1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1

145 102 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam
Tác giả TS. Bùi Hồng Vạn, ThS. Ngô Thị Minh Nguyệt, ThS. Ngô Thị Huyền Trang, ThS. Phạm Ngọc Phương, ThS. Nguyễn Thị Thu Hà, ThS. Đỗ Thị Phương Hoa
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Lịch sử kinh tế
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam được biên soạn nhằm phục vụ cho việc giảng dạy, học tập đối với học phần Lịch sử kinh tế Việt Nam. Giáo trình được kết cấu thành 7 chương và chia làm 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn Lịch sử kinh tế Việt Nam; kinh tế tiền phong kiến và phong kiến (Từ khởi thủy đến 1858); kinh tế thời kỳ thực dân Pháp thống trị (1858-1945);... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 3

Trong thời đại mở cửa và hội nhập quốc tế hiện nay, khi Đảng ta khẳng định trong văn kiện của mình "xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm" thì lịch sử kinh tế càng có vai trò, ý nghĩa quan trọng, bởi người xưa

có câu: "Ôn cố tri tân" (ôn cũ để biết mới) Chia sẻ quan điểm này, nhiều học giả phương Tây cũng cho rằng sự hiểu biết về lịch sử góp phần tạo nên nhận thức lịch sử, là một hoạt động trí tuệ quan trọng Để có sự hiểu biết đầy đủ hiện tại cần phải hiểu quá khứ Trong một cuộc trả lời báo chí năm 2009, nhà kinh tế học Mỹ Paul Samuelson đã khuyên thế hệ trẻ:

"Nên có sự tôn trọng thực sự đối với nghiên cứu lịch sử kinh tế vì đó là những dữ liệu thô cần thiết từ đó đưa ra những giả thuyết, hay phân tích" [Ran Abramitzky, 2017] Còn trước đó, từ thế kỷ XIX, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin rất coi trọng sử học Theo quan điểm của các ông, sử học có tầm quan trọng đặc biệt, bởi đây là môn khoa học nghiên cứu quá trình phát sinh, hình thành, phát triển của sự vật và hiện tượng;

từ đó giúp con người phát hiện ra quy luật vận động và phát triển của lịch

sử nhân loại

Trên thế giới, từ thế kỷ XIX đã xuất hiện một chuyên ngành khoa học là "con đẻ" của hai bộ môn khoa học - Sử học và Kinh tế học, đó là Lịch sử kinh tế Lịch sử kinh tế nước ta đã được các học giả người Pháp nghiên cứu từ trước Cách mạng tháng Tám 1945 Sau cách mạng, nhất là

từ nửa cuối thế kỷ XX trở đi, lịch sử kinh tế Việt Nam được quan tâm

Trang 4

nghiên cứu nhiều hơn Tuy vậy, trong bối cảnh của kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp sau là kháng chiến chống Mỹ cứu nước, việc nghiên cứu lịch sử kinh tế chưa được quan tâm thoả đáng Khi đất nước thống nhất (1976), đặc biệt từ thập niên 1990 đến nay, lịch sử kinh tế Việt Nam nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Những thành tựu đạt được của bộ môn khoa học này đã cung cấp những luận cứ có giá trị cho Đảng, Nhà nước ta tham khảo trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển kinh tế đất nước

Trên phương diện đào tạo, ở miền Bắc nước ta, ngay từ cuối thập niên 1960, khoa học Lịch sử kinh tế (trong đó có Lịch sử kinh tế Việt Nam)

đã được đưa vào giảng dạy ở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sau đó môn học này được nhiều trường đại học, học viện đưa vào chương trình giảng dạy Ở Trường Đại học Thương mại, môn Lịch sử kinh tế (trước gọi là Lịch sử kinh tế quốc dân) được triển khai giảng dạy, học tập từ những năm 1988-1989 đến nay

Từ suy nghĩ cần có một giáo trình phù hợp với chương trình đào tạo của trường, đồng thời được sự đồng ý của hiệu trưởng, chúng tôi đã tổ

chức biên soạn Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam nhằm phục vụ cho

việc giảng dạy, học tập đối với học phần Lịch sử kinh tế Việt Nam của Trường Đại học Thương mại

Ngoài Lời nói đầu, Giáo trình được kết cấu thành 7 chương Nội dung của giáo trình được phân công biên soạn như sau:

* Chương 1: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn Lịch sử

kinh tế Việt Nam - TS Bùi Hồng Vạn

* Chương 2: Kinh tế "tiền phong kiến" và phong kiến (Từ khởi thủy

đến 1858) - TS Bùi Hồng Vạn

* Chương 3: Kinh tế thời kỳ thực dân Pháp thống trị (1858-1945) -

ThS Ngô Thị Minh Nguyệt

* Chương 4: Kinh tế thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

(1945-1954) - ThS Ngô Thị Minh Nguyệt và ThS Ngô Thị Huyền Trang

Trang 5

* Chương 5: Kinh tế cả nước thời kỳ 1955-1975 - TS Bùi Hồng Vạn

Nhân dịp giáo trình xuất bản, nhóm biên soạn trân trọng gửi lời cảm

ơn các thế hệ đi trước đã tạo ra những sản phẩm khoa học giúp chúng tôi

có tài liệu tham khảo để biên soạn giáo trình này Nhóm biên soạn xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng, khoa, bộ phận chức năng của Trường Đại học Thương mại cùng các nhà khoa học trong và ngoài trường đã tạo điều kiện, đóng góp những ý kiến quý báu giúp chúng tôi hoàn thành giáo trình này

Thay mặt nhóm biên soạn

TS Bùi Hồng Vạn

Trang 7

Trang

Chương 1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

của môn Lịch sử kinh tế Việt Nam 11

Chương 2 Kinh tế "tiền phong kiến" và phong kiến

(từ khởi thủy đến năm 1858) 20

2.1 Kinh tế "tiền phong kiến" (30 vạn năm TCN - 938) 20

2.1.3 Kinh tế thời Bắc thuộc (179 TCN - 938) 35

2.2.1 Bối cảnh lịch sử và tư tưởng, chính sách kinh tế 49

Trang 8

Chương 3 Kinh tế thời kỳ thực dân Pháp thống trị (1858-1945) 101

Chương 4 Kinh tế thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Chương 5 Kinh tế cả nước thời kỳ 1955-1975 189

5.1.1 Bối cảnh lịch sử và đường lối kinh tế 189

Trang 9

Tài liệu tham khảo 255

Chương 6 Kinh tế thời kỳ trước đổi mới (1976-1985) 259

6.1 Bối cảnh lịch sử và đường lối kinh tế 259

6.2 Chính sách kinh tế và kết quả thực hiện 263

Chương 7 Kinh tế trong 30 năm đổi mới (1986-2016) 299

7.1 Bối cảnh lịch sử và đường lối kinh tế 299

Trang 10

1 Bảng 3.1 Diễn biến của hoạt động lúa gạo ở Đông Dương 111

2 Hình 3.1 Giá trị sản lượng khai thác mỏ ở Đông Dương (1900-1945) 113

3 Bảng 3.2 Cơ cấu các khoản chi của ngân sách Đông Dương

4 Bảng 3.3 Diện tích, sản lượng một số cây trồng 133

5 Bảng 3.4 Số lượng tiền do Ngân hàng Đông Dương phát hành

6 Bảng 4.1 Cân đối thu - chi tài chính 1946-1950 167

7 Bảng 4.2 Tình hình sở hữu ruộng đất tính đến năm 1953 177

8 Bảng 4.3 Tình hình sản xuất công nghiệp vùng tạm bị chiếm

9 Bảng 4.4 Sản xuất nông nghiệp vùng tạm chiếm 181

10 Bảng 5.1 Bình quân ruộng đất ở miền Bắc trước và sau cải cách

11 Bảng 5.2 Kết quả sản xuất nông nghiệp giai đoạn 1955-1957 196

12 Bảng 7.1 Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2015 313

Trang 11

Chương 1

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU   CỦA MÔN LỊCH SỬ KINH TẾ VIỆT NAM 

1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC

1.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Tuỳ vào đặc điểm riêng ở mỗi nước mà người ta có những quan niệm khác nhau về việc xác định đối tượng nghiên cứu của môn lịch sử kinh tế của nước mình Ở Việt Nam, tại Hội nghị Sử học năm 1959, dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng về sự phát triển lịch sử

xã hội, có tham khảo các cuộc tranh luận xung quanh việc xác định đối tượng nghiên cứu của lịch sử kinh tế trên thế giới, giới sử học nước ta đã xác định đối tượng nghiên cứu cơ bản của khoa học Lịch sử kinh tế Việt Nam là1:

1) Nghiên cứu quá trình phát triển tổng thể của những lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chi phối mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử kinh tế Việt Nam nói riêng

2) Nghiên cứu sự phát triển tổng quát các yếu tố cấu thành sức sản xuất xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử tương ứng với sự xuất hiện, phát triển của các quan hệ sản xuất trong xã hội đó, ở giai đoạn lịch sử đó

3) Nghiên cứu một phần, một số yếu tố của kiến trúc thượng tầng, khi các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp đến sự phát triển nền kinh tế của nước đó, xã hội đó như hệ tư tưởng xã hội có liên quan về kinh tế, hay tư duy kinh tế, cơ chế kinh tế, bộ máy quản lý kinh tế, v.v

Tham khảo quan điểm trên, kết hợp với một số tài liệu khác2, giáo

trình này xác định lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cùng với một

1 Dẫn theo Lê Quốc Sử (1998), Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội tr 9-10

2 "Giáo trình Lịch sử kinh tế" của Trường Đại học kinh tế quốc dân (Chủ biên: Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng, 2013), "Lịch sử kinh tế Việt Nam" (Chủ biên: Nguyễn Ngọc Thanh, 2013) và "Lịch sử kinh tế Việt Nam" (Võ Văn Sen, 2017)

Trang 12

bộ phận của kiến trúc thượng tầng có tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế trong các thời kỳ lịch sử nước ta là đối tượng nghiên cứu của Lịch

sử kinh tế Việt Nam

Theo lý luận Mác-xít về hình thái kinh tế - xã hội, lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất kết hợp với nhau tạo thành phương thức sản xuất xã hội Vì thế, cũng có thể nói theo cách khác, Lịch sử kinh tế Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là các phương thức sản xuất trong lịch sử nước ta cùng với một bộ phận kiến trúc thượng tầng (tư tưởng, chính sách, chủ trương, đường lối ) có tác động trực tiếp đến phương thức sản xuất trong mỗi thời kỳ cụ thể

Lịch sử kinh tế Việt Nam xác định nghiên cứu đối tượng thông qua lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là cách tiếp cận hợp lý, khoa học

và đi vào bản chất của kinh tế Theo cách tiếp cận này, nghiên cứu lực lượng sản xuất giúp ta nhận biết rõ về trình độ phát triển của nền kinh tế

Sự phát triển của một nền kinh tế biểu hiện ở nhiều khía cạnh nhưng trực diện và rõ nét nhất là trong sự phát triển của lực lượng sản xuất Lý luận Mác-xít chỉ ra rằng trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất

là yếu tố nói lên trình độ phát triển của nền kinh tế, đồng thời nó cũng là tiêu chí để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại lịch sử Do đó, việc nghiên cứu lực lượng sản xuất là để một mặt làm rõ bản thân sự phát triển của lực lượng sản xuất, mặt khác làm rõ ý nghĩa kinh tế - xã hội của lực lượng sản xuất Lý luận kinh tế chính trị học Mác-xít còn khẳng định trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ sản xuất có phù hợp với lực lượng sản xuất hay không Nếu hai yếu tố này có mối quan hệ phù hợp, lực lượng sản xuất có điều kiện phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất sẽ cản trở, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Bên cạnh lực lượng sản xuất, Lịch sử kinh tế Việt Nam cần phải quan tâm nghiên cứu sự phát triển của quan hệ sản xuất bởi quan hệ sản xuất là cơ sở kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội, nó biểu hiện tính chất xã hội của một nền kinh tế Đồng thời quan hệ sản xuất còn là tiêu chí để phân biệt sự khác nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử Khi quan hệ sản xuất thay đổi xã hội cũng biến đổi từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế -

Trang 13

xã hội khác Nghiên cứu sự biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất chính là để làm rõ vai trò của quan hệ sản xuất đối với sự biến đổi, phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng tích cực (mở đường) hay tiêu cực (kìm hãm) của nền kinh tế

Tuy vậy, có điều cần lưu ý là trong một giai đoạn lịch sử thường tồn tại nhiều phương thức sản xuất khác nhau, do đó có những quan hệ sản xuất khác nhau cùng tác động đến lực lượng sản xuất Vì thế trong nghiên cứu cần phải xác định rõ quan hệ sản xuất nào đóng vai trò chủ đạo, có tác động tích cực đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Bên cạnh phải quan tâm đến cả ba mặt của quan hệ sản xuất, đó là: quan

hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối Trên thực tế,

mỗi một sự thay đổi về quan hệ sở hữu có thể dẫn đến sự thay đổi về quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối, đồng thời tác động đến sự biến đổi của lực lượng sản xuất và đối với toàn bộ nền kinh tế

Nền kinh tế ngoài sự chi phối của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất còn chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác là môi trường, điều kiện tự nhiên và các tác nhân xã hội Vì thế, để làm rõ sự phát triển kinh tế thì bên cạnh việc nghiên cứu lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng cần quan tâm đến tác động, ảnh hưởng của những yếu tố khác như môi trường, điều kiện tự nhiên, đặc biệt là một số yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có tác động trực tiếp đến kinh tế như tư tưởng, đường lối, chính sách, thể chế kinh tế, v.v

Lịch sử kinh tế Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với một số môn khoa học khác là Lịch sử Việt Nam (thông sử), Địa lý kinh tế Việt Nam, Kinh tế Việt Nam nhưng các môn khoa học này có đối tượng nghiên cứu riêng Chẳng hạn, môn Lịch sử Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các mặt của đời sống xã hội theo tiến trình lịch sử, còn Lịch sử kinh tế Việt Nam chỉ đi sâu nghiên cứu về mặt kinh tế Do đó, mối quan

hệ giữa Lịch sử kinh tế Việt Nam và Lịch sử Việt Nam là mối quan hệ giữa cái riêng với cái chung Tương tự, Lịch sử kinh tế Việt Nam với môn Kinh tế Việt Nam cùng nghiên cứu kinh tế Việt Nam nhưng phạm

vi giới hạn về thời gian là khác nhau Kinh tế Việt Nam chỉ tập trung nghiên cứu nền kinh tế nước ta trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay)

Trang 14

thì Lịch sử kinh tế Việt Nam nghiên cứu quá trình kinh tế nước ta từ nguồn gốc đến hiện tại

1.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Mỗi môn khoa học khi hình thành, tồn tại và phát triển đều có chức năng, nhiệm vụ cụ thể Lịch sử kinh tế Việt Nam có các nhiệm vụ sau:

- Một là: Phản ánh sự phát triển kinh tế trong các thời kỳ lịch sử nước ta một cách khách quan, khoa học Dựa vào nguồn tài liệu (sử liệu)

đã thu thập và xử lý, chọn lọc, Lịch sử kinh tế Việt Nam sẽ phục dựng (hay phác họa) lại bức tranh kinh tế nước ta qua các thời kỳ cụ thể

- Hai là: Chỉ ra những đặc điểm, quy luật kinh tế (đặc thù) của các thời kỳ lịch sử và dự báo xu hướng phát triển kinh tế trong tương lai

Việc rút ra những đặc điểm, những quy luật kinh tế từ mỗi thời kỳ giúp ta nhận thức sâu sắc hơn về các sự kiện, hiện tượng, quá trình kinh tế đất nước

- Ba là: Rút ra những kinh nghiệm của mỗi thời kỳ để góp phần vào xây dựng, phát triển kinh tế đất nước trong hiện tại và tương lai Thế

mạnh của khoa học lịch sử nói chung, của Lịch sử kinh tế nói riêng là có thể rút ra những bài học, những kinh nghiệm (từ thành công và từ thất bại) giúp ích cho xây dựng, quản lý, phát triển kinh tế hiện tại và tương lai tốt hơn

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận là học thuyết về phương pháp được sử dụng trong các môn khoa học cụ thể Nó là một bộ phận không thể thiếu trong nhận thức khoa học của con người Khi có phương pháp luận đúng, hoạt động nghiên cứu sẽ đem lại tác dụng thiết thực đối với hoạt động thực tiễn

Để nghiên cứu và lý giải được các sự kiện, hiện tượng, quá trình kinh tế trong tiến trình lịch sử nước ta một cách khoa học môn học này dựa vào hệ thống lý luận Mác-Lênin Trong đó, các nguyên lý, phạm trù, quy luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử,

Trang 15

kinh tế chính trị học Mác-Lênin là cơ sở lý luận chung, là bộ khung lý thuyết để môn học tiếp cận đối tượng và hình thành các phương pháp nghiên cứu cụ thể về đối tượng của mình

Trong các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm duy vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét các sự kiện, hiện tượng, quá trình kinh tế trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, có phủ định và kế thừa nhau trong sự vận động, phát triển không ngừng Vì thế, khi vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu kinh tế Việt Nam qua các thời kỳ cần quan tâm đến không chỉ các sự kiện, hiện tượng kinh tế riêng biệt,

mà còn phải chú ý xem xét, phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng

đó trong mối liên hệ phổ biến giữa chúng với nhau Nếu làm ngược lại thì dễ dẫn đến những kết luận chủ quan, không thấy được tác động tích cực và xu hướng vận động chung của nền kinh tế Trong đó có những nhân tố mang tính quyết định, phản ánh đặc trưng và xu hướng phát triển kinh tế Một quan điểm cơ bản và quan trọng khác của chủ nghĩa Mác-Lênin là quan điểm duy vật lịch sử Quan điểm duy vật và kinh tế chính trị học Mác-Lênin khẳng định: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và ngược lại kiến trúc thượng tầng có tác động đối với cơ sở hạ tầng Quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất về tính chất

và trình độ, v.v Các quan điểm, nguyên lý, quy luật này đóng vai trò cơ

sở phương pháp luận quan trọng của khoa học Lịch sử kinh tế Việt Nam Bên cạnh lý luận Mác-Lênin, các lý thuyết về kinh tế học khác của nhân loại cùng với đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta thời hiện đại cũng là cơ sở phương pháp luận để Lịch sử kinh tế Việt Nam tiếp cận đối tượng, hình thành những phương pháp nghiên cứu cụ thể

1.2.2 Phương pháp cụ thể

Do sự phát triển của khoa học và yêu cầu của thực tiễn, các bộ môn khoa học ngày nay thường theo quan điểm tiếp cận liên ngành Bên cạnh các phương pháp riêng của bộ môn, nhiều phương pháp của các bộ môn khác cũng được sử dụng phối kết hợp trong quá trình nghiên cứu

Trang 16

Trong nghiên cứu đối tượng của mình, khoa học Lịch sử kinh tế Việt Nam sử dụng phối kết hợp nhiều phương pháp của các bộ môn khoa học khác nhau Đó là: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, phương pháp toán kinh tế, các phương pháp khảo cổ học, dân tộc học, sinh thái học, địa lý học, v.v Trong những phương pháp trên thì phương pháp lịch sử - lôgic có vai trò quan trọng hàng đầu Trong đó, phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng kinh tế theo thời gian, gắn với điều kiện, bối cảnh cụ thể Đây là phương pháp quan trọng nhất đối với Lịch sử kinh tế Việt Nam Bởi phương pháp này giúp môn học thực hiện được chức năng nhiệm vụ của mình là phản ánh sự phát triển kinh tế nước ta qua các chặng đường cụ thể

Phương pháp lôgic là một trong những phương pháp của triết học được nhiều bộ môn khoa học sử dụng Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu phải bỏ qua các sự kiện, hiện tượng ngẫu nhiên để đi sâu vào bản chất của các sự kiện, hiện tượng, quá trình kinh tế Từ đó khái quát đặc điểm, xu hướng, mô hình và quy luật phát triển của nền kinh tế trong lịch sử Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic được khoa học Lịch

sử kinh tế Việt Nam sử dụng phối kết hợp chặt chẽ; chúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu

Trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế Việt Nam theo tiếp cận lịch sử, phương pháp phân kỳ đóng một vai trò quan trọng Phân kỳ lịch sử là việc chia một quá trình lịch sử thành các thời kỳ, giai đoạn Theo đó, quá trình kinh tế Việt Nam được chia thành những thời kỳ, giai đoạn khác nhau Việc phân chia như vậy giúp hoạt động nghiên cứu đi sâu vào mỗi thời kỳ, giai đoạn cụ thể Từ đó mới có thể tìm ra được những đặc điểm, đặc trưng và phát hiện các quy luật kinh tế (đặc thù) trong mỗi thời kỳ, giai đoạn cụ thể của nền kinh tế

1.3 VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA MÔN HỌC

Nói chung, các khoa học thuộc phạm trù sử học (trong đó có khoa học Lịch sử kinh tế Việt Nam) đều có vai trò quan trọng Bởi theo nhà sử học Pháp (Norman Davies) thì "Không một người trưởng thành có học vấn nào có thể hy vọng hoạt động một cách hữu hiệu nếu không biết một

Trang 17

số điều cơ bản về những nguồn gốc của các vấn đề đương đại"1, tức nhìn vấn đề dưới góc nhìn lịch sử C Mác, Ph Ăgghen ngay từ thế kỷ XIX đã đánh giá rất cao vai trò của khoa học lịch sử Các ông đã từng nhấn mạnh tầm quan trọng của sử học qua câu nói: "Chúng ta chỉ biết một khoa học duy nhất, khoa học lịch sử"2

Hiện nay để xây dựng, phát triển nền kinh tế hiện đại, chúng ta không thể xem nhẹ việc học tập, nghiên cứu đối với quá khứ kinh tế của dân tộc Theo đó môn Lịch sử kinh tế Việt Nam có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với người học Môn học này có vai trò quan trọng bởi nó góp phần vào:

- Cung cấp kiến thức cơ sở, giúp người học tiếp thu và vận dụng kiến thức chuyên ngành tốt hơn trong hoạt động thực tiễn

Chương trình đào tạo của sinh viên kinh tế được thiết kế trên hai nền tảng kiến thức: đại cương và chuyên ngành Lịch sử kinh tế Việt Nam là một trong những môn học thuộc giai đoạn đại cương Nó cùng với nhiều môn học khác tạo nền tảng kiến thức đại cương cho người học Theo đó, Lịch sử kinh tế Việt Nam góp phần "tạo nền", giúp người học tiếp thu và vận dụng tốt hơn kiến thức chuyên ngành trong hoạt động thực tiễn

- Bồi dưỡng, nâng cao quan điểm lịch sử cho người học

Trong học tập, công tác và trong cuộc sống, đây là quan điểm có vai trò quan trọng đối với người học Quan điểm lịch sử (Mác-xít) yêu cầu phải xem xét các sự vật, hiện tượng trong sự hình thành, phát triển và trong mối liên hệ với những điều kiện lịch sử cụ thể Lịch sử kinh tế Việt Nam luôn quán triệt, vận dụng quan điểm lịch sử để nhận thức và trình bày những vấn đề liên quan đến đối tượng của mình Vì thế, qua học tập, nghiên cứu môn học này, sinh viên sẽ có điều kiện hình thành, phát triển quan điểm lịch sử cho bản thân, giúp họ nhận thức và hành động đúng đắn, hiệu quả hơn trong cuộc sống

1 Norman Davies (2012), Lịch sử châu Âu, Nxb Từ điển bách khoa, 2012, tr.12

2 C Mác, Ph Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995,

tr.25

Trang 18

- Nâng cao khả năng tư duy, năng lực công tác chuyên môn trong

các lĩnh vực kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh

Lịch sử kinh tế Việt Nam cung cấp cho sinh viên những tri thức khái quát về tình hình, đặc điểm, quy luật vận động kinh tế nước ta theo tiến trình lịch sử, giúp họ nâng cao khả năng tư duy, năng lực công tác chuyên môn của mình trong các lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh Sinh viên là những người chủ của đất nước trong tương lai Nếu được đào tạo tốt về chuyên môn, trong đó có Lịch sử kinh tế Việt Nam,

họ sẽ là lực lượng quan trọng góp phần đưa đất nước tiến lên theo định hướng "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh"

Tài liệu tham khảo

[01] C Mác, Ph Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

[02] Phạm Văn Chiến (2007), "Bàn thêm về đối tượng của Lịch sử kinh tế, Lịch sử kinh tế Việt Nam", Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia

Hà Nội, Kinh tế - Luật, số 23, tr 96-102

[03] Nguyễn Trí Dĩnh & cộng sự (2013), Giáo trình lịch sử kinh tế,

Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

[04] Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các

bộ bộ môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Hà Nội

[05] Phan Ngọc Liên (Chủ biên, 2007), Phương pháp luận sử học,

Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội

[06] Norman Davies (2012), Lịch sử châu Âu, Nxb Từ điển Bách

khoa

[07] Lê Quốc Sử (1998), Một số vấn đề về Lịch sử kinh tế Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

[08] Võ Văn Sen (2017), Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học

Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Trang 19

[09] Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên, 2013), Lịch sử kinh tế, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội

[10] Nguyễn Văn Thường (Chủ biên, 2008), Giáo trình kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

[11] Tập thể tác giả (1986), Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ,

Mát-xcơ-va

[12] J.Topolski (1966), Phương pháp luận của Sử học, Nxb Bộ Đại

học và Trung học chuyên nghiệp

Nội dung ôn tập

[1] Đối tượng và nhiệm vụ của môn Lịch sử kinh tế Việt Nam

[2] Phương pháp luận và phương pháp cụ thể của môn học

[3] Vai trò, ý nghĩa của môn Lịch sử kinh tế Việt Nam

Trang 20

về nhận thức khoa học còn khiếm khuyết; đồng thời chúng ta cũng thiếu

cơ sở quan trọng để hiểu một cách đúng đắn các chặng đường phát triển tiếp theo của lịch sử nhân loại hay của một quốc gia, một dân tộc

Do thời nguyên thủy chưa có chữ viết, nên các sự kiện không được ghi chép lại trong thư tịch (văn bản) Do vậy, muốn nghiên cứu và phục dựng lại bộ mặt lịch sử thời kỳ này phải dựa vào các tài liệu do nhiều bộ môn khoa học cung cấp là khảo cổ học, dân tộc học, cổ nhân học, địa chất học, cổ sinh học Trong các nguồn tài liệu vừa nêu, tài liệu khảo cổ học đóng vai trò quan trọng nhất1 Bởi, các tài liệu khảo cổ học cung cấp giúp chúng ta có những chứng cứ xác thực, đáng tin cậy để phục dựng lại bức tranh lịch sử nước ta thời tiền sử và sơ sử

Khi nghiên cứu chặng đường đầu tiên trong lịch sử nhân loại, các khoa học đã phân chia và đặt cho nó những cái tên khác nhau tương ứng

1 Khảo cổ học là một chuyên ngành của Sử học, nghiên cứu các hiện vật của người xưa để

lại trên mặt đất, trong lòng đất, trong các hang động và dưới nước (sông, biển, hồ)

Trang 21

với đặc điểm trình độ phát triển của mỗi giai đoạn Dân tộc học1 gọi chặng đường này là thời kỳ nguyên thủy và chia nó thành ba giai đoạn phát triển, bao gồm thời đại mông muội, thời đại dã man và thời đại văn minh [Robert Lowie, 2001] Còn khảo cổ học gọi chặng đường này là

"thời đại đồ đá" và chia nó thành 2 hoặc 3 giai đoạn phát triển tuỳ theo quan điểm học thuật của mỗi trường phái

Giáo trình này giới thiệu nguồn gốc, thực trạng phát sinh, phát triển của kinh tế nguyên thủy nước ta qua hai giai đoạn: đá cũ và đá mới

2.1.1.1 Kinh tế giai đoạn đá cũ

Ở nước ta khoảng 50 vạn năm trước đã có dấu vết con người sinh sống Khảo cổ học đã tìm thấy những di vật đá về sự có mặt của con người ở các di chỉ Núi Đọ, Quan Yên, Núi Nuông (Thanh Hóa), Hang Gòn, Dầu Giây (Xuân Lộc, Đồng Nai); răng của người vượn hóa thạch ở hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên (Lạng Sơn) Đây là những dấu tích của Người vượn (homo erectus) Các nhà khảo cổ còn tìm thấy hóa thạch của homo erectus trên đường tiến hóa thành người tinh khôn (homo sapien) ở Thẩm Ồm (Nghệ An), có niên đại cách nay khoảng 14 đến 25 vạn năm; các hóa thạch của người tinh khôn giai đoạn sớm tại hang Hùm (Yên Bái),

có niên đại cách ngày nay khoảng 8 vạn năm và giai đoạn muộn ở Kéo Lèng (Lạng Sơn), Soi Nhụ (Quảng Ninh), Thung Lang (Ninh Bình),

có niên đại cách ngày nay khoảng 3 vạn năm Như vậy, quá trình tiến hóa

từ homo erectus thành homo sapien diễn ra khá sớm trên lãnh thổ

Việt Nam [Phan Huy Lê, 2012]

Văn hóa Sơn Vi (Phú Thọ) với những hiện vật để lại đã xác định thời hậu kỳ đá cũ trên đất Việt Nam, có niên đại cách ngày nay khoảng 30-10 vạn năm Văn Hoá Sơn Vi có không gian phân bố rộng, bao gồm các hang động, mái đá, thềm sông cổ từ miền đồi núi phía Bắc đến Bắc Trung Bộ với đặc trưng cơ bản là các công cụ, vật dùng đều được chế tác

từ đá cuội Tại di chỉ văn hóa khảo cổ học Lung Leng (Kon Tum), các

1 Dân tộc học là khoa học chuyên nghiên cứu về văn hóa tộc người; đối tượng của nó là

các dân tộc (tộc dân, nhân dân) trên thế giới Chuyên ngành khoa học này đóng vai trò quan trọng trong sự tái tạo lịch sử văn hóa của các giai đoạn phát triển sớm của xã hội loài người

Trang 22

nhà khảo cổ học đã tìm thấy những công cụ cuội ghè đẽo của thời hậu kỳ

đồ đá cũ, có niên đại cách nay khoảng vài ngàn năm Những dấu tích về Người vượn ở Núi Đọ, Xuân Lộc, Sa Thầy, Yaly và ở Thẩm Khuyên, Thẩm Hai cho thấy, buổi bình minh của lịch sử Việt Nam đã bắt đầu

Người nguyên thủy giai đoạn này sống bằng hoạt động hái lượm và săn bắt Trong đó, hái lượm trội vượt hơn săn bắt Nguyên do là môi

trường tự nhiên nước ta có sinh khối thực vật phát triển mạnh hơn động vật, rừng xanh tốt quanh năm Chính điều này đã tạo điều kiện cho hoạt động hái lượm phát triển hơn săn bắt Người nguyên thủy thu lượm các loại hoa quả, lá, măng, củ cây, mật ong, trứng chim và bắt các côn trùng làm thức ăn để sinh tồn, phát triển Các công cụ thời này được chế tác chủ yếu là từ đá và tre, gỗ Tại Núi Đọ1 các nhà khảo cổ tìm thấy rất nhiều mảnh tước (Clăctơn), những hạch đá (hòn đá dùng để ghè, tạo

ra mảnh tước) và những trốp pơ (chopper, công cụ đá được ghè đẽo qua loa, tạo nên rìa lưỡi dày, làm công cụ chặt thô) và 8 chiếc rìu tay Những công cụ này là những bằng chứng khẳng định người nguyên thủy đã xuất hiện ở Việt Nam và đây là bước tiến vượt bậc của người nguyên thủy trên đất nước ta

Tóm lại: Giai đoạn đồ đá cũ ở nước ta bắt đầu cách đây khoảng 30

vạn năm Phương thức sống của người nguyên thủy trong giai đoạn này

là hái lượm, săn bắt; trong đó hái lượm là phương thức sống chủ yếu, đóng vai trò quan trọng nhất giúp người nguyên thủy tồn tại, phát triển Nhờ hái lượm, săn bắt mà về sau trồng trọt và chăn nuôi có điều kiện ra đời Trong lịch sử nhân loại và ở nước ta, giai đoạn đá cũ là khoảng thời gian dài nhất, diễn tiến của nó hết sức chậm chạp và lực lượng sản xuất thì vô cùng thấp kém Tuy vậy, theo xu thế đi lên của lịch sử, con người nguyên thủy trên đất Việt Nam cũng dần chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn là giai đoạn đá mới

2.1.1.2 Kinh tế giai đoạn đá mới

Tiếp theo văn hoá Sơn Vi (hậu kỳ đá cũ), trên lãnh thổ nước ta xuất hiện những dấu vết của người nguyên thủy ở giai đoạn phát triển cao hơn

1 Thuộc địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang 23

trong các di chỉ Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút, Quỳnh Văn (sơ kỳ đá mới) Trong các di chỉ trên thì Hòa Bình, Bắc Sơn là bước phát triển kế tiếp từ nền tảng văn hóa Sơn Vi, thuộc sơ kỳ đá mới, có niên đại cách ngày nay khoảng 1 vạn năm Văn hóa Hòa Bình1 "có mặt" ở nhiều địa phương từ Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ nước ta, bao gồm các tỉnh: Hòa Bình, Thanh Hóa, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị Trong đó tập trung tiêu biểu nhất là ở hai tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa Văn hóa Bắc Sơn phát triển từ văn hóa Hòa Bình, có niên đại cách ngày nay 7.000 năm Các di chỉ văn hoá khảo cổ Bắc Sơn phân bố chủ yếu ở vùng núi đá vôi của tỉnh Lạng Sơn

Vào khoảng 5.000-4.000 năm trước, trên lãnh thổ nước ta tồn tại văn hóa hậu kỳ đá mới, có không gian phân bố rộng khắp từ Bắc đến Nam, từ miền rừng núi đến đồng bằng châu thổ, từ đất liền đến hải đảo Đó là các

di chỉ Hà Giang, Mai Pha (Lạng Sơn), Hạ Long (Quảng Ninh), Bàu Tró (Quảng Bình), Biển Hồ (Gia Lai) Đây là thời kỳ đại dương lùi (nước biển lùi), các đồng bằng châu thổ sông Hồng và những nơi khác thuộc ven biển được hình thành Trong giai đoạn này, các thị tộc, bộ lạc đã hình thành Những thị tộc đầu tiên là các thị tộc mẫu hệ, phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt thị tộc Người nguyên thủy Việt Nam đã phát hiện được lửa và sử dụng nó vào các hoạt động sống của mình Cụ thể, họ sử dụng lửa vào các việc mở rộng địa bàn cư trú, bảo vệ mình, săn thú; nấu chín thức ăn, sưởi ấm mùa đông; làm gốm, đốt nương và làm rẫy Việc người nguyên thủy phát hiện và sử dụng lửa trong đời sống

là một sự kiện đặc biệt quan trọng Nó góp phần thúc đẩy xã hội tiến một bước dài trong lịch sử

Trong giai đoạn đá mới, người nguyên thủy Việt Nam tiếp tục các hoạt động hái lượm và săn bắt Họ thu lượm các loại rau quả củ, thảo dược; bắt các loại côn trùng, ốc, trai, cua, cá và săn các loại thú rừng (vượn, khỉ, nhím, chuột, lợn rừng, hươu, nai, bò rừng, trâu rừng, hổ, voi ) làm thức ăn

1 Văn hóa Hòa Bình là một thuật ngữ của khảo cổ học được dùng để chỉ chung cho văn hóa

sơ kỳ đá mới bao trùm và phân bố rộng khắp lục địa và hải đảo của vùng Đông Nam Á

Trang 24

Trong nền văn hoá Hoà Bình đã xuất hiện trồng trọt sơ khai Với sự quan sát và hiểu biết về môi trường sinh thái qua hàng vạn năm, người Hoà Bình đã biết kết hợp giữa khai thác và chăm sóc các nguồn thực phẩm hoang dại để thu hái vào mùa sau Đó chính là cơ sở cho trồng trọt dần dần xuất hiện Các bộ lạc nguyên thủy, chủ nhân của văn hoá Hoà Bình đã biết trồng các loại rau củ, cây ăn quả và đặc biệt là trồng lúa Mặc dù đã biết trồng trọt và chăn nuôi song nguồn sống chính của người nguyên thủy vẫn là các loại sản phẩm do tự nhiên cung cấp Các công cụ đá đã được ghè đẽo, chế tác tinh xảo hơn trước Đặc biệt, vào cuối giai đoạn đá mới đã xuất hiện một số nghề thủ công mới là làm gốm, dệt vải Các hiện vật tìm thấy ở di chỉ Bàu Tró, Quảng Bình cho thấy điều đó Gốm thời này được chế tác theo hai cách: nặn bằng tay và

có sự kết hợp giữa nặn bằng tay với việc sử dụng bàn xoay

Vào giai đoạn hậu kỳ đá mới, trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam nước ta, từ vùng núi rừng, trung du, đồng bằng châu thổ, đến miền duyên hải và hải đảo đã tụ cư nhiều nhóm bộ lạc có kỹ thuật làm đồ đá và đồ gốm có trình độ phát triển tương đương nhau Trong đó có nhiều bộ lạc

đã lấy nông nghiệp trồng lúa làm hoạt động chủ yếu Nhờ trồng trọt cuộc sống của các bộ lạc này ổn định Họ bắt đầu sống định cư trong các làng xóm ở các vùng châu thổ

Như vậy, trên lãnh thổ Việt Nam từ 30 vạn năm đến khoảng 4.000 năm trước đã có những cộng đồng người nguyên thủy sinh sống Phương thức sống của họ là hái lượm, săn bắn, đánh bắt cá và chế tác đá, tre gỗ phục vụ cho các nhu cầu của đời sống Những tiến bộ về kinh tế cuối thời nguyên thủy đã tạo ra tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện các nhà nước cổ đại và sự phát triển vượt bậc về kinh tế trên lãnh thổ nước ta thời Dựng nước

5.000-2.1.2 Kinh tế thời dựng nước

2.1.2.1 Vài nét về nước Văn Lang - Âu Lạc

Theo quan niệm truyền thống, thời dựng nước của dân tộc ta được xác định với mốc mở đầu là sự xuất hiện nhà nước Văn Lang có niên đại cách ngày nay khoảng 4.000 năm Giai đoạn Âu Lạc là bước phát triển

Trang 25

kế tiếp của Văn Lang và thuộc thời đại dựng nước Từ thập niên 1990 đến nay, dựa trên những thành tựu mới của Sử học, thời điểm xuất hiện nhà nước Văn Lang được xác định vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I TCN Trong thời cổ đại trên đất nước ta, bên cạnh nhà nước Văn Lang -

Âu Lạc còn có hai nhà nước khác xuất hiện, tồn tại là nhà nước Champa

ở Trung Bộ và nhà nước Phù Nam ở Nam Bộ Trong đó, nhà nước Champa xuất hiện cuối thế kỷ II và chấm dứt sự tồn tại vào cuối thế kỷ XVII; còn nhà nước Phù Nam ra đời vào thế kỷ I, chấm dứt sự tồn tại vào đầu thế

kỷ VII Nước Văn Lang - Âu Lạc qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn tồn tại, phát triển Còn Champa và Phù Nam trong tiến trình lịch sử đã hoà nhập vào dòng chảy chủ lưu là Văn Lang - Âu Lạc - Đại Việt - Việt Nam Nhà nước Văn Lang (thời Hùng Vương) ra đời được quan niệm là một quá trình lịch sử phát triển lâu dài của cộng đồng người Việt ở Bắc

Bộ, với thời gian tồn tại khoảng 2.000 năm TCN và bao gồm các giai đoạn phát triển từ sơ kỳ thời đại đồ đồng đến sơ kỳ thời đại đồ sắt Đây là

sự phát triển tiếp nối của các nền văn hoá khảo cổ trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, bao gồm: Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn Trong đó, văn hoá Đông Sơn là giai đoạn phát triển rực rỡ của nghề luyện kim, chế tác kim loại đồng thau Chính sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này đã tạo nên những chuyển biến về chất của kinh tế - xã hội, tạo tiền đề quan trọng cho nhà nước Văn Lang xuất hiện

Nhà nước là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp, nó xuất hiện khi có mâu thuẫn giai cấp phát triển đến mức không thể điều hòa được Nhà nước xuất hiện để điều hòa các quan hệ không thể điều hòa

đó Đây là con đường điển hình xuất hiện nhà nước ở phương Tây Trong thực tế sự hình thành nhà nước thời cổ đại trên thế giới rất đa dạng Ba nhà nước xuất hiện thời cổ đại trên đất nước ta mặc dù có những khác biệt nhưng đều mang những đặc trưng của nhà nước phương Đông Sự hình thành nhà nước phương Đông có sự khác biệt với phương Tây là bên cạnh điều kiện phân hóa xã hội, ở phương Đông, do yêu cầu về thủy lợi và đấu tranh tự vệ làm cho nhà nước vốn có "chức năng xã hội" chuyển dần sang "địa vị độc lập đối với xã hội", cuối cùng "vươn lên thành sự thống trị đối với xã hội" Con đường hình thành nhà nước kiểu

Trang 26

này, ngoài phân hóa xã hội, còn có vai trò, tác động của thủy lợi và nhân

tố tự vệ

Vào thời nước Văn Lang - Âu Lạc, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến tình trạng phân hóa xã hội rõ nét hơn Tuy phân hóa xã hội chưa cao, nhưng kết hợp với hai yếu tố khác là thủy lợi và tự vệ chống ngoại xâm đã tạo nên tiền đề cần thiết cho sự hình thành Nhà nước sơ khai ở Bắc Bộ - nhà nước Văn Lang Đây là hình thái nhà nước cổ đại ra đời đầu tiên ở Việt Nam và thuộc loại sớm nhất của vùng Đông Nam Á Nhà nước Văn Lang xuất hiện (trên cơ sở tập hợp 15 bộ lạc) đánh dấu một bước tiến quan trọng của lịch sử dân tộc Việt Nam Đây là hình thái Nhà nước phôi thai còn in đậm dấu ấn của chế độ bộ lạc - công xã đang trên đường chuyển hóa từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp sơ

kỳ Nhà nước này có những đặc trưng chung của các nước phương Đông

cổ đại mà Mác đã gọi là "phương thức sản xuất châu Á"

Nhà nước Văn Lang ra đời do yêu cầu phát triển nông nghiệp lúa nước kết hợp với yêu cầu tự vệ, nên trong quá trình hình thành, xu hướng liên kết, tập hợp giữ vai trò chi phối Xã hội thời Văn Lang là hình thái

xã hội đã có sự phân hóa sâu sắc nhưng chưa hình thành giai cấp đối kháng gay gắt Sự tồn tại phổ biến và bảo lưu lâu dài công xã nông thôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội Đứng đầu nhà nước Văn Lang là Hùng Vương, bên dưới có Lạc Hầu, Lạc Tướng Đứng đầu các công xã nông thôn (gọi là kẻ, chạ, chiềng) là Bồ Chính (Già làng); bên cạnh Bồ Chính có Hội đồng công xã giải quyết và định đoạt mọi hoạt động công xã Quan hệ giữa nhà nước với công xã là quan hệ mang tính lưỡng hợp Nhà nước vừa đại diện cho các công xã trong những lợi ích chung, vừa bóc lột các công xã dưới hình thức cống nạp Quân đội thường trực cũng như các công cụ chuyên chế của nhà nước chưa phát triển Khi có chiến tranh, lực lượng vũ trang của công xã giữ vai trò chủ yếu Còn trung tâm chính trị - văn hóa của nước Văn Lang nằm ở vùng Đất Tổ Phú Thọ

Nước Âu Lạc xuất hiện là bước phát triển kế tiếp và cao hơn nước Văn Lang Sự ra đời của nước Âu Lạc là sự hợp nhất cư dân và đất đai

Trang 27

của hai bộ lạc Lạc Việt với Âu Việt Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong khoảng 30 năm (từ năm 208 đến năm 179 TCN); nhưng kinh tế, chính trị,

xã hội, văn hóa đều tiến bộ hơn thời Văn Lang Tuy vậy, nền tảng chung cho sự tồn tại, phát triển của cả nước Văn Lang và Âu Lạc là nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng

2.1.2.2 Đặc điểm tình hình kinh tế

Nhìn chung nền kinh tế Việt Nam thời Dựng nước có sự tiến bộ vượt bậc Các ngành nghề đều có thành tựu đáng ghi nhận Tình hình cụ thể như sau:

a Thủ công nghiệp

Nghề chế tác đá tiếp tục được duy trì, đạt đỉnh cao về kỹ thuật và mỹ

thuật vào giai đoạn Phùng Nguyên nhưng sau đó nhường chỗ dần cho nghề luyện kim Vào cuối thời Hùng Vương, những người thợ đá chủ yếu tập trung vào làm một số đồ trang sức từ các loại đá quý

Thành tựu nổi bật nhất về thủ công nghiệp thời này là sự xuất hiện

và phát triển đạt đỉnh cao của luyện kim, chế tác kim loại Ngay từ đầu thời Hùng Vương (giai đoạn Phùng Nguyên), nghề đúc đồng đã xuất hiện, được duy trì, phát triển qua giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, đạt đỉnh cao về kỹ thuật và nghệ thuật ở giai đoạn Đông Sơn Việc tạo ra đồng thau là một kỳ tích của con người Quá trình luyện kim đồng phải trải qua nhiều công đoạn, từ việc tìm quặng, khai mỏ đến việc xây lò, nấu quặng, pha chế hợp kim, làm khuôn, rót đồng, tạo ra những vật dùng cần thiết Bí quyết pha chế tỷ lệ đồng thiếc để chế tác ra các sản phẩm như trống đồng, thạp đồng đến nay vẫn chưa được khám phá đầy đủ

Từ kỹ thuật luyện kim, chế tác kim loại, người Việt cổ đã tạo ra nhiều sản phẩm từ đồng, sắt phục vụ cho cuộc sống như các công cụ sản xuất, vật dùng, vũ khí, đồ trang sức Tiêu biểu cho kỹ thuật luyện kim, chế tác kim loại thời này là trống đồng Có nhiều loại trống đồng được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam; trong đó nổi tiếng và tiêu biểu nhất là trống đồng Đông Sơn Cho đến nay, nước ta đã tìm được 117 trống đồng Đông Sơn Trong số trống đồng tìm được có những trống lớn, đẹp là trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ và Cổ Loa Trống đồng Ngọc Lũ tìm

Trang 28

được ở Hà Nam có chiều cao 63 cm, đường kính mặt trống 79 cm; trống đồng Hoàng Hạ (Hoà Bình) có đường kính 79 cm, cao 61,5 cm và trống

Cổ Loa cao 53 cm, đường kính 74 cm Trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ được trang trí nhiều họa tiết đặc biệt1, phản ánh về mỹ thuật, kỹ thuật và chứa đựng nhiều thông tin về đời sống cư dân Việt cổ thời dựng nước Riêng trống Cổ Loa (phát hiện 1982) bên trong có 200 hiện vật đồng thau, trong đó có 96 lưỡi cày đồng, trên mặt trống được trang trí gần giống với trống đồng Hoàng Hạ [Hà Văn Tấn, 2017, 41-42] Có thể nói,

đồ đồng Đông Sơn đánh dấu một bước chuyển cách mạng trong kỹ thuật luyện kim và trình độ văn minh nước ta thời cổ Trống đồng Đông Sơn

mãi là niềm tự hào của người Việt trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Trên nền tảng của nghề đúc đồng phát triển cao, nghề luyện sắt đã

xuất hiện Chứng tích của nghề này tìm thấy ở các di chỉ: Vinh Quang, Đường Mây, Chiềng Vậy (Hà Nội), Đông Sơn (Thanh Hoá) Các công cụ sản xuất, vật dùng, vũ khí bằng sắt được chế tạo từ quặng và rèn Bên cạnh phương pháp rèn, người thời Đông Sơn đã biết đến kỹ thuật đúc gang để chế ra rìu

Qua các hiện vật kim loại thời kỳ này cho thấy, những người thợ lành nghề đã tách ra khỏi nghề nông Sản phẩm mà họ làm ra có giá trị cao về kinh tế, văn hoá, xã hội Chúng chính là những minh chứng về sự phát triển cao của thủ công nghiệp luyện kim, đúc đồng, chế tác kim loại của người Việt cổ Những công cụ kim loại tạo ra hiệu suất lao động cao hơn hẳn so với các công cụ đá Kết quả là chúng đã tạo nên sự biến đổi to

lớn, căn bản đối với kinh tế - xã hội nước ta sau đó Vì thế, có thể nói, sự

ra đời của nghề luyện kim, chế tác kim loại có ý nghĩa như một cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta thời dựng nước

Các nghề mộc, đan lát, kéo tơ, dệt vải, đóng thuyền, nghề sơn đều có

tiến bộ Nghề mộc đã tham gia tích cực vào việc xây dựng nhà ở, sản

1 Trên mặt trống xung quanh có hình mặt trời, ở giữa là vòng tròn hình những nhóm người đội mũ cắm lông chim đang múa, thổi kèn hay rung chuông, những người giã gạo, những ngôi nhà sàn với dàn trống đồng, những đàn chim bay hay đậu Mặt trống Ngọc Lũ còn

có thêm một vành tròn hình hai bầy hươu xen giữa hai đàn chim bay Ở tang những trống này có hình 6 chiếc thuyền, đầu và đuôi hình đầu chim Trên thuyền có nhiều người cầm

vũ khí như giáo, cung

Trang 29

xuất ra những đồ dùng sinh hoạt thông thường cho con người là các công

cụ sản xuất, phương tiện đi lại và vũ khí Bên cạnh đó, nghề đan lát tre, nứa, lá cũng tạo ra các đồ dùng sinh hoạt cho con người Đặc biệt, nghề sơn đã đạt tới trình độ kỹ thuật tương đối cao Một số di vật trong các

ngôi mộ cổ (Việt Khê) là đồ gỗ, đồ da, đồ đan được quyét sơn màu đỏ,

màu nâu và trang trí khá đẹp cho thấy rõ về điều đó Nghề dệt phát triển

rõ rệt, phương thức dệt thủ công với các nguyên liệu là lanh, gai, tơ tằm Thời Âu lạc, người ta đã dùng khung cửi để dệt vải

Nghề gốm có nhiều tiến bộ hơn trước Gốm thời này được làm bằng

bàn xoay; xương gốm chủ yếu là đất sét pha cát trộn với ít bã động thực vật Gốm được nung trong lò có nhiệt độ cao (800-9000C) Kỹ thuật tạo dáng và trang trí trên đồ gốm có tiến bộ vượt bậc Loại hình gốm khá phong phú, hoa văn trang trí đa dạng, sinh động; các sản phẩm bền và đẹp hơn trước nhiều Nhưng đến cuối thời Hùng Vương, nghề gốm có biểu hiện suy thoái

Bên cạnh sự phát triển nổi bật của luyện kim, chế tác kim loại thì xây dựng cũng có thành tựu nổi bật Di tích thành Cổ Loa là minh chứng cho thấy rõ sự phát triển cao của xây dựng thời dựng nước Thành Cổ Loa là công trình quân sự được xem là vượt tầm thời đại về quy mô to lớn cũng như về kỹ thuật tinh xảo1 Thành Cổ Loa phản ánh sự phát triển nhiều mặt của nước Âu Lạc, trong đó nổi bật là sự tiến bộ vượt bậc về xây dựng, kiến trúc thời dựng nước

Trang 30

Trong hoạt động nông nghiệp, các công cụ kim loại (đồng, sắt) được

sử dụng phổ biến trong trồng trọt và thu hoạch sản phẩm Ngoài rìu đồng được sử dụng để khai phá đất đai, lưỡi dao gặt đồng dùng để thu hoạch, khảo cổ học còn tìm thấy hàng loạt công cụ làm đất như lưỡi cày, cuốc, xẻng, thuổng (mai) làm bằng đồng bên cạnh một số công cụ làm bằng sắt như lưỡi cuốc, thuổng, mai, rìu, liềm sắt Trong các công cụ sản xuất thì

lưỡi cày đồng đóng vai trò quan trọng trong làm đất Các nhà khảo cổ đã

tìm thấy khoảng 200 lưỡi cày đồng ở các di chỉ Bắc Bộ Riêng tại di chỉ

Cổ Loa, các nhà khảo cổ đã tìm được 88 lưỡi cày đồng cùng một số hiện vật ở trong một trống đồng được chôn ở độ sâu 30cm Lưỡi cày gồm nhiều loại với những kích thước, kiểu dáng khác nhau (hình cánh bướm, hình tam giác, hình tim, hình bầu dục) Trong các loại trên thì lưỡi cày hình tam giác có dáng chắc khỏe, mũi nhọn khá giống với các loại lưỡi cày sắt sau này Lưỡi cày ở Cổ Loa thuộc loại hình tim, có kích thước khá lớn

Trong nông nghiệp, cư dân Đông Sơn đã dùng cày thay dần cho cuốc, kết hợp với sức người để làm đất Sử dụng lưỡi cày đã đem lại hiệu suất cao hơn các công cụ làm đất khác Nhờ những công cụ kim loại, cư dân thời này đã mở rộng địa bàn cư trú, đẩy mạnh công cuộc chinh phục các vùng đồng bằng châu thổ Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ dần dần được hình thành nhưng còn hoang dại, nhiều vùng trũng, đầm lầy, rừng rậm và nhiều vùng biển còn ăn sâu vào đất liền Dọc theo các con sông lúc đó chưa có đê, nên vào mùa nước lũ, nước tràn ngập và phủ lên đồng bằng những lớp phù sa màu mỡ Đất đai phì nhiêu, thích hợp cho canh tác lúa nước Từ những tụ điểm trên các gò đồi, chân núi, trên các doi đất ven sông, con người tiến hành khai phá đất đai, mở rộng diện tích trồng lúa bằng nhiều hình thức canh tác phù hợp với địa hình và thổ nhưỡng của từng vùng với hai hình thức canh tác chính là làm rẫy và làm ruộng Làm rẫy (làm nương) là hình thức canh tác được áp dụng ở miền đồi núi, không có điều kiện làm thủy lợi và thâm canh Để làm rẫy, người

ta phát cây cối, dùng lửa đốt cháy cây cỏ thành tro bụi, dùng gậy chọc lỗ

và tra hạt Sử sách gọi đây là phương thức canh tác "đao canh, hỏa

chủng" Điều này được nói tới trong sách Lĩnh Nam chích quái và sách

Trang 31

Hậu Hán thư: "Cửu Chân (Bắc Trung Bộ) có tục đốt cỏ mà trồng trọt"

Hình thức làm nương rẫy này vẫn được bảo tồn lâu dài ở một số nơi thuộc miền núi nước ta

Ruộng thời này có nhiều loại, nhưng phổ biến và chủ yếu là loại ruộng nước (ruộng phù sa ven sông, ruộng trũng ở vùng thấp và quanh các ao, đầm, hồ), được gọi là "Lạc điền" Trong thư tịch cổ Trung Quốc chép: "Ngày xưa, Giao Chỉ khi chưa thành huyện, ruộng đất có ruộng Lạc, ruộng đó theo nước triều lên xuống, dân khẩn ruộng đó mà ăn nên gọi là dân Lạc" Để canh tác ruộng nước, người ta dùng cày có lưỡi bằng đồng và sức kéo của trâu bò, hoặc áp dụng lối canh tác "đao canh, thủy nậu", "hoả canh, thủy nậu" là phát cây, đốt cỏ rồi chờ nước hay tháo nước vào ruộng, giẫm cho xục bùn để gieo trồng lúa Ruộng nước là loại ruộng cố định, được trồng trọt thường xuyên, mặt ruộng được cải tạo, có

bờ giữ nước nên có điều kiện để thâm canh, tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp

Công cuộc chinh phục vùng đồng bằng để phát triển nông nghiệp lúa nước đã nảy sinh nhu cầu trị thủy và làm thủy lợi Điều kiện tự nhiên nước ta có mặt thuận lợi cho nghề trồng lúa nước nhưng cũng có mặt khắc nghiệt, đó là mối đe dọa của lũ lụt, hạn hán Vì thế, việc làm thủy lợi, đắp đê được quan tâm Nhưng trong điều kiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, việc đắp đê, làm thủy lợi mới chỉ sơ khai, bước đầu Vào cuối thời Hùng Vương, dân cư ở vùng đồng bằng đã đắp những đoạn đê quai để khai phá đất đai và chống ngập lụt cho từng vùng Ở Cổ Loa đã phát hiện được một bờ đất cao, có nhiều khả năng đây là dấu tích của một đoạn đê cổ, có trước thời Bắc thuộc

Làm rẫy, làm ruộng và làm vườn là ba hình thức canh tác cơ bản của nông nghiệp thời đại Hùng Vương Những phát hiện khảo cổ cho biết nghề trồng lúa nước đã có sự phát triển trong thời đại này Lúa gạo cháy

có niên đại 3.500 đến 3.200 năm trước đã được tìm thấy trong nhiều di chỉ khảo cổ ở lưu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Cả (sông Lam) và sông Mã Lễ hội mùa lúa với cảnh người giã gạo được mô tả trên mặt trống đồng (Ngọc Lũ, Cổ Loa, Sông Đà), trên thân thạp đồng

Trang 32

Hợp Minh (Yên Bái) hay thóc gạo trong các đồ dùng chôn theo mộ cổ ở Đông Sơn (Thanh Hoá) đã cho thấy "lúa là nguồn lương thực chính của

cư dân Việt thời Đông Sơn" [Vũ Duy Mền & cộng sự, 2017, 169]

Cây trồng chính trong nông nghiệp là lúa nước (lúa tẻ, lúa nếp) Lúa nếp được trồng khá phổ biến và có vai trò quan trọng đối với người dân

Điều này được phản ánh trong sách Lĩnh Nam chích quái và được một số

di tích khảo cổ xác nhận1 Bên cạnh lúa, các cây rau củ, cây ăn quả được trồng trọt Hạt na, hạt trám đã được tìm thấy ở di chỉ Đồng Đậu; hạt đậu tìm được ở di chỉ Hoàng Ngô Kết quả phân tích khoa học một số di vật ở Tràng Kênh (Hải Phòng) cũng cho biết có những cây thuộc về họ đậu, họ bầu bí, họ dâu tằm Trong truyền thuyết dân gian nói đến việc trồng dưa hấu (truyện Mai An Tiêm), trồng cau, trầu (truyện Trầu cau) Người thời

Âu Lạc sử dụng các công cụ kim loại (đồng, sắt) kết hợp với sức kéo của trâu bò để canh tác nông nghiệp trên một diện tích rộng lớn vùng châu thổ Bắc Bộ và đạt được năng suất cao rõ rệt Sử cũ cho biết, dân Giao Chỉ một năm cấy hai vụ lúa vào mùa hè và mùa đông, thu hoạch vào tháng 10 và tháng 4 âm lịch Số lượng lương thực dư thừa hàng năm tăng đáng kể, dự trữ lương thực của nhà nước cũng dư dật Sản xuất lúa thời này không chỉ đáp ứng lương thực cho người dân Giao Chỉ mà còn cung cấp gạo ăn cho cả Cửu Chân (Bắc Trung Bộ)2

Chăn nuôi được duy trì, phát triển theo hướng gắn với trồng trọt, không tách thành ngành kinh tế độc lập Cư dân thời này nuôi các loại gia súc, gia cầm: chó, lợn, trâu bò, ngựa, gà; trong đó, nuôi trâu bò có xu hướng tăng lên Trâu bò được nuôi một mặt để cung cấp thực phẩm cho đời sống, mặt khác đáp ứng nhu cầu sức kéo cho nông nghiệp Trong các vật nuôi, chó và trâu được các nghệ nhân Đông Sơn thể hiện trên tang, thân trống và rìu đồng bên cạnh các loại chim, thú rừng khác là tê giác, công, hươu nai, cá voi, hổ, cá sấu Nuôi tằm được người dân quan tâm phát triển vì nó cung cấp nguyên liệu cho nghề dệt thủ công và đem đến

1 Khi phân tích 4 mẫu thóc cháy và trấu lấy từ các di tích khảo cổ Đồng Đậu, Đông Tiến và Làng Cả có niên đại trước CN thì thấy đều có dạng hạt tròn - dạng phổ biến của lúa nếp

2 Trồng lúa thời nước Âu Lạc đảm bảo nuôi sống 750 ngàn dân quận Giao Chỉ và hỗ trợ cho 170 ngàn nhân khẩu của quận Cửu Chân

Trang 33

thêm nguồn thu nhập cho họ Ở cả hai vùng Giao Chỉ và Cửu Chân, nuôi tằm một năm thu hoạch được tám lứa kén

Trong thời dựng nước, các hoạt động kinh tế khai thác (hái lượm, săn bắn) tuy vẫn tồn tại nhưng đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu So với hái lượm, săn bắn có vai trò quan trọng hơn do nó bổ sung thêm phần thức

ăn thịt, đồng thời cung cấp da, xương, sừng cho các nghề thủ công chế tạo đồ trang sức, đồ dùng và vũ khí Săn bắn còn có ý nghĩa chống thú

dữ, bảo vệ mùa màng và cuộc sống cư dân Đối tượng săn bắn là các loại thú như lợn rừng, hươu nai, khỉ, nhím, chuột, voi, hổ, tê giác Người thời này đã biết sử dụng chó phục vụ săn bắn

Đánh bắt cá xuất hiện từ giai đoạn Đồng Đậu đến giai đoạn Đông Sơn phát triển hơn Do nước ta có bờ biển dài, nhiều sông, ngòi, ao, đầm,

hồ nên đánh bắt cá có điều kiện phát triển mạnh Người thời này đã sử dụng các công cụ là lưỡi câu, lưới, lao, thuyền trong đánh bắt cá Hoạt động này cung cấp thêm nguồn thực phẩm quan trọng cho cư dân Việt

cổ Cá kết hợp với rau, cơm tạo thành mô thức bữa ăn truyền thống của người Việt

c Trao đổi sản phẩm

Hoạt động trao đổi sản phẩm đã xuất hiện từ thời nguyên thủy giữa các thị tộc, bộ lạc Các vật được trao đổi bao gồm đồ trang sức làm bằng

vỏ ốc, đốt xương cá, đồ gốm, rìu đá Hoạt động trao đổi diễn ra giữa các

bộ lạc vùng biển với vùng rừng núi Sự trao đổi không chỉ phát triển trong nội bộ bộ lạc mà còn mở rộng ra ngoài biên giới các bộ lạc [Lê Quốc Sử, 1998, 429]

Đến thời dựng nước, do sự phát triển của nông nghiệp, đặc biệt là thủ công nghiệp đã tạo điều kiện cho trao đổi, lưu thông sản phẩm tiến bộ hơn trước Quan hệ trao đổi, mua bán ngày càng phổ biến và lan rộng không chỉ giữa các vùng trong nước với nhau mà còn lan sang nhiều nước khác trong khu vực Đồ đồng Đông Sơn có mặt ở khắp miền núi, miền xuôi trong cả nước và mở rộng lên cả phía Bắc đến tận đất Điền (Vân Nam), đất Thục (Tứ Xuyên) của Trung Quốc Không chỉ thế, người

Trang 34

ta còn tìm thấy trống đồng Đông Sơn ở cả miền Tây vực (Trung Á), ở nước Thiện (Miến Điện), nước Thân Độc (Ấn Độ), v.v Còn về phía Nam, đồ đồng Đông Sơn đã tìm thấy ở Malaysia, Indonesia1 Giới khảo

cổ học quốc tế thừa nhận việc phát hiện trống đồng Ngọc Lũ ở Malaysia, Indonesia và những nơi khác trong khu vực cho thấy rõ ảnh hưởng của văn hoá Đông Sơn cũng như hoạt động ngoại thương của Âu Lạc thời kỳ này đã khá phát triển

Nhìn chung, vào cuối thời Hùng Vương trên đất nước ta đã manh nha sản xuất hàng hoá và sự trao đổi hàng hoá, nghĩa là đã xuất hiện quan hệ hàng hoá - tiền tệ - thương mại sơ khai Hình thức trao đổi chủ yếu lúc bấy giờ là vật đổi vật hoặc thông qua một vật ngang giá trung gian nào đó [Đặng Phong, 1970, 412, 419] Theo nhà nghiên cứu Lê Quốc Sử, trước khi Triệu Đà chinh phục Âu Lạc, đã có buôn bán, trao đổi giữa miền nội địa Trung Quốc với nước Văn Lang - Âu Lạc Ở nhiều nơi trên đất nước ta đã tìm thấy tiền đồng cổ của Trung Quốc đời Tần, đời Cao Hậu và đời Hán Vũ Đế [Lê Quốc Sử, 1998, 432]

Tóm lại: Kinh tế thời dựng nước có sự phát triển cao, tương đương

với nhiều quốc gia đương thời Trong đó, trồng lúa nước đóng vai trò chủ đạo, có sự kết hợp với chăn nuôi các loại gia cầm, gia súc Thủ công nghiệp thời kỳ này có bước tiến quan trọng; trong đó nghề luyện kim, đúc đồng, chế tạo kim loại, xây dựng đạt thành tựu rực rỡ Luyện kim, chế tác kim loại đã sản xuất được nhiều công cụ sản xuất, vật dùng, vũ khí, đồ trang sức và đặc biệt là trống đồng Trống đồng Đông Sơn là biểu tượng cho văn minh, văn hóa nước ta thời này Hoạt động trao đổi trong nước được mở rộng hơn, bên cạnh giao lưu trao đổi với bên ngoài bước đầu hình thành, phát triển Sự phát triển mạnh về kinh tế dẫn đến phân hoá xã hội, tạo tiền đề cho sự ra đời nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc

và sự xuất hiện nền văn minh sông Hồng nổi tiếng thời cổ đại ở Bắc Bộ

1 Theo truyền thuyết Mường cho biết "Những trống đồng đầu tiên được đúc dưới thời vua Dịt Dàng Dịt Dàng sai đúc hàng trăm trống đồng Trống đồng nào đẹp thì để lại kho Trống nào xấu thì sai "chú Khoá, Thằng Lồi" mang đi bán " [Dẫn theo Lê Quốc Sử,

1998, 430]

Trang 35

Như vậy, có thể nói, trong thời dựng nước, dân tộc ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, văn hoá Trong đó, thành tựu nổi bật nhất của thời kỳ này là đã tạo nên các nền văn minh rực rỡ với các hình thái nhà nước sơ khai trên cả ba miền đất nước Đây chính là nền tảng vững chắc đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của dân tộc ta trong trường

kỳ lịch sử

2.1.3 Kinh tế thời Bắc thuộc (179 TCN - 938)

Năm 179 TCN đến năm 938 là thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc trong lịch sử dân tộc ta Đây là thời kỳ thách thức ác liệt nhất đối với sự tồn vong của quốc gia - dân tộc Việt Nam Mở đầu của thời kỳ này là sự kiện Triệu Đà1 xâm chiếm nước Âu Lạc (179 TCN) và kết thúc

là sự kiện Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng,

mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ cho dân tộc Thời kỳ này có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, trong đó có những cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, thành lập chính quyền độc lập và tồn tại trong từng giai đoạn dài ngắn khác nhau rồi bị thất bại Trong khoảng hơn 10 thế kỷ này, dân tộc

ta bị các thế lực phong kiến phương Bắc thống trị, bóc lột

Để cai trị và bóc lột nước ta, phong kiến phương Bắc đã chia nước ta thành các đơn vị hành chính khá phức tạp và qua nhiều lần thay đổi Nhà Triệu chia nước Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Bắc Trung Bộ, từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh) Nhà Tây Hán (206 TCN - 24), sau khi chiếm nước Âu Lạc năm 111 TCN vẫn duy trì hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân và tiến xuống phía Nam chiếm thêm một phần đất của Champa lập nên quận Nhật Nam (trung Trung Bộ, từ Quảng Bình đến Quảng Nam) Trị sở của quận Giao Chỉ là Luy Lâu, trị sở của quận Cửu Chân là Tư Phố Năm 106 TCN, nhà Tây Hán đem 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam cùng 4 quận ở Nam Trung Quốc là Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (vùng Quảng Đông, Quảng Tây, nam Trung Quốc) lập thành bộ Giao Chỉ Đứng đầu quận là chức Thái thú, đứng đầu bộ là

1 Triệu Đà là người Trung Quốc, nhân lúc nhà Tần sụp đổ đã chiếm lấy quận Quế Lâm và quận Tượng, tự xưng là Nam Việt Vũ vương, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu, Trung Quốc) Đến thời nhà Hán, Triệu Đà xưng đế, lập nước Nam Việt Sau khi Cao Hậu (nhà Hán) chết, Triệu Đà lập tức uy hiếp, tìm cách xâm chiếm Âu Lạc để mở mang bờ cõi

về phía nam [Vũ Duy Mền, 2017, 200]

Trang 36

chức Thứ sử Đô uý trị (cơ quan quân sự) của bộ Giao Chỉ đặt tại huyện

Mê Linh của quận Giao Chỉ Sau đó đến năm 203, bộ Giao Chỉ còn được gọi là Giao Châu và trị sở vẫn đặt ở quận Giao Chỉ Vị trí trị sở của Giao Châu tại Mê Linh chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn Trong thời nhà Hán, Mê Linh là Đô uý trị giữ vai trò một trung tâm quân sự của cả một khu vực hành chính rộng lớn của bộ Giao Chỉ, rồi có thời gian là trị sở Giao Châu, bao gồm cả Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa Như vậy, từ thời Tây Hán, trên đất nước Âu Lạc cũ đã xuất hiện ba trung tâm quyền lực của chính quyền đô hộ là: Luy Lâu, Tư Phố và Mê Linh

Thời Đông Hán (25-220), sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện đã chia lại các huyện và củng cố các trị sở cấp quận, xây dựng nhiều thành cấp huyện Thời Đông Hán, trong các huyện của quận Giao Chỉ, huyện Long Biên được xếp đứng đầu Sang thời Tam Quốc (220-280), đất Âu Lạc cũ bị nhà Ngô (222-280) đô hộ Năm 226 nhà Ngô tách ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam ở phía Nam lập thành Giao Châu, 4 quận phía Bắc lập thành Quảng Châu Sau đó nhà Ngô lại nhập hai châu như cũ, năm 264 tách hẳn làm hai châu Thời Ngô, Giao Châu được chia làm 6 quận, đứng đầu là quận Giao Chỉ và huyện đứng đầu quận Giao Chỉ là Long Biên Sau thời kỳ phân liệt từ Lưỡng Tấn (gồm Tây Tấn: 265-316 và Đông Tấn: 317-420) đến Nam - Bắc triều (420-589), Trung Quốc thống nhất với nhà Tuỳ (589-618) Trong các quận của Giao Châu, quận Giao Chỉ đứng đầu và trong quận Giao Chỉ, huyện Tống Bình đứng đầu Trị sở của Giao Châu chuyển đến Tống Bình Từ khi nhà Đường (618-907) lên thay nhà Tuỳ, đặt Giao Châu Đại tổng quản phủ rồi Giao Châu Đô đốc phủ, đến năm 679 đổi thành An Nam Đô hộ phủ Thủ phủ của An Nam chuyển từ Tống Bình về An Nam

La Thành hay thành Đại La Hai trung tâm quyền lực quan trọng của thời Tuỳ, Đường là Tống Bình và An Nam La Thành (thành Đại La)

Như vậy, trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, từ Hán đến Đường, những trung tâm quyền lực - hành chính quan trọng của chính quyền đô hộ là các thành Mê Linh, Tư Phố, Luy Lâu, Long Biên, Tống Bình và An Nam

La Thành [Phan Huy Lê, 2018, 939-941] Đây là đầu não của chính quyền đô hộ phương Bắc thống trị nước ta thời ngàn năm Bắc thuộc

Trang 37

2.1.3.1 Chính sách kinh tế của phong kiến phương Bắc

Trong hơn một ngàn năm đô hộ, các triều đại phong kiến phương Bắc đã thi hành nhiều chính sách để cai trị, bóc lột dân ta

a Cống nạp

Cống nạp đã được thực hiện từ thời Triệu Đà, sau đó được các triều đại phong kiến phương Bắc tiếp tục duy trì Đây là phương thức bóc lột chủ yếu của chính quyền đô hộ Cống nạp do các Thứ sử, các quan thái thú trong bộ máy cai trị Giao Châu1 thực hiện Bọn quan cai trị phương Bắc thường bắt dân ta cống nạp cho chúng các sản phẩm là nông - lâm - thổ sản quý như: ngà voi, sừng tê, lông trả, đồi mồi, ngọc trai, các loại trái cây ngon; các sản phẩm thủ công mỹ nghệ giá trị và cống nạp cả thợ thủ công giỏi, tướng tài Thời nhà Hán đô hộ, các loại quả: nhãn, vải, cam, quýt, mơ được quan lại Hán rất thích, nên hàng năm bắt dân ta cống nạp cho triều đình Không chỉ cống các sản phẩm là các loại quả, vua Hán còn bắt dân ta cống nạp cây vải và cây chuối tiêu để trồng ở kinh đô Tràng An Nhà Hán còn đặt chức Tu quan ở Giao Chỉ để đốc thúc triều cống hoa quả thức ăn về Bắc triều và chức Quất quan chuyên trách việc cống quýt ngự, vơ vét các sản vật nông nghiệp nước ta là trâu

bò, rượu, đường mía, tơ lụa đưa về chính quốc

Do chưa có quy định chung về định lượng, nên cống nạp bao nhiêu đều do những thái thú, quan lại phương Bắc tự đưa ra, rồi bắt dân ta đáp ứng Để thỏa lòng tham của mình, nhiều quan lại cấp châu, quận đã ra

sức vơ vét, chiếm đoạt của cải dân ta Sách Hậu hán thư cho biết: "Xưa

đất Giao Chỉ có nhiều sản vật quý, ngọc minh cơ, lông trả, sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hương lạ, gỗ đẹp, thứ gì cũng có Các Thứ sử phần lớn không thanh liêm thu vét của cải của dân, đến khi đầy túi tiền thì xin dời đổi" [Dẫn theo Vũ Duy Mền, 2017, 251-252]

Như vậy, có thể nói, cống nạp là hình thức bóc lột "tàn bạo" và "siêu kinh tế" mà bọn cai trị phương Bắc đã thực hiện đối với dân ta Tàn bạo

1 Giao Châu (hay Châu Giao) là tên một châu hoặc phủ thời Bắc thuộc, bao trùm vùng đất miền Bắc Việt Nam Dưới thời nhà Hán cai trị, vùng đất Âu Lạc cũ (quận Giao Chỉ) được gộp với hai quận Cửu Chân và Nhật Nam thành đất Giao Châu [Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, 2017]

Trang 38

là bởi để có những cống phẩm giá trị như sừng tê, ngà voi, lông chả, đồi mồi, ngọc trai thì người dân Lạc Việt phải lên rừng, xuống biển tìm kiếm, khai thác, đi đến những nơi nguy hiểm đến tính mạng Còn nói bóc lột siêu kinh tế là vì định mức cống nạp không được xác định rõ ràng, ổn định mà nó phụ thuộc vào lòng tham của mỗi tên quan cai trị hay của triều đình phong kiến phương Bắc

b Tô thuế

Dưới thời Bắc thuộc, trong buổi đầu, quan hệ công xã nguyên thủy tiếp tục tan rã, chế độ nô lệ gia trưởng vẫn tiếp tục nảy sinh và bị chính quyền đô hộ lợi dụng để duy trì bóc lột trong phạm vi có lợi cho họ Trong thời Bắc thuộc, chính quyền đô hộ phương Bắc chưa thiết lập được quyền sở hữu ruộng đất trực tiếp và thực sự; nhưng đã nắm quyền

sở hữu tối cao về ruộng đất, ít nhất là trên danh nghĩa của Hoàng đế Trung Quốc và với quyền lực của chính quyền đô hộ Người nông dân thời này vốn là thành viên của công xã cày ruộng đất của công xã bị coi

là cày ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của Hoàng đế Trung Hoa nên phải nộp tô thuế và làm nghĩa vụ lao dịch, binh dịch cho chính quyền

đô hộ Các chính quyền đô hộ phương Bắc bắt dân ta nộp tô thuế rất nặng

nề Từ thời Đông Hán đến Lục Triều (từ năm 25 đến cuối thế kỷ VI), dân Giao Châu ngoài cống nạp còn phải nộp các loại tô thuế theo hướng ngày càng tăng Dưới thời nhà Hán cai trị, trong giai đoạn đầu, nhà Hán phải chở lương thực sang Giao Châu để nuôi binh lính và quan lại Nhưng về sau, nhờ số thóc bóc lột được đã đủ để nuôi toàn bộ quan lại, quân sĩ ở Giao Châu Sử cũ cho biết số thóc thuế mà chính quyền đô hộ thu được thời Đông Hán lên tới 13.600.000 hộc, tương đương với 272.000 tấn thóc thời nay [Vũ Duy Mền, 2017, 253]

Chính quyền đô hộ nhà Đường đã áp dụng chế độ tô - dung - điệu ở

An Nam Cụ thể nhà Đường thi hành chế độ quân điền, đinh nam từ 18 tuổi trở lên được cấp 80 mẫu ruộng khẩu phần và 20 mẫu ruộng dâu làm ruộng vĩnh nghiệp Mỗi năm một suất đinh phải nộp tô - dung - điệu Trong đó, tô là 2 thạch thóc, dung là 20 ngày lao dịch, điệu là 20 thước lụa và 3 lạng tơ Tô ruộng tính theo đầu người, nhưng đó là những nông

Trang 39

dân nhận ruộng khẩu phần của nhà nước Tô thời Đường là hình thái bóc lột địa tô phong kiến, dựa trên quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà nước Từ năm 780, nhà Đường chuyển sang chế độ lưỡng thuế, mỗi năm dân nộp thuế vào hai kỳ: tháng 6 và tháng 11 [Phan Huy Lê, 2018, 335] Với người dân sống bằng nghề biển (đánh cá, làm muối, mò ngọc trai),

bọn quan lại đô hộ bắt họ phải nộp mức thuế rất nặng Theo sách Thái Bình hoàn vũ ký, vào thời nhà Tuỳ - Đường cai trị nước ta, nhân dân

vùng châu Lục (ven biển Vịnh Hạ Long) sống bằng nghề làm muối và

mò ngọc trai, hàng năm mỗi hộ phải nộp 100 hộc gạo Thứ sử Chu Phù là người tham lam, tàn bạo đã bắt dân ta phải nộp một hộc lúa cho một con

cá vàng (Hoàng ngư) Có những tên quan cai trị còn bắt dân miền núi đổi một con trâu lấy một đấu muối Ngoài thuế muối, dân ta phải nộp thuế đay, gai, bông và các thứ thuế khác Thời nhà Đường, các thứ thuế được chính quyền quy thành tơ tằm để bắt dân nộp Dưới thời Nam Triều, có tới hàng trăm thứ thuế, dân nghèo phải bán cả vợ con để nộp thuế Sự bóc lột nặng nề qua các hình thức cống nạp, tô thuế đã làm dân ta lâm vào cảnh bần cùng, cực khổ, "trăm họ xác xơ"

c Di dân, chiếm đất lập đồn điền

Hầu như các triều đại phong kiến phương Bắc đều thực hiện việc di dân Trung Quốc sang sống xen kẽ với dân ta Mục đích của việc làm này

là để một mặt khai thác, bóc lột kinh tế và mặt khác nhằm thực hiện đồng hóa, biến nước ta thành quận huyện của Trung Quốc

Theo sử cũ cho biết, ngay từ thời Nhà Tần đã có hiện tượng người Hán di cư từ Trung Quốc vào nước ta Sau đó, thời nhà Tây Hán, có chính sách "di dân khẩn thực", đem những người tù tội di cư hàng loạt sang Giao Chỉ Đặc biệt, sau những biến loạn ở trong nước, nhiều sĩ phu, địa chủ Trung Quốc cũng trốn sang Giao Chỉ "lập nghiệp" Dân số Giao Chỉ ngày càng tăng lên Theo sách Tiền Hán thư (Địa lý chí), vào thời nhà Hán cai trị, hộ khẩu của 7 quận thuộc châu Giao Chỉ có 215.488 hộ

và 1.372.290 nhân khẩu Nếu chỉ tính riêng ba quận thuộc phạm vi nước

ta thì tổng số hộ khi ấy là 143.643 hộ (chiếm 66,7%) và tổng số nhân khẩu là 981.735 người (chiếm 71,5%) của châu Giao Chỉ Trong đó, quận Giao Chỉ có 92.440 hộ, 746.237 nhân khẩu; quận Cửu Chân có

Trang 40

35.743 hộ, 166.013 nhân khẩu và quận Nhật Nam có 15.460 hộ, 69.485 nhân khẩu Tuy đây chưa phải là con số thống kê có độ chính xác cao, nhưng nó cũng cho phép hình dung về vai trò trung tâm trọng yếu của khu vực đất nước ta và đặc biệt là quận Giao Chỉ (với 42,90% số hộ và 54,37% số dân) trong toàn khu vực mới chiếm được của nhà Hán [Dẫn theo Phan Huy Lê & cộng sự, Lịch sử Việt Nam, tập I, 2012, 351]

Những sĩ phu, địa chủ di cư và quan lại cai trị Giao Chỉ đã chiếm đoạt ruộng đất nước ta để lập các trại ấp, đồn điền, xây dựng kinh tế địa chủ Đồn điền thời kỳ này chính là ruộng công, được gọi là "Quốc khố điền" (ruộng Quốc khố) do Nhà nước trực tiếp quản lý Đến thời Ngô, chính quyền đô hộ đã đặt ra chức quan gọi là "Điền nông Đô úy" (gọi tắt

là "Đô úy") để chuyên trách cai quản các đồn điền Lực lượng sản xuất trong các trại ấp, đồn điền là những người dân bị chiếm ruộng đất cùng với các tù nhân, binh lính và những người lưu vong từ Trung Quốc sang Những người này làm việc theo kiểu cưỡng bức, bị bóc lột qua địa tô và

có thân phận thấp kém trong xã hội

Chính sách di dân, chiếm đất lập đồn điền và bóc lột của phong kiến phương Bắc đã ít nhiều tác động, ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội nước ta thời Bắc thuộc Quan hệ sản xuất phong kiến thực dân bắt đầu manh nha; nền kinh tế có sự tiến bộ Sự tiến bộ này một phần do quy luật phát triển nội tại, phần khác do sự tác động của yếu tố phong kiến phương Bắc

2.1.3.2 Đặc điểm tình hình kinh tế

a Nông nghiệp

Ruộng đất thời này về danh nghĩa thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước phong kiến phương Bắc Chính quyền đô hộ đã nhiều lần điều tra về dân số, lập sổ thống kê số dân theo hộ và khẩu; nhưng chưa lần nào đo đạc ruộng đất và lập sổ ruộng đất Về cơ bản, quản lý ruộng đất

và tổ chức sản xuất nông nghiệp (trừ các đồn điền, trại ấp) đều do các làng xã thực hiện

Nhìn chung, nền kinh tế thời Bắc thuộc vẫn căn bản là kinh tế nông nghiệp, bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Nông nghiệp thời này phát triển nhờ sự phổ biến của kỹ thuật cày bừa bằng trâu bò và các công cụ làm

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Andrew Hardy (1995), "Nền kinh tế Đông Dương thời thuộc Pháp nhìn từ tiểu sử Paul Bernard (1982-1960)", Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển: 20 năm Việt Nam học theo định hướng liên ngành, Nxb. Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền kinh tế Đông Dương thời thuộc Pháp nhìn từ tiểu sử Paul Bernard (1982-1960)
Tác giả: Andrew Hardy
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 1995
[2] Nguyễn Thế Anh (2017), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Nxb. Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
[3] Võ Kim Cương (Chủ biên, 2017), Lịch sử Việt Nam, tập 6, từ năm 1858 đến năm 1896, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam, tập 6, từ năm 1858 đến năm 1896
Tác giả: Võ Kim Cương
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2017
[4] Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng (2013), Giáo trình lịch sử kinh tế, Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử kinh tế
Tác giả: Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng
Nhà XB: Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2013
[5] Nguyễn Khắc Đạm (1958), Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, Nxb. Văn sử địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Nhà XB: Nxb. Văn sử địa
Năm: 1958
[6] Trần Thị Phương Hoa (2017), "Tiểu thủ công nghiệp ở Bắc kỳ thời Pháp thuộc", Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, 3, 38-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thủ công nghiệp ở Bắc kỳ thời Pháp thuộc
Tác giả: Trần Thị Phương Hoa
Năm: 2017
[7] Nguyễn Văn Hoàn (2000), Chính sách vơ vét, bóc lột kinh tế của phát xít Nhật ở Việt Nam trong chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), Nxb. Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách vơ vét, bóc lột kinh tế của phát xít Nhật ở Việt Nam trong chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945)
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Nhà XB: Nxb. Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Năm: 2000
[8] Nguyễn Anh Huy (2013), Lịch sử tiền tệ Việt Nam, sơ truy và lược khảo, Nxb. Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tiền tệ Việt Nam, sơ truy và lược khảo
Tác giả: Nguyễn Anh Huy
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
[9] Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa 1858-1945, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa 1858-1945
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[10] Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2012), Lịch sử Việt Nam, tập III, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam, tập III
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
[11] Trần Huy Liệu, Nguyễn Khắc Đạm (1957), Xã hội Việt Nam trong thời Pháp Nhật, quyển 1 và 2, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội Việt Nam trong thời Pháp Nhật, quyển 1 và 2
Tác giả: Trần Huy Liệu, Nguyễn Khắc Đạm
Nhà XB: Nxb. Văn Sử Địa
Năm: 1957
[12] Jean Pierre Aumiphin (1994), Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương
Tác giả: Jean Pierre Aumiphin
Nhà XB: Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
Năm: 1994
[13] Paul Doumer (2016), Xứ Đông Dương (Hồi ký), Nxb. Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đông Dương (Hồi ký)
Tác giả: Paul Doumer
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2016
[14] Đặng Phong (2002), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000
Tác giả: Đặng Phong
Năm: 2002
[15] Vũ Huy Phúc (1996), Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945
Tác giả: Vũ Huy Phúc
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1996
[16] Pierre Gourou (2003), Người nông dân châu thổ Bắc kỳ, Nxb. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nông dân châu thổ Bắc kỳ
Tác giả: Pierre Gourou
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2003
[17] Dương Kinh Quốc (2005), Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945 (Góp phần tìm hiểu cơ sở lịch sử - xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị), Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945 (Góp phần tìm hiểu cơ sở lịch sử - xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị)
Tác giả: Dương Kinh Quốc
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2005
[18] Dương Kinh Quốc (1999), Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1918, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1918
Tác giả: Dương Kinh Quốc
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
[19] Lê Quốc Sử (1998), Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam
Tác giả: Lê Quốc Sử
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[20] Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên, 2013), Lịch sử kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kinh tế
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thanh
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2 Thống kê mô tả theo độ tuổi - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1
Bảng 4.2 Thống kê mô tả theo độ tuổi (Trang 50)
người có thu nhập dưới 7 triệu, chiếm tỷ lệ 8,4%. Kết quả thể hiện ở bảng 4.5 như sau: - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1
ng ười có thu nhập dưới 7 triệu, chiếm tỷ lệ 8,4%. Kết quả thể hiện ở bảng 4.5 như sau: (Trang 52)
Bảng 3.1. Diễn biến của hoạt động lúa gạo ở Đông Dương - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1
Bảng 3.1. Diễn biến của hoạt động lúa gạo ở Đông Dương (Trang 111)
Hình 3.1. Giá trị sản lượng khai thác mỏ ở Đông Dương (1900-1945) - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1
Hình 3.1. Giá trị sản lượng khai thác mỏ ở Đông Dương (1900-1945) (Trang 113)
Bảng 3.2. Cơ cấu các khoản chi của ngân sách Đông Dương (1931-1938) - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1
Bảng 3.2. Cơ cấu các khoản chi của ngân sách Đông Dương (1931-1938) (Trang 125)
Bảng 3.3. Diện tích, sản lượng một số cây trồng - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1
Bảng 3.3. Diện tích, sản lượng một số cây trồng (Trang 133)
Bảng 3.4. Số lượng tiền do Ngân hàng Đông Dương phát hành (1939-1945) - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 1
Bảng 3.4. Số lượng tiền do Ngân hàng Đông Dương phát hành (1939-1945) (Trang 140)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w