Thuở xa xưa, trong nhân dân đã lưu truyền những huyền thoại về thời đại Hùng Vương - thời hình thành nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.. Tình hình phân hoá xã hội Sự phát triển củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LICH SU NHA NUGC
WÄ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
i) NHA XUAT BAN CONG AN NHAN DAN
Trang 2GIAO TRÌNH LỊCH SỬNHÀ NƯỚC
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 341-2017/CXBIPH/107-01/CAND
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
PHAN HIỆU TẠi TP.HCM
Trang 6PHẦN THỨ NHẤT
CHUONG 1
QUA TRINH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN
Ở VIỆT NAM - NHÀ NƯỚC VĂN LANG-ÂU LẠC
Lịch sử mỗi quốc gia khởi điểm từ sự hình thành của nhà nước
đầu tiên Thuở xa xưa, trong nhân dân đã lưu truyền những huyền
thoại về thời đại Hùng Vương - thời hình thành nhà nước đầu tiên
trong lịch sử Việt Nam Dựa vào truyền thuyết dân gian và thư tịch
cổ Trung Hoa, nhiễu học giả trung đại và cận đại đã phác họa
được một phần bức tranh thời đại Hùng Vương tổn tại khoảng
2000 năm (từ thiên kỉ IT tr.CN đến thế kỉ 1 - ID ở khu vực Bắc Bộ
và Bắc Trưng Bộ ngày nay
Trong mấy chục năm gan đây, thời đại Hùng Vương được
nhiều nhà sử học, khảo cổ học, đân tộc học, ngôn ngữ học, văn
hoá học, nhân chủng học nghiên cứu công phu và đã xác định
được sự tổn tại của một nên văn minh cổ xưa và sự hình thành nhà
nước đầu tiên của người Việt cổ
Các nhà khảo cổ học đã khai quật hàng tram di tich khảo cổ
Tất cả các di tích khảo cổ đó kết thành diễn biến văn hoá vật chất
liên tục từ sơ kì thời đại đồng thau đến sơ kì thời đại đồ sắt Địa
bàn phân bố và niên đại của các di tích khảo cổ này trùng hợp với
phạm vi không gian và thời gian của thời đại Hùng Vương đã được
phản ánh trong truyền thuyết dân gian và sử sách cổ Các nhà khảo
cổ học phân chia các di tích khảo cổ đó thành bốn giai đoạn phát
Trang 7
triển liên tục bay còn gọi là bốn nền văn hoá kế tiếp như sau:
- Giai đoạn Phùng Nguyên thuộc sơ kì thời đại đồng thau, tồn
tại trong khoảng nửa đầu thiên kỉ thứ II tr.CN
- Giai đoạn Đồng Đậu thuộc trung kì thời đại đồng thau, thuộc
nửa sau thiên kỉ II tr.CN
- Giai đoạn Gò Mun thuộc hậu kì thời đại đồng thau, khoảng từ
cuối thiên kỉ II tr.CN đến đầu thiên kỉ I tr.CN
- Giai đoạn Đông Sơn thuộc sơ kì thời đại đồ sắt, từ đầu thiên
kỉ H tr.CN đến vài thế kỉ s.CN Như vậy, đầu giai đoạn Đông Sơn
thuộc thời đại Hùng Vương, còn cuối thuộc thời Bắc thuộc sau đó
Thời đại Hùng Vương gồm hai thời kì: Thời Văn Lang của các
đời vua Hùng và thời Âu Lạc của An Dương Vương Nước Âu Lạc chỉ
tồn tại trong thời gian ngắn nên được coi như giai đoạn phát triển
liên tục của Văn Lang và cũng nằm trong cùng thời đại Hùng Vương
I TIỀN ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NHỮNG YẾU TỐ THÚC ĐẨY
NHÀ NƯỚC RA ĐỜI
1 Quá trình phát triển của kinh tế và tình hình phân hoá
xã hội
a Quá trình phái triển của kinh tế
Vào đầu thời kì Hùng Vương, tương ứng với giai đoạn Phùng
Nguyên, công cụ bằng đá (lưỡi rìu đá, lưỡi cuốc đá ) vẫn hoàn
toàn chiếm ưu thế, lúc này đồng còn rất hiếm và thường đề chế tác
đồ trang sức Ở giai đoạn này, nghề chăn nuôi, nghẻ gốm đã khá
phát triển và đã xuất hiện nghề luyện kim đồng thau nhưng săn
bắn, hái lượm sản vật của thiên nhiên và trồng trọt làm nương rẫy
vẫn là chủ yếu
Qua các giai đoạn Đồng Đận, Gò Mun, nhất là từ Đông Sơn,
a
(1) Tên gọi của từng giai đoạn - nên vấn hoá được lấy bằng tên địa phương mà ở
đó có dì tích khảo cổ học đầu tiên được phát hiện của nên văn boá đó: Phùng
Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun Vĩnh Phú (Phú Thọ), Đông Sơn (Thanh Hoá)
6
Trang 8công cụ lao động đã có bước tiến lớn lao, chủ yếu là công cụ bằng đồng thau và bất đầu xuất hiện công cụ bằng sắt Ngoài rìu đồng được sử dụng để khai phá đất đai, từ giai đoạn Gò Mun đã tìm thấy lưỡi liểm đồng và đến giai đoạn Đông Sơn thì tìm thấy hàng loạt lưỡi cày đồng, nhíp đồng, lưỡi cuốc, mai, thuống bằng đồng Liềm đồng và nhíp đồng là những công cụ cắt, dùng để thu hoạch lúa; lưỡi cầy, cuốc, mai, thuống là những công cụ làm đất để gieo trồng Đặc biệt là lưỡi cày đồng đã tìm thấy ở các di tích thuộc văn hoá Đông Sơn với số lượng lên tới hàng trăm gồm nhiều loại với
kích thước và hình đáng khác nhau Riêng ở Cổ Loa (Hà Nội) đã
tìm thấy gần 100 lưỡi cày đồng Đây là lưỡi cày dùng để rẽ đất và lật đất một cách liên tục bằng lực kéo Bước chuyển từ nền nông
nghiệp dùng cuốc sang nên nông nghiệp dùng cày đã góp phần nâng cao năng suất lao động và nền kinh tế bao gồm nhiều ngành
nghề ngày càng phát triển
Về trồng trọt, vào hậu kì thời đại đồ đồng và sơ kì thời đại dé
sắt cư dân đã mở rộng địa bàn cư trú, trần xuống chỉnh phục
vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bác Trung Bộ Thời kì này, cây trồng
chủ yếu là lúa nước Theo tài liệu khảo cổ học, phân tích 4 mẫu
thóc cháy và trấu lấy từ các di tích thì đều có niên đại tr.CN Cùng với nghề trồng lúa nước, nghề trồng rau củ, cây ăn quả tiếp tục phát triển Hạt na, hạt hoàng ngô, kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở di tích Tràng Kênh cho thấy có những cây thuộc họ đậu, họ bầu bí, họ dâu tằm Trnyền thuyết dân gian có nói về việc trồng dưa hấu trong chuyện Mai An Tiêm -
Chăn nuôi cũng được đẩy mạnh theo đà của trồng trọt Trâu,
bò, gà, chó, lợn là những gia súc phổ biến mà xương, răng của chúng được tìm thấy trong nhiều di tích khảo cổ học, đặc biệt từ giai đoạn Gò Mun đến giai đoạn Đông Sơn, xương trâu, bò nhà được tìm thấy ngày càng nhiều Trong di chỉ Đồng Đậu đã tìm thấy tượng gà bằng đất nung Đến giai đoạn Đông Sơn tìm thấy tượng gà bằng đồng thau & Chién Vay, Vinh Quang
Hái lượm và săn ban van tồn tại nhưng bị đẩy xuống thứ yếu
7
Trang 9
bởi trồng trọt và chăn nuôi cho sản phẩm nhiều hơn và không bấp
bênh như bái lượm và săn bắn
Các nghề thủ công cũng phát triển mạnh Nghề làm đồ gốm
ngày càng theo hướng thực dụng với hoa văn đơn giản Những đổ
đựng như chum, vại, nồi, niêu, bát, đĩa được tìm thấy rất nhiều ở
các di tích khảo cổ học
Nghề dệt đã khá phổ biến Các loại vải mịn, vải thô còn in dấu
trên đồ gốm Trong một ngôi mộ ở Châu Can đã tìm thấy những
mảnh vải Hình người trên một số đồ đồng thuộc Đông Sơn, nhất
là trên trống đồng, thạp đồng đều mặc áo, mặc váy, đóng khố, Sự
phát triển của nghệ luyện kim (đúc đồng, luyện sắt) có ý nghĩa
như cuộc cách mạng, có tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống
kinh tế và cơ cấu xã hội, Nghề đúc đồng xuất biện từ đầu thời
Hùng Vương, phát triển qua các giai đoạn Đồng Đận, Gò Mun và
đạt đỉnh cao ở giai đoạn Đông Sơn Điển này được chứng thực
bằng việc phát hiện ra các cục xỉ đồng và các khuôn đúc đồng, đặc
biệt là các hiện vật đồng nhiều vẻ số lượng, phong phú vẻ chủng
loại như rìu, giáo, mũi tên, lưỡi cày Trong đó, tiêu biểu nhất là
các trống đồng thời Đông Sơn Cũng đến giai đoạn Đông Sơn,
nghề luyện sắt đã xuất hiện Dấu tích của lò luyện sắt xốp ở Đồng
Môn (Nghệ An), các ống bễ ở Vinh Quang (Hà Nội) Câu chuyện
huyền thoại về ngựa sắt, nón sắt, roi sắt của người anh hùng làng
Gióng cũng phản ánh phần nào nghề luyện sắt của cha ông fa
Ngoài ra, những nghề thủ công khác cũng được phát triển như
nghề mộc, nghề đan lát, nghề làm đá
Tóm lại, trong khoảng 2000 năm tr.CN, sức sản xuất và nền
kinh tế thời đại Hùng Vương từ chỗ còn mang dáng dấp kinh tế tự
nhiên nguyên thuỷ ở giai đoạn đầu trải qua những bước phát triển
lân dai đến giai đoạn cuối đã có những biến đổi lớn lao chuyển
dần sang nền kinh tế sản xuất là chủ yếu
Những công cụ bằng đồng thau, bằng sắt thay thế dần công-cụ
bằng đá Con người từ vùng đổi núi, trung du tràn xuống khai phá
vùng đồng bằng rộng lớn Từ trồng trọt nương rẫy là phổ biến
§
Trang 10chuyển sang lấy nông nghiệp trồng lúa nước làm chủ đạo, từ nông
nghiệp dùng cuốc sang nông nghiệp dùng cày với lưỡi cày bằng
kim loại và sức kéo của gia súc
b Tình hình phân hoá xã hội
Sự phát triển của sức sản xuất và kinh tế đã tạo ra sản phẩm
thặng dư trong xã hội, từ đó tác động trực tiếp tới phân hoá xã hội,
thể hiện nổi bật ở hai hiện tượng:
Một là vào cuối thời Hùng Vương, những gia đình nhỏ đã ra đời và trở thành tế bào kinh tế xã hội đồng thời chế độ mẫu hệ cũng chuyển dân sang chế độ phụ hệ Những truyền thuyết Sơn Tinh-Thuy Tinh, Chử Đồng Tử-Tiên Dung, trầu cau déu phan ánh tập tục cư trú bên nhà chồng - hình thức hôn nhân phụ hệ của gia đình nhỏ Theo Tiền Hán thư, kết quả đầu tiên điều tra hộ khẩu
của nhà Hán vào đầu thời Bắc thuộc cho biết: Quận Giao Chỉ (Bắc B@) có 92.440 hộ, 746.237 khẩu, trung bình mỗi hộ có 8 người; quận Cửu Chân (Bắc Trung Bộ) có 35.743 hộ, 166.613 khẩu, trung
bình mỗi hộ có khoảng 4 - 5 người Như vậy, những gia đình nhỏ chắc chấn phải được hình thành từ trước thời Bắc thuộc, tức cuối thời Hùng Vương Tuy nhiên, bấy giờ truyền thống và tàn dư của
chế độ mẫu hệ đại gia đình còn đậm nét
Hai id sự hình thành và tổn tại bền vững của công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất Theo C Mác, công xã nông thôn là hình thái tố chức xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan rã của công xã nguyên thuỷ và quá độ sang xã hội có giai cấp Công xã nông thôn có đặc trưng cơ bản khác với công xã thị tộc là: Trong công xã nông thôn, tuy ruộng đất vẫn thuộc quyền sở
hữu công xã nhưng đã được phân chia cho các thành viên công xã,
những gia đình nhỏ để canh tác và các thành viên được quyền sở hữu sản phẩm lao động của mình ,
Những di tích khảo cổ học thời Hùng Vương cho thấy những chứng tích về sự tụ cư và định cư của công xã nông thôn trên những
phạm vi thường rộng hàng ngàn mết vuông cho đến một vài vạn mét
9
Trang 11đồng họ như Hoàng Xá, Cao Xá, Lê Xá, Đặng Xá, Dương Xá
Khi phân tích về những hình thái kinh tế có trước nên sản xuất
tư bản chủ nghĩa, C Mác đã phân biệt các loại hình công xã nông thôn khác nhau trên thế giới: 6 phương Tây cổ đại, công xã nông
thôn chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định, sau đó nó
nhường bước cho sự hình thành chế độ tư hữu và xã hội có giai
cấp Còn ở Châu Á, công xã nông thôn có thời gian tồn tại lâu dài,
quyền sở hữu ruộng đất thuộc vẻ công xã, cá nhân chỉ có quyển chiếm hữu và sử dụng
Ở thời Hùng Vương, công xã nông thôn với chế độ công hữu
về ruộng đất đã xuất hiện và đã tồn tại tương đối bền vững Những
từ "ruộng lạc" (lạc điền), "dân lạc" (lạc dân) chép trong thư tịch cổ
cho thấy ruộng đất tr hữu chưa xuất hiện ở thời Hùng Vương,
Toàn bộ ruộng đất cày cấy cùng rừng núi, sông ngồi, ao đầm trong
phạm vi công xã đều thuộc quyền sở hữu của công xã Ruộng đất được phân cho các gia đình sử dụng Công xã có thể giữ một phần ruộng đất để cày cấy chung và sản phẩm được đùng vào-những chỉ phí công cộng Công việc khai hoang, làm thuỷ lợi được tiến hành bằng lao động hiệp tác của toàn thể công xã Ở vùng đồng
bằng mãi sau này vẫn tồn tại chế độ công điển, công thổ và đến
thế kỉ XV còn có những làng xã không có ruộng đất tư hữu, Ở miễn núi cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều vùng tộc người thiểu số vẫn chưa biết đến ruộng đất tư hữu hoặc ruộng đất tư mới chỉ manh nha
Có lẽ đây cũng là đặc trưng cơ bản của công xã nông thôn đã
tổn tại trong phương thức sản xuất châu Á nói chung Khi nghiên
10
Trang 12cứu về phương thức sản xuất châu A, Ph Angghen đã nhận định:
“Việc không Có chế độ tư hữu ruộng đất quả thật là chìa khoá để hiểu toàn bộ phương Đông"
Ba là xã hội người Việt cổ bị phân hoá thành các tầng lớp
người khác nhau về địa vị kinh tế-xã hội Với điều kiện tài nguyên
phong phú, đất đai phì nhiêu của vùng châu thổ, nhất là với công
cụ bằng kim loại ở cuối thời Hùng Vương, con người có thể đạt
năng suất lao động cao hơn, làm ra được nhiều sản phẩm hơn, không những đủ để nuôi sống họ mà còn có sản phẩm dư thừa để tích luỹ, nghĩa là đã có sản phẩm thặng dư trong xã hội Những đồ đựng có kích thước lớn bằng đất nung và bằng đồng thau ở các di tích khảo cổ học được coi như chứng cứ vẻ sự tồn tại sản phẩm thặng dư trong xã hội
Sự phát triển của sức sản xuất với sự xuất hiện của sản phẩm
thặng dư trong xã hội đã dẫn đến sự tích tụ và phân hoá giàu
nghèo Kết quả khảo cổ học nghiên cứu vẻ những khu mộ táng
thời kì Hùng Vương cho thấy có sự khác biệt rõ ràng vẻ cách
thức mai táng, số lượng và giá trị đồ tuỳ táng giữa các chủ nhân
của những ngôi mộ Tuy nhiên, sự phân hoá giàu nghèo đó chưa
thật sâu sắc Những mộ có nhiều hiện vật chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ và thường có công cụ sản xuất trong đó Điều đó chứng td lớp người
giàu sang chưa hoàn toàn cách biệt và đối lập với nhân dân lao động Loại mộ phổ biến, chiếm đa số vẫn là những mộ có cách
mai táng bình thường (mộ đất, mộ vò úp ), có số lượng đồ tùy tầng trung bình Có thể hình dung ra bức tranh tổng thể về xã hội
bấy giờ là trên cơ sở tan rä của cộng đồng nguyên thuỷ, một số người rơi xuống địa vị thấp kém, một số người khác vượt lên trên
và có nhiều của cải, cồn lai da sé dan cư có mức sống trung bình
Bức tranh đó cũng được phác thảo trong truyền thuyết dân gian
và thư tịch cổ Theo truyền thuyết dân gian được tập hợp trong
(1)-Xem: C Mác, Ph Ấngghen, V.I Lênin, Bàn về xã hội tiền tr sản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tr 49
1l
Trang 13
Lãnh Nam chích quái và thư tịch cổ (Việt sử lược, Đại Việt sử kí
toàn thư ), trong xã hội thời Hàng Vương có lớp người thống trị
gồm Hùng Vương, lạc hầu, lạc tướng, bổ chính, quan lang, mị
nương và lớp người lao động thấp kém gọi là thần bộc nữ lệ hay
nô tì ) Những thư tịch xưa nhất của Trung Quốc như Giao châu
ngoại vực kí, Quảng châu kí chép vé tình bình nước ta trước thời
Bắc thuộc, có nói tới lớp dân cư đông đảo trong xã hội gọi là "đân
Lạc" - những thành viên của công xã nông thôn
Về mức độ của sự phân hoá xã hội cuối thời Hùng Vương hiện
có hai loại ý kiến khác nhau Một số học giả cho rằng, xã hội đó
đã phân chia thành giai cấp, tuy chưa ở mức độ sâu sắc như
phương Tây cổ đại, bởi chỉ khi nào có giai cấp mới có nhà nước
Còn phần đông các học giả cho rằng, xã hội cuối thời Hùng
Vương chưa phân chia thành các giai cấp mà mới phân chia thành
các tảng lớp nhưng nhà nước vẫn xuất hiện bởi còn do những yếu
tố khác thúc đẩy
Các nguồn tư liệu cho thấy cuối thời Hùng Vương là giai đoạn
sơ kì của sự phân hoá giải cấp Trong xã hội bấy giờ đã hình thành
các tầng lớp sau:
Tầng lớp quý tộc: Đó là những người vốn là con cháu của các
thủ lĩnh liên minh bộ lạc, tộc trưởng thị tộc cùng gia đình của họ,
được truyền thuyết dân gian và sử sách gọi là Hùng Vương, lạc
hầu, lạc tướng, bồ chính Họ có quyền thế tập địa vị và quyền lợi
của cha ông Nhờ địa vị, quyển năng mà họ có được hoặc được
cộng đồng (liên minh bộ lạc hoặc bộ lạc hay công xã) trao cho, họ
có được một phân sản phẩm thặng dư trong xã hội và một số người
(1) Những tên họ Hùng Vương, lạc hấu, bố chính, quan lang, mị nương và
những đanh từ khác như Văn lang, Âu Lạc, Thục phán, An Dương Vương đều là
những từ mang âm Hán-Việt Do đó những tên gọi:này chắc chắn là do truyền
thuyết dân gian và thự tịch cổ đời sau đặt cho Còn những tên gọi thật ở thời Hùng
‘Vuong [a gì thì ngày nay vẫn chưa biết được chính xác vì thời Hằng Vương, nước
ta chưa bị ảnh hưởng của văn hoá Hán
) Tạm dùng khái niệm ting lớp để chỉ sự sơ khai của giai cấp hoặc sự phôi thai
của giai cấp
12
Trang 14phục vụ Dần dan ho tích tụ trong tay nhiều quyền lực, của cải và
người phục dịch, sống cách biệt với đông đảo nhân dân lao động Sự cách biệt tuy chưa cao nhưng đã được phản ánh trong cách xưng hô: Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gợi là mị nương Họ là
những quý tộc thế tập chứ không phải là chủ nô vì lợi tức:họ thu được chủ yếu thông qua việc bóc lột nông dân công xã, còn sức
lao động của nô tì chủ yếu được sử dụng trong việc hầu hạ Họ cũng không phải là địa chủ vì thời bấy giờ chưa có ruộng đất tư
Tầng lớp thứ hai là nông dân công xã nông thôn, chiếm đa số trong xã hội và là lực lượng sản xuất chủ yếu Họ được công xã chia ruộng đất để cày cấy nhưng cũng bị quý tộc bóc lột bằng các
hình thức bắt cống nạp, lao dịch Tuy nhiên, cuộc sống của nông dân công xã tương đối ổn định và tự do, khác với địa vị của nô lệ
Tầng lớp nô tì có địa vì thấp nhất trong xã hội bấy giờ Nguồn gốc của họ có thé là thành viên công xã quá nghèo khổ hoặc vỉ phạm tục lệ xã hội bị bắt làm nô tì, có thể là người ngoại tộc bị bán làm nô tì (như được phản ánh trong chuyện An Tiêm) và có thể là rù binh chiến tranh Số lượng nô tì trong xã hội không nhiều
Họ ít khi tham gia sản xuất mà chủ yếu phục dịch trong các gia đình quý tộc
Tóm lại, sự phân hoá xã hội thời đại Hùng Vương ở trạng thái
như sau:
- Quá trình phân hoá xã hội diễn ra rất chạm chạp, kéo dài
hàng ngàn năm;
- Nếu so với giai đoạn đầu (giai đoạn Phùng Nguyên) thì đến
giai đoạn cuối (giai đoạn Đông Sơn), sự phân hoá xã hội đã thể hiện rõ nét ở cả sự phân hoá giàu nghèo và sự phân hoá về địa vị
xã hội;
~ Nếu so với nhiều nước khác như Trung Quốc và nhất là các nước phương Tây cổ đại thì mức độ phân hoá xã hội cho đến cuối thời kì Hùng Vương vẫn chưa tới mức độ sâu sắc, chưa mang tính đối khang gay gat;
13
Trang 15
Đặc điểm trạng thái phân hoá xã hội đó quy định đặc thù quá
trình bình thành nhà nước
2 Những yếu tố thúc đầy sự ra đời sớm cửa nhà nước
Cuối thời đại Hùng Vương, sự phân hoá xã hội tuy chưa tới
mức cao nhưng cùng với sự phát triển kinh tế đã tạo nên tiền dé vật
chất cần thiết cho khả năng ra đời của nhà nước Xét về mặt lí
thuyết, nhà nước chỉ xuất hiện khi sự phân chia giai cấp và mâu
thuẫn giai cấp đã trở nên gay gắt, không thể điều hoà được Tuy
nhiên, trong điều kiện của xã hội phương Đông, tuy chưa có đầy
đủ những tiền đẻ đó nhưng nếu có những yếu tố xúc tác, thúc đẩy
thì nhà nước có thể ra đời sớm
Ph, Angghen đã nói tới những nhân tố đó: nhà nước mà "những
nhóm tự nhiên gềm các công xã trong cùng bộ lạc đã đi đến chỗ
thiết lập trong quá trình tiến triển của họ (ví dụ như việc tưới nước ở
phương Đông) và để tự vệ chống kẻ thờ bên ngoài thì từ nay trở đi
cũng lại có luôn cả mục đích là duy trì bằng bạo lực những điều
kiện tổn tại và thống trị của giai cấp thống trị chống lại giai cấp bị
trị" Yếu tố thuỷ lợi và tự vệ đã có tác động mạnh mẽ, thúc đẩy
quá trình hình thành nhà nước sớm hơn trên cơ sở phân hoá xã hội
là tiền đề vật chất không thể thiếu được nhưng chưa thật chín muồi
Thiên nhiên nước ta có nhiều thuận lợi đối với cuộc sống con
người Cuối thời Hùng Vương, dân cư đã tràn xuống chỉnh phục
vùng đồng bằng châu thổ của các con sông lớn và phát triển nông
nghiệp trồng lúa nước nên công cuộc trị thuy-thuy lợi (chống lũ
lụt, tưới tiêu nước) giữ vai trò đặc biệt quan trọng Công cuộc
chỉnh phục thiên nhiên đó được phản ánh qua các truyền thuyết
dân gian như việc diệt trừ mộc tỉnh (miền đổi núi), ngư tỉnh (miễn
biển), hồ tỉnh (miễn châu thổ), chống thuỷ tính (ngập lụt)
Vị trí địa lí của nước †a nằm trên đầu mối của những luồng
giao thông tự nhiên nên yếu tố tự vệ chống lại các mối đe dọa từ
(1).Xem: Ph Angghen, Chống Đuy rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr 252
14
Trang 16bên ngoài ngày càng trở nên bức thiết Tư liệu khảo cổ đã phản
ánh về điều đó Trong giai đoạn Phùng Nguyên, tỉ lệ vũ khí so với
toàn bộ hiện vật rất nhỏ, như ở đi tích Văn Điển là.0,28%, di tích Phùng Nguyên là 0,84%, di tích Lũng Hoá là 2,91% Trong đó vũ
khí có ít kiểu loại và nhiều vũ khí chưa khác mấy công cụ sản xuất Nhưng đến giai đoạn Đông Sơn, tỉ lệ vũ khí tăng vọt lên trên
50%, như ở đi tích Vĩnh Quang là 50,6%, Thiệu Dương là 59,8%,
Đông Sơn là 63,29% Kiểu loại vũ khí trong giai đoạn này cũng trở nên đa dạng, phong phú Truyền thuyết dân gian cũng nói tới nhiều cuộc xung đột, nhiều cuộc chiến đấu chống giặc Man, giặc
An, giặc Hồ Tôn Như vậy, thời bấy giờ, chiến tranh đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội, bao gồm cả những cuộc
xung đột bên trong và các cuộc xung đột bên ngoài Xung đột bên
trong diễn ra giữa các cộng đồng, các bộ lạc, các thị tộc, đòi hỏi phải có thiết chế để hợp nhất các địa phương, các cộng đồng dân
cư thành quốc gia Xung đột bên ngoài biểu hiện ở cuộc đấu tranh chống các mối đe dọa ngoại xâm nhằm bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng Câu chuyện Thánh Gióng là minh chứng điển hình cho loại chiến tranh tự vệ này Đặc biệt, từ thế kỉ thứ HI tr.CN ở Trung Quốc, đế chế Tân thành lập đe dọa trực tiếp các nhóm Bách việt ở
phương Nam, trong đó có cư dân Lạc Việt
Cuộc đấu tranh tự vệ và trị thuỷ-thuỷ lợi là những công cuộc lớn lao đặc biệt quan trọng, phải tiến hành thường xuyên, có tính cấp bách vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của cả cộng đồng
Vì thế, nó trở thành những yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhà nước Tit sy phân tích trên có thể giải thích về sự ra đời sớm hơn của
nhà nước như sau: Ộ
Một là cơ cấu tổ chức trong chế độ công xã nguyên thuỷ không thể đảm đương nổi công việc lớn lao trong tự vệ và trị thuy- thuỷ lợi mà đồi hỏi phải có một loại cơ cấu tổ chức mới khác han,
(1).Xem: Trình Cao Tưởng, Lê Văn Lan, "Tìm hiểu về vũ khí và suy nghĩ vẻ một vai vấn đề quân sự thời dựng nước đầu tiên", Hùng Vương dựng nước, Tập IV, Sdd,
tr, 293 -294
15
Trang 17
đó là nhà nước Nhà nước là cơ cấu tổ chức rộng lớn bao trùm toàn
xã hội và chặt chẽ nhất; nhà nước có khả năng cưỡng chế, có
phương tiện tổ chức và quản lí đặc trưng là pháp luật Vì vậy, nhà
nước có khả năng huy động được lực lượng lớn sức người, sức của
để thực hiện công cuộc đấu tranh để tự vệ và trị thuỷ-thuỷ lợi
ai là các thủ lĩnh ngày càng có địa vị và có vai trò quan trọng
trong xã hội, quyền lực va tai san của họ tích tự ngày càng lớn, các
phương pháp, biện pháp, hình thức hoạt động nhằm duy trì trật tự
xã hội cũng như địa vị xã hội, quyền lực và tài sản đó ngày càng
thể hiện tính tập trung, độc đoán nhiều hơn, đòi hỏi phải có những
cơ cấu tổ chức mới, thôi thúc sự ra đời sớm của nhà nước
II NHÀ NƯỚC TRONG TRẠNG THÁI ĐANG HÌNH THÀNH
Ở THỜI HÙNG VƯƠNG
1 Sự hình thành các liên minh bộ lạc ở đầu thời Hùng
'Vương - Giai đoạn Phùng Nguyên
Cùng với sự phát triển của kinh tế và sự phân hoá xã hội thành
các tầng lớp người khác nhau và dưới sự tác động của nhiều yếu tố
khác, công xã nguyên thuỷ bat dau tan rã Những mâu thuẫn, xung
đột xảy ra ngày càng thường xuyên hơn giữa các thị tộc, bộ lạc;:sự
cân thiết phải tập trung sức người, sức của để thực biện những
công việc chung và để chống lại thiên tai, địch hoạ đã dẫn tới đòi
hỏi có sự liên hiệp giữa các thị tộc, bộ lạc để hình thành các cơ cấu
lớn hơn, đó là các liên minh thị tộc và bộ lạc Giai đoạn này ở
nước ta đã tồn tại nhiều bộ lạc, trong đó bộ lạc Văn Lang là mạnh
nhất và đến giai đoạn Phùng Nguyên thì hình thành nên liên minh
bộ lạc do Hùng Vương làm thủ lĩnh Trong Đại Việt sử kí toàn thư,
Ngô Sĩ Liên viết: "Bộ gọi là Văn Lang là đô của vua") Trong
Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn cũng viết: "Trong số 15 bộ của
nước Vấn Lang, 14 bộ là các thân tộc, còn Văn Lang là nơi vua
đóng đô".® Sự xuất hiện các liên minh bộ lạc đã dẫn đến nhũ cầu
{1),Xem: Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí roàn thư, tập T, Nxb KHXH, Hà Nội, 1972, tr 61
(2).Xem: Lê Quý Đôn, Van dai loại ngữ tập I, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1962, tr 169
16
Trang 18phải tập trung quyền lực và phải có các thiết chế để thực thi quyền
lực Người đứng đầu các liên minh có vị trí và vai trò quan trọng,
được trao quyền lớn hơn và quyền lực trở thành một “thứ tài sản”
đặc biệt để thừa kế cho các thế hệ tiếp sau Ở nước ta thời kì này, người đứng đầu các liên minh bộ lạc được gọi là Hùng Vương Có
nhiều ý kiến khác nhau giải thích về danh hiệu Hùng Vương Có thể chữ “vương” được phiên âmi từ tiếng Hán, có nghĩa là vua
Trong thời sơ sử ở Trung Quốc cũng đã từng có hiện tượng và cách
gọi tương tự như vậy Khoảng thiên niên kỉ II tr.CN, ở lưu vực sông Hoàng Hà có nhiều bộ lạc như Hoàng đế, Thiếu hiệu, Thái
hiệu sau đó đã hình thành liên minh bộ lạc lớn mạnh do Đường
Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ kế tiếp nhau được bản làm thủ lĩnh Những vị thủ lĩnh này cũng đều được truyền thuyết dân gian gọi là vua: Vua Nghiêu, Thuan, Vi Con chit “hing”, trong tiếng Mường
có từ "kun" chỉ người cai quản một mường (vùng), trong tiếng Môn-Khơme và tiếng Mường có từ "khun" chỉ người tù trưởng, thủ lĩnh Do đó, có thể là chữ "hùng" được phiên âm bằng chữ Hán một từ Việt cổ có ngữ âm, ngữ nghĩa gấn với những từ “kun”,
"khun" để chỉ người tù trưởng, người thủ lĩnh."
Như vậy, có thể coi giai đoạn Phùng Nguyên là giai đoạn mở đâu của sự hình thành nhà nước đầu tiên ở nước ta
2 Quá trình chuyển hoá quyền lực xã hội thành quyền lực
nhà nước
Trong chế độ công xã nguyên thuỷ ở nước ta lúc đầu chưa có quyên lực nhà nước, mà chỉ có quyển lực xã hội do cộng đồng giao cho một người hay một nhóm người để tổ chức và thực hiện
chức năng quản lí xã hội trong cộng đồng Các chức năng xã hội
đó rất đa dạng như: phân công lao động và phân phối sản phẩm
giữa các thành viên trong cộng đồng; phân xử những vụ xích mích,
tranh chấp; tổ chức những lễ nghỉ tôn giáo; huy động sức người,
(1).Xem: Trân Quốc Vượng, "Vẻ danh hiệu Hùng Vương", Hùng Vương dựng
nuéc, tap TI, Sdd, wr 353 - 355 THU VIEN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ Nội PHAN HIEU TAI TP.HCM 17
Số:,
Trang 19
sức của và tổ chức, chỉ đạo việc trị thuỷ-thuỷ lợi hoặc chống
những cuộc chiến tranh với bên ngoài Đạc trưng cơ bản của
quyền lực xã hội là nó xuất phát từ cộng đồng, chịu sự kiểm soát
của cộng đồng và vì lợi ích chung của cả cộng đồng Tuy nhiên,
chính yếu tố quyền lực được trao cho một cá nhân hay một nhóm
người là mâm mống dẫn đến sự chuyển hoá và làm phát sinh
quyền lực nhà nước Ph Ăngghen viết: "Những cơ quan đó, lúc
bấy giờ với tư cách là dại biển cho những lợi ích chung của toàn
nhóm, đã có đối với mỗi cộng đông riêng biệt một địa vị đặc biệt
đôi khi đối lập với ngay cộng đồng ấy, rôi chẳng bao lâu sau đó có
ngay một tính độc lập còn nhiều hơn nữa do việc kế thừa nhiệm vụ
là tự nó thành tục lệ trong cái thế giới mà mọi việc đêu xảy ra theo
tự nhiên hoặc là do công việc hàng ngày không thể nào bỏ được
những cơ quan như thế khi mà những xung đột với những nhóm
khác ngày càng tăng thêm với thời gian chúc năng xã hội đã có
thể dân dân vươn lên thành sự thống trị đối với xã hội hỄ ở dâu
gặp thời cơ thuận lợi, người đày tớ ban dâu lại biến thành người
chủ tùy theo hoàn cảnh, người chủ đó lại biến thành tên vua
chuyên chế hay tên chúa tính ở phương Đông".Ð
Từ đầu thời kì Hùng Vương trở đi, địa vị của những người
được trao quyền lực như thủ lĩnh liên minh bộ lạc, tù trưởng bộ
lạc, tộc trưởng được xác lập với những quyền lực ngày càng lớn
để thực hiện các chức năng xã hội Từ địa vị đó, những người này
bên cạnh việc bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng đã từng bước
chiếm được nhiều hơn của cải mà vốn trước đây là của cộng đồng,
có bộ máy giúp việc và những người phục dịch cho cá nhân và gia
đình Quyền lực được họ sử dụng để tiến hành các công việc dưới
danh nghĩa là thực hiện chức năng xã hội đã không phải chỉ nhằm
mục đích bảo vệ cho những lợi ích chung của cả cộng đồng mà
còn nhằm mục đích mang lại lợi ích cho cá nhân họ đồng thời để
dé cao uy tín, địa vị và quyển han của mình Vì vậy, bên cạnh các
(1).Xem: -Ph:Angghen, Ching Duy rinh, Sdd, tr 304 - 305
18
Trang 20biện pháp đân chủ vốn đặc trưng trong công xã nguyên thuỷ, các biện pháp cưỡng chế thể hiện quyền lực của cá nhân thủ lĩnh hay một nhóm nhỏ cũng được sử dựng ngày càng phổ biến hơn Trong
xu hướng đó, quá trình chuyển hơá quyên lực diễn ra và quyền lực
xã hội được trao nhằm để thực hiện chức năng xã hội dan dan biến thành quyền iực mang tính quyền lực nhà nước Người thực hiện
chức năng xã hội biến thành quan chức, những quan chức hợp
thành bộ máy nhà nước Đối với họ, việc quản lí xã hội không còn
là "nghề nghiệp dư" mà trở thành "nghề chuyên nghiệp" Họ là những người tách ra khỏi xã hội và tựa hổ như đứng trên xã hội Theo truyền thuyết dân gian và sử sách cổ, đứng đầu nước Văn
Lang là Hùng Vương Nước Văn Lang được chia thành 15 bộ (vốn
là 15 bộ lạc), đứng đầu mỗi bộ là lạc tướng (còn gọi là phụ đạo)
Dưới đó là bồ chính đứng đầu công xã nông thôn Ngay các danh
hiệu Hùng Vương, phụ đạo, bỏ chính cũng đã phản ánh tiến trình các quý tộc thị tộc chuyển hoá thành các quan chức nhà nước, chức năng xã hội được chuyển hoá thành quyển lực nhà nước Có
lẽ các chữ phụ đạo, bổ chính cũng là từ Hán dùng để phiên âm từ Việt cổ: Trong tiếng Mường có từ "đạo", trong tiếng Giarai có từ
“tao” và trong trong tiếng Bana có từ "ba đao” đều có nghĩa là tù
trưởng, thủ lĩnh, người đứng đầu một vùng;? trong tiếng Tày và tiếng Thái có từ "pó chiêng", trong ngôn ngữ của các dân tộc vùng Tây Nguyên có từ "pô ta rinh" nghĩa là già lang.’
Tóm lại, sự chuyển hoá quyền lực từ việc thực hiện chức năng
xã hội thành quyền lực nhà nước và quý tộc thị tộc biến đổi thành quan chức nhà nước là hai yếu tố biểu hiện cụ thể của sự hình thành
nhà nước Quá trình chuyển hoá, biến đổi đó diễn ra một cách chậm chạp và lâu dài từ giai đoạn Phùng Nguyên qua các giai đoạn Đồng
Dau, Gd Mun, duge phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn Đông Sơn
(1).Xem: Hoàng Thị Châu,"Tìm hiểu từ "phụ đạo" trong truyền thuyết vẻ Húng
Vuong", Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 102, thắng 9/1967
(2).Xem: Lich sit Viét Nam, Tap I, Sdd, tr 144
19
Trang 213 Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương
Về sự hình thành của nhà nước ở cuối thời Hùng Vương hiện còn có những ý kiến giải thích khác nhau Một số học giả cho rằng
ở cuối thời Hùng Vương, xã hội nguyên thuỷ đang trong quá trình
tan rã, nhà nước chưa ra đời mà mới chỉ có chế độ dân chủ quân sự
bộ lạc Một số nhà khoa học khác lại cho rằng, dù còn sơ khai
nhưng nhà nước đã hình thành vào cuối thời Hùng Vương.“ Nghiên cứu vẻ sự hình thành của nhà nước ở Việt Nam trong
thời kì này, một mặt phải dựa vào những đặc điểm chung của nhà
nước và lí thuyết chung về sự ra đời của nhà nước đồng thời phải
tính đến những đặc điểm đặc thù của xã hội đương thời với những
yếu tố tác động đặc thù như đã phân tích ở trên
Những thư tịch cổ đều ghỉ Hùng Vương là quân trưởng, là ông chúa Các truyền thuyết và sử sách nước ta thường nói đến việc
Hùng Vương trị vì và có bộ máy giúp việc là lạc hầu, lạc tướng, bd
chính Hùng Vương và những người trong bộ máy đó được trao quyền lực để quản lí các công việc chung Việc diéu hành xã hội không chỉ được thực hiện bằng thuyết phục mà đã sử dụng cả cưỡng
chế để áp đặt ý chí chủ quan thông qua các mệnh lệnh như "sai",
"khiến", "lệnh" Thư tịch cổ Trung Quốc viết: "Lạc dân cày ruộng, lạc hầu ăn ruộng" "Ăn ruộng" có thể là biểu hiện sơ khai của thuế khoá Thuế - cơ sở vật chất đảm bảo sự tồn tại của quyển lực nhà nước, chỉ xuất hiện khi xã hội đặt ra yêu cần phải nuôi dưỡng một
số người thoát li sản xuất để nấm quyền lực và để chỉ cho các công trình phúc lợi xã hội Đặc biệt, qua truyền thuyết dân gian và sử sách cổ, có thé thấy Hùng Vương, lac hdu, lạc tướng, bô chính dường như không còn đo các cộng đồng dân cư bầu ra như trong chế độ công xã nguyên thuỷ mà được cha truyền con nối Sách sử viết, Hùng Vương có 18 đời Con số 18 đời vua Hùng có lẽ không phải là con số số học cụ thể mà để chỉ rằng, đã có nhiều.đời vua Hùng nối ngôi nhau trị vì Trong tâm linh của mình, người Việt hay
{1).Xem: Hàng Vương dựng nước, Sđd; Lịch sử Việt Nam, Tạp l, S44
20
Trang 22ding con số 9 và các bội số của 9 như: 9 ngọn núi, 9 tầng mây, "voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao", Thạch Sanh đánh tan
quân chư hầu 1§ nước, 36 nước, giặc Ân có 36 tướng, 99 ngọn núi
Hồng Lĩnh Truyền thuyết dân gian, tuy phần nào "quân chủ hoá”,
"phong kiến hoá" xã hội Hùng Vương nhưng qua đó, nói theo cách
của Ph Ảngghen, cũng phản ánh về thực trạng của xã hội lúc bấy giờ đã có sự "tiêu biểu cho những mâm mống của quyển lực nhà nước" Mặt khác, cũng theo truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, Hùng Vương, lạc hâu, lạc tướng, bồ chính vẫn mang nhiều dáng dấp của các vị thủ lĩnh thời công xã nguyên thuỷ Điều này được thể hiện ở ngữ nghĩa của các danh hiệu Hùng Vương, phụ đạo, bồ chính như đã phân tích ở trên, Ngay trong việc truyền ngôi, tiêu chuẩn tài,
đức (tiêu chuẩn số một trong thời đại công xã nguyên thuỷ để bầu
thủ lĩnh) vẫn được đề cao (chuyện bánh chưng, bánh dày)
Cũng theo truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, nước Văn Lang
được chia thành 15 bộ (15 khu vực) Việt sử lược cho biết 15 bộ đó
vốn là 15 bộ lạc Đứng đầu mỗi bộ lạc là lạc tướng hay còn gọi là
phụ đạo Như vậy, "bộ" một mặt thể hiện sự phân chia dân cư theo
sự cắt đặt của "nhà nước", mặt khác nó cũng thể hiện đó là đơn vị tụ
cư tự phát nguyên thuỷ hay nói cách khác, đơn vị "bộ” mang tính
nửa vời: "vùng - bộ lạc" hoặc "thị tộc, bộ lạc - đơn vị hành chính" Công xã nông thôn cũng trong trạng thải tương tự như vậy
Từ thực trạng trên, có thể nói thời kì Hùng Vương không còn
đơn thuần là chế độ đân chủ quân sự bộ lạc nữa nhưng cũng chưa
phải là đã có một nhà nước hoàn chỉnh, xét theo quan điểm lí luận
chung Tuy nhiên đó đã là một cơ cấu mới có một số đặc tính của một nhà nước trong tương lai
II NHÀ NƯỚC SƠ KHAI Ở THỜI AN ¡DƯƠNG VƯƠNG
1: Sự thành lập nước Âu Lạc
Căn cứ vào truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ nhiều người
đã nêu ra các giả thuyết về nước Âu Lạc của Thục Phán - An
Dương Vương Tổng hợp những kết quả nghiền cứu-cho đến nay,
21
Trang 23
nhiều học giả đưa ra giả thuyết như sau:??
Cư dân Văn Lang thời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt
và còn có cả một bộ phận người Âu Việt (hay còn gọi là người Tay
Âu}? ởờ miền núi rừng và trung du phía bắc, hai thành phân đó sống xen kế nhau trong nhiều vùng Phía bắc nước Văn Lang là
địa bàn cư trú của người Âu Việt và cũng có những người Lạc Việt sống xen kẽ Lạc Việt và Âu Việt vừa là đồng chủng vừa là láng
giểng, từ lâu đã có nhiều quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hoá Có
lẽ do tình trạng sống xen kế và do những mối quan hệ gần gũi về
các mặt mà trong thư tịch cổ có khi phân biệt Âu Việt với Lạc
Việt, có khi lại coi Âu Việt và Lạc Việt là một Thục Phán là thủ
lĩnh Hên minh bộ lạc của người Âu Việt ở phía bắc nước Văn
Lang Theo truyền thuyết của đồng bào Tày, liên minh bộ lạc đó là nước Nam Cương gồm 10 xứ mường (9 mường của chín chúa và
một mường trung tâm của Thục Phán), tức 10 bộ lạc hợp thành, cư
trú chủ yếu ở vùng rừng núi phía bác Bắc Bộ mà trung tâm là Cao Bằng: Nhân dân vùng Cổ Loa (Hà Nội) cũng tương truyền rằng An Dương Vương Thục Phán vốn là một tù trưởng miền núi Vào cuối
đời Hùng Vương, giữa Hùng và Thục xảy ra cuộc xung đột kéo
dài, nhiều làng vùng trung lưu sông Hồng thờ Thánh Tản Viên và những bộ tướng của vua Hùng đã từng theo Thánh Tản Viên đi diệt giặc Thục Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì Âu Việt và Lạc Việt cùng toàn bộ các nhóm người Việt trong khối Bách Việt bị nạn xâm lược đại quy mô của đế chế Tần Khi tiến vào nước ta, quân Tần xâm phạm trước hết địa bàn cư trú của người Âu Việt, Thục Phán với vai trò thủ lĩnh liên minh bộ lạc phải đứng ra tổ chức chỉ đạo cuộc kháng chiến
Cuộc kháng chiến kếo dài 5 - 6 năm đã thắt chặt quan hệ đoàn kết gắn bó của người Âu Việt và Lạc Việt Thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến càng củng cố và nâng cao uy tín của Thục Phán
(2) Lạc Việt và Âu Việt,
22
Trang 24không những trong người Âu Việt mà cả trong người Lạc Việt Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Phán Truyền thuyết dân gian
kể rằng, Hùng Vương theo lời khuyên của con rể là Thánh Tản
Viên đã nhường ngôi cho Thục Phán Thục Phán xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc
Tên nước Âu Lạc gồm hai thành tố Âu (Âu Việt) và Lạc (Lạc
ViệO phản ánh sự liên hợp giữa hai nhóm người Lạc Việt và Âu Viet Su thành lập nước Âu Lạc không phải là kết quả của cuộc
chiến tranh thôn tính mà là sự hợp nhất dân cư và đất đai Lạc Việt
và Âu Việt Nước Âu Lạc là bước phát triển mới, kế tục và cao hơn
Van Lang
Nước Âu Lạc tồn tại khoảng 30 năm (khoảng từ 208 - 179
tr.CN) Theo thư tịch cổ, năm 208 tr.CN, nhà Tân phải bãi binh,
cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi, có thể coi đó là mốc thành
lập nước Âu Lạc Năm 179 tr.CN, Triệu Đã đánh bại An Dương
Vương, mở đâu thời kì Bắc thuộc
2, Nhà nước sơ khai thời An Dương Vương, tổ chức bộ máy nhà nước
Đến thời Âu Lạc, thể chế nhà nước đã định hình rõ nét, quyền
uy của vua được ting cuéng Theo truyền thuyết Nỏ thần, An Đương Vương đã bạc đãi, giết nhiều tướng giỏi Cuối cùng, vì tách mình
ra khỏi nhân dân, chiến đấu đơn độc và bị động trong thành Cổ Loa nên cuộc kháng chiến chống Triệu do An Dương Vương lãnh
đạo thất bại
Trong triểu An Dương Vương, giúp việc cho vua vẫn có lạc
hầu Lạc hầu là tướng văn, có thể đồng thời là tướng võ chỉ huy quân đội trấn áp các địa phương không chịu thần phục Lạc hầu thay mặt vua giải quyết công việc trong nước Theo truyền thuyết dân gian, trong tiểu An Dương Vương có nhiều tướng giỏi như Cao Lã, Nồi Hầu, Định Toán Những người này là rướng vỡ, cũng
có thể là lạc hầu Ngoài ra, trong triều còn có một số bộ phận làm công việc tôn giáo, thu cống phẩm, giữ kho ràng, truyền lệnh vua
23
Trang 25Lạc tướng đứng đầu bộ, cai quản một đơn vị hành chính địa
phương Lạc tướng phải thu nộp cống phẩm cho nhà vua Lạc
tướng thường xuyên truyền mệnh lệnh từ trên xuống Khi có
chiến tranh, lạc tướng là thủ lĩnh quân sự địa phương và chịu sự
điêu động của nhà vua
Bỏ chính là người đứng đầu công xã nóng thôn Bên cạnh bồ
chính có lẽ là một hội đồng công xã, gồm những người do các
thành viên công xã cử ra để giải quyết và định đoạt hoạt động của
công xã Công xã vừa là cơ sở của nhà nước, vừa mang tính tự
quản cao Quan hệ giữa công xã và chính quyền nhà nước cấp trên
là quan hệ mang tính chất lưỡng hợp Nhà nước vừa đại diện và
đứng trên tất cả các công xã, như là "người cha của số đông công
xã", tổ chức công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi và tự vệ, vừa bóc lột các
công xã dưới dạng cống phẩm, do thành viên trong công xã đóng
góp để công xã nộp cho nhà nước, hình thức bóc lột này được gọi
là "ăn ruộng" Giữa hai mặt trên, thời bấy giờ, có lẽ mặt thứ hai
nhẹ nhàng, mặt thứ nhất trội hơn
Sau khi lên ngôi vua, An Dương Vương đã dời đô từ Phong
Châu về Cổ Loa (Hà Nội) Việc dời đô từ miền trung du về đồng
bằng và ở vị trí trung tâm của đất nước, đầu mối của hệ thống giao
thông đường thuỷ chứng tỏ sự phát triển mới của nhà nước Âu
Lạc Thành Cổ Loa không những chứng tỏ tài năng lao động sáng
tạo, những tiến bộ về kĩ thuật xây dựng, kĩ thuật và nghệ thuật
quân sự của người Việt cổ mà còn biểu thị bước phát triển mới của
su phan hoá xã hội; của quyên lực chính trị của nhà nước Âu Lạc
Nếu như thời Hùng Vương, lực lượng vũ trang là đân binh thì
đến thời Âu Lạc, đã có quân đội thường trực Theo Việt sử lược,
An Duong Vuong "đạy.được một vạn quân lính”, lại có "nỏ thần
(mỗi lân) bắn được mười phát tên", Thư tịch cổ.ghi về tài dùng nỏ
nổi tiếng của quan đội Âu Lạc Đặc biệt, hàng vạn mũi tên đồng
được phát hiện ở di tích.Cổ Loa.cho thấy cái cốt lõi lịch sử, nên
tảng thực tế của huyền thoại nỏ thần Đó cũng là minh chứng xác
nhận bên cạnh dân binh, sự xuất hiện của quân đội thường:trực -
24
Trang 26dấu hiệu về sự tồn tại của nhà nước
Tóm lại, thời An Dương Vương tuy chỉ tồn tại trong thời gian
ngắn nhưng nhà nước sơ khai đã ra đời là kết quả của sự kế thừa và
phát triển lên một bước mới về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội thời Hùng Vương Điều đó cũng còn do yếu tố thúc đẩy của bai cuộc kháng chiến chống Tần và chống Triệu
Có thể phác họa quá trình và con đường hình thành, tổ chức bộ
máy của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc như sau:
Thủ lĩnh =› Vương: Hùng Vương, An Dương Vương
(liên minh bộ lạc) (nước Văn Lang, Âu Lạc)
(công xã thị tộc) (công xã nông thôn)
IV SỰRA ĐỜI CỦA PHÁP LUẬT
Pháp luật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện Xét về phương diện
khách quan, nhà nước và pháp luật cùng phát sinh từ một nguồn
gốc, là kết quả của sự phát triển kinh tế và phân hơá xã hội Xét về
phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận và trở thành phương tiện của nhà nước để bảo vệ địa vị của lực lượng thống trị, điều hành và quản lí xã hội Trong các tổ chức cộng đồng nguyên thuỷ trước đây, quan hệ giữa các thành viên được điều chỉnh bằng phong tục tập quán với tính cách là mô thức
của hành vi, điều chỉnh các quan hệ bình đẳng giữa các cá nhần
trong xã hội Đến giai đoạn nhất định, các tập quán đó đã không
cön phù hợp nữa Khi nhà nước được hình thành, quốc gia được
xác lập, các qưan hệ xã hội phát triển cả về phạm vi, mức độ và
25
Trang 27tính chất thì phong tục, tập quán không còn có khả năng để điều
chỉnh được tất cả các quan hệ xã hội Để đáp ứng nhu cầu khách
quan đó, một loại quy phạm mới, khác hẳn với phong tục tập quán
đã ra đời, đó là pháp luật Theo đó, vào cuối thời đại Hùng Vương,
nhà nước xuất hiện thì đương nhiên pháp luật cũng ra đời từ đó
Thé ki I, sau khi đàn áp được cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng,
viên tướng Hán là Mã Viện tâu lên vua Hán Quang Vũ (Trung
Quốc) rằng: "Luật Việt khác luật Hán bơn mười điều" (Hậu Hán
thư) Luật Việt đó chắc chắn phải có trước thời Bắc thuộc, tức
thời Văn Lang-Âu Lạc
Qua sự phản ánh gián tiếp của truyền thuyết dan gian và sử
sách cổ, có thể đưa ra giả thuyết về các nguồn gốc pháp luật của
Nhà nước Văn Lang-Âu Lạc như sau:
- Pháp luật tập quán: Tập quán pháp giữ vai trò chủ đạo và phổ
biến nhất Trước hết, đó là một số tập quán vốn có từ thời nguyên
thuỷ và được bảo đảm thực hiện không chỉ bằng sự tự nguyện mà cả
bằng biện pháp cưỡng chế của quyền lực nhà nước Tập quần pháp
này điền chỉnh nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, như quan hệ sở hữu,
chiếm hữu và sử dụng ruộng đất, các quan hệ về trật tự an toàn xã
hội Loại tập quán thứ hai mà từ trước đến nay ít được nhac tới là
tập quán chính trị, được bình thành trong quá trình vận hành bộ
máy nhà nước và điều hành xã hội, như tập quán truyền ngôi của
vua và các chức quan cho con cái, tập quần cống nạp, “ăn ruộng”
Lệ của công xã nông thôn cũng là một loại tập quán pháp, khi
những lệ đó được nhà nước mặc nhiên thừa nhận và được đảm bảo
thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của tổ chức công xã
Công xã nông thôn vừa là cơ sở kinh tế-xã hội của nhà nước, vừa
mang tính tự quản nên các lệ của công xã nông thôn có vai trò đặc
biệt quan trọng trong đời sống chính trị xã hội bấy giờ
- Pháp luật khẩu truyền: Ý chí của người thống trị đối với xã
hội nhiều khi được ban ra bằng miệng và không được ghi bằng văn
bản Trong truyền thuyết dân gian có những câu: Vua truyền
26
Trang 28rằng vua ban rằng Những mệnh lệnh đó được đảm bảo thực
hiện bằng cả sự cưỡng chế nên đó là luật pháp Cũng theo truyền thuyết dân gian, những lệnh miệng của vua thường được sứ giả
truyền di các nơi Ở các cấp chính quyển địa phương, hình thức pháp luật khẩu truyền thường được dùng để giải quyết những vụ việc cụ thể hoặc đột xuất, như thăng quan bãi chức, xử tội, tổ chức
chống giặc Trong điều kiện tổ chức nhà nước còn đơn giản, việc
điều hành bộ máy nhà nước còn chưa phức tạp khi mà uy tín của
vua và quý tộc quan liêu còn lớn thì hình thức pháp luật khẩu
truyền chắc chấn là có hiệu lực và phổ biến Ngay đến cả sau này, trong thời kì phong kiến, tuy luật pháp thành văn được phát triển nhưng hình thức pháp luật khẩu truyền vẫn xuất hiện thường ngày
từ vua chúa, quan lại
- Pháp luật thành văn: Mặc dù hiện nay vẫn chưa rõ thời đại
Hùng Vương đã có chữ viết hay chưa, nên cũng chưa biết là thời
bấy giờ có pháp luật do bộ máy cai trị ban bố hay không Tuy
nhiên, có thể giả định rằng, khi phạm vi lãnh thổ của nhà nước đã
được mở rộng hơn nhiều so với các thị tộc, bộ lạc thì nhất định
phải có cách thức thể hiện và truyền mệnh lệnh của người chỉ huy bằng các dấu hiệu đặc thù, ngắn gọn và cụ thể Các hình thức biểu
hiện đó có thể rất phong phú, sinh động và đó sẽ là đề tài thú vị
cho sự nghiên cứu để tìm lời giải đáp
Về nội dung pháp luật của nhà nước Văn Lang-Âu Lạc cũng chỉ được phản ánh một cách gián tiếp, mơ hồ trong truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, trong đó, giữa luật lệ và phong tục tập
quán còn chưa được phân định rõ nét Tuy nhiên, qua các truyền
thuyết dân gian và thư tịch cổ có thể thấy một số loại quan hệ cơ bản trong xã hội đã được pháp luật điều chỉnh như:
Về quan hệ hôn nhân gia đình và chế độ hôn nhân một vợ một chồng, các truyền thuyết Sơn Tinh-Thuỷ Tinh, Tiên Dung, Chử
Đồng Tử, Trầu cau cho thấy, hôn nhân được cử hành qua hôn lễ,
con gái được cưới về nhà chồng và cũng đã có việc thách cưới, người con gái cũng có vai trò chủ động trong hôn nhân và vẫn
27
Trang 29
được tôn trọng trong gia đình Về quan hệ tài sản, qua tài liệu
khảo cứu về mộ táng, người chết cũng được chia tài sản, điều đó
chứng tỏ người sống khi ra ở riêng đã được phân chia tài sản Về
quan hệ sở hữu ruộng đất, ruộng đất thuộc quyền sở hữu chung
của cả công xã, còn các thành viên chỉ có quyền chiếm hữu và sử
dụng Về hình phạt, người phạm trọng tội có thể bị phạt lưu đày,
sau khi thụ bình xong có thể được phục hổi quyền lợi (truyền
thuyết Mai An Tiêm) hoặc có thể bị giết chết (truyền thuyết My
Châu - Trọng Thuỷ)
Tóm lại, Nhà nước Văn Lang-Âu Lạc đã có pháp luật nhưng,
đó là hình thức pháp luật sơ khai và chủ yếu là tập quán pháp, còn
mang đậm tàn dự của chế độ nguyên thuỷ và như Việt sử lược
nhận xét, đó là xã hội có "phong rục thuần hậu chất phác"
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP, ĐỊNH HƯỚNG THẢO LUẬN
1 Phân tích cơ sở kinh tế, xã hội cho sự ra đời nhà nước của
người Việt cổ
2 Phân tích các yếu tố thúc đẩy nhà nước của người Việt cổ ra
đời sớm
3 Trình bày con đường hình thành nhà nước của người Việt cổ
4, Đánh giá tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang-Âu Lạc
„3 Trình bày các hình thức pháp luật của nhà nước Văn Lang-
Au Lac
28
Trang 30PHẦN THỨ HAI CHUONG II
NHÀ NƯỚC VA PHAP LUAT GIAI DOAN ĐẤU TRANH
CHONG BONG HOA CUA PHONG KIEN TRUNG QUỐC
(179 tr.CN - 938)
Nam 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Han xâm lược, xác lập nền độc lập dân tộc, chấm dứt hơn 10 thế kỉ đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa (còn gọi là thời kì Bắc thuộc) Trong hơn 10 thế kí đó, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc không ngừng diễn ra và đã thu được những thắng lợi cụ thể trong từng thời kì Nhà nước và pháp luật trong thời kì này có những đặc điểm riêng: Có sự tồn tại của chính quyền đô hộ và pháp luật của các chính quyền đó đồng thời trong những thời đoạn nhất định lại
có sự đan xen tồn tại của những chính quyền tự chủ và pháp luật
của chính quyền tự chủ, thành quả của các phong trào đấu tranh
giải phóng của nhân dân ta
1 BỘ MAY CHÍNH QUYỀN ĐÔ HỘ CỦA PHONG KIẾN TRƯNG QUỐC Ở NƯỚC TA
1 Tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ
Căn cứ vào không gian trực trị, có thể chia quá trình diễn biến
(1) Nhà Triệu (179 trCN - 111 tr.CN) Nhà Tây Hán (111 trCN - 8 s.CN), Nhà Tan (8 - 23), Đông Hán (23 - 40 và 43 - 220), Nhà Ngô (220 - 263 và 271 - 280), Nhà Ngụy (263 - 265), Nhà Tấn (265 - 271 và 280 - 420), Nhà Tống (420 - 477), Nhà Tế (477 - 501), Nhà Lương (502 - 544); Nhà Tùy (603 - 618), Nhà Đường (618 - 905) và Nam Hán (930 - 931)
2
Trang 31của tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ thời Bắc thuộc làm hai giai
đoạn chính:
- Giai đoạn từ năm 179 tr.CN - 40: Chính quyền đô hộ mới chỉ
tổ chức được bộ máy trực trị tới cấp quận
- Giai đoạn từ năm 43 trở đi: Chính quyền đô hộ tổ chức bộ
máy trực trị tới cấp huyện
a Tổ chức bộ máy chính quyên đô hộ giai doan 179 tr.CN-40
Triệu Đà là người Hán, vốn là một viên huyện lệnh của nhà
Tần Năm 206 tr.CN, nhà Tần bị nhà Hán thay thế Nhân cơ hội
đó, Triệu Đà thành lập nước Nam Việt, gồm ba quận cực Nam của
nhà Tần trước đó, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở
Phiên Ngung (thuộc Quảng Châu), tuyệt đại bộ phận cư đân của
nước này thuộc tộc người Việt Cách tổ chức bộ máy nhà nước của
Nam Việt phỏng theo mô hình của nhà Tần trước đó và nhà Hán
đương thời Nam Việt chia nước thành các quận, huyện đứng đầu
là thái thú, huyện lệnh Sau khi chỉnh phục nước Âu Lạc, lật đồ
triều đình An Dương Vương, Triệu Đà sáp nhập đất đai Âu Lạc
vào nước Nam Việt Lãnh thổ Âu Lạc cũ bị chỉa làm hai quận là
Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Thanh-Nghệ-Tĩnh) Trông coi
hai quận không phải là các thái thú mà là hai viên quan điển sứ đại
diện triều đình Phiên Ngung, là sứ giả của Vua Triệu Giúp việc
quan điển sứ có một số quan chức người Hán và người Việt cùng
một số lực lượng quân đội đồn trú Ở hai quận như chức "tả tướng"
là chức quan võ giúp quan điển sứ kiểm chế các lạc tướng người
Việt và dân Âu Lạc Dưới cấp quận chưa có tổ chức hành chính
mới nào Chế độ lạc tướng và tổ chức chính quyển ở các công xã
nông thôn cổ truyền vẫn mặc nhiên tồn tại Nói cách khác, tổ chức
hành chính - vùng (bộ, công xã) của người Việt vẫn còn tồn tại
Các lạc tướng vẫn cai trị dân ở địa phương mình như cũ, họ chỉ
nộp cống cho triều đình Phiên Ngung thông qua hai viên sứ giả
của vua Triệu.® Hai quan điển sứ của nhà Triệu đã tiến hành lập
(1) Thù đoạn cai trị đó, cùng với những hành động chống Tản, Hán của Triệu Da
đã làm nhiều nhà viết sử thời phong kiến của ta ngộ nhận coi nhä Triệu như một
30
Trang 32số hộ khẩu cư dân của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tổng số kê khai được 40 vạn dân Như vậy, cơ sở xã hội của Âu Lạc cũ chưa
bị động chạm nhiều và sử sách cũ cũng không thấy ghi chép một
biến động chính trị lớn nào ở Giao Chỉ và Cửu Chân trong hơn 60
năm thống trị của nhà Triệu
Năm 11Í tr.CN, nhà Hán (từ 206 tr.CN - 85), chiếm được nước
Nam Việt, trong đó có Âu Lạc cũ Nhà Tây Hán (giai đoạn đầu của nhà Hán) cũng chia nước thành quận, huyện theo mô hình đơn
vị hành chính nước Tần trước đây, trong đó có cả vùng đất mới chiếm được gềm 9 quận là: Đạm Nhĩ, Chu Nhai (đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông), Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây), Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh Nghệ Tĩnh), Nhật
Nam (từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân), trong đó Giao Chỉ và Cửu Chân là hai quận cũ có từ thời nhà Triệu và là địa bàn sinh sống của dân Âu Lạc, còn Nhật Nam là quận mới được thành lập trên
phần đất mới chiếm được của người Chăm Pa Sau đó, ở nước Hán
hình thành thêm một cấp hành chính trên cấp quận gọi là Châu và
từ năm 106 tr.CN trở đi, miền đất thuộc Nam Việt cũ được đặt thành châu Giao Chỉ, trụ sở đặt ở quận Giao Chỉ là quận lớn nhất
và quan trọng nhất Đứng đầu cấp Châu là chức Thứ Sử, đứng đầu
mỗi quận là một viên thái thú chủ yếu quản lí về hành chính, dân
sự, giúp việc cho thái thú có Đô Uý chỉ huy quân sự Dưới cấp
quận là cấp huyện (từ cấp bộ đổi thành) Các lạc tướng vẫn nắm quyền cai trị, cha truyền con nối nhưng được đổi gọi là huyện
lệnh Như vậy, so với nhà Triệu, nhà Hán đã tiến thêm một bước trong việc tổ chức bộ máy đô hộ: Bộ máy chính quyền đô hộ đã cai trị trực tiếp ở châu, quận và thứ sử, thái thú là các quan cai trị
chứ không chỉ là sứ giả như trước đây Tuy nhiên, từ cấp huyện trở xuống về cơ bản chưa có gì thay đổi Những năm đầu công nguyên, triều đình phong kiến phương Bắc rối loạn Vương Mãng
triểu đại chính thống của nước ta và viết thành "Ki nhà Triệu" trong chính sử Mãi dén thé ki XVII, nhan thức sai lầm đó mới bị nhà sử học Ngõ Thi Si phé phan va cải chính trong sách "Việt sử tiêu án”
(1) Giáo Chỉ có I0 huyện Cửu Chân có 7 huyện, Nhật Nam cố 5 huyện
31
Trang 33
cướp ngôi nhà Tay Hán lập ra nhà Tấn (8 - 23) Trong 15 năm đó,
quan lại nhà Tây Hán ở Châu Giao Chỉ hầu như trở thành một
chính quyền cát cứ và bộ máy cai trị không có gì thay đổi
Ti năm 23, nhà Hán được khôi phục (sử sách thường gọi là
Đông Hán) Quan lại người Hán ở Châu Giao phải quy phục triều
đình Đông Hán Tổ chức bộ máy đô hộ tiếp tục được củng cố
Trước đây, cứ đến tháng tám, thứ sử đi tuần hành các quận và cuối
năm về kinh đô tâu trình Sang thời Đông Hán, thứ sử phải luôn ở
Châu Giao và được cử người thay mặt mình về triểu đình báo cáo
Giúp việc thứ sử có các tào tòng sự gồm 7 người như: Công tào
tòng sự chuyên về việc tuyển bổ quan lại và các việc dân sự; bình
tào tòng sự phụ trách về quân sự: bac tho tang sự về tài chính, biệt
gid tong sự theo giúp việc khi thứ sử đi tuần thú các quận; các tào
tòng sự khác đôn đốc công việc giấy tờ, số sách của các quận
Ở cấp quận, ngoài thái thú, nhà Đông Hán đặt thêm chức quận
thừa để giúp việc và thay thế khi thái thú vắng mặt Ngoài ra, tuỳ
từng quận còn có một số chức quan chuyên việc thu thuế như
điêm quan thu thuế muối, công quan thu thuế sản phẩm thủ công,
thủy quan thu thuế hải sản, thiết quan coi việc đúc chế đồ sắt
Ở cấp huyện, chức huyện lệnh vẫn do các lạc tướng nắm giữ,
gitip việc có một viên thừa (quan văn) và hai viên uý (quan võ)
Trong bộ máy cấp huyện cũng có các tào chuyên trách từng loại
công việc
Như vậy thời Đông Hán, tới năm 40 bộ máy cai trị từ cấp
huyện trở xuống vẫn do các quý tộc người Việt đảm đương
b TỔ chức chính quyên đô hộ từ năm 43 trở đi
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một trong những sự kiện lịch
sử quan trọng, phản ánh tỉnh thần quật khởi của dân tộc ta muốn
vươn lên giành độc lập dân tộc, xoá bỏ ách đô hộ của Bắc thuộc
Chính quyền nhà Đông Hán đã đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa đó
Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện -
viên tướng của chính quyền đô hộ của nhà Đông Hán, đã tiến hành
vạch định lại địa giới hành chính, chia quận Giao Chỉ thành 12
32
Trang 34huyện, Cửu Chân cịn 5 huyện và Nhật Nam vẫn giữ nguyên 5
huyện đồng thời cho xây đáp thành luỹ tăng số quân đồn trú ở các huyện Chế độ lạc tướng thế tập giữ chức huyện lệnh bị bãi bỏ,
thay vào đĩ là các viên quan huyện lệnh người Hán do triểu đình
Đơng Hán trực tiếp bổ nhiệm
Như vậy, từ sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chính quyền
đơ hộ muốn phá tan cơ sở vật chất-xã hội của tầng lớp quý tộc Lạc Việt và thi hành chế độ trực trị tới cấp huyện nhưng vẫn khơng cai
trị trực tiếp được các làng xã
Từ thế kỉ II, triều Đơng Hán ngày càng suy yếu, các thế lực
phong kiến nổi dậy cát cứ Từ thế kỉ II, nước Hán bị chia nhỏ
thành ba nước Ngụy, Thục, Ngơ (220 - 280) rồi Ngụy, Tấn (265.-
316); Nam-Bắc triều (317 - 589) Trong tình hình đĩ, cuối thế kỉ I
đến đầu thế ki II, miền đất nước ta nằm dưới quyền thống trị kiểu
cát cứ của cha con, anh em thái thú Sĩ Nhiếp Nhưng sau đĩ, Sĩ
Nhiếp phải thần phục triều Ngơ Sĩ Nhiếp chết, con là Sĩ Huy chống Ngơ Quan lại Hán ở Cửu Chân cũng khơng phục nhà Ngơ Triều Ngơ sai thứ sử Giao Châu là Lã Đại đem quân tiêu diệt thế
lực cát cứ của họ Sĩ ở quận Giao Chỉ và sau đĩ bình định Cửu
Chân Năm 220, Ngơ Chúa Tơn Quyền phong cho Lã Đại là An Nam tướng quân Danh từ "An Nam" bất đầu xuất hiện từ đĩ
Thấy đất Giao Châu rộng, Tơn Quyền cho tách làm hai châu là
Quảng Châu (gồm bốn quận Nam Hải, Hợp Phố, Thương Ngơ,
Uất Lâm), Giao Châu (gồm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật
Nam) Sau đĩ lại tái lập Giao Châu gồm 7 quận như trước Năm
264, Tơn Hạo lại chía Giao Châu làm hai: Quảng Châu (gồm ba quận: Thương Ngơ, Uất Lâm, Nam Hải và thủ phủ ở Phiên Ngung), cịn các quận khác (Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật
Nam) thuộc Giao Châu va thủ phủ ở Long Biền
Sau đĩ, đất Giao Chỉ thuộc về nhà Ngụy (263 - 265) rồi thuộc
nhà Tấn và từ năm 271 lại thuộc nhà Ngơ Năm 280, nhà Tấn diệt nước Ngơ, thống nhất Trung Hộ và nắm quyền cai trị nước ta Theo Lịch triểu hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Giao
Châu được chia làm bây quận: Giao Chỉ, Cửu Châu, Nhật Nam,
3
Trang 35
Cửu Đức, Tan Xương, Vũ Bình, Hợp Phố trong đó sáu quận là
thuộc lãnh thổ nước ta ngày nay
Từ năm 420, đất đai Trung Quốc lại bị chia cất thành nhiều
nhà nước cát cứ mà sử sách gợi là Nam-Bắc triểu Trong đó tiếp
giáp với nước ta là Nam Triều (vùng nam Trường Giang) do bốn
triéu dai thay nhau thống trị: Tống, Tẻ, Lương, Trần
Thời nhà Tống, theo Tống thư, Giao Châu gồm sáu quận: Giao
Chi, Vũ Bình, Cửn Chân, Cửu Đức, Nhật Nam, Tống Bình Thời
nhà Tẻ, Giao Châu gồm chín quận: Giao Chỉ, Vũ Bình, Cửu Chân,
Tân Xương, Cửu Đức, Nhật Nam, Tống Bình, Tống Thọ và Nghĩa
Xương Trong đó hai quận Tống Thọ và Nghĩa Xương không
thuộc lãnh thổ nước ta ngày nay
Thời nhà Lương, nhà Lương tiến hành cải tổ đơn vị hành chính
ở Giao Châu cũ, lập nhiều chân nhỏ trực thuộc triểu đình nhà Lương
nhằm kiểm soát chặt chẽ dân Âu Lạc Có sáu châu thuộc lãnh thổ
nước ta ngày nay: Giao Châu (gồm phần lớn Bắc Bộ), Hoàng Châu
(Quảng Ninh), Ái Châu (Thanh Hoá), Đức Châu, Lôi Châu, Minh
Châu (Nghệ Tĩnh) Dưới cấp châu vẫn là các cấp quận, huyện
Năm 589, nhà Tuỳ diệt nhà Trần và thống nhất Trung Quốc
Đến năm 602, nhà Tuỳ mang quân xâm lược nước Vạn Xuân của
Lý Nam Đế, đất nước ta lại rơi vào ách thống trị của phong kiến
phương Bắc sau gần 60 năm độc lập Ở nước ta, nhà Tùy bãi bỏ
cấp châu và lập ra sấu quận trực thuộc triểu đình phong kiến
Trung Quốc Đó là các quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ) có 9 huyện, Cửu
Chân (Thanh Hoá) có 7 huyện, Nhật Nam (Nghệ Tĩnh) có 8
huyện, Tỷ Ảnh (có sách viết là Bắc Ảnh) có 4 huyện, Hải Âm có 4
huyện, Lâm Ấp có 4 huyện Ba quận sau là một miễn đất của
vương quốc Chăm Pa mà nhà Tùy mới chiếm được vào năm 604,
ngày nay là Bình Trị Thiên Đến những năm rối loạn và suy yếu
của nhà Tuỳ, các thái thú ở miễn đất nước ta trở thành chính
quyền cát cứ tách khỏi triều đình Trường An
Sau khi nhà Đường thay thế nhà Tùy ở phương Bắc, năm 618,
34
Trang 36quan lại Hán ở nước ta lại phải thân phục triều đình Trường An
Nhà Đường là triều đại cường thịnh nhất trong lịch sử phong kiến
Trung Hoa và chiếm được nhiều đất đai của các nước khác Đối
với các vùng đất mới chiếm được ngoài chính quốc, nhà Đường đã
lập ra các đô hộ phủ Ở miền đất nước ta, năm 622, nhà Đường lập
Giao Châu đô hộ phủ, tới năm 679 đổi thành An Nam đô hộ phủ
, Chức quan đứng đầu đô hộ phủ tuỳ theo từng giai đoạn được gọi bằng những chức danh: Kinh lược sứ, tổng quản kinh lược sứ và
từ năm 758 trở đi được gọi là tiết độ sứ Tiết độ sứ là quan chức trực thuộc triều đình Trường Án, thay mặt vua ở địa phương, vừa cai trị hành chính vừa chỉ huy quân sự Trụ sở của An Nam đô hộ phủ đặt
ở Tống Bình (Hà Nội ngày nay) Nhà Đường bãi bỏ cấp quận thời thuộc Tùy và khôŸ phục hệ thống các châu như thời Lương nhưng
cấp châu không trực thuộc triều đình bên chính quốc mà trực thuộc đô hộ phủ Đứng đầu mỗi châu vẫn là chức quan thứ sử, ngoài ra còn có chức trưởng lại chỉ huy quân đội Dưới cấp châu là cấp huyện, đứng đầu vẫn là huyện lệnh Đất An Nam gồm 12 châu, 59 huyện Dưới huyện là hương, dưới cấp hương là cấp xã
Theo An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng, hương có hai loại:
Tiểu hương có từ 70 - 150 hộ, đại hương có trên 150 - 540 hộ Xã
cũng có hai loại: Tiểu xã có từ 10 - 30 hộ, đại xã có từ trên 30 - 60
hộ Thật ra, việc lập ra các cấp hương, xã cũng chỉ là sự quy định
trên giấy tờ, còn các làng xã hầu như vẫn do người Việt tự quản lí Các vùng miễn núi xa xôi vẫn do các tù trưởng làm chủ Vì vậy, nhà Đường phải đặt ra các "châu ky my" (ràng buộc lỏng lẻo) do các tù trưởng người miền núi cai quản An Nam đô hộ phủ quản
4I châu ky my, chủ yếu gồm vùng Việt Bắc ngày nay (vùng các tộc người Tày, Nùng) Năm 791, nhà Đường lập ra Phong Châu đô
đốc phủ (vùng Sơn Tây - Hưng Hoá cũ) kiêm quản các châu ky
my vùng thượng lưu sông Hồng (vùng các tộc người thuộc ngữ hệ Thái, Tày và Tạng, Miến); Hoan Châu đô đốc phủ (Nghệ Tĩnh) kiêm quản các châu ky my miền Bắc Trường Sơn giáp Lào
Chính quyền đô hộ nhà Đường còn tăng cường lực lượng quân
sự, ra sức xây đấp thành luỹ ở phủ thành Tống Bình và các châu
35
Trang 37
khác nhằm chống phá các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta và của các cuộc đánh phá của các nước láng giểng Riêng thành Tống Bình có tới 4200 quân đồn trú
Như vậy, từ thời Đường đã lập ra đô hộ phủ Đô hộ phủ là cấp
hành chính đặc biệt và là cơ quan cai trị bằng bạo lực quân sự ở
các thuộc quốc của đế quốc Đường, tức khu vực "ngoại địa" Việc lập An Nam đô hộ phủ đánh dấu sự thất bại sau hơn 700 năm
thống trị của chính quyền đô hộ trong âm mưu đồng hoá nhân dân
ta Trên thực tế, cho tới nhà Đường, chính quyền đô hộ chưa áp đặt được chế độ trực trị tới các làng xã của người Việt
Nhà Đường dần dần suy yếu, Trung Quốc lại bước vào thời kì
nội chiến, chia cắt Ở miền Bắc Trung Quốc, năm triều đại kế tiếp
nhau, còn ở miền nam bị chia làm 10 nước Sử sách gọi đó là thời
Kì "ngũ đại thập quốc" (907 - 960) Ở vùng đất An Nam, chính quyền đô hộ mang tính cát cứ nhưng các đơn vị hành chính và mô hình tổ chức chính quyên về cơ bản không thay đổi cho đến hết thời Bac thuộc
Mô hình đơn vị hành chính và tổ chức bộ máy của chính quyền đô hộ nước ta diễn biến theo sơ đồ sau:
Triểu đình phong kiến Trung Quốc
Nhà Triệt _~ Từ nhà Hán đến Lương Nhà Tu ỳ Nha Due ¿Hong
(Quan sứ) (Thứ sử) (Thai ths) || (Tiế độ sứ)
Trang 382 Luật lệ của chính quyền đô hộ ở Âu Lạc
Ngày nay hầu như không còn tư liệu lịch sử để cập một cách trực tiếp và cụ thể về luật lệ của chính quyền đô hộ thời Bắc thuộc
nên chúng ta chỉ có thể phác hoạ một cách chung chung và sơ sài
về tình hình luật lệ thời kì này
4 Nguồn luật ˆ Theo các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt sử lược, Đại việt sử
kí toàn thư, có thể thấy trong thời Bắc thuộc có hai nguồn luật
Một là những luật tục của người Việt đã có từ thời đại Hùng Vương, được chính quyền đô hộ mặc nhiên thừa nhận Theo Hậu
Hán Thư, Mã Viện tâu về vua Hán rằng "Luật Việt và Luật Hán
khác nhau tới hơn mười việc, (nay) xin làm sáng tỏ cựu chế đối
với người Việt"; "cựu chế" là việc người Hán, từ thời Vũ Đế, vẫn
phải dùng tục cũ của người Việt mà cai trị Trước đó, theo Tiền Hán Thự, trong thư của Hoài Nam Vương Lưu An gửi lên Hán Vũ
Đế cũng viết rằng, không thể dùng luật của người Hán để cai trị
người Việt được vì "Từ đời tam đại thịnh trị, người Hồ, người Việt không chịu theo chính sóc (lịch) của Trung Quốc” Trong các thư
tịch cổ, từ Triệu, Hán đến Tuỳ, Đường, chính quyền đô hộ đều phải "lấy tục cũ của họ (người Việt) mà cai tri"
Luật tục của người Việt được tổn tại trong thời Bắc thuộc chỉ
có thể chủ yếu là lệ làng Luật tục đó được chính quyên đô hộ phải
mặc nhiên thừa nhận nên không chỉ là luật riêng của người Việt
mà còn trở thành một nguồn luật, một bộ phận trong luật pháp của chính quyền đô hộ Trong thời kì này, luật tục của người Việt có
không gian rộng lớn là các làng xã, có đối tượng điều chỉnh là đại
đa số cư đân người Việt và chủ yếu ở các lĩnh vực hôn nhân gia
đình, đân sự, quan hệ ruộng đất trong nội bộ làng xã
Hai là một số luật pháp của phong kiến Trung Hoa đã được
mang sang áp dụng ở Âu Lạc Tuy nhiên, trong thời kì này luật
phấp của phong kiến Trung Quốc nếu đã được áp dụng ở Âu Lạc
thì chủ yếu điều chỉnh quan hệ hành chính giữa quận - bộ (thời Triệu) và quận - huyện (Tây Hán) và cũng chỉ có hiệu lực ở mức
37
Trang 39
độ hạn chế, "ước thúc" các lạc tướng mà thôi Từ năm 23 trở đi,
thái thú Tô Định ở Giao Chỉ và thái thú Nhâm Diên ở Cửu Chân
đã tăng cường thi hành luật Hán Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện và các thứ sử, thái thú của chính quyền đô hộ sau này ngày càng đẩy mạnh việc áp dụng luật pháp
Trung Hoa Nhưng những luật nào của phong kiến Trung Hoa đã
được áp dụng ở Âu Lạc thì không thấy nói tới trong các thư tịch
cổ Có thể luật Han ở Âu Lạc có mấy loại sau đây:
- Những luật lệnh của Hoàng Đế Trung Quốc bổ nhiệm các chức quan cai trị ở Âu Lạc, quy định việc cống nạp thuế khoá của
Âu Lạc
- Một số trong các bộ luật của Trung Quốc có thể được áp
dụng ở Âu Lạc: Bộ Hán luật triểu Hán, Bác Tẻ luật của nhà Tẻ, bộ
Khai hoàng và bộ luật Đại nghiệp của nhà Tuỳ, bộ Đường luật sớ nghị của nhà Đường
- Những luật lệ của thứ sử, tiết độ sứ, thái thú cai trị ở Ân Lạc Trong thời Bắc thuộc, chính quyển đô hộ trên thực tế chỉ
khống chế trực tiếp được các vùng quanh thành trấn, nhiệm sở, đồn binh và những nơi có dân Trung Hoa cư trú vì vậy luật pháp
cũng chỉ có hiệu lực ở những vùng đó Luật pháp Trung Quốc chỉ
tác động đến người Hán ở Âu Lạc và những quý tộc người Việt và thường chỉ trong những lĩnh vực hành chính, hình sự, tài chính (thuế khoá)
Như vậy, có thể coi sự tồn tại song song của luật tục của người
Việt và một số luật pháp phong kiến Trung Quốc ở Âu Lạc là đặc thù của tình bình pháp luật thời Bắc thuộc
b Một số nội dung của pháp luật
` - Về luật hình
Theo thư tịch cổ, những lãnh tụ nghĩa quân đều bị chính quyền
đô hộ khép tội phản loạn, phản nghịch Hình phạt phổ biến của tội
này là tử hình hoặc lưu Trong cuộc đàn áp khởi nghĩa Hai Bà
“Trưng, ngoài số thủ lĩnh bị giết, hơn 300 quý tộc Lạc Việt bị đày 38
Trang 40sang Linh Lăng (Hồ Nam Trung Quốc ngày nay) Trước đó, để
trấn áp các cuộc nổi đậy của nhân dân Âu Lạc, Triệu Đà áp dụng
những hình phạt như cất mũi, thích chữ vào mặt Hoặc như khi
cuộc khởi nghĩa của Dương Thanh thất bại, Dương Thanh cùng
con là Chí Trinh bị giết, gia sản bị tịch thu
Đối với những tội phạm vẻ chức vụ, luật Hán ở Giao Chân quy định 6 điều lệnh:
+ Điều thứ nhất: Những đại tộc, cường hào thì ruộng nhà quá pháp chế, lấy mạnh hiếp yếu, lấy đông hiếp ít
+ Quan vào bậc 2000 thạch không vâng Theo chiếu thư của nhà
vua, không tuân theo điển chế, bỏ công theo tư, nhân chiếu thư mà
thủ lợi, hà hiếp trăm họ, vơ vét gian tham
+ Quan vào bậc 2000 thạch không để ý xét các nghị án, hung
dữ giết người, giận thì mặc sức giết, vui thì tha hồ hưởng, phiên nhiễu hà khắc, bóc lột dân đen, trăm họ đền ghét, phao đặt những
điểm gở như núi lở, đá tan
+ Quan vào bậc 2000 thạch mà tuyên bố không công bình, a dua người yêu, che lấp người hiền, yêu dùng kẻ dở
+ Con em các quan vào bậc 2000 thạch mà cậy thần cậy thế, xin xỏ công việc
+ Quan vào bậc 2000 thạch mà lầm trái lẽ công, bè đảng với
kẻ dưới, a phụ cường hào, thông hành hối lộ, tổn phạm chính lệnh
Những quy định đó nhầm hạn chế quan lại người Hán ở Âu
Lạc làm thiệt hại công quỹ cống nạp và có thể làm cho dân nổi loạn chống đối
Một số tội danh như (ham những, tham ö, nhận hối lộ cũng
thường thấy nhắc đến qua một số thư tịch cổ Thời Đông Hán thái thú Giao chỉ là Trương Khôi phạm tội ăn hối lộ hàng trăm lạng
vàng; thời thuộc Đường, Lý Thọ phạm tội tham nhũng, Lý tượng
Cổ phạm tội tham ô
Nhà nước phong kiến Trung Hoa thi hành chính sách độc
quyền các sản vật quý ở "thuộc quốc", cấm tư nhân mua bán, tàng
39