Phí, Mỹ la-tnh đã đứng lên dấu tranh bên cạnh các lực lượng Đồng mình chống phát-xít trong những điều kiện cực kỳ khó khăn và góp phần không nhỏ vào thang loi của sự nghiệp chống thảm họ
Trang 1TRAN VAN DAO - PHAN DOAN NAM
GIAO TRINH LICH SU
(TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ)
HỌC VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ
- HÀ NỘI - 2001
Trang 2Chin trach nhiém xuat ban :
iirihvqahdff@hn.vmn.vn
Trang 3PHAN THU NHAT
QUAN HE QUOC TE
GIAI DOAN 1945 - 1970
Trang 4MỞ ĐẦU NHUNG NET KHÁI QUÁT
TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
ĐẾN ĐẦU THẬP KỶ 70
Chiến tranh thế giới thứ hai (CTTG-L) kết thúc bằng thắng lợi
oanh liệt của Liên Xô và các lực lượng chống phát-xít đã mớ ra mội thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế Sau khi phe phát-xít bị đánh bại
số sánh lực lượng thay đổi theo hướng có lợi cho Liên Xô và các lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thể giới, Đồng thơi do phe phát-xít,
kẻ thù chung của nhân loại, đã bị loại bọ, Mặt trận chong phát-xứ hình thành trong chiến tranh đứng trước nguy cơ tan rầ Những mâu thuần trone nội bộ các lực lượng chống phát-xít, tạm thời được dan
Xếp trong chiên tranh, nay đã bộc lộ công khai Quá trình tập hợp lực lượng mới sau chiến tranh dựa trên cơ sở ý thức hệ và lợi ích
quốc giá bắt đầu và tác động mạnh đến các hoạt động trong quan hệ quốc tế
1 SU HINH THANH VA LON MANH CUA HE THONG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THẾ GIỚI LIÊN XÔ TRỞ THÀNH TRỤ CỘT CỦA PHE XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA
Chiến thắng vĩ đại của Liên Xô đã làm cho an ninh cia Liên Xo được củng cố, Biên giới phía Tây và phía Đông mở rộng khôi đoàn kết các dân tộc trone Liên bang được củng cố vững chắc Nền an
7
Trang 5mình quốc gia còn được đảm bio bor anh huong va vi tri quode té ngày càng được mở rộng của Liên Xô sau chiến tranh Tuy bị chiến tranh tần phá nặng nể, song với nỗ lực của toàn thể nhân dân, nền kinh tế của Liên Xô vẫn ngày càng lớn mạnh Kế hoạch khôi phục
và phát triển kinh tế quốc đân của Liên Xô sau chiến tranh đã được
thực hiện tháng lợi và chỉ trong thời gian 2 năm đã vượt nức trước
chiến tranh về sản phẩm công, nghiệp, và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân
Tóm lại, sau chiến tranh, Liên Xô đã trở thành một cường quốc
có uy tín và ảnh hưởng rất lớn và ngày càng trở thành một nhân tố
không thể thiếu trọng việc giải quyết các vấn đề quốc tế
Liên Xô cũng không còn là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất, bị
co lập trong vòng vậy của chủ nghĩa để quốc Một loạt các nước ở
châu Âu và châu Á đã tách khỏi hệ thống tư bản chủ nghĩa thông
qua việc thiết lập chính quyền nhân dân ở các nước đó và đi theo con dường xây dựng chủ nghĩa xã hội Lần đầu tiên trong, lịch sử,
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã hình thành từ châu Âu sang châu Á với đân số gần một tỷ người, tạo nên thế liên hoàn hỗ trợ và giúp đỡ nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội và phối hợp với nhau trong
sự nghiệp dấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc
Sự ra đời và lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới là mot trong những sự Kiện quan trọng nhất sau CTƑTG-IL Sv Kiện này [ầm thay đổi số sánh lực lượng trên vũ đài quốc tế, có lợi cho Liên
Xô và các nước chủ nghĩa xã hội
2 PHONG TRAO GIAI PHONG DAN TOC LON MANH HE THONG THUOC DIA TAN RA
Được sự cổ vũ bởi những chiến thắng chủ nghĩa phát-xít và nhất
đà trình độ giác ngộ của nhân dân đã được nâng cao sau CTTG-HH, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phát triển mạnh mẽ, đẩy hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc vào tình trạng khủng hoàng say gất
Trang 6Ngày trong chiến tranh, các dân tộc Á Phí, Mỹ la-tnh đã đứng lên dấu tranh bên cạnh các lực lượng Đồng mình chống phát-xít
trong những điều kiện cực kỳ khó khăn và góp phần không nhỏ vào thang loi của sự nghiệp chống thảm họa phát-xít, đồng thời chuẩn
bị cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lấy chính quyền sau Khi chiến tranh kết thúc,
Các nước để quốc thực dân, bằng mọi thủ đoạn, cố gắng duy trì
quyền lực :trong 'hệ: thống thuộc địa cũ, làm cho mâu thuẫn giữa thuộc địa:và chính quốc thêm gay gắt Nhân dân các nước thuộc địa,
và phụ thuộc không còn con đường: nào: khác là phải đấu tranh
mạnh mẽ và cương quyết chống lại chủ nghĩa thực dân, giành lay độc lập dân tộc
Phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ và phát triển mạnh mẽ
làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc bất đầu tan rã Các nước để quốc buộc phải từng bước rút lui và thừa nhận nền độc lập của các dân' toc
Di dau phong trào giải phóng dan tộc là các nước Trung Quốc, Việt Nam và Triểu Tiên, được các chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo xây đựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa nên cuộc đấu
trảnh hết sức gay gất và quyết liệt Thực chất ở những nơi này đã nổ
ra cuộc đụng độ về ý thức hệ
Đại đa số các nước thuộc dịa và bán thuộc địa khác đã giành -
được độc lập chính trị và đi theo con dường dân tộc chủ nghĩa Sau
khi thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa để quốc, những nước này
đã tập hợp lại với nhau để bảo vệ và củng cố nền độc lập chính trị
và phục hưng đất nước Về chính sách đối ngoại, họ có khuynh hướng hoà bình chống chiến tranh xâm lược, nhưng muốn đứng
trung lập giữa;hai hệ thống chính trị nhằm tranh thủ viện trợ của cả
hai phe Ho tur coi la “The giới thứ ba” và nỗ lực liên kết với nhau trong các tổ, chức khu vực, trong Phong trào Không liên kết và đặc biệt tại các diễn đàn Liên Hợp Quốc
Ụ
Trang 7Sự tham gia ngày càng tích cực của các nước Á, Phi, Mỹ la-tinh với tư cách là chú thể mới vào các hoạt động quốc tế làm cho quan
hệ quốc tế đẩn mang tính toàn cầu Tiếng nói của họ ngày càng có, trọng lượng, buộc các nước lớn phải tính đến nhằm tranh thủ và tập hợp lực lượng trong các cuộc đấu tranh !:ên vũ đài quốc tế
Các nước xã hội chủ nghĩa luôn luôn ứng hộ họ trong cuộc đấu
tranh giành độc lập và.bảo vệ nền độc lập chống chủ nghĩa thực dân
cũ và mới, và tạo điều Kiện để họ phát triển độc lập cả về chính trị
và kinh tế Chính sách đối ngoại của các nước mới độc lập, tuy có
mật hạn chế, song vẻ cơ bản phù hợp với mục tiêu đấu tranh cho hoà bình, đọc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa, cho nên trong nhiều vấn đề lớn của thời đại, họ thường có chung lập trường với các nước xã hội chủ nghĩa
3 SỰ SUY YẾU CỦA CÁC NƯỚC ĐẾ QUỐC MY NAM VAI TRÒ
CHỦ ĐẠO TRONG HỆ THỐNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
CTTTG-H trước hết là một cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn dé quốc và hậu quả là: tình trạng tàn phá và kiệt quệ,đối với hầu hết các nước tham chiến, đặc biệt là các nước bại trận như Đức, Ý, Nhật; sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới; cao trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với hệ qua là hệ thống thuộc dia
bị tan rã; sự phát triển của các lực lượng dân chủ ở,các nước tư bản chủ nghĩa Đó là những nhân tố góp phần làm cho chủ nghĩa đế
Riêng Mỹ là nước thắng trận duy nhất không bị chiến tranh tần
phá lại còn giầu lên rất nhiều và trở thành nước đứng đầu thế giới
tử bản chủ nghĩa (TBCN) Sản lượng công nghiệp của Mỹ năm 1946
so với 1937 tăng 147% Mỹ chiếm tới hơn 40% tổng sản phẩm của
“thể giới tư bản Với sự lớn mạnh của các lực lượng hai lục, không quan và đác biệt lại nám độc quyền VỀ vũ Khí nguyên từ, Mỹ đồng 10
Trang 8thời cũng trở thành cường quốc số một về quân sự Các qước tư bản châu Âu và Nhật Bản đã phải dựa vào sự giúp đỡ của My dé phuc hồi nền kinh tế kiệt quê của mình, Đây chính là cơ hội uyệt vời dễ
Mỹ vươn lên nắm quyền lãnh đạo trong hệ thông TBCR Trên thực
tế, Mỹ đã thông qua viện trợ kinh tể buộc các nước tư b¿n phải chấp
nhận những điều kiện của Mỹ, chịu sự khống chế của Mỹ về chính trị, nói cách khác là phải tuần theo những chiến lược về chính sách
mà Mỹ định ra Đến giữa thập ký 5Ú, Mỹ dã xác lap lược vai trò lãnh đạo ở Tây Âu và Nhật Bản Mặt khác sự “chấp thì ân” của các nước này cũng chỉ là tạm thời, cuộc dấu tranh chống ai sự khống chế của Mỹ không tránh khỏi sẽ phải diễn rụ
4 LIEN MINH XO-MY TAN RÃ “CHIẾN TRANH LẠNH” BAT ĐẦU
Ngay trong giải đoạn cuối của CTTG-II, Mỹ đã nhìn nhận Liên
Xô như một lực lượng chính, có khá năng lớn nhất, có thể cán trở giấc mộng bá chủ thế giới của mình Khi thất bại của phe Trục trở nên tất yếu, cũng là lúc Mỹ bắt đầu thí hành chính sách nhằm kiểm chế Liên Xô Sau chiến tranh chính sách này ngày càng trở nên kiên
quyết, theo chiều hướng đối đầu, dẫn đến sự tan rã của liên minh
Xô-Mỹ Cùng lúc đó, các nước tư bản đế quốc lại phải đối phó với phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở các thuộc địa cũ và phong trào đấu tranh đồi quyền dân chủ và dân sinh của giải cấp công nhân và nhân dân lao động ở ngày chính quốc, càng làm cho tình hình chính trị ở một số nước không ồn định
Để xóa dịu những máu thuẫn nội bộ giai cấp tr bản thống trị ở các nước phương Tây tìm cách chai mũi nhọn đấu tranh của nhân dân ra bên ngoài, cho rằng chủ nghĩa xã hội mà thành trì là Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa khác là nguồn góc dẫn đến các cuộc khủng hoàng ở các nước tư bản chủ nghĩa và hệ thống thuộc địa Do
đó một cuộc chiến tranh - còn gọi là "chiến tranh lạnh” - nhằm
`
khuất phục Tiên Xó và các lực lượng XHƠN dã bùng nó và ngày
Trang 9càng lăn ròng tiên quy mô toàn cầu, Chiến tranh lạnh là cuộc doi
dầu giữa một bên là các lực lượng đế quốc do Mỹ cầm đầu và bên
còn lại là các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hoà bình do Liên Xô là trụ cội, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chạy đua vũ trang, chính trị,
ngoại giao, văn hoá ngoại trừ đối đầu trực tiếp bằng quân sự
Cuộc chiến tranh trong hoà bình này đã kéo đài mấy thập ký và tác
động rất lớn đến chiều hướng phát triển của quan hệ quốc tế
m)oÍHleœ4
Trang 10ce mong!
_ GIỚI QUẦN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC TRONG
HỆ THỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
(từ sau C hiến tranh thế giới tltứ hai đến đầu thập kỷ 70)
1 SU HINH THANH HE THONG XA HOI CHỦ NGHĨA THẾ GIỚI
1.1 Những nhân tố cơ bản dẫn đến sự hình thành hệ thống XHCN thế giới `
1.1.1 Quyết định đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước Đông Au va Trung Quốc
Sự sụp đổ của chủ nghĩa phát- -xit trong CTTG-II là thắng lợi lịch sử của các lực lượng tiến bộ, trước hết là của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa đế quốc Thắng lợi này đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự hình thành một loạt các nước XHCN ở châu Âu và
châu Á Sau khi các chính quyền dân chủ nhân dân được thiết lập,
mặc dù có nhiều sự lựa chọn song các nước ở Đông Âu và Trung Quốc đã quyết định di theo con đường xây dựng CNXH
* Con đường tắt yếu đối với các nước Trung và Ding Au
Dưới sự trợ,giúp của Hồng quân Liên Xô, các nước Trung và
Đông Âu đã thoát khỏi ách thống trị của phát-xít Đức, trở thành những quốc gia độc lập (đúng theo tính thần “Tuyên bố về châu Âu
được giải phóng” của, Hội nghị Yalta tháng 2/1945) Xét trên nhiều phương điện thì việc chọn mô hình Liên Xô là một tất yếu bởi nó dem đến cho các nước này những lợi thế sau :
13
Trang 11Demat din re Ulu het cae nước này đêu có XHAI phái điểm
thập, nên kinh tế lác bau fa cheer qua công nghiếp hoá Tài nguyên thiên nhiên ứ hoặc nêu có thí khả năng tự khái thác rất kém, Nếu chap nhân Chương trình tái thiết chẩn Au alo Mỹ dựa ra (Kế hoạch Marshall) các nước Đăng Ấn sẽ chỉ có the trợ thành thị trường đơn
thuản tiêu tha hang hod ¢ thet cua My va nhu vay kho co kha nang
đạt đến mi nên kink té phát triển và doc lap như các nước Tây Âu
(những nước đã qua gu đoạn công nghiệp hoá và so với Mỹ có
mie phat miển không chênh lệch nhiều) Trong lúc đé, chị riêng tốc
đả phát triển và mỏ hình xây dựng đát nước của Liên Xô đã có sức cuốn hút ghê gớm Hơn nữa khả năng giúp đổ về nguyên, nhiên chuyên gia của Liên Xỏ cũng cao hơn Mỹ rất nhiều, Các điều
liệu
ới các nước lại có tính chất
kiện viện trợ mà Liên Xô đưa ra đổi
giúp đỡ và bình đăng hơn nhiều so với của Mỹ',
~ Về mặt an nỉnh : Vừa trải qua cuộc đấu tranh chống phát-xít
lại phải đối phó với chính sách thù địch của các nước phương Tây, cộng với khả nang quan sự còn rất yêu kém, sự có mặt của Hồng quản Liên Xô trên lãnh thổ các nước Đông Âu là một bảo đảm lý
tưởng vể mật an ninh Hơn nữa, những bài học cay đáng từ chính sách Muy-ních càng làm tăng thêm sự nghỉ ky của các nước này đối
với phương Tây Nga theo Liên Xô, các Đảng Cộng sản ở các nước
này đương nhiên cũng nhận được sự ủng hộ của Đảng Cộng sản
Liên X6, và đây là hậu thuẫn cực kỳ cẩn thiết trong giai đoạn giành
và củng cô chính quyền
- Về mặt trấn hóu : Nên van hoa Sla-vo cling tạo sự gần gũi giữa các nước Đóng Âu với Liên Xô hơn là hệ thống Ảng-lô - Xác-xông
* Sự lựa chon có lợi nhát của CHND Trung Hoa
Khác với các nước Đông Âu, Dang Cong sản Trung Quốc giành được thang lợi trước Quốc đân đảng thông qua nội chiến Sự giúp
S sánh giữa Kế hoạch Mác-san và Hiện ước Hữu nẹhi, hợp tác và tường trợ
lan nhau giữa Liên Xô và Bun-pa-li
lá
Trang 12đỡ của Liên Xô hiểu như không có (thâm chí trong quan hệ cá nhân giữa Mao Trạch Đông và Sta-lin đã tôn tại những nghì ky khi xác), Hơn nữa hai nước này lại đại diện cho hai nên ván hoá với những bản sắc nêng đậm nét ở châu A Tuy nhiên, để có thể thực hiện được mục tiêu xây dựng CNXH, cuối cùng các nhà lãnh đạo
Trung Quốc cũng đã ngả theo Liên Xô bằng quyết định “Nhất biên đao” (phat biểu của Mao Trạch Đông “Về chuyên chính dân chủ nhân dân” ngày 30/6/1949)” Sở di đi đến quyết định này vì các nhà lãnh đạo Trung Quốc tính toán rằng :
1.12 Sự cần thiết về một tành đai an nình sau chiến tranh của Liên Xó
Trong lịch sử phát triển của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới luôn nằm trong vòng vây của các nước đẻ
quốc Sau CTTG-II Liên Xô lại đứng trước nguy cơ một cuộc Thập
tự chỉnh mới của các nước phương Tây Để có thể hàn gắn vét
thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế bị tần phá nặng nẻ, vì nền
° Sứ ngoại giao đương đại Trung Quốc 1949-1995 Nxb Thành nến Hung
Quốc 8/1997, tr 32 Nguyên bản tiếng Trung.
Trang 13annmh và xử tôn tu của mình, Liên Xô rất cân môi trương hoa bình Tiên Xô phải rà sức cũng có những thành quá giành được trong chiên tranh và mơ tòng anh hucmg ở những vùng chiếm đóng, tao điểu kiến cho những hức lượng đân chủ và tiến bộ ở nước
Động Âu phải niển nhanh chóng, Với những lợi thể về quân sự, ảnh
hưởng và uy tín chính trị có được trong cuộc chiến chóng phát-xít,
thà lãnh đạo Liên Xô phải kiến quyết giữ cho mình môi vành
àn, trước hết là tại Đông Âu Trung Quốc hay bán đảo
Triệu Tiên
1.1.3 Chính sdch cua My va cae nude de quoc:
Lo sơ trước uy tín ngày càng cao của Liên Xô và các Dang
Công sản các nước Đồng Âu, ngay sau khi chiên tranh kết thúc, các nước phương Tây đã phát đông một cuộc chiến tranh lạnh nhằm
ngàn chân và di đến tiêu điệt chứ nghĩa cộng sản Chính sách thú
địch này vô hình chung đã góp phần tạo nên một liên mình (với Liên Xô là trụ cột) chống lại chính các nước phương Tây Ngoài ra, chính sách sử dụng chiến tranh để đạt tới mục đích của các nước đề
quốc trong lịch sử buộc các nước Đông Âu và Trung Quốc phải hết sức cảnh giác
1.2 Quá trình ra đời hệ thông xà hội chủ nghĩa thể giới
12.1 Ra đổi các nước XHCN ở Đông Âu ;
Šự hình thành và phát triển hệ thống XHCN thế giới là cả một quá irình đâu tranh giai cấp gay go trên các mạt chính trị, kinh tế, tư tưởng Trong những năm trước và trong CTTG-]I, bọn pháất-xít Đức
đã tìm mọi cách biến các nước Đông Âu với số dân trên 90 triệu người thành hậu phương lớn phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược
của chúng Trong chiến tranh, các nước Hung-ga-ri, Bun-ga-ri và Ru-ma¬ni bị biến thành đông mình bất đắc đi của khối phát-xít
16
Trang 14Tiếp Khôc Ba Lan bị phát: xi Đức chiếm đồng Phát vít Ý chiếm
gáy An-ba-ni Nam Tự thì bị quần đội phát xít Đức, Ý Hung va rị
va Bure
;uy&c bệ chây lu vong ra nước ngoài, hoặc trở thành tay sat cho bọn phái quay ra đàn áp chính nhàn dan nước mình Trong khi
đá, giai cẤn công nhân đưới sự lãnh đạo của Đang Cong san đã
cứng toàn thể các lực lương yêu nước tiến hành cuộc đấu tranh giải
phóng dan tộc Thừa địp Hồng quản Liên Xó truy kích bọn phat-xit, Iực lường cách mang đã đứng lên lật đố chính quyền phát-xít địa phường thiết lắp các chính quyền nhân dân
£a-ri Xến %€ ẨA! CẬP tự sản, địa chủ cẢm quyền + các nước
* Thành lập nước Công hoa Nhan dan Bun-ga-ri:
Trang lúc Chính nhề quấn chủ Bun-ga-ri theo đuôi phat-xit gay chiến tranh xám lược thì rồng nước phong trào nhân dân chồng chủ nghĩa phat-xit do Dang Cong sản và Đảng Nông đân lãnh đạo ngày càng phát triển Nhĩmg thất bại trên chiến trường của phát-xít Đức còng với những tổn|thấi mà chính quân đội Bun-ga-ri phải chịu
dưng với tư cách đồng là cha phát-xít, buộc chính phủ quàn chủ Bun-pa-ri phải xin đình kffef.với Liên Xó và ngày 7/9/1944 quay sang tuyến chiến VỚI plki-xit Đức Trong lúc Hong quan Liên Nó
xươ biên giới tiên vào lãnh thố Bun-ga-ri, ở thủ đô Sỏ-fi-a, mội Chính phủ mới do những đảng viên Cộng sản lãnh đạo đã thành lap
ngay 9/9/1944 tuyên bó rút khỏi chiên tranh và thang 10/1944 ky
kết đình chiến với Liên Xô, My va Anh
thông qua trưng câu dân ý phê truảt nhà vua Simeon thang 9/1946
17
Trang 15Ngày 4/12/1947, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới khẳng định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Bun-ga-ri™
* Thành lập nước Cộng hoà Nhán dân Ru-ma-ni:
Sức tấn công mạnh mẽ của Liên Xô đã thúc đẩy sự lật đổ chế
độ phát-xít ở Ru-ma-ni Ngày từ tháng 8/1943 Đảng Cộng sản Ru- ma-ni đã để ra đường lối chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang Ngày 23/8/1944 ở thủ đô Bu-ca-ret đã nổ ra khởi nghĩa vũ trang Các thành viên của chính phủ phát-xít An-to-ne-scu bị bắt giữ Mặt trận
dân tộc dân chủ bao gồm những người cộng sản, xã hội dân chủ,
“mật trận những người sở hữu ruộng đất” và một số tổ chức khác
được thành lập Tháng 2/1945, „chính phủ nhan dan do -Pe-tru Gro-
za,'lãnh tụ của “mặt trận những người sở hữu ruộng đất”, được thành lập Chính phủ này đã được các nước Đồng minh thừa nhận
thang 12/1945 mac dù không thông qua bầu cử tự do Chính phủ bất
đầu thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ như: _ Đuổi các phần tử phát-xít khỏi bộ máy chính phủ; tiến hành cải cách ruộng đất; thực hiện sự giám sát của công nhân đối với các xí nghiệp và một loạt biện pháp cải tổ dân chủ Ngày 30/12/1947 chế
độ quân chủ bị thủ tiêu, vua Michel phải thoái vị Và đi sống lưu
vong, nước Cộng hoà Nhân dân Ru-ma-ni được tuyên bố thành
ĐI
làn”
* Nước Cộng hoà Nhân dân Hung-ga-ri ra đời
Dau nim 1944 trên vùng lãnh thổ giải phóng đã thành lập Mat trận dân tộc độc lập Hung-ga-ri với sự tham gia của tất cả các lực lượng chống phát-xít Khi Quân đội Liên Xô vào giải phóng Hung- ta-ri, các lực lượng dân chủ đã thành lập Chính phủ lâm thời ở thành phố Debrecen ngày- 22/12/1944 Một tháng sau đó,
Trang 1620/1/1945, Chính phủ lâm thời đã ký Hiệp định đình chiến với phe Đồng mính và tuyên chiến với phát-xít Đức Ngày 4/4/1945 Hung- ga-ri được piải phóng hoàn toàn khỏi ách phát-xít Trong cuộc bầu
cử vào Nghị viện tháng 11/1945, đảng Kinh tế tiểu nông chiếm được đa số ghế trong Quốc hội (với 57% phiếu bầu) Trong chính phú liên hiệp chỉ có 4 đảng viên cộng sản tham gia Lúc đó tình
hình kinh tế Hung-ga-ri gặp rất nhiều khó khăn, một số người thuộc đẳng Kinh tế tiểu nông đã mưu toan lợi dụng để gây bạo loạn lật đổ
chính phủ liên hiệp, loại bỏ những thành viên Công sản trong Chính
phủ, nhưng đã bị thất bại Tới giữa năm 1948, Đảng Cộng san được
sự giúp đỡ của Liên Xô, đã liên minh và thống nhất với Đảng Xã
hội-Dân chủ thành Đảng Lao động Xã hội chủ nghĩa Hung-ga-rl,
thiết lập nền chuyên chính vô sản và trở thành lực lượng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội Tháng 8/1949, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp Cộng hoà Nhân dân Hung-ga-rï””
* Thành lập nước Cộng hoa Nhân dân An-ba-ni
Đảng Cộng sản An-ba-ni (thành lập tháng 1 1/1941 và từ tháng 11/1948 đổi tên thành Đảng Lao động An-ba-ni) là lực lượng nòng cốt lãnh đạo phong trào chống phát-xít, giành độc lập Ngày 20/11/1944 lãnh thổ An-ba-ni được hoàn toàn giải phóng Trong cuộc bầu cử vào Quốc hội tháng 12/1945, Đảng Cộng sản đã giành
được số phiếu cao nhất Chính phủ lâm thời do lãnh tu Dang Cong
sin Enver Hodja lãnh đạo, tuyên bố thành lập Nước Cộng hoà Nhân đân An-ba-ni Tháng 3 năm 1946, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới xác định con đường xã hội chủ nghĩa là mục tiêu tiến tới của
nhân dân An-ba-ni"”
“ESTG hien dat Sct te U85- E87
“LSTG hién dai tr 183-184
19
Trang 17* Cong hoa Lién bang Xa hoi chu nghia Nam Tu ra doi
Khác với các nước đân chủ nhân dân Đông Âu, Nam Tư thoát
khỏi ách phát-xít không cần có sự giúp đỡ trực tiếp của Hồng quân
Liên Xô Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống phát-xít ở
Nam Tư gắn liền với cuộc cách mạng nhân dân Từ cuối năm 1941,
từ các đội du kích đã thành lập những đơn vị đầu tiên của Quân giải phóng Nam Tư do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Broz Ti-tô lãnh đạo
và đã giải phóng được một bộ phận lãnh thổ rộng lớn Tháng 3/1945, Nam Tư hoàn toàn giải phóng khỏi ách xâm lược phát-xít Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 8/1945, vua Peter bị phế truất
và chế độ quân chủ bị thủ tiêu Tháng 11/1945, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đã được tổ chức dẫn đến thắng lợi của Mặt trận Dân tộc
thống nhất do Đảng Cộng sản lãnh đạo Ngày 29/11/1945, Quốc hội Nam Tư tuyên bố thành lập Liên bang Cộng hoà Nam Tư (đến năm
1963 đổi thành Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Nam Tư)”,
* Nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan ra doi
Ngày 1/9/1939, quân đội phát-xít Đức tấn công Ba Lan, một
nước đồng mình của Anh, Pháp, mở đầu cuộc Chiến tranh thế giới
thứ II Quân đội Đức đã nhanh chong dé bep quân đội Ba Lan và
chiếm đóng đất nước này
Chính phủ tư sản và một số sỹ quan Ba Lan chạy ra nước ngoài,
lập chính phủ lưu vong ở Pháp, sau chuyển sang Anh Trong lúc đó, những lực lượng yêu nước mà nòng cốt là Đảng Cộng sản, đã bí mật
tổ chức du kích, đấu tranh vũ trang ở trong nước một cách kiên Cường
Năm 1944, Hồng quân Liên Xô tiến vào giải phóng Ba Lan, đã giúp đỡ lực lượng kháng chiến ở trong nước lập ra Ủy ban Giải
™ Sdd ur 180-182
20
Trang 18phong dân tộc Ba Lan, do các đảng viên cộng sản lãnh đạo đóng trụ
sở ở Cheem (sau:đó chuyển về Lublin), va ngay 31/12/1944' đối thành Chính phi.lam thời Cộng hoà Ba Lan đặt trụ sở tại Vác-sa-va Như vậy, vào thời điểm được hoàn toàn giải phóng, Ba Lan có hai
chính phủ: một chính phủ lưu vong được Mỹ - Anh hậu thuẫn; và
một chính phủ cách mạng trong nước được Liên Xô giúp đỡ Bắt đầu một cuộc đấu tranh giành chính quyền hết sức gay go và quyết liệt Cuộc đấu tranh này dẫn đến việc thành lập chính phủ liên hiệp
ngày 9/6/1945! gọi là: “Chính phủ lâm thời đoàn kết dân tộc Ba
Lan” do Osubka (lãnh tụ Đẳng Xã hội) làm chủ tịch và Gomalka ([ãnh tụ Đảng Cộng sin), Mikolajezuk (đại diện cho các lực lượng lưu vong) ' làm phó: chủ 'tịch.' Chính phủ này đã được các nước ' phương 'Tây thừa' nhận
Trong thời kỳ chuyển biến cách mạng đân chủ nhân dân sang cách mạng XHCN, cuộc đấu tranh giai cấp ở Ba Lan trở nên hết sức gay gắt, Đầu năm 1947, trong cuộc bầu cử vào Quốc hội, hai Dang Cộng sản và Xã hội Dân chủ liên mình với nhau và giành được 85%
số phiếu Chuyên chính vô sản được thiết lập dưới hình thức dân chủ nhân dân: ‘Thang 12/1948, tại Đại hội thống nhất đảng Công nhân Ba Lan và đẳng Xã hội Ba Lan đã dẫn tới thành lập Dang Công nhân thống nhất:Ba Lan trên nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin,
hoàn thành quá trình đâu tranh để thành lập Nhà nước Cộng hoà
Nhân dân Ba Lan di theo con đường xã hội chủ nghĩa?®
* * Ra đời nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệ Khắc § cp
“Trước chiến tranh, Tiệp Khác vốn là đồng minh lâu đời của Pháp và Anh, nhưng Chính phủ hai nước này đã bán đứng lợi ích của nhân dân Tiệp Khắc cho phát-xít Đức thông qua Hiệp ước Mu-
nịch 30/9/1938, Hệ quả chính sách Mu-nich.của các nước phương
Tây là nước Cộng, hoà Tiệp Khác bị phát-xít Đức thôn tính Tổng thống Bc-nct 'phải từ chức và chạy ra nước ngoài lập chính phủ lưu vong ở Luân Đôn
'! Sdd tr 160-165.
Trang 19Trong khi đó, ở trong nước Tiệp Khắc, các lực lượng kháng chiến chống phát-xít vẫn hoạt động, tuy:không được mạnh như ở các nước
khác Khi quân đội Liên Xô tiến vào giải phóng Tiệp Khắc thì các lực
lượng kháng chiến trong nước cũng thành lập chính quyền với rất nhiều đẳng viên cộng sản tham gia ở tất cả các cấp
; Chính phủ lưu vong Be-net của giai cấp tư sản về nước sau chiến tranh đã tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội tháng 6/1946 Đăng Cộng sản và các lực lượng dân chủ tuy đã được củng:cổ và
tầng cường, nhưng vẫn chỉ giành được 1/3 số ghế trong.Quốc hội
Chính phủ liên hiệp đã được thành lập do Be-net làm: Tổng thống và Kiê-ment Gốt-van, lãnh tụ Đăng Cộng sản làm Thủ tướng Đại da
số bộ trưởng trong Chính phủ vẫn do người của đảng tư sản Be-net
nắm giữ Dựa vào quần chúng nhân dân và các lực lượng cảnh sát
“và dân quân mà Đảng Cộng sản nắm được, chính phủ của Thủ tướng Gốt-van đã tiến hành một số cải cách tiến bộ, đặc biệt là _ chính sách quốc hữu hoá nền công nghiệp Tiệp Khắc Nhưng chính sách cải cách cấp tiến của Thủ tướng Gốt-van đã bị các bộ trưởng tư
sản phản đối Ngày 20/2/1948, 12 bộ trưởng tư sản trong chính phủ đồng loạt từ chức nhằm gây sức ép buộc Thủ tướng Gốt-van phải từ chức Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, với sự giúp đỡ của Liên Xô lúc này lớn mạnh rất nhiều, đã huy động quần chúng xuống đường ủng
hộ Thủ tướng Gốt-van, trấn áp các lực lượng phản động, đòi Tổng
thống Be-net phải chỉ định Gốt-van tiếp tục làm Thủ tướng và thành lập chính phủ mới Trước đòi hỏi mạnh mẽ của quân chúng, Tổng thống Be-net buộc phải chấp nhận cho các bộ trưởng nghỉ và công
nhận thành phần mới của chính phủ Gốt-van Chính phủ mới thúc
đẩy mạnh mẽ cải cách kinh tế xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa, kết thúc giai đoạn chuyển từ cách mạng dân chủ nhân dân sang cách mạng XHƠN Quốc hội thông qua hiển pháp mới và bầu Gốt-van làm Tổng thống””
“Sd 167 170
VW
Trang 20* Thành lập nước Công hoà dân chủ Đức
Tình hình ở nước Đức sau thất bại của phát-xít Hít-le trở nên hết sức phức tạp, phần ánh một cuộc chiến tranh mới giữa CNXH và CNTR Trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh bất đầu xuất
hiện "Vấn để Đức” sẽ được xem xét ở phần sau Kết quả bước dâu
của việc giải quyết vấn đề này là sự ra đời của Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức ngày 7/10/1949 Với cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa
xã hội Cộng hoà Dân chủ Đức trở thành nước cuối củng ở Đồng Au
đi theo con đường XHCN
1.2.2 Nước Cộng hoà Nhân dan Trung Hoa ra doi
Trong cuộc kháng chiến chống Nhật, hai lực lượng chính trị lớn nhất ở Trung Quốc là Đảng Cộng sản và Đảng Quốc dân đã hợp tác
để chống quân xâm lược Nhưng đến khi Nhật đầu hàng, kẻ thù chung của dân tộc đã bị đánh bại thì màu thuẫn giữa hai Đảng lại công khai bộc lộ và cuộc đấu tranh để giành quyền lực lại nổ ra gay eat Neay khi quan Nhat vừa đầu hàng thì hài Đăng Công sản và Quốc dân đều ra sức mở rộng ảnh hưởng, chuân bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giành quyền thống trị tại đất nước đông dân nhất thế giới này
Hài cường quốc có nh hưởng trực tiếp đến tinh hình Trung
Quốc lúc bấy giờ là Liên Xô và Mỹ Do không dủ sức để loại bỏ
ảnh hưởng của nhau ở đây, nên cả Liên Xô và Mỹ đều mong muốn
có hoà bình ở đất nước rộng lớn này nhằm biến Trung Quốc thành
Trang 21Nhật, thừa nhận chủ quyền, toàn ven lãnh thổ của Trung Quốc;
đồng thời tôn trọng những quyền lợi của Liên Xô ở Mãn Châu Sau
khi quân phiệt Nhật đầu hàng, kết thúc CTTG-H, Hồng quân Liên
Xô rút khỏi Mãn Châu để lại rất nhiều vũ khí thu được của Nhật cho Giải phóng quân Trung Quốc, đồng thời cũng bàn giao vùng Đông-Bắc Trung Quốc, một vùng công nghiệp có vị trí chiến lược quan trọng, cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính quyền cách mang quan lý
Liên Xô và Mỹ đều mong muốn Quốc - Cộng tiếp tục hợp tác
và thiết lập ở Trung Quốc một Chính phủ liên hiệp, nhưng cả hai
bên Cộng sản và Quốc dân đảng sau nhiều vòng đàm phán đều
không thể đi đến một thoả thuận nào Ngày 27/11/1945 Tổng thống
Mỹ Truman đã cử đặc phái viên Georges Marshall, Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ trong thời gian chiến tranh, đến Trung Quốc làm trung gian hoà giải Quốc-Cộng, nhưng mặt khác vẫn để cố vấn quân sự và cung cấp cho Quốc dân đảng nhiều vũ khí và vật liệu
chiến tranh
Với chủ trương dùng vũ lực để khuất phục Đảng Cộng sản và
thống nhất đất nước, Tưởng Giới Thạch huỷ bỏ đàm phan, tuyên bố cắt đứt quan hệ với Đảng Cộng sản và phát động một cuộc tiến công toàn điện vào khu vực do Đảng Cộng sản kiểm soát Tháng
3/1947, quân QDĐ chiếm được Diên An, thủ đỏ của căn cứ Đảng Cộng san Tuy nhiên day là thắng lợi cuối cùng của phc Tưởng,
quân Giải phóng nhân dan bat đầu phản công và liên tiếp giành thắng lợi Mùa hè năm 1947, Dang Cong sản khống chế gần như
toàn bộ Mãn Châu và tiếp tục tiến xuống phía Nam Tháng 4/1949, quân Giải phóng nhân dân tiếp tục tiến công, vượt sông Dương Tử
và giải phóng Nam Kĩnh, thủ đô của Quốc dân đăng, và dến thắng 9/1949 thì toàn bộ đại lục Trung Hoa đã được giải phóng Tần quân QDĐ rút chạy ra đảo Đài Loan Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập ngày 1/10/1949 và ngày lập tức được Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Khác công nhận
24
Trang 22Như vậy chờ đến cuối năm 1949, hệ thống xã hội chủ nghĩa thẻ
giới đã hình thành, bao gồm hầu hết các nước ở Đông Âu và Trung Quốc ở châu Á, với số đân trên Í tỷ người Ngoài ra, tại khu vực Đông Á'còn có Bác Triểu Tiên và Việt Nam bằng những hình thức Khác nhau! cũng đần dần chuyển từ cách mạng giải phóng: dân tộc sang cách mạng XHCN Như ở Việt Nam ngày trong quá trình đấu tranh chống 'thực dân Pháp tái hấn, chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản đã đồng thời thực hiện các cải cách đân chủ và, ngay sau khỉ hoà bình được lập lại (năm 1954), các biện pháp để chuẩn bị cho giai đoạn xây dựng CNXH trên miền Bắc cũng được thực hiện Quá trình phát triển của cách mạng ở các nước dân chủ nhân dân châu Âu và châu Á chứng mình lời tiên đoán của Lê-nin là tất cả các đân tộc tất nhiên sẽ đều
đi tới CNXH những “con đường đi của họ Không hoàn toàn giống nhau, mỗi một dân tộc sẽ đóng góp thêm sự muôn vẻ vào hình thức này hay hình thức khác của nền dân chủ nét đặc trưng này hay nét đặc trưng khác: của nền chuyên chính vô sản, tốc độ này hay tốc độ khác trong công cuộc cải tạo XHCN đối với các mặt đời sống xã hội " Sử hình thành hệ thống XHCN thế giới trong một giai đoạn lịch sử hết sức ngắn chứng mỉnh rằng sự thay thế CNTB bằng
CNXH là quy luật khách quan của quá trình phát triển xã hội loài
người Đây cũng là sự kiện quan trọng bậc nhất sau CTTG-JI làm cho so sánH' lực lượng trên thể giới thay đổi có lợi cho lực lượng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Liên Xỏ, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã phát huy vai trò ảnh huong của mình và trở thành nhân tố hết sức quan trọng trong quan
hệ quốc tế ở những thập kỷ sau chiến tranh
2 QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1 Giai đoạn từ sau Chiến tranh thể giới H đến giữa thập kỷ 50:
Ngay sau: khi thành lập chính quyền Xô-viết đầu tiên trên thể gidi, Lé-nin da khang dinh "những người bỏn-sê-vích tạo ra những
OVE Lenin Toan tap 130 123
to N
Trang 23quan hệ quốc tế mới, tạo điều Kiện cho tất cả các dân tộc bị áp bức
thoát khói ách nó lệ của chủ nghĩa đế quốc Mối quản hệ quốc tế
này hoàn toàn trái ngược với mối quan hệ quốc tế dưới chế độ tư
bản chủ nghĩa mà thực chất là “sự áp bức công khai, kẻ yếu”?” Sự
hình thành và phát triển của hệ thống XHCN sau chiến tranh, đã khang định tính đúng đắn trong nhận định trên:của Lê-nìn Cách dây hơn một trăm năm, Mác cũng từng nói: *Để các dân tộc thực sự
có thể đoàn kết được với nhau, họ phải có chung một lợi ích, để lợi ích của họ được thống nhất phải thủ tiêu quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất hiện nay, vì quan hệ đó dựa trên sự bóc lột của các dân tộc
này đối với các dân tộc khác ”””, Mối quan hệ giữa các nước xã
hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng là sự thống nhất về thế giới quan, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở của đường lối, chính sách, nhằm mục tiêu đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới; sự thống nhất về chế độ
kinh tế, chính trị, xã hội; về vai trò Kĩãnh đạo đối với toàn thể xã hội của các đảng mácxít-lêninít Trên cơ sở đó, các nước tự nguyện
đứng chung trong một khối đồng minh, hợp tác giúp đỡ nhau một
cách bình đẳng, cùng có lợi, kết hợp chật chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc té XHCN Day thực sự là một loại quan hệ quốc
tế kiểu mới, bởi ngoài những mục tiêu và lợi ích nêu trên, nó còn dược xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản khác hẳn dưới chế độ „ FBCN như: Tôn trọng độc lap va chu quyền của nhau; hợp tác trên
cơ sở bình đẳng và tương trợ lẫn nhau trên tình đồng chí và chủ
nghĩa quốc tế XHCN; không can thiệp vào công việc nội bộ của
Trong bối cảnh quốc tế vô cùng khó khăn, dưới áp lực của
chiến tranh lạnh, có thể nói rằng, quan hệ giữa các nước xã hội chủ mphĩa trong thời gian này là tốt đẹp, đã góp phần: to lớn vào công cuộc xây đựng và phát triển của từng nước, củng cố, bảo VỆ Và tăng cường sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, đấu tranh bảo vệ
'h* VT.,¿¬nin, Toàn tập, T 20 tr 402
+ Nác - Anphen, TT 41.171,
36
Trang 24hoà hình, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn chính
sách hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ
2.1.1 Ký kết các Hiệp móc hữu nghị, hợp tác và tương trợ giữa các nước XHCN
Quan hệ nhiều mặt giữa các nước XHƠN dược xây dựng trên nền tảng pháp lý trước hết là các hiện ước song phương
* Các liệp dứớc giữa Liên Xô và các nước XIHCN Đông Âu:
Trong thời gian từ 1945 đến 1950 Liên Xô đã ký một loạt các
hiện ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ với các nước dân chủ nhân đân Đông Âu
- Hiệp ước hữu nghị, tương trợ và hợp tác sau chiên tranh Liên
Xô - Tiệp Khắc ngày 12/12/1943;
- Hiệp ước hữu nghị, tương trợ và hợp tác sau chiến tranh Liên
Đồng thời giữa các nước Đông Âu với nhau cũng đã ký những
Hiệp ước tương tự, như Hiệp ước Ba Lan - Tiệp Khắc ngày
10/3/1947, Hiệp ước Hung-ga-ri - Ru-ma-ni tháng 1/1948, Hiệp ước
Bun-ga-ri - An-ba-ni tháng 12/1947, Hiệp ước Bun-ga-ri - Ru-ma-ni
thắng 1/1948, Hiệp ước Bun-ga-r! - Tiệp Khác tháng 4/1948, Hiệp ước Bun-ga-ri - Ba Lan tháng 3/1948, Hiệp ước Bun-ga-ri - Hung- ga-ri ngay 16/7/1948, Hiép ude Ba Lan-Hung-ga-ri thing 6/1948,
27
Trang 25Hiệp voc Ba Lan-Ru-ma-ni thang 1/1949, Hiép ước Tiệp Khác-Ru- ma-ni thing 7/1948, Hiép ước Tiệp Khắc - Hung-ga-ri tháng 4/1949
Các Hiệp ước trên có hiệu lực trong 20 năm và liên quan chặt chẽ với nhau, xác định mốt quan hệ đồng mình chiến luge pitta cac ude XHCN ở châu Âu, Theo các văn bản Hiệp ước thì các bên cam kết thí hành mọi biện pháp để loại trừ bất cứ mối đc dọa nào của nước Đức, hoặc bất cứ nước nào khác trực tiếp hay gián tiếp liên kết
với Đức để gây chiến tranh; cam Kết tham gia tất cả các hoạt động
quốc tế nhằm mục dích bảo vệ hoà bình và an ninh của các dân tộc Trong trường hợp một bên ký kết bị xâm lược thì bên kia có nhiệm
vụ giúp đỡ và ủng hộ ngay về quân sự và các mặt khác Các bên ký
kết thoả thuận sẽ trao đổi ý kiến với nhau về các vấn để quốc tế
quan trọng nhất có liên quan đến quyền lợi của nhau và phát triển quan hệ kinh tế, văn hoá với nhau trên tĩnh thần tôn trọng độc lập chủ quyền và không can thiệp cộng việc nội bộ của nhau, Các Hiệp ước ký kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn phù hợp với
Hiến chương của Liên Hợp Quốc, đảm bảo cho an ninh va phát
triển chủ nghĩa xã hội ở các nước đó
* Các hiệp ưóc giữa Liên Xô và các nước XHCN ở chau A:
- Niệp ước Đồng mình tương trợ Xô - TRHNg ,
Ngày sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập ngày 16/12/1949, một phái đoàn của Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trach Dong din dau đã sang thăm và đã Ký với Liên Xô Hiệp ước hữu nghị, đồng mình và tương trợ lẫn nhau ngày 14/2/1950 Theo Hiệp ước này, hai bên cam kết thí hành mọi biện pháp cần thiết nhằm không để Nhật Bản hoặc một nước nào khác trực tiếp
hay giấn tiếp hiếu kết vớt Nhật, có hành động de dọa hoà bình hoặc
gây chiến tranh xâm lược một lần nữa Trong trường hợp một trong
28
Trang 26hai nước bị Nhật Bản hoặc đồng mình của Nhật tấn công hay de doa xâm lược, hai bên sẽ giúp đỡ nhau ngay lập tức về quân sự và các mặt khác (điều Ì) Hai chính phủ Liên Xỏ và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố mong muốn cùng với các nước khác ký Kết Hoà ước với Nhật Bản càng sớm càng tốt (điều 2); cam kết Không -tham gia các liên mình hoặc các hành dộng chống đối nhau; trao
đổi ý kiến và hợp tác với nhau trong các hoạt động quốc tế để bảo
đảm hoà bình và an ninh trên thế giới (điều 3)
Hai bên cũng cam kết củng cố và phát triển văn hoá, giúp dỡ nhau về kính tế với tỉnh thần hữu nghị và hợp tác, phù hợp với
những nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, cùng tôn trọng chủ quyển và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, v.v (điều 5) Hiệp ước có giá trị 30 năm Cùng với Hiệp ước trên, Liên Xô và Trung Quốc còn ký Kết một loạt các hiệp định khác, như Hiệp định về đường sắt Trường |
Xuân, về cảng Đại Liên, Lữ Thuận với những điều Khoản có lợi cho
nước CHND Trung Hoa, Hiệp định về việc Liên Xô cho Trung
Quốc vay một khoản tín dụng 300 triệu USD trong 5 năm, kể từ
Ngoài ra hai bên còn trao đổi công hầm với nhau, tuyên bố huỷ
bỏ Hiệp ước và Hiệp dịnh giữa Liên Xô và Trung Hoa QDĐ ký ngày 14/8/1945 và thửa nhận nền độc lập của nước Cộng hoà Nhân din Mong Cé (phần Ngoại Mông, còn phần Nội Mông và Tân
Cương thuộc lãnh thổ Trung Quốc)
Hiệp ước đồng minh tương trợ Xô - Trung có ý nghĩa vô cùng
to lớn, đảm bảo cho an ninh của Liên Xô và Trung Quốc ở Viễn
Đông và châu Á, củng cố thêm địa vị và uy tín quốc tế của nước CHND Trung Hoa trước ý đồ can thiệp vũ trang của các nước để quốc Liên mình Xô - Trung hình thành có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho các lực lượng
39
Trang 27XHCN 6 chau A - Thai Binh Duong ndi riêng và trên phạm ví toàn cầu nói chung
- Liên mình này đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển quan
hệ hài nước, nó trở thành nhân tố quan trọng trong cả hệ thống xã hội chủ nghĩa và là chỗ dựa của phong trào giải phóng dân tộc thế
giới
Trong chuyển đi thăm Trung Quốc tháng 10/ 1954, Khơ-rút-sốp
đã ký tiếp một loạt Hiệp định với Trung Quốc để khẳng định tình , đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước và ký kết 5 văn kiện phụ lục: Liên
Xô rút khỏi cảng Đại Liên, Lữ Thuận; bán lại các Công ty liên doanh Xô - Trung thành lập nầm 1950-51 cho Trung Quốc; xây dựng đường sắt Lan Châu - Alma Ata và Cát Lâm - Ulan Bato; ký kết chương trình hợp tác khoa học kỹ thuật 5 năm ˆ
Những năm 1955-57, quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc tiếp tục được tñng cường Về kinh tế, Liên Xô giúp Trung Quốc xây dựng lò phản ứng nguyên tử thí nghiệm đầu tiên và máy gia tốc, xây dựng thêm các cơ sở công nghiệp, và Liên Xô hứa cung cấp cho Trung Quốc những thông số kỹ thuật để làm bom nguyên tử
Như vậy, trong những năm đầu của thập ký 50, quan hệ giữa Lién X6 va Trung Quốc rất tốt đẹp Trong thời gian này Trung Quốc hoàn toàn ủng hộ đường lối và thừa nhận sự lãnh đạo của
Liên Xô đối với phe xã hội chủ nghĩa Nhờ đó, Tr ung Quốc đã phục hồi được toàn bộ chủ quyền ở vùng Đông-Bắc và Tân Cương, có điều kiện thuận lợi để công nghiệp hoá nền kinh tế Nhờ sự giúp đỡ
của Liên Xô, Trung Quốc đã khỏi phục được nền kinh tế trong thời tim ngắn va đã xây dựng được cơ sở quan trọng cho nền công nghiệp nặng của mình
Bên cạnh Trung Quốc, Liên Xô còn ký Hiệp ước hữu nghị và
tượng trợ lân nhau ngày 27/2/1946 với Mông Cổ; Hiệp định hợp tác
30)
Trang 28về kinh tế và văn hoá tháng 3/1949 với Cộng hoà Dân chủ Nhân dan Triểu Tiên Những hiệp ước này có ÿ nghĩa hết sức quản trọng doi với công cuộc xây đựng và củng cố nền độc lập của các nước, dòng thời tăng cường sức mạnh cho hệ thống XHCN
2.1.2 Quan hệ nhiều mặt giữa các nước XHCN:
Mối quan hệ liên kết nội tại trong hệ thống XHỂCN dược th¡ết lập trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, quân sự, văn hoá, khoa học-kỹ thuật, đối ngoại, an nình, v.V
2.1.2.1 Trên lĩmlt vúc tư tưởng: Thành lập Cục Thông tín Qróc
te
Hệ thống XHCN phấn đấu vì một sự thống nhất, nhất quán trên
cơ sở nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lêni: Thế giới quan duy Vậi biện chứng và duy vật lịch sử; quan điểm về vat trò sứ mệnh lịch sứ của giai cấp công nhân; học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp,
về nhà nước chuyên chính vô sản , là những vấn đề có tính nguyên tắc, bảo đảm cho hệ thống XHCN tồn tại như một khối thống nhất
về tư tưởng Quan hệ giữa các đảng Cộng sản đóng vai trò quyết định đối với quan hệ hợp tác toàn diện và chặt chế giữa các nước XHCN Các cuộc gặp thường xuyên giữa các nhà lãnh đạo Đăng (ở
cả cấp độ song phương và đa phương) đã giúp cho việc trao đối kinh nghiệm, thống nhất trong nhận thức và trong hành động vẻ các quy luật và mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như phối hợp hành
động trên trường quốc tế của khối XHCN
Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, nhiệm vụ đấu tranh chống mọi
biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, cơ hội, cải lương đối với chủ nghĩa
Mác - Lê-nin được dé cao và nhiều khi được thực hiện với những biện pháp kiên quyết Sau khi Quốc tê Cộng sản giải tấn (1943), để đoàn kết những người cộng sản trên thế giới trong một sách lược, chiên lược cách mạng thống nhất, các Đăng Công san va Công nhân
At
Trang 29AHCN 6 chau A - hai Binh Duong noi riéng và trên phạm VỊ toàn cầu nói chưng
Liên mình này đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển quan
hệ hai nước, nó trở thành nhân tổ quan trọng trong ca hệ thông xã hội chủ nghĩa và là chỗ dựa của phong trào giải phóng dân tộc thế giới
Trong chuyén di tham Trung Quéc thang 10/1954, Kho-rut-sop
đã ký tiếp một loạt Hiệp định với Trung Quốc để khẳng định tình đoàn kết, hữu nghĩ giữa hai nước và ký kết 5 văn kiện phụ lục: Liên
Xô rút khỏi cảng Đại Liên, Lữ Thuận; bán lại các Công ty liên doanh Xô - Trung thành lập năm 1950-51 cho Trung Quốc: xây dựng đường sắt Lăn Châu - Alma Ata va Cat Lam - Ulan Bato; ky kết chương trình hợp tác khoa học kỹ thuật 5 năm
Những năm 1955-57, quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc tiếp tục được tăng cường Về kinh tế, Liên Xô giúp Trung Quốc xây dựng lò phản ứng nguyên tử thí nghiệm đầu tiễn và máy gia tốc, xây dựng thêm các cơ sở công nghiệp, và Liên Xô hứa cùng cấp cho Trung Quốc những thông số kỹ thuật để lầm bom nguyễn tử,
Như vậy, trong những năm đầu của thập Kỷ 50, quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc rất tốt đẹp Trong thời gian này Trung Quốc hoàn toàn ủng hộ đường lối và thừa nhận sự lãnh đạo của Liên Xô dối với phe xã hội chủ nghữa Nhờ đó, Trung Quốc đã phục hổi được toàn bộ chủ quyển ở vùng Đông-Bắc và Tân Cương, có diều kiện thuận lợi để công nghiệp hoá nên kinh tế, Nhờ sự giúp dở của Liên Xô, Trung Quốc đã khỏi phục được nền kinh tế trong thời uian ngắn và dã xây dựng được cơ sở quan trọng cho nền công nghiệp nặng của mình
Bên cạnh Trung Quốc, Liên Xó còn ký Hiệp ước hữu nghị và
tương trợ lẫn nhau ngày 27/2/1946 với Mông Cố; Hiệp định hợp tác
30
Trang 30về kinh tế và văn hoá tháng 3/1949 với Cộng hoà Dân chủ Nhân dan Triểu Tiên Những hiệp ước này có ý nghĩa hết sức quan trọng dõi với công cuộc xây dựng và củng cố nên độc lập của các nước, dong thời tầng cường sức mạnh cho hệ thống XHCN
-2:1.2 Quan hệ nhiều mặt giữa các nước XHCN:
Mối quan hệ liên kết nội tại trong hệ thống XHCN dược thiết lập trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, quân sự, văn hoá khoa học-kỹ thuật, đối ngoại, an nình, v.v
2.1.2.1 Trên lĩnh vực ut tưởng: Thành lập Cục Thông tin Quốc
tẻ
Hệ thống XHCN phấn dấu vì một sự thống nhất, nhất quán trên
cơ sở nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin Thế giới quan duy -vật
biện chứng và đuy vật lịch sử; quan điểm về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp,
về nhà nước chuyên chính vô sản , là những vấn để có tính nguyên tắc, bảo đảm cho hệ thống XHCN tồn tại như một khối thống nhất
về tư tưởng Quan hệ giữa các đảng Cộng sản đóng vai trò quyết
định đối với quan hệ hợp tác toàn diện và chặt chẽ giữa các nước XHCN Các cuộc gặp thường xuyên giữa các nhà lãnh đạo Đảng (ở
cả cấp độ song phương và da phương) đã giúp cho việc trao đổi kinh nghiệm, thống nhất trong nhận thức và trong hành động về các quy luật và mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như phối hợp hành động trên trường quốc tế của khối XHCN
'
Trong bối cảnh chiến tranlr lạnh, nhiệm vu dau tranh chong moi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, cơ hội, cái lượng đối với chủ nghĩa Mắc - Lê-nin được đề cao và nhiều khi dược thực hiện với những biện pháp kiên quyết Sau khi Quốc tế Cộng sản giải tán (1943), để đoàn kết những người cộng sản trên thế giới trong một sách lược
chiến lược cách mạng thống nhất các Đảng Cộng sản và Công nhân
Trang 31- ở chân Âu thấy cần phải có sự thống nhất lập trường và hành động
Theo sáng Kiến của Đẳng Cộng sản Liên Xô, từ 22 - 23/0/1947, tại Vác-sa-va (Ba Lan) đã diễn ra Hội nghị đại biếu các Đăng Cộng sản
Liên Xó, Ba Lan, Nam Tu, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni, Tiệp Khắc, Hung- taen, T-tt-H-a và Pháp Hội nghị quyết định thành lập cơ quan thông tin của một só Đẳng Công sản và Công nhân - KOMINFORM (thường gọi là Cục Thông tin quốc tố), - với nhiệm vụ tổ chức trao đối kinh nghiệm và phối hợp hành động siữa các đẳng một cách tự
nguyện Nếu như Quốc tế Cộng sản trước đây là tổ chức chỉ đạo
phong trào Cộng sản thế giới thì Cục Thông tin Quốc tế chỉ gồm các đảng Cộng sản ở châu Âu, và không quyết định đường lối
chung của các đảng mà chỉ phối hợp đường lối, chính sách Trong
Hội nghị này đại diện Đăng Cộng sản Liên Xô Đanov, trong bản báo cáo nhan để "Thế giới sau chiến tranh”, lần đầu tiên tuyên bo:
° “Thế giới chữa lầm 2 phe: phe để quốc từ bản do Mỹ đứng đầu và phe đân chủ chống đế quốc do Liên Xô đứng đầu” Cục Thông tín Quốc tế có trụ sở ở Ben-grat (Nam Tư) và xuất bản một tập san bang tiếng Nga và tiếng Pháp lấy tên `" Vì một nền hoà bình, vì một
nến đân chủ nhân dân”
— Trong quá trình hoạt động của mình, Cục Thông tin Quốc tế ở
mức độ nào đó, đã góp phản tác động đến sự trưởng thành về chính trị-tư tưởng và tổ chức của các Đảng Cộng sản, xúc tiến việc phối
hợp chung trong đường lối của Phong trào Công sẵn quốc tẾ tronp giai đoạn ngày sau Chiến tranh Tuy nhiên, Hội nghị Vac-sa-va
cũng có những đánh giá phần nào chưa thật chính xác, như vẻ vai
trò, tác dụng của phone trào giải phóng dan toc 6 A, Phi, Mỹ la- tĩnh Cũng chính từ Hội nghị này, trong quan hệ giữa các đang đã biểu lò những rạn nứt, bắt đồng vẻ quan điểm,
Ngày trong Hội nghị Vac-sa-va đoàn đại biểu Nam Tư đã không nhất trí với nhân định thể piới chía làm hai phe của Đanov và x?
Trang 32cho rằng nêu lên nhận định như thể sẽ làm cho ủnh hình thẻ siới thêm cảng thẳng, dẫn đến xung đột giữa hai khối Đóng va Tay Mau thuần giữa Nam Tư và Liên Xô càng trở nên càng thắng khi Josip Broz Tito công khai lên ấn đường lối tập thể hoá nông nghiệp của Sti-lbn, không chấp nhận sự can thiệp của Liên Xô vào việc xác
định đường hướng xây dựng XHN theo “con dường Nam Từ
thậm chi ban lãnh đạo Nam Tu đã cách chức 2 Bộ trường trong chính phủ vì nghĩ là thân Liên Xô (tháng 4/1948)
- Cục Thông tin Quốc tế đã mở một chiến dịch phê phán Đăng
Cộng sản Nam Tư và thông qua Nghị quyết lên án Đảng Công sản
Nam Tư "đã từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và thí hành chính sách
thù địch đối với Liên Xô, từ chối sự giúp đỡ của các chuyên gi
quân sự Liên Xô và hướng chính sách đối ngoại theo các cường
quốc phương Tây”U”, Sự bất đồng quan điểm siữa các Dang mau
chóng chuyển sang quan hệ nhà nước Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã gây sức ép mạnh mẽ với Nam Tư về các mái
chính trị, Kính tế và quân sự: huy bỏ các Hiệp ước hợp tác, hữu nghĩ
và các Hiệp định kinh tế, thương mại với Nam Tư, nhằm cô fap vi
lật đổ bạn lãnh đạo Nam Tư của Tho Ngày 26/2/1948, dàng Công
sản Nam Tư bị khai trừ khỏi Cục Thông tín Quốc tế và đến năm
1949, Cong hod XHCN Nam Tư cũng bị khái trừ Khói phe XHCN Trước tình hình như vậy, Nam Từ bắt đầu quay sang bất tay với các nước phương Tây
Sam Khi Sii-lim chết, bạn lãnh đạo mới ở Liên Xô đã thừa nhận những sai lầm trong quan hệ với Đảng Cộng sản Nam Tư và từng bước cải thiện quan hệ giữa hai Nhà nước Trong chuyến đi thâm Ben-grad từ 26/5 đến 3/6/1955 của Khơ-rutL-sốp, Bun-ga-nin va Mi- koy-an, hai bên đã nêu một nguyên tắc về “những hình thức khác nhìu của sự phát triển XHƠN” Tháng 6/1954 Cục Thông tin Quốc
Phe Noviet-Vuponlix dispute Phe Royal lastitute of Intemational Affairs London & New York (948 pat
Trang 33ax bee quam by wot Lote doan nhường ngưn CỚnG san Nang,
ca =
b Thane eR Oe Thang tro Quốc te đó thụng q12 nhỡ cuiyếy
moot aver của mó chức này Những năm sau đú trơng Tỉnh
An thường a nhất miền những hỡnh thức trao đúi, liờn hệ mới
Slo Teds Bet re Gh te Thunh lap Hor dbng teomy a
bà x
Tụ màn bố nảm 1947, khớ cỏc nước để quốc cat đứt quan hệ và nde tie: by hành chonh wach bao vỏy kớnh tế đúi với cỏc nước XHCN
ễng Àa, cỏc liếp định kớnh tế cong phương ngỏn hạn ký với Luờn
No đó ga cho cỏc mac này giải quyết dược những khú khản vộ nhhớu mức nhanh chong hàn gắn với thương chiến tranh, phuc hơi
ôm phỏi muền oem kinh vộ cua mỡnh và từ đú củng cố chớnh quyến
am cần nhăn đàm do Eăny Cụng sản lónh đạo mới được thiết lắp Tremg tee cum dibs Reavy sau chiến tranh, quan hẻ thương mai phõn
ee mame ob chit mới chiếu, với việc Liờn Xú là người cung cấp
-đằz vếy về xeưven, nhin liệu (Liờn Xú đỏm bao 98% năng lương, tham và cđnc 10 khớ đốc 9ỉ2“{ đầu lửa: 78% búng cho Bun-ga-
S ” Txy ôv lap tỏc mới ð mức đỏ khiờm tốn song tớnh đến nam
S82 cx ste ode Linh tế của cỏc nước Đụng Âu đó tăng gấp đúi so
wm rươớ chốn tranh ( (930)
De quan be hop La: được nàng cỏo và cú chất lượng với quy mũ
tong rải bơi căm phỏ: hợp tic mot cỏch cú kế hoạch giữa nhiều
“=x t6 cơ kở Bồ nẻưycn và bỡnh đỏng, từ ngày 5 - 8/1/1949, tại
Hes aie jamin ke o Mat-acova, du diộn của 7 nước Liộn Xo, An-
bee Gen reer Ba Lan Hung-ga-n, Ru-ma-ni va Tiệp Khỏc đó gave! dah than lấp Hồn đồng Tương trợ Kinh tẻ (SEV) Nam 1950
Chai, X*Ä ho ngàn và nem cao cua cỏc hị € #4 BI w 1% Nguyờn bin neng Neu ath, XHON Nab Quan X ‘ be quốc :
ĂM
Trang 34CHDC Dur cũng tham gia Theo Điển lệ của SEV tđược thông qua năm 1959), nhằm mục địch tầng cường hợp tác đa phương của các nước xã hội chủ nghĩa, SEV có nhiệm vụ tổ chức trao đổi kinh
nghiệm Kỹ thuật, giúp đỡ và bổ sung cho nhau vẻ nguyên vật liêu may mọc, thiết bị, phối hợp các kế hoạch kinh tế quốc đân bàng
nhiều hình thức từ thấp đến cao để cùng nhau phát triển trên cơ sơ
phan cong lao đông có hiệu qua nhất Các cơ quan chính của SEV bao sểm: Kỳ họp Hỏi động (thông thường do những người đứng
đầu chính phủ) Hỏi đảng hành pháp (đai điện của tất cả thành viên SEV\ các Ủý ban thường xuyên và chuyên trách Bạn Thư ký
SEV ra đời đã thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế NHƠN góp
phan to lớn vào phát triển kinh tế với tốc độ nhanh chóng ở Liên Xỏ
và các nước NHCN Đông Âu Năm 1950, tý trong công nghiệp của
họ chỉ mới chiếm 20 t trọng cóng nghiệp thể giới nhưng đến nam 1955 tang lén 27% va nim 1960 là 34%'^
24.23 Trén fink vic an ninh-qudn si: Thanh lap khoéi Vae~sa-va-
Mối quan hệ trong lĩnh vực này có nguồn gốc ngay từ sự ra đời
của cac nước XHCN: họ đã hoặc cùng nhau chiến đầu chống phảt~
xí: hoặc Iạo tình thê cách mạng thuận lợi cho cuộc đâu tranh giải
phóng dân tóc giành chính quyền về tay giải cấp công nhân và
nhàn đản lao động khác
Năm 1949 các nước phương Tảy đã thành lắp Liên mình quản
su Bac Dai Tay Duong 1N.ATO} tiếp đó họ phục hồi và tải vũ trang Tay Duc cuối cùng là quyết định kết nạn Tây Đức vào NATỦ de
doa nghiêm trong đến an nình của Liên Nó và các nước xã ha cha nghĩa khác Khi các nước phương Tây phẻ chuân Hiệp Luận
Đón và Pa-ri tháng 5/1955 (về việc Tây Đức giá nhập NÀTOI Liên
*A Grỏ-mư-ko chủ biến Từ điển ngoại gian, Nắb Khoa học M I9NE h Si
$3 Ran tiếng
“ nm
Trang 35Xô đã tuyên bộ huy bỏ các Hiệp ước đồng mình đã ký với Anh nam
1942 va với Pháp năm 1944 Tiếp đó Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu (gồm An-ba-ni, Ba Lan, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri, CHDC
Đức, Ru-ma-ni và Tiệp Khắc) đã tiến hành cuộc họp khẩn cấp tại
Vac-sa-va từ ngày LT - 14/5/1955 CHND Trung Hoa cũng tham dự với tư cách quan sát viên Các nướẻ đã ký kếU “Hiệp ước hữu nghị hợp tác và giúp đỡ lần nhau” (còn gọi là khối Hiệp ước Vác-sa-va) Phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc các thành viên Hiệp tước
cam kết không dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và giải quyết các
vấn để tranh chấp bằng biện pháp hoà bình; tuyên bố sẵn sàng tham giá mọi hoạt động quốc tế nhằm tìm kiếm các biện pháp tích cực để
bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới, để cắt giảm vũ khí và cấm các
loại vũ khí giết người hàng loạt Các bên ký kết thỏa thuận với nhau
sẽ trao đổi ý kiến về tất cả các vấn đề quốc tế có, Hên quan đến lợi
ích chung Trường hợp một hay nhiều nước tham gia Hiệp ước bị nước khác tấn công thì các nước ký Kết có nhiệm vụ giúp đỡ bằng
mọi phương tiện, kể cả dùng lực lượng vũ trang Để điều hoà hoạt động chung, Hội đồng tư vấn chính trị và Bộ chỉ huy thống nhất các
lực lượng vũ trang của các nước thành viên được thành lập Hiệp ước Vác-sa-va cho phép bất cứ nước nào cũng có thể gia nhập, nếu
họ sản sàng bảo vệ hoà bình và an nĩnh chung Hiệp ước có giá trị trong 20 năm và được tự động gia hạn 10 nam một, nếu không có sự huỷ bỏ của các thành viên Đại biểu nước CHND Trung Hoa tuy không ký vào Hiệp ước nhưng tuyên bố hoàn toàn đồng tình và ủng
hộ Hiệp ước Vác-sa-va, đồng thời nhấn mạnh trong trường hựp nổ
ra chiến tranh xâm lược ở châu Âu thì nhân dân Trung Quốc sẽ cùng nhân dân anh em đấu tranh cho tới thắng lợi cuối cùng
Hiệp ước Vac-sa-va thực chất là Liên mình quân sự - chính trị mang tính chất phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa châu Au, trong đó Liên Xô dóng vai trò trụ cột Tổ chức này có nhiệm vụ báo
vệ lợi ích của các nude XHCN trước áp lực của chủ nghĩa để quốc
36
Trang 36và cũng cố những thành quá chính trị mà các lực lượng XHÉCN thu duge trong va sau CTTG-UL Nhu vậy, tính đến giữa thập ký 50, ở châu Âu lại-tồn tai song song hai khối quân sự là NA TO và Vác-sa-
va Sự tồn tại hai Liên mình quân sự đối lập cùng với việc triển khai: các lực lượng quân đội và vũ khí hiện đại ở rất gần nhau, làm cho -stình hình châu Âu thêm cang-thẳng và-dễ có nguy cơ bùng nổ Mật khác, khối Vác-sa-va có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm sự công nhận pháp lý quốc tế đối với CHDC Đức giải quyết những vấn đề
có liên quan đến Tây Berlin, xoá bỏ Hiệp ước Muyních, ngăn chân
âm mưu bành trướng của NATO Có thể nói tổ chức Hiệp ước
Vác-sa-va là một trong những nhân tố quan trọng duy trì sự ổn định
của trật tự thế giới hai cực Xô-Mỹ
Tóm lại, cho đến gitta thập kỹ 50, hệ thống XHCN thế giới ra - đời, được cùng cố và ngày càng phát triển thể hiện qua các mi quan hệ liên kết ‘chat chẽ và đa dạng nêu trên Hệ thống này trở thành đối trọng hữu hiệu trước chủ nghĩa tự bản, tạo ra cục diện có lợi cho chủ nghĩa xã hội, cho phong trào giải phóng dẫn tộc
x2 2 Giai đoạn từ giữa thập kỷ 50 đến đầu thập ky 70:
2 2, 1 Những van dé nay sinh trong quan | hệ giữa các tước xã hội chủ nghĩa
Sau khi Sta;lin từ trần năm 1953, Ban lãnh đạo mới của Liên
Xỏ do Khơ-rút-sốp dứng dầu đã công khai phê phán những sai lẩm cua Sta-lin đặc biệt là tệ sùng bát cá nhân trong Đại hội Dang Cong san Lién XO lân thứ XX Vẻ chính sách đối ngoại, Liên Xô chủ [rương “chung sống hoà bình” với các nước phương Tây, thừa nhận
có sai lầm trong ,quan hệ với Nam Tư và chủ trương bình thường hoá quan hệ với nước này Sự thay đối về suy nghĩ và đường lối này không có sự thông báo trước cho các nước xã hội chủ nghĩa khác
nên đã gây ra một cú sốc lớn Trong các nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn chưa có sự chuẩn bị về tư tưởng, nên đã gây hoang mang
37
Trang 37trong hàng ngũ lãnh đạo Khi sự việc tiết lộ ra công khai, quần chúng nhàn dân ở các nước Đông Âu yêu cầu xem xét lại những
vấn đề đã xử lý trong quá khứ Cuộc đấu tranh đòi “dân chủ hoá”,
“phi Sta-lin hoa” duoc cham ngòi từ Liên Xô đã lan sang một số nước Đóng Âu, biến thành những cuộc biểu tình lộn xôn, rối loạn không kiểm soát được như ở Ba Lan và Hung-ga-ri
2.2.1.1 Cuộc nối đậy ở Ba Lan
Trước đây ở Ba Lan, do ảnh hưởng của những người lãnh dao Sta-linít cũng đã từng xảy ra những vụ thanh trừng cấn bộ, đẳng viên một cách oan trái, điển hình là vụ thanh trừng và bắt giam cựu
Tổng Bí thư Đảng Vladislav Gomulka năm !951 Sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, phong trào đòi “dân chủ hoá”, "phi Sta-lin hoa” Jan ra nhanh chóng Ngày 28/6/1956, ở trùng tâm công nghiệp Poznan, công nhân cùng sinh viên đã xuống đường biểu tình đòi dân chủ, đòi thả những người bị bất oan trước đây và chống lại
những người lãnh đạo theo đường lối Sta-lin Trước sức ép của quần
chúng, ngày 4/8/1956, Gomulka được giải phóng khỏi nhà tù và
khôi phục đảng tịch, rồi sau đó được bầu vào Bạn Chấp hành Trung ương Đảng
GomulRa phê phấn chính sách nông nghiệp của Chính phú đẫn đến sự thiểu hụt lượng thực, và cho rằng cuộc bạo loạn ở Poznan là xuất phát từ sự “bất mãn sâu sắc của giai cấp công nhân” Gomulka
tranh thú được sự ủng hộ của quần chúng, ngày 21/10/1956 được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Những
người theo đường lối Sta-lin bị gạt ra ngoài, kể cả Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soát Liên Xô gốc Ba Lan Rokosowsky,
Ban Lãnh đạo mới ở Ba Lan do Gomulka đứng đầu khôn khéo trone việc xử lý mối quan hệ với Liên Xô, vẫn công khai tuyên bố
là nước đứng trong phe xã hội chủ nghĩa và thành viên của Hiép ude Vac-sa-va, Lý do là vị ảnh hưởng của Liên Xô còn rất lớn ở đây,
Trang 38đồng thời cũng vì lợi ích của Ba Lan cần có Liên Xô để bảo vệ an ninh và biên giới Oder - Neisse ở phía Tây mà các nước phương Tân chưa chịu thừa nhận Gomulka đã ổn định được tĩnh hình Ba Lar trong một thời gian
2.2.1.2 Cuéde bue loan o Hung-ga-ri
Từ khi thiết lập chế độ dân chủ nhân dân, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được trong sự nghiệp xây dựng kinh tế, Baa lãnh đạo Nhà nước cũng mắc phải một số sai lầm đo vận dụng máy móc những kinh nghiệm của Liên Xó, quá chú trọng phát triển công nghiệp nặng trong khi khả nâng đất nước không cho phép, làm ảnh hướng đến việc cải thiện đời sống của nhân dân; mặt khác do ảnh hưởng của tệ sùng bái cá nhân, dân chủ nội bộ bị hạn chế dẫn đến việc xử lý oan nhiều cán bộ trong Đảng, Đại hội XX Dang Cong sản Liên Xô phê phán Su-lin, thì lập tức ở Hung-ga-ri cũng có phong trào đòi xét hại những chủ trương, chính sách của Ban lãnh đạo do RaRosci cẩm đầu Những người trí thức Hung-ga-ri tập hợp trong Câu lạc bộ Pé-t6-fi cho rang Lién X6 đã hạn chế nên độc lập cla Hung-ga-ri, va phát động phong trào dòi dân chú và độc lập Rakosei da ra lénh giai tin Cau lạc bộ Pé-t6-fi, nhung van không ngăn nổi phong trào quần chúng ngày càng lan rộng, nhất là trong thanh niền và sinh viên, phần đốt chính sách của Chính phú Ngày
18/7/1956 Rakosci phát từ chức Lãnh tụ Đăng và một số cần bộ bị
xử Øøm trước đây được phục hồi
Sinh viên và thanh niên tiếp tục xuống dường biểu tình lôi kéo
cả một bộ phận lực lượng vũ trang, biến thành bạo động vũ trang Ngày 24/10/1956, Imre Nagy, một uy viên Bộ Chính trị của Đăng,
người tín thành cải cách, được yêu cầu đứng ra lập Chính phủ mới
Những lực lượng của giai cấp tư san phái hữu lợi dụng sự bất
mãn của nhân dân đối với những sai lầm của Ban lãnh dao cũ và
được sự giúp đỡ của các thể lực để quốc chủ nghĩa bên ngoài đã tìm
39
Trang 39cách thay đổi thành phần trong Chính phú dé thực hiện diễn biển hoà bình, hướng Hung-ga-ri ra khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa Chính phủ Napy đã không ngăn cần các cuộc biểu tình bạo động, khủng bố giết hại những đẳng viên Cộng sản, cướp phá các kho vũ khí, tài sản công cộng, các cơ quan của Dang và Nhà nước Đồng thời Nagy tuyên bố Hung-ga-ri rút khói Liên mình Vác-sa-va, đi theo con đường trung lập và để nghị các chính phủ Mỹ, Anh, Pháp đảm bao nên trung lập cho Hung-ga-ri Các nước phương Tây hướng ứng và ủng hộ Nagy Mỹ tuyên bố viện trợ cho Hung-pa-ri
20 triéu USD
Nước Cộng hoà Nhân dân Hung-ga-ri có nguy cơ bị thủ tiêu Những lực lượng chân chính trong Đăng Lao Động và Chính phú đã
tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Janos Kađar, một lãnh tụ Đăng vừa
dược giải phóng Kkhỏi nhà tù, dứng ra lập Chính phủ mới ngày
4/11/1956 để bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội ở Hung-
ga-ri Chính phủ Kadur kêu gọi Liên Xô giúp đỡ để bảo vệ những người dân vô tội, khôi phục lại trật tự đã bị những phần tử bạo động phá hoại, bảo vệ chính quyển của nhân đân lao động Hồng quân Liên Xô lập tức tiến vào thủ đô Bu-da-pet dẹp tan cuộc bạo loạn trong thời gian ngắn lập lại trật tự, giúp Chính phủ Kadar ổn định tình hình trên toàn bộ lãnh thổ Hung-ga-ri
Hung-ga-ri đã qua được nguy cơ một cuộc khủng hoàng chính trị Chính phủ Kadar kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ xây dựng lại đất nước đã bị thiệt hại nhiều về vật chất do cuộc bạo loạn
gây ra và đã được các nước anh em hưởng ứng nhiệt liệt
Sau khi dẹp tan cuộc bạo động ở Hung-ga-ri, ngày 30/10/1956 Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố khẳng định lại những cơ sở phát triển và củng cố tình hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa khác là hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ, độc lập và chủ quyển quốc gia, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau
40
Trang 40Những nguyên tắc trên lại được khang định lần nữa trong Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế năm 1957 6 Mát-xcơ-va, Thực hiện những nguyên tắc đó một cách nghiêm chính sẽ tạo nên quan hệ hợp tác chặt chẽ và đoàn kết anh em giữa
các nước xã hội chủ nghĩa và Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Những sự kiện diễn ra ở Ba Lan và Hung-ga-ri năm 1956 trong khi Liên Xô đã bắt đầu có tín hiệu hoà dịu với Mỹ bằng chủ trương
“chung, sống hoà bình”, chứng tỏ “chiến: tranh lạnh” còn gay gất
Đế quốc Mỹ không bỏ lỡ dịp để thực hiện chính sách "đẩy lùi chủ nghĩa Cộng sản” Họ đã ủng hộ mạnh mẽ các cuộc bạo loạn và cố gang thực hiện "diễn biến hoà bình” để tìm cách đưa các nước xã
Các nước, xã hội chủ nghĩa cũng đã rút ra được nhiều bài học trong việc vận dụng những quy luật phô biến và những đặc thù
tiêng của từng nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, và nhất là
những nguyên tắc trong quan hệ giữa các nước với nhau cần được tôn trọng một cách nghiêm chỉnh, thì mới tạo ra được sự hợp tác và đoàn kết chặt chẽ trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và trong Phong trào cộng sản và công nhân thế giới
2.2.1.3 Những tấn đè bát đồng trong quan hệ Xô - Trung Thời kỳ này là thời kỳ tốt đẹp nhất trong quan hệ Xô - Trung như, phan trên đã trình bày, nhưng cũng đã xuất hiện những Khác biệt về quan điểm, nhất là sau Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô thứ
XX Nếu ngược dòng lịch sử xa hơn nữa cũng đã thấy những biểu hiện mâu thuẫn giữa hai Đăng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc từ
hồi Sta- lin con sống, nhưng vấn đề được giữ kín trong nội bộ
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô 1956, Khơ-rút-sốp đã: lên
án tệ sùng bái cá nhân của Sta-lin, và để ra chính sách “chung sống
hoà bình” với các nước đế quốc Sự thay đối về đường lối chính
Al