy kinh tế cũ vì chưa động chạm đến vấn để gốc rễ của các quan hệ kinh tế là vấn để sở hữu nên vẫn không khắc phục được những hạn chế của mô hình này Do vậy, hệ thống quản lí vẫn cổng kểnh, cơ chế kinh tế vẫn xơ cứng, tình trạng bao cấp vẫn diễn ra, hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức

4.3.1.2 Về phát triển kinh tế -

Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu chủ trương phát triển kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu nhằm nâng cao trình độ điện khí hoá, đẩy mạnh sử dụng năng lượng nguyên tử, cơ khí hoá và tự động hoá toàn bộ nền kinh tế; đồng thời hình thành các liên hiệp công-nông nghiệp và một hệ thống quản lý tập trung nhằm tăng năng suất và hiện đại hoá xã hội.

Trong giai đoạn 1961-1975, tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân của các nước XHCN Đông Âu tăng lên đáng kể, nhưng từ năm 1976 trở đi lại suy giảm: Ba Lan đạt 3,2% (1976-1980) và 1,8% (1980-1985), Hungary 1,3% Thực tế cho thấy nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu diễn ra rất chậm Vào những năm 1970, công nghệ và trình độ kỹ thuật của Liên Xô cùng các nước XHCN Đông Âu thường lạc hậu 15-20 năm so với phương Tây, dẫn đến năng suất lao động kém và thiếu hụt hàng hóa Cụ thể, năng suất lao động trong công nghiệp của Liên Xô chỉ đạt 53% và nông nghiệp 25% so với Mỹ, khiến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài tới giữa những năm 1980 Trước tình hình này, các nước XHCN đã tiến hành cải cách và cải tổ kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng.

4.3.2 Thời kì cải tổ, cải cách kinh tế của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (1986 - 1991)

Giữa những năm 1980, Liên Xô và các nước Đông Âu tiến hành cải tổ, cải cách nền kinh tế Nội dung cuộc cải tổ, cải cách:

- Về chính trị: Chủ trương dân chủ hoá, chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đẳng

- Về kinh tế: Chủ trương tự do hoá giá cả, xoá bỏ bao cấp, tư nhân hoá và thu hẹp khu vực kinh tế quốc doanh

Về đối ngoại, Liên Xô thực hiện chính sách mở cửa và tăng cường quan hệ với các nước phương Tây Trong những năm cải tổ, kinh tế Liên Xô và các nước Đông Âu XHCN rơi vào suy thoái và khủng hoảng, gây ra sự sụt giảm nền sản xuất, thất nghiệp tăng lên và lạm phát gia tăng đáng kể (1990: 99,3%; 1991: 134,9%; 1992: 792%) Tình trạng thâm hụt ngân sách cũng tăng cao do nguồn thu bị suy giảm bởi suy thoái kinh tế Nhìn chung, tình hình trở nên hỗn loạn vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990.

1990, CNXH của các nước này lần lượt tan rã do nhiều nguyên nhân:

- Về mối quan hệ giữa cải cách kinh tế với cải cách chính trị: Những cải cách về chính trị như duy trì đa nguyên đa đảng trong điểu kiện kinh tế đang khó khăn càng làm rối loạn về kinh tế chính trị - xã hội

Về nguyên nhân kinh tế, mô hình kinh tế thị trường mới ra đời chưa thực sự phát huy đầy đủ tác dụng và vẫn gây ra nhiều xáo trộn cho nền kinh tế Cơ chế hợp tác giữa các nước XHCN trong khối SEV đã mất đi, trong khi quan hệ với các nước phương Tây chưa được thiết lập đầy đủ, dẫn đến thiếu hụt hàng hóa và ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động thương mại.

Trong thời kỳ cải tổ của Liên Xô và các nước Đông Âu XHCN, sự can thiệp của phương Tây được xem là yếu tố làm phức tạp tình hình chính trị – xã hội Những tác động này thúc đẩy sự hình thành của chế độ đa nguyên đa đảng và đẩy các nước này mở rộng quan hệ với phương Tây, làm thay đổi căn bản bức tranh quyền lực và quá trình chuyển đổi của khu vực.

4.3.3 Cải cách kinh tế ở một số nước xã hội chủ nghĩa khác

Các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Lào trong quá trình cải tạo xã hội và xác lập mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, đồng thời tiến hành công nghiệp hóa, cũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế tương tự như các nước XHCN Đông Âu dẫn đến khủng hoảng và trì trệ kéo dài Để khắc phục tình trạng này, các nước này đã tiến hành cải cách và đổi mới sâu rộng về cơ chế quản lý và kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, huy động nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Quá trình cải cách mở cửa nền kinh tế của Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978 với việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, cấu trúc, cơ cấu lại nền kinh tế, điều chỉnh đường lối công nghiệp hoá và thay đổi phương pháp điều hành nền kinh tế Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, Trung Quốc đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới Cải cách kính tế đã đem lại những thành tựu quan trọng trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc Năm 2010, kinh tế Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới

Quá trình cải cách, mở cửa ở Việt Nam bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), khi đất nước bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, chuyển sang kinh tế thị trường và xây dựng thể chế kinh tế mới, đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Đến giữa những năm 1990, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kéo dài và bước vào giai đoạn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ đó vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế được tăng cường Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và tháng 11/2006 trở thành thành viên của WTO, đánh dấu bước tiến lớn trong hội nhập kinh tế và quan hệ thương mại quốc tế.

KINH TẾ LIÊN XÔ 2 St EEEEEEEEEEE7E11511E13E1 E411 111120112211 E12 60 5.1 Đặc điểm kinh tế nước Nga thời kì trước Cách mạng tháng Mười 1917

Khái quát tình hình kinh tế Trung Quốc trước cách mạng dân tộc dân chủ

TRƯỚC CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ

Trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (01/10/1949), Trung Quốc đã trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến và thực dân phong kiến Là một quốc gia đất rộng, dân đông, địa hình đa dạng và tài nguyên thiên nhiên phong phú, sự thống trị lâu dài của chế độ phong kiến đã đẩy kinh tế Trung Quốc vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, với nông nghiệp chiếm vai trò chủ yếu.

Vào nửa đầu thế kỉ XIX, các yếu tố sản xuất của chủ nghĩa tư bản (TBCN) đã xuất hiện ở Trung Quốc, với hơn 1.500 thành thị phong kiến có nhiều ngành nghề thủ công và các công trường thủ công quy mô lớn Ở Giang Tô, các công trường thủ công tư nhân có 1.000 khung dệt và 4.000 lao động, cho thấy sự hình thành của lực lượng sản xuất thủ công quy mô lớn Tuy vậy, những yếu tố này vẫn chưa đủ để nền kinh tế Trung Quốc chuyển biến thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Từ thế kỉ XVII, Trung Quốc là đối tượng thôn tính của đế quốc phương Tây thông qua hoạt động ngoại thương, du nhập thuốc phiện để đầu độc nhân dân Trung Quốc (chiến tranh nha phiến) làm nước này mỗi năm mất đi 10 triệu lạng bạc Từ đó dẫn đến các cuộc chiến tranh thôn tính như: chiến tranh Trung — Nhật năm 1844; kí hiệp ước bất bình đẳng với Mi, Pháp (1844) với Na Uy, Thuy Điển (1847) Nhìn chung, các nước để quốc đã thao túng toàn bộ các ngành kinh tế quan trọng của Trung Quốc, biến kinh tế nước này thành một bộ phận phụ thuộc trong hệ thống kinh tế TBCN Năm 1911, Cách mạng tư sản Tân Hợi nổ ra cùng với sự phát triển ngày càng sâu rộng của giai cấp vô sản Ngày 01/6/1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời là tiền đểề dẫn đến sự thành công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ngày 01/10/1949, đưa lịch sử, Trung Quốc sang trang mới, bắt đầu thời kì quá độ xây dựng CNXH.

Kinh tế Trung Quốc thời kì 1949 — 197 ch HH Hàng nưện 70 6.3 Kinh tế Trung Quốc thời kì cải cách và mở cửa (1978 — nay) cceeercee 74 Câu hỏi ôn tập chƯơng 6 co c2n nà HH TH KT TH HH KH th cư HT 74 79 Chương 7 KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN . ccc-ccsc2cceccv2sesrrred 80 7.1 Lịch sử hỡnh thành cỏc nước đang phỏt triỂn .-. ô -cccsceksscseeesexrxerrererke 80 7.2 Quá trình xây dựng kinh tế của các nước đang phát triỂn - <-c++ 81 Ằ@ 108.5 82.8.i‹8-.i 0n -

Sau ngày giải phóng, kinh tế Trung Quốc đứng trước những khó khăn trầm trọng, cần nhanh chóng khôi phục trên tất cả các lĩnh vực.

KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á HH HH S111 117kg rrkg 93 8.1 Đặc điểm kinh tế — xã hội các nước Đông Nam Á trước khi giành được độc lập

Quá trình phát triển kinh tế của các nước Đông Nam Á -.c.ec<ec-ce-ee 96 Câu hỏi ôn tập chương 8 ôch HH TH TH nh HH TH nh 112 PHẦN HAI LỊCH SỬ KINH TẾ VIỆT NAM

KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

7.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

7.1.1 Khái niệm “các nước đang phát triển”

“Các nước đang phát triển” là tên gọi những nước trong quá khứ vốn là thuộc địa của đế quốc nay đã giành độc lập về chính trị hiện đang trên con đường xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại

Từ sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917), đặc biệt vào giữa thế kỉ XX, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ giúp hàng loạt quốc gia vốn là thuộc địa, nửa thuộc địa của chủ nghĩa thực dân giành được độc lập dân tộc Sau hàng thế kỉ bị chủ nghĩa đế quốc thực dân đô hộ, nền kinh tế của các nước này đều nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc vào hệ thống kinh tế TBCN Mấy thập kỉ qua, cuộc đấu tranh thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu đã tạo nên những thay đối to lớn về kinh tế - xã hội ở các nước đang phát triển Một số nước đã vươn lên trở thành nước công nghiệp mới (NICs) Vị thế của các nước đang phát triển ngày càng táng trong đời sống kinh tế, chính trị thế giới Tuy nhiên, các nước này vẫn đang còn nhiều trở ngại trên con đường phát triển của mình |

7.1.2 Quá trình hình thành các nước đang phát triển

Trong quá khứ, các nước đang phát triển là thuộc địa của các nước đế quốc Cuối thế kỉ XIX, hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc chiếm tới 90% diện tích châu Phi, toàn bộ châu Uc, 50% diện tích châu A và 27,5% diện tích châu Mĩ Sự thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân dẫn tới mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ngày càng sâu sắc ở các nước thuộc địa tất yếu dẫn đến phong trào giải phóng dân tộc nổ ra ở các nước này

Quá trình tan rã của hệ thống thuộc địa cũng là quá trình hình thành các nước đang phát triển Quá trình này có thể chia làm hai giai đoạn: |

Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917) đến Chiến tranh thế giới thứ hai là thời kỳ bắt đầu tan rã của hệ thống thuộc địa Từ đầu những năm 1920, các phong trào độc lập và sự thức tỉnh của ý thức dân tộc ở nhiều khu vực trên thế giới dần nổi lên, thách thức quyền lực thực dân và thúc đẩy quyền tự quyết Sự lan rộng của các giá trị cách mạng và ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười đã kích thích các cuộc tranh đấu giành độc lập ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, làm thay đổi cấu trúc quyền lực toàn cầu Dù quá trình giải phóng dân tộc diễn ra không đồng đều và gặp sự kháng cự từ các đế quốc, giai đoạn này được xem là khởi đầu cho một chu kỳ dài của phong trào chống thuộc địa và sự chuyển giao quyền lực trên phạm vi toàn cầu.

1920, một loạt nước đã giành được độc lập như lrắc, Apganitxtan, Mông Gổ,

Ai Cập, Thổ Nhĩ Kì

KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ PHONG KIẾN . 5-cccccccsvcsccrssrrr 118 8.1 Vài nét về thời kì tiền phong kiến cv SH Hà HH HH HT nành 113 9.2 Kinh tế Việt Nam thời phong kiến (179 TCN — 185B) ii SẰSeeeee 116 Câu hỏi ôn tập chương Q << kg HH kh "ơ 128 Chương 10 KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ PHÁP ĐÔ HỘ (1858 - 1945)

Từ khi thực dân Pháp xâm lược đến Chiến tranh thế giới lần thứ hai @[ :XL<:diddiiiAAÁẮIẮẶÁẶÁẶÁẶÁẮẮẶÝ

10.1.1 Chính sách bóc lột của Pháp ở Việt Nam

Thời kì 1858 - 1939, Pháp tăng cường bóc lột nhân dân ta, chiếm đoạt tài nguyên, bần cùng hoá nông dân, nắm độc quyền trong công nghiệp khai khoáng và công nghiệp cất chế rượu, kìm hãm công nghiệp nặng, hạn chế công nghiệp nhẹ, độc chiếm thị trường Việt Nam, nắm các mạch máu kinh tế, tắng cường cho vay nặng lãi, đồng hoá lãnh thổ kinh tế Việt Nam trong lãnh thổ của đế quốc Pháp

- Chính sách ruộng đất: Khi đặt ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam, chính phủ Pháp có toàn quyền nhượng hoặc bán đất đai gọi là “vô chủ” cho người Pháp có nguyện vọng kinh doanh trong nông nghiệp Chính sách ruộng đất đó dựa trên nền tảng sức mạnh của bộ máy xâm lược, mang tính chất cướp đoạt bằng bạo lực

Nó góp phần phá vỡ cơ sở của chế độ ruộng đất công đã tổn tại hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến Việt Nam, tạo điểu kiện cho phát triển sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất của các địa chủ cả người Pháp và người Việt

- Trong lĩnh vực công nghiệp: Chính sách của chính phủ thuộc địa tạo điều kiện cho tư bản Pháp đầu tư khai thác các nguồn tài nguyên cho công nghiệp của chính quốc Phát triển ở thuộc địa các ngành công nghiệp sử dụng nguồn lao động và nguyên liệu rẻ đem lại lợi nhuận lớn nhưng không được cạnh tranh với công nghiệp ở chính quốc Pháp

- Trong lĩnh vực thưởng mại: Pháp có chính sách “đồng hoá thuế quan” Theo chính sách này, hàng hoá của Pháp nhập khẩu vào Việt Nam được miễn thuế hoàn toàn còn hàng của nước khác nhập vào Việt Nam phải nộp thuế như nhập khẩu vào Pháp Như vậy có nghĩa là thị trường nội địa của nước Pháp đã bao hàm cả lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Việt Nam Chính sách này đã tạo điều kiện cho hàng hoá của Pháp có thể cạnh tranh dễ dàng so với hàng hoá của các nước khác và giữ vị trí độc quyền trên thị trường Việt Nam

- Trong lĩnh vực tiền tệ: Pháp thực biện chính sách “Liên hiệp tiền tệ” Chính sách này quy định cho tiền phrắng của Pháp có thể lưu hành hợp pháp ở Việt Nam, cho thành lập Ngân hàng Đông Dương, nắm độc quyển phát hành giấy bạc và gắn đồng Đông Dương vào khu vực tiền phrăng, lấy đồng phrăng làm bản vị Chính sách này giúp cho Pháp nhanh chóng chiếm độc quyền kinh doanh trên thị trường tài chính tiền tệ, đầu cơ thu lợi nhuận và làm cho nền kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc sâu sắc vào nền kinh tế Pháp

Công cuộc khai thác của Pháp có thể chia thành hai giai đoạn:

+ Cuộc khai thác lần thứ nhất (1884 - 1918): Tu ban Pháp đã nặng về thương mại, chú trọng xuất khẩu hàng hoá hơn là xuất cảng tư bản Pháp đầu tư vào Việt Nam còn ở mức độ thấp và dè dặt, chủ yếu là để cho vay nặng lãi Phương thức kinh doanh còn theo phương thức phong kiến

+ Cuộc khai thác lần thứ hai (1919 - 1939): Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư bản Pháp đã chú trọng xuất khẩu tư bản hơn xuất khẩu hàng hoá Bên cạnh việc tiếp tục cho vay nặng lãi, chúng đã tăng cường khai thác thuộc địa, đầu tư vào Việt Nam mạnh hơn Phương thức kinh doanh có sự thay đổi theo phương thức TBCN Đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Việt Nam có mức sản lượng cao nhất thời thuộc Pháp

10.1.2 Đặc điểm kinh tế thời kì 1858 - 1939

10.1.2.1 Nên nông nghiệp hết sức lạc hậu

Ngay từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, quá trình tập trung ruộng đất diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, biến đất nông nghiệp thành đồn điền trồng lúa, cà phê, cao su và thuốc lá Đồng thời, địa chủ Việt Nam được tạo điều kiện chiếm đoạt thêm đất của nông dân, đẩy mạnh sự bất bình đẳng về sở hữu ruộng đất Khoảng 90% dân số là nông dân nhưng chỉ có chưa tới 20% diện tích đất, gây tác động nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và khiến nông dân bị bần cùng, chịu bóc lột nặng nề Nông dân phải canh tác trên đất của chủ đất và nộp tô lên tới hơn 50%, thậm chí có lúc lên tới 70% kèm theo nhiều ràng buộc khác Trong bối cảnh đó, động lực và điều kiện để cải tiến công cụ sản xuất của nông dân bị hạn chế nghiêm trọng.

Trong phương thức sản xuất kinh doanh, thực dân Pháp tiếp tục duy trì quan hệ sản xuất phong kiến ở nông thôn, đồng thời kết hợp với kiểu bóc lột của chủ nghĩa thực dân trong các đồn điển trồng cây công nghiệp

Về mặt kĩ thuật sản xuất, Pháp chưa bao giờ đặt vấn để kĩ nghệ hoá nông nghiệp ở Việt Nam nên công cụ sản xuất rất thô sơ, thiên tai lại xảy ra liên tục, bình quân cứ 2 năm lại vỡ đê một lần Sản xuất lúa rất bấp bênh, năng suất vào Toại thấp nhất thế giới với 12 tạ/ha, trong khi ở Thái Lan là 18 tạ/ha, Nhật Bản là

34 tạ/ha,vì thế nông dân sống rất cơ cực, nạn đói luôn luôn xảy ra ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Để phục vụ cho quá trình khai thác và bóc lột, thực dân Pháp tăng cường mở các đồn điển trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như: chè, cà phê, hồ tiêu, mía, dừa Đồng thời cũng tăng cường khai thác nguồn lúa gạo, cây lương thực truyền thống còn nhiều tiém nang phát triển ở Việt Nam Sản phẩm nông nghiệp đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam thời kì thuộc Pháp Vì lợi ích của người Pháp, chính phủ thuộc địa đã đầu tư một số vốn cho cơ sở hạ tầng như đào kênh thuỷ lợi, mở mang đường sá Điều đó cũng có tác động đến việc mở rộng diện tích canh tác, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự giao lưu hàng hoá nông sản

Chăn nuôi kém phát triển, chủ yếu là chăn nuôi của gia đình

10.1.2.2 Công nghiệp nhỏ bé, què quặt và thủ công nghiệp bị chèn ép

Pháp muốn biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng hóa công nghiệp cho Pháp và do đó kiềm hãm sự phát triển công nghiệp của nước ta Trong quá trình khai thác, bóc lột thuộc địa, thực dân Pháp đã dẫn tới việc hình thành một số ngành công nghiệp ở Việt Nam.

Trong công nghiệp nặng, ngành khai thác mỏ được thực dân Pháp chú ý phát triển nhất So với tổng số đầu tư vào công nghiệp toàn Đông Dương thời kì

1913 - 1939, vốn đầu tử cho ngành mỏ chiếm 40%, riêng thời kì 1902 - 1930 là

52% Các ngành công nghiệp nặng then chốt khác thì Pháp chủ trương không phát triển hoặc chỉ phát triển ở mức độ hạn chế

_ Về công nghiệp luyện kim, chỉ có một số các xưởng sơ chế và chế biến kẽm, thiếc, chì không có cơ sở luyện sắt thép

Công nghiệp cơ khí chỉ có một số cơ sở sửa chữa và lắp ráp với quy mô nhỏ, không có ngành cơ khí chế tạo

Công nghiệp hoá chất, chỉ sản xuất oxy và axetylen phục vụ chiến tranh

Về công nghiệp điện, để phục vụ tiêu dùng, Pháp xây dựng các nhà máy điện ở Hải Phòng (1892), Hà Nội (1894) và một số nhà máy khác nhưng nhìn chung phát triển yếu ớt, đến năm 1940 sản lượng điện mới chỉ đạt 94,8 triệu kW/giờ Các cơ sở công nghiệp nhẹ và chế biến cũng chỉ được xây dựng hạn chế, với trang thiết bị máy móc lạc hậu, chủ yếu sử dụng nguồn nhân công rẻ mạt của

Thời kì Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 — 1945) Si Heke 132 Câu hỏi ôn tập chƯƠng T0 cành TH KH TH HH HH kg hre 185 Chương 11 KINH TẾ VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THUC DAN PHAP lá ma ÒÒỎ 136 11.1 Kinh tế những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (9/1945 — 12/1946)

10.2.1 Chính sách kinh tế chỉ huy của Nhật - Pháp

Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra và tác động mạnh tới Việt Nam; đến tháng 9/1940, Nhật Bản tấn công Pháp buộc Pháp nhượng bộ, còn tháng 7/1941, Nhật chiếm toàn bộ Đông Dương, đẩy nền kinh tế Việt Nam vào sự phụ thuộc cả Pháp lẫn Nhật, chủ yếu vào Nhật Bản Dưới sự cai trị của Pháp, hệ thống tiền tệ, thuế khóa và các ngành công nghiệp độc quyền như muối, rượu, thuốc phiện vẫn được duy trì; nhưng Nhật Bản ép Pháp thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy”, biến kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế chiến tranh Nội dung của chính sách này gồm kiểm soát sản xuất, kiểm soát nhập khẩu, kiểm soát phân phối hàng hóa và kiểm soát giá cả, nhằm tăng cường độc quyền và tối đa hóa lợi nhuận, phục vụ cho tổng động viên và chiến tranh của Nhật.

10.2.2 Đặc điểm kinh tế thời kì 1939 - 1945

10.2.2.1 Sản xuất nông, công nghiệp phục vụ chiến tranh, vận tải rất khó khăn ơ Về nụng nghiệp: Đõy là thời kỡ Phỏp tập trung phỏt triển cỏc đồn điển cao su vì đây là ngành ít thiệt hại vì chiến tranh Để có nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp phục vụ chiến tranh, cơ cấu cây trồng có sự thay đổi Pháp và Nhật bất dân ta phải thu hẹp diện tích cây lương thực, thực phẩm, bắt nông dân nhổ lúa và màu để trồng đay, gai kết quả là diện tích và sản lượng một vài loại cây công nghiệp tăng lên trong khi đó sản lượng lúa bị giảm sút mạnh, dân ta lại càng đói thêm Nhật - Pháp còn tăng cường vơ vét lúa gạo để phục vụ chiến tranh (giá gạo trên thị trường 8 đồng/Ikg, chúng chỉ thu mua với giá 0,25 đồng) Thông qua Pháp, từ năm 1940 - 1944, Nhật đã vơ vét ở Việt Nam 3,5 triệu tấn gạo Chính sách của Pháp và Nhật đã đưa nhân dân ta vào thảm hoạ: đầu năm 1945, nước ta có khoảng 2 triệu người chết đói ơ Về cụng righiệp: Cả Phỏp và Nhật đều chỳ trọng cụng nghiệp khai thỏc mỏ, tăng cường công nghiệp quốc phòng, lập các nhà máy chế tạo vũ khí, chế tạo một số hoá chất như thuốc nổ, cácbuacanxi Vì đang có chiến tranh, hàng hoá bị thiếu nên Pháp đã chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp chế biến như công nghiệp rượu cồn, chế biến cao su, làm đường Đặc biệt, chúng dùng gạo dé nấu cồn, dùng thóc, ngô thay than chạy các nhà máy điện

Bên cạnh một số ít ngành được phát triển hơn để phục vụ cho chiến tranh còn đa số các ngành bị giảm sút nhiều vì bị tàn phá, bị ứ đọng sản phẩm hay vì thiếu nguyên liệu phải đóng cửa Trong đó ngành dệt bị giảm sút mạnh nhất, có tới 11 - 12 vạn thợ đệt phải nghỉ việc

10.2.2.2 Thương nghiệp bị kiểm soát chặt chẽ Để có lương thực phục vụ chiến tranh, Pháp - Nhật đã tăng cường chính _sách thu mua lương thực giá rẻ

- Về nội thương: Những hàng hoá thiết yếu bị Pháp - Nhật kiểm soát chặt chẽ về giá cả và phân phối (thực hiện “tem phiếu”, “thẻ gia đình” ở các thành phối) Pháp còn tăng cường đầu tư tích trữ hàng hoá để thu lợi nhuận khá lớn

_— Về ngoại thương: Khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu đều giảm sút Nhật dân dần trở thành khách hàng chính của Việt Nam với mục đích tăng cường vơ vét, cướp đoạt Đặc biệt lúc này hàng của Pháp nhập vào Việt Nam phải đóng thuế, còn Nhật thì được hưởng quyền “tối huệ quốc” Nhật thực hiện kiểu buôn bán ăn cướp đại quy mô: mua nhiều, bán ít (mua của Việt Nam nhiều gạo, ngô, đay, gỗ, nguyên liệu, khoáng sản và bán cho nước ta một số thứ sành sứ, tơ nhân tạo)

Khối lượng xuất nhập khẩu thời kì này bị giảm sút nhiều, so với năm 1939, năm 1244, lượng hàng xuất khẩu chỉ còn 1/7 và hàng nhập khẩu chỉ bằng 1/16

10.2.2.3 Tăng thuế và lạm phát nghiêm trọng Để tăng thu ngân sách cho chiến tranh, thực dân Pháp đã tăng hầu hết các loại thuế, số thu của ngân sách Đông Dương từ 1939 - 1945 tăng gấp hơn 2 lần, riêng phần thu từ thuế rượu, muối, thuốc phiện tăng gấp 3 lần Trong phần thu được, Pháp phải nộp cho Nhật để nuôi quân đội 1,5 tỉ đồng và phải nộp 300 triệu để Nhật mua hàng hoá phục vụ chiến tranh Đứng trước khó khăn về nạn thiếu hụt ngân sách, thực dân Pháp buộc phải phát hành thêm tiền với tốc độ ngày càng nhiều (năm 1940, phát hành 135 triệu đồng; năm 1945, phát hành 12.172 triệu đồng) từ đó dẫn đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng, giá cả tăng vọt, đời sống của nhân dân ngày càng khổ cực

- Tóm lại: Sau hơn 80 năm Pháp đô hộ Việt Nam, tính chất của nền kinh tế nước ta có sự thay đổi trở thành nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến Quá trình Pháp đô hộ đã rút ngắn quá trình thai nghén và ra đời thành phần kinh tế tư bản và giai cấp tư sản Việt Nam Nhưng ngay từ khi mới ra đời, giai cấp tu sản Việt Nam đã bị đề phòng, cạnh tranh, chèn ép và chỉ hoạt động được trong những khe hở của lưới tư bản độc quyền ngoại quốc Trải qua hơn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, nền kinh tế nước ta phải gánh chịu những hậu quả nặng nể, đó là nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu và bị phụ thuộc Nhân dân ta ngày càng bị bần cùng hoá: đói rét, bệnh tật, mù chữ

Do vậy, luận điểm “khai hoá” mà chúng vẫn khoe khoang chỉ là sự bịp bợm, xuyên tạc mà thôi

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 10

Phân tích các chính sách của thực dân Pháp ở Việt Nam

Phân tích tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thời kì thực dân Pháp đô hộ

Phân tích chính sách của Pháp đối với sản xuất công nghiệp và thực trạng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Việt Nam thời kì thực dân Pháp đô hộ (1858 - 1939)

Phân tích chính sách kinh tế chỉ huy của Nhật - Pháp và tác động của nó đến kinh tế Việt Nam thời kì 1939 - 1945 .-

Phân tích những chuyển biến về tính chất và trình độ của nền kinh tế Việt Nam thời kì thực dân Pháp đô hộ (1858 - 1945)

KINH TE VIET NAM TRONG KHANG CHIEN

CHONG THUC DAN PHAP (1945 - 1954) eo

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập ngày 02/9/1945 Nhưng ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đã quay trở lại gây chiến, nhằm thống trị nước ta một lần nữa Với tinh thần “thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, toàn thể nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, giữ gìn độc lập dân tộc

11.1 KINH TẾ NHỮNG NĂM ĐẦU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (9/1945 -

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, nạn đói vẫn tiếp tục diễn ra ở các tỉnh phía Bắc Giải quyết nạn đói là nhiệm vụ cấp bách của chính quyển cách mạng Để thực hiện nhiệm vụ này, chính phủ đã áp dụng hai loại biện pháp:

- Phát động phong trào “nhường cơm sẻ áo” trong nhân dân (hũ gạo cứu đói, ngày cứu đói ), để ra chủ trương triệt để tiết kiệm lúa gạo (cấm dùng lúa gạo làm quà bánh, nấu rượu ), cấm đầu cơ tích trữ lương thực, khuyến khích việc chở thóc gạo từ Nam ra Bắc để cứu đói Đó là những biện pháp có tính chất cấp thiết, trước mắt, nhằm khắc phục nhanh chóng nạn đói

Biện pháp cơ bản và lâu dài nhằm giải quyết tận gốc nạn đói là khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp Chính phủ phát động phong trào tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “không để một tấc đất bị bỏ hoang”, nhiều địa phương thành lập Ban Khuyến nông chăm lo sản xuất nông nghiệp, đồng thời giảm tô 25% cho nông dân và xoá bỏ những món nợ ở nông thôn.

Nhờ những biện pháp đúng đắn và tích cực trên, đến đầu năm 1946, nông nghiệp đã bắt đầu khôi phục, ổn định, sản xuất lương thực tăng lên và nạn đói được đẩy lùi

11.1.2 Giải quyết vấn đề tài chính, tiền tệ

Tình hình tài chính, tiền tệ sau Cách mạng tháng Tám có nhiều khó khăn Ngân sách thiếu hụt, Ngân hàng Đông Dương do Pháp nắm luôn tìm cách phá hoại

Bên cạnh đó, quân Tưởng Giới Thạch ép Việt Nam phải sử dụng tiền “quan kim” và tiền “quốc tệ” bị mất giá nghiêm trọng làm cho tình hình càng thêm khó khăn Trước tình hình đó, chính phủ đã áp dụng mọi biện pháp tích cực, khôn khéo để vượt qua khó khăn, ổn định tình hình tài chính, tiền tệ của đất nước

Kinh tế kháng chiến ở vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát 0980106: Tổ

Chính sách kinh tế kháng chiến của ta bao gồm hai mặt: một là phá hoại kinh tế địch, hai là xây đựng kinh tế của ta

— Phá hoại kinh tế địch bằng nhiều cách: phá huỷ máy móc, kho tàng, đường giao thông vận tải, làm vườn không nhà trống, không cho địch vơ vét lương thực của cải để thực hiện thủ đoạn “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”

- Xây dựng nền kinh tế của ta phải đảm bảo hai nguyên tắc vừa kháng chiến vừa kiến quốc và tự cung tự cấp về mọi mất

+ Thứ nhất, kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công Kiến quốc có chắc thành công thì kháng chiến mới thắng lợi Việc xây dựng kinh tế của ta lúc này “về hình thức là kinh tế chiến tranh về nội dung là dân chủ mới” Thủ tiêu mọi sự ràng buộc và lũng đoạn của chủ nghĩa thực dân, xoá bỏ tàn tích phong kiến thực hiện người cày có ruộng Trong xây dựng và phát triển kinh tế “chú trọng trước nhất phát triển nông nghiệp, thứ đến là thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp đứng hàng thứ ba Công nghiệp đối với chúng ta chỉ có thể đứng hàng thứ tư”

+ Thứ hai, t cung tự cấp về mọi mặt Nguyên tắc này đòi hỏi nhân dân phải tự giải quyết lấy những nhu cầu của kháng chiến, không phải phụ thuộc vào nước ngoài và không phụ thuộc vào thành thị Việc sản xuất chỉ nhằm giải quyết những nhu cầu thiết yếu của kháng chiến và dân sinh như cơm ăn, áo mặc, vũ khí đánh giặc, thuốc men, giấy mực

11.2.1 Xây dựng cơ sở vật chất để kháng chiến lâu dài (1947 - 1950)

Mục tiêu hoạt động trong kinh tế kháng chiến là xây dựng nền kinh tế tự cấp tự túc trong các vùng giải phóng để đảm bảo đời sống nhân dân, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến dân tộc

- Nông nghiệp: Trong giai đoạn (1947 - 1950), địch tăng cường kiểm soát vùng tạm chiếm, đẩy mạnh phá rối vùng tự do Đồng ruộng bỏ hoang, nhân dân phải đi tản cư Vùng kháng chiến nằm sâu trong rừng, ruộng đất canh tác ít Chính phủ đã thực hiện hàng loạt các biện pháp giúp nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp Năm 1948, chính phủ phát động phong trào thi đua yêu nước, ra sức tăng gia sản xuất Kết quả trong các vùng giải phóng, sản xuất nông nghiệp được duy trì và phát triển đáng kể, nhiều địa phương không những thực hiện được “tự cấp tự túc” lương thực, thực phẩm mà còn đóng góp tích cực cho kháng chiến Tháng 7/1949, chính phủ nhắc lại sắc lệnh giảm tô 25%, tạo điều kiện để phát triển kinh tế nông thôn

Các địa phương đã giải quyết dần việc giao đất và cấp ruộng cho nông dân theo chính sách ruộng đất của Đảng Tháng 5/1950, chính phủ ban hành sắc lệnh tạm cấp ruộng vắng chủ (thuộc về tư bản và địa chủ, Việt gian) cho nông dân và sắc lệnh giảm tức, quy định vay bằng tiền được giảm 18% và vay bằng thóc giảm 20% Đảng và chính phủ còn phối hợp thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ nông dân sản xuất như thành lập Nha Tín dụng (năm 1947) có chi nhánh ở các tỉnh để cho nông dân vay vốn, hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn, cung cấp giống lúa mới, hướng dẫn kỹ thuật gieo mạ và cấy lúa, và vận động thành lập quỹ tương tế để giúp đỡ lẫn nhau.

Cùng với vận động và giúp đỡ nông dân sản xuất, chính phủ còn tổ chức lãnh đạo nhân dân chống địch càn quét, cướp phá, bảo vệ sản xuất và đời sống nhân dân ở vùng tự do

Nhờ thực hiện các biện pháp trên, nông nghiệp nói chung được giữ vững, nhiều nơi nhân dân đã tự túc được ăn mặc và đảm bảo đóng góp cho kháng chiến, phá tan âm mưu chiến tranh lúa gạo của địch |

- Tiếu thủ công nghiệp và công nghiệp quốc phòng

Cuộc kháng chiến càng phát triển, nhu cầu về hàng tiêu dùng càng lớn

Do đó Đảng và chính phủ chủ trương phục hồi tiểu thủ công nghiệp và xây dựng công nghiệp quốc doanh phục vụ cho kháng chiến dân sinh

Trong thời kỳ kháng chiến, nhiều địa phương đã thành lập các cơ sở khai thác than và thiếc, các xưởng cơ khí nhỏ và các cơ sở sản xuất giấy, dệt, diêm, thuốc lá, xà phòng nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của nhân dân và từng bước đáp ứng yêu cầu của kháng chiến Công nghiệp quốc phòng được phát triển mạnh từ trung ương đến địa phương, với các xưởng quân giới theo phương châm phân tán, gọn nhẹ, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, khai thác nguyên liệu địa phương và sản xuất những loại vũ khí cơ bản, từng bước chế tạo những vũ khí tối tân.

- Công tác tiếp tế, tài chính và tiên tệ

+ Công tác tiếp tế: Cuối năm 1946, chính phủ thành lập Nha Tiếp tế (tháng 02/1948 đổi thành Cục Tiếp tế vận tải) với nhiệm vụ thu mua, vận chuyển thóc gạo, muối, đường, dầu hoả, giấy cung cấp cho bộ đội và nhân dân Để đấu tranh kinh tế với địch, tháng 10/1948, chính phủ thành lập Ban Bao vây kinh tế địch có nhiệm vụ “vừa bao vây vừa lợi dụng” kinh tế địch trong vùng tạm chiếm

+ Tài chính: Chính phủ chủ trương thực hiện chế độ tài chính phân tán, các địa phương phải tự cấp tự túc về mọi mặt, tự lo lấy các khoản chỉ tiêu bằng cách dựa vào nhân dân địa phương, động viên nhân dân ủng hộ kháng chiến, chính phủ chỉ trực cấp một lần

Chính phủ đặt ra chế độ thuế mới phù hợp với tình hình kháng chiến: các loại thuế thu ở thành thị như thuế lương bổng, thuế lãi doanh nghiệp và thuế lợi tức được bãi bỏ, còn lại thuế đồn thổ, thuế môn bài, thuế sát sinh, thuế quan và thuế trước bạ được thu bằng tiền Tuy nhiên nguồn thu thuế rất hạn chế, chỉ đảm bảo được một phần rất nhỏ chi tiêu của nhà nước nên chính phủ đặt ra các hình thức đóng góp khác nhau như: “Quỹ tham gia kháng chiến” (thu bằng tiền, 60 đồng một người hàng năm), “Quỹ công lương” (thu bằng hiện vật, 10kg thóc một người).

Trong giai đoạn kháng chiến, tiền tệ được phân chia thành các khu vực riêng phù hợp với điều kiện thực tế, hình thành hệ thống tiền tệ địa phương có đặc thù riêng Cụ thể, Bắc Bộ và Trung Bộ sử dụng giấy bạc tài chính làm phương tiện trao đổi chủ yếu, Nam Trung Bộ dùng tín phiếu, còn Nam Bộ có hệ thống giấy bạc riêng.

Việc hình thành các khu vực tiền riêng, góp phần làm cho lưu thông tiền tệ phù hợp với lưu thông hàng hoá của từng vùng, đáp ứng yêu cầu kháng chiến của từng khu vực, chống lại âm mưu phá hoại tiền tệ của địch, ngăn chặn hành động lợi dụng chênh lệch giá cả giữa các khu vực

Nhìn chung, bên cạnh những mặt đã đạt được thì tình hình kinh tế những năm này gặp nhiều khó khăn, nhất là về chỉ tiêu ngân sách, lạm phát nghiêm trọng

11.2.2 Chấn chỉnh toàn diện công tác kinh tế, tài chính (1951 - 1954)

KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ 1955 - 1975 .- cccscecrrrrererrerrieo 145 12.1 Kinh tế miền Bắc thời kì 1955 — 1975 cu TH HH ng nh TH ng ng ngư 145 12.2 Kinh tế miền Nam thời kì 1955 — 197B LH ng HH n TH ng kg gyn 183 Câu hỏi ôn tập chưƯƠng Í2 ch HH HH TH HH TH HH HH kg hư 155 Chương 13 KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KÌ CẢ NƯỚC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1976 — NÀY) Su SH HH ng uc nọ B4 Bọ ng x9 nEnhrh 156 IE5ci on r1 a

Ngày đăng: 08/11/2022, 23:03