1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2

195 291 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Tế Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp (1945 ‐ 1954)
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam được biên soạn nhằm phục vụ cho việc giảng dạy, học tập đối với học phần Lịch sử kinh tế Việt Nam. Giáo trình được kết cấu thành 7 chương và chia làm 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: kinh tế thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954); kinh tế cả nước thời kỳ 1955-1975; kinh tế thời kỳ trước đổi mới (1976-1985); kinh tế trong 30 năm đổi mới (1986-2016);... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương 4

KINH TẾ THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN  

CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 ‐ 1954) 

4.1 KINH TẾ TỪ THÁNG 9/1945 ĐẾN 12/1946

4.1.1 Bối cảnh lịch sử

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Trên thế giới hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành, đứng đầu là Liên Xô Cách mạng giải phóng dân tộc phát triển, làm lay chuyển mạnh mẽ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Phong trào đấu tranh của công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản đòi quyền

tự do, dân chủ, cải thiện đời sống diễn ra sôi nổi Hệ thống các nước đế quốc bị chấn động Sau chiến tranh thế giới II, nhiều nước tư bản suy yếu, riêng Mỹ vươn lên trở thành nước giàu mạnh nhất Mỹ ra sức lôi kéo, tập hợp lực lượng để chống lại phong trào cách mạng thế giới Các lực lượng hoà bình, dân tộc, dân chủ trên thế giới đang trên đà tiến công vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng Song, các lực lượng phản cách mạng cũng đang tìm mọi cách phục hồi, phát triển lực lượng để phản kích mạnh mẽ các lực lượng hoà bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tình hình có những diễn biến phức tạp, xuất hiện những mâu thuẫn giữa lực lượng hoà bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội với các nước đế quốc, tư bản Cuộc đối đầu của hai lực lượng này ngày càng căng thẳng, gay gắt, tạo nên cục diện "chiến tranh lạnh", cuốn hút các quốc gia trên thế giới vào ảnh hưởng của cuộc chiến mới

Việt Nam là một bộ phận của thế giới nên chịu tác động lớn của cuộc đối đầu lịch sử giữa hai lực lượng Vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã bị các nước đế quốc và các thế lực phản động khác liên kết với nhau, bao vây và chống phá quyết liệt Với danh nghĩa quân Đồng minh, ở miền Bắc gần 20 vạn quân Tưởng từ cuối tháng Tám 1945

Trang 2

đã tràn vào nước ta để giải giáp quân đội Nhật Khi vào nước ta lực lượng này mang theo dã tâm tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan mặt trận Việt Minh và giúp lực lượng phản động đánh đổ chính quyền cách mạng để lập một chính phủ làm tay sai cho chúng Ở miền Nam, quân đội Anh cũng với danh nghĩa Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật đã giúp thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược lần thứ hai

Trong khi đó, chính quyền cách mạng chưa được củng cố vững chắc

và chưa được nước nào trên thế giới công nhận Văn hoá, xã hội còn rất nhiều bất cập do hậu quả của chế độ cũ để lại Đặc biệt về kinh tế, nước

ta vốn nghèo nàn lạc hậu, lại bị kiệt quệ bởi sự vơ vét của Pháp - Nhật Công nghiệp đình đốn, nông nghiệp tiêu điều với hơn 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang do hạn hán, lụt lội gây nên Thương nghiệp ngưng trệ, bế tắc, hàng hoá khan hiếm, giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng mạnh Tài chính cạn kiệt, kho bạc hầu như trống rỗng; ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp Lợi dụng quyền nắm việc phát hành tiền bọn

tư bản ngân hàng Pháp gây rối loạn tiền tệ Cùng lúc quân Tưởng còn tung ra thị trường đồng "quan kim" và "quốc tệ" đang mất giá, làm kinh

tế tài chính nước ta càng thêm rối ren Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm

1945 đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu đồng bào miền Bắc mới chấm dứt thì lại có nguy cơ hình thành nạn đói mới đe dọa đến cuộc sống người dân Trước tình hình hết sức khó khăn đó, Chính phủ ta đã có những quyết sách và hành động đúng đắn giúp đất nước vượt qua khó khăn, giữ được thành quả cách mạng và tạo ra điều kiện để giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai

4.1.2 Đặc điểm tình hình kinh tế

4.1.2.1 Giải quyết nạn đói

a Nguyên nhân của nạn đói

Trong và sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ở miền Bắc nước ta xuất hiện một nạn đói mới Nạn đói hình thành do các nguyên nhân:

1) Chính sách vơ vét thóc gạo và phá lúa trồng đay của Nhật - Pháp

Trang 3

trong những năm 1939-1945 Để đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh, Nhật

đã buộc Pháp kí kết nhiều hiệp ước cung cấp lương thực thực phẩm cho

họ hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc; bắt người dân nhổ lúa trồng đay Bên cạnh đó, thực dân Pháp cũng dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng Minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho các cuộc tái xâm lược Việt Nam 2) Trong thời gian tháng 8 đến tháng 9 năm

1945, ở miền Bắc xảy ra thiên tai, lũ lụt; 9 tỉnh ở Bắc bộ vỡ đê làm vụ lúa mùa bị thất thu tới 50% sản lượng Cùng trong thời gian này, ba tỉnh

vùng Bắc Trung Bộ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng bị mất mùa trên một nửa diện tích gieo trồng của địa phương 3) Trong lúc tình hình

khó khăn về lương thực như vậy thì nhiều tư thương thực hiện việc đầu

cơ tích trữ lương thực (lúa gạo) để kiếm lời Việc làm của tư thương

cũng gây thêm khó khăn cho đời sống người dân miền Bắc sau cách

mạng tháng Tám 1945, khiến nạn đói càng thêm trầm trọng

b Giải quyết nạn đói

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3 tháng 9 năm 1945),

Hồ Chủ Tịch đã nêu 6 nhiệm vụ cần thực hiện ngay, trong đó 3 nhiệm vụ

"diệt giặc đói", "diệt giặc dốt" và "diệt giặc ngoại xâm" được ưu tiên hàng đầu Để giải quyết nạn đói, Chính phủ đã triển khai thực hiện các giải pháp cấp bách, trước mắt và các giải pháp căn bản, lâu dài

Việc làm đầu tiên thuộc về giải pháp cấp bách, trước mắt là Hồ Chủ Tịch và Chính phủ đã phát động các phong trào tương trợ, cứu tế kêu gọi toàn dân quyên góp lương thực cứu đói Để tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng phong trào này, Hồ Chủ Tịch đã viết thư gửi đồng bào cả nước (ngày 28 tháng 9 năm 1945): "Lúc chúng ta bưng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo" [Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, 601]

Dân ta vốn có truyền thống tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách" trong lúc khó khăn, hoạn nạn nên đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của

Hồ Chủ tịch Các hoạt động quyên góp, "ngày đồng tâm", phong trào

"nhường cơm sẻ áo", "hũ gạo cứu đói" diễn ra sôi nổi, rộng khắp Bên

Trang 4

cạnh kêu gọi, vận động Chính phủ còn thực hiện các biện pháp hành chính như cấm dùng gạo nấu rượu, xoá bỏ mọi hạn chế trong lưu thông gạo giữa các vùng trong cả nước, cấm tích trữ gạo, lập tổ chức "Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế" để giải quyết nạn đói

Việc chuyên chở gạo từ các tỉnh Trung Bộ và Nam Bộ ra Bắc Bộ được thực hiện khẩn trương Chỉ tính 3 tháng cuối năm 1945, đã có

700 tấn gạo được chuyển ra Bắc Bộ và trước khi chiến sự ở Nam Bộ diễn biến ác liệt, đã có gần 30 nghìn tấn gạo được chuyển ra Bắc theo đường sắt Sau đó vận chuyển gạo được tiến hành bằng đường thủy ra Hải Phòng nhưng một phần khá lớn đã bị quân đội của Tướng Lư Hán trưng dụng mất Số gạo còn lại được phân phối cho các địa phương bị đói trầm trọng nhất

Các hoạt động trên chỉ có tính chất "cấp cứu" Để xóa bỏ hẳn nạn đói cần thực hiện các giải pháp căn bản lâu dài là phát triển sản xuất Tăng gia sản xuất không chỉ để giải quyết nạn đói, mà còn là cơ sở cho toàn bộ chính sách kinh tế của Chính phủ cách mạng Việt Nam Để động viên, khuyến khích tăng gia sản xuất nông nghiệp, Hồ Chủ tịch đã kêu gọi nông dân: "Thực túc thì binh cường Cấy nhiều thì khỏi đói Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập" [Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, 609]

Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp để hướng dẫn người dân tăng gia sản xuất: Bộ Canh nông xuất bản tờ báo "Tấc đất" để tuyên truyền, vận động, chỉ đạo, hướng dẫn tăng gia sản xuất; Chính phủ cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất; chi ngân sách sửa chữa những quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới1 Đầu năm 1946, việc tu bổ đê điều cơ bản hoàn thành Để đẩy mạnh việc tăng gia sản xuất, Chính phủ cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm; chủ trương miễn thuế cho dân vùng bị lụt; giảm thuế ruộng 20%, buộc địa chủ giảm tô 25%; đất công được chia lại cho hợp lý

1 Tuy gặp khó khăn về tài chính nhưng Chính phủ vẫn cố gắng chi khoảng 8 triệu đồng để

lo việc sửa chữa, tu bổ đê điều

Trang 5

hơn; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian đem chia cho nông dân thiếu đất

Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Hồ Chủ Tịch, sự chỉ đạo tích cực của Chính phủ và sự nỗ lực của toàn dân, chỉ trong một thời gian ngắn, hoạt động tăng gia sản xuất (gồm trồng hoa màu và lúa) đã đạt được kết quả quan trọng Trong 5 tháng từ tháng 11 năm 1945 đến tháng

5 năm 1946, sản lượng lương thực (chủ yếu là hoa màu), đạt 614.000 tấn, tương đương 506.000 tấn lúa, đủ bù đắp số lương thực thiếu hụt của vụ mùa năm 1945 Năm 1946 ở Bắc Bộ, vụ lúa chiêm đã tăng hơn vụ chiêm năm 1945 khoảng 100.000 tấn; vụ lúa mùa gieo trồng trên diện tích 890.000 ha, đạt sản lượng 1.155.000 tấn lúa

Nhờ nỗ lực của Chính phủ và toàn dân trong các phong trào quyên góp, tổ chức điều tiết lương thực cả nước và trong cuộc vận động tăng gia sản xuất, kết quả thu được tốt đẹp Nạn đói đã từng bước được chặn đứng

và đẩy lùi Đây "thực sự là một kỳ công của chế độ dân chủ nhân dân" [Võ Nguyên Giáp, 1946 Dẫn theo Lê Mậu Hãn & cộng sự, 2013, 36]

4.1.2.2 Xây dựng nền tài chính, tiền tệ độc lập

Để giải quyết tình hình khó khăn và bước đầu xây dựng nền tài chính độc lập, Chính phủ đã triển khai các giải pháp cấp bách, trước mắt

và các giải pháp căn bản lâu dài Những việc làm thuộc giải pháp cấp bách bao gồm: phát động các phong trào quyên góp như phong trào "Quỹ độc lập", "Tuần lễ vàng"; phong trào "đón thương binh về làng", nuôi

Trang 6

dưỡng cán bộ Phong trào "Quỹ độc lập" được phát động dựa vào Sắc lệnh số 4/SL ngày 4 tháng 9 năm 1945 của Chính phủ Mục đích của phong trào là để "thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của quốc gia" [Đinh Thị Thu Cúc, 2017, 56] Còn "Tuần lễ vàng" thì được tổ chức từ ngày 16 tháng 9 năm 1945 nhằm kêu gọi các nhà giàu đóng góp một phần tài sản cho đất nước vừa giành được độc lập còn nhiều khó khăn Các phong trào phát động được đông đảo dân chúng hưởng ứng Kết quả Chính phủ

đã thu được 370 kg vàng và 20 triệu đồng Đông Dương Hai khoản thu được này giá trị tương tương với hai khoản thuế đinh và thuế điền mà chính quyền thuộc địa thu được một năm ở Đông Dương trước đó1 Ngoài tiền và vàng, nhiều người còn hiến cả nhà cửa, ruộng vườn cho Chính phủ Dù chưa phải là lớn, nhưng với hai khoản thu này cũng phần nào giúp Chính phủ bớt khó khăn trong bối cảnh ngân sách còn hạn hẹp sau cách mạng

Bên cạnh giải pháp cấp bách, Chính phủ cũng triển khai các giải pháp mang tính căn bản, lâu dài để xây dựng nền tài chính độc lập của quốc gia Đối với thuế, Chính phủ chủ trương cải cách dần chế độ thuế, trong đó sửa ngay những thứ thuế quá vô lý, tạm giữ nguyên những gì không quá sai trái với tinh thần của chế độ dân chủ, bổ sung dần những quy chế mới Theo đó, ngày 7 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 11, trong đó quyết định bãi bỏ thuế thân (thứ thuế vô lý, trái với tinh thần của chính thể cộng hòa dân chủ) Bãi bỏ một số thuế đối với những thành phần kinh doanh nhỏ, mà chủ yếu là những người lao động nghèo Đồng thời Chính phủ cũng cấm buôn bán thuốc phiện, rượu cồn; xoá các loại thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện và quyết định thu các loại thuế: thuế quan (thuế xuất nhập khẩu), thuế điền thổ, thuế thương mại, thuế kỹ nghệ canh nông; trong đó thuế điền thổ giảm 20% trên toàn quốc Chính phủ dành ba nguồn thu phục vụ quốc phòng: 1) Đảm phụ đặc biệt đánh vào các ngành vận tải, bưu điện; 2) Phụ thu thêm vào tem bưu điện; 3) Đảm phụ quốc phòng, quy định mỗi người dân, trừ người

1 Nếu quy đổi thành vàng và tính theo thời giá tháng 8 năm 2008, giá trị tương đương hơn 6.100 tỷ đồng Việt Nam [Phạm Minh Chính &Vương Quân Hoàng, 2009, 55-56]

Trang 7

già yếu và tàn tật, đều đóng 5 đồng Đông Dương (Sắc lệnh số 48, ngày 10/4/1946) Chính phủ đặt thêm một số thuế mới có tính chất gián thu đánh vào các mặt hàng xa xỉ như rượu ngoại Ngoài ra Chính phủ còn ban hành một số quy định về các chế độ trưng thu, trưng dụng, trưng tập tài sản và nhân lực phục vụ cho quốc gia1 Ba biện pháp này được áp dụng trong trường hợp cần thiết, phục vụ những yêu cầu cấp bách của đất nước là quốc phòng, chống lụt, chống hạn, tổ chức sản xuất phục vụ nhu cầu nhà nước và nhân dân

Về chi tiêu tài chính, do nền tài chính còn khó khăn, các nguồn thu ít

ỏi và không ổn định, Chính phủ đã đề ra nguyên tắc triệt để tiết kiệm chi

Theo nguyên tắc này, trừ các công việc liên quan đến quốc phòng, ngoại giao, sửa chữa đê điều ra thì những việc khác phải hết sức tiết kiệm chi

b Xây dựng tiền tệ

Sau cách mạng tiền tệ nước ta gặp nhiều khó khăn, phức tạp Song, Chính phủ ta đã có những quyết sách và hành động phù hợp để giải quyết khó khăn và từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập Cuối năm 1945, Chính phủ Việt Nam quyết định phát hành tiền vì các lý do: 1) Thiếu tiền trầm trọng (do không kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương, số tiền thu được hơn một nửa rách nát phải tiêu huỷ) và bị lạm phát tiền tệ nghiêm trọng 2) Tiền là một trong những dấu hiệu thể hiện độc lập của quốc gia Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Một quốc gia, một chính phủ độc lập không thể không có đồng tiền riêng của mình 3) Bị phá rối về tiền tệ Quân đội Tưởng ép Chính phủ ta cho lưu thông hai đồng tiền đang mất giá của Trung Quốc trên thị trường thế giới

là Quan kim và Quốc tệ theo tỷ giá bất lợi cho nền tiền tệ Việt Nam2

1 Trong đó: trưng thu là Nhà nước lấy hẳn; trưng dụng là sử dụng có thời hạn đối với những phương tiện, tài sản và các cơ sở sản xuất của tư nhân; trưng tập là huy động những nhân lực và chuyên gia quan trọng

2 Quân Tưởng quy định: cứ 1 đồng Quan kim giá trị bằng 1,5 đồng Đông Dương và 13,3 đồng Quốc tệ thì bằng 1 đồng Đông Dương [Phạm Minh Chính & Vương Quân Hoàng,

2009, 58]

Trang 8

Trong bối cảnh phức tạp, nhiều khó khăn của năm đầu sau cách mạng, công tác in, phát hành tiền được chuẩn bị tích cực và bí mật Đây cũng là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt "Trận chiến tiền tệ không có tiếng súng, nhưng máu đã đổ" [Phạm Minh Chính & Vương Quân Hoàng, 2009, 57] Trong tình hình như vậy, Chính phủ ta không thể phát hành toàn bộ tiền tệ trong một thời điểm chung cho cả nước mà phải tiến hành theo từng bước, qua ba đợt Đợt 1, vào tháng 12 năm 1945, Chính phủ cho lưu hành đồng 2 hào và 5 hào Phát hành hai đồng tiền có giá trị nhỏ này là để đáp ứng nhu cầu thiếu tiền lẻ, đồng thời để người dân làm quen với tiền Cụ Hồ Sau đó vào ngày 31 tháng 1 năm 1946, Chính phủ cho phát hành tiền từ vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) vào đến Nam Trung Bộ Do vùng này không có quân đội nước ngoài, hệ thống chính quyền vững là điều kiện thuận lợi cho phát hành, lưu thông tiền tệ Đợt hai, từ tháng 8 năm 1946, Chính phủ quyết định phát hành tiền từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc Đợt ba, vào tháng 11 năm 1946, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá I quyết định phát hành tiền trong cả nước

Như vậy, sau cách mạng, Chính phủ ta đã có những chủ trương và hành động sáng tạo, linh hoạt, phù hợp để giải quyết những khó khăn về tiền tệ Nền tiền tệ mới đã từng bước hình thành, đáp ứng tối thiểu cho nhu cầu chính trị, kinh tế, quân sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

4.1.2.3 Khôi phục hoạt động công thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện và chuyển dần nền kinh tế sang thời chiến

a Khôi phục công thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện

Sau cách mạng tháng Tám 1945, công thương nghiệp bị đình trệ, sa sút nghiêm trọng Công nghiệp bị giảm sút, tê liệt là do những xí nghiệp quan trọng đã bị quân đội Nhật chiếm giữ, khai thác phục vụ chiến tranh nên bị quân Đồng Minh phá hoại Mặt khác do các chủ người Pháp ngừng đầu tư, sa thải công nhân, rút vốn về nước Còn thương nghiệp bị

tê liệt là do từ năm 1943, quân Đồng Minh chủ trương phong tỏa toàn bộ vùng trời và vùng biển của Đông Dương để chống lại phát xít Nhật nên xuất nhập khẩu đình trệ Giao lưu buôn bán giữa hai miền Nam Bắc bị

Trang 9

cắt đứt Tình trạng khan hiếm hàng hóa đã diễn ra trong một thời gian dài,

để lại hậu quả nặng nề cho chính quyền và nhân dân ta sau cách mạng Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện những chủ trương, chính sách để khôi phục lại các hoạt động công thương và giao thông vận tải

Để khuyến khích, vận động giới công thương tích cực hoạt động góp phần phục hồi nền kinh tế, trong thư gửi giới công thương, Hồ Chủ Tịch

đã viết: "giới Công - Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh

tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công - Thương trong công cuộc kiến thiết này" [Dẫn theo Nguyễn Trí Dĩnh & cộng sự, 2013, 516]

• Công nghiệp

Chính phủ chủ trương kiên quyết giữ vững chủ quyền, nhưng tiếp tục duy trì quan hệ kinh tế với Pháp Một số xí nghiệp của tư bản Pháp và

tư bản nước ngoài được tiếp tục kinh doanh nhưng phải tuân theo luật lệ

và chịu sự kiểm soát của ta Đó là các xí nghiệp điện, nước (ở thành phố); khai thác than (Quảng Ninh), dệt (Nam Định), xí nghiệp gạch ngói (Đáp Cầu - Bắc Ninh), xi măng (Hải Phòng), xí nghiệp sửa chữa cơ khí (Hà Nội, Hải Phòng ) Chủ trương này nhằm ngăn chặn những xáo trộn trong sản xuất và đời sống công nhân Ở Bắc Bộ hầu hết các nhà máy, xí nghiệp thuộc các ngành phục vụ nhu cầu thiết yếu như điện, nước, vải sợi, sửa chữa cơ khí vẫn được hoạt động

Chính phủ áp dụng những biện pháp thủ tiêu đặc quyền của thực dân Pháp Ngày 30 tháng 10 năm 1945, Chính phủ ta cho đóng cửa Sở Khoáng chất của tư bản Pháp ở Trung Bộ Tiếp đến, ngày 30 tháng 5 năm 1946, xoá bỏ đặc quyền khai thác của Pháp và lập ra các khu mỏ của Nhà nước Việt Nam ở Thái Nguyên, Nông Sơn (Quảng Ngãi), Khe Bố (Nghệ An) Chính phủ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh

tế tư nhân phát triển, theo điều kiện hợp lý1

1 Ngày 30 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 91 cho phép ông Đỗ Long Giang là chủ mỏ được quyền khai thác than đá tại khu Giáp Khẩu rộng 900 ha ở Hòn Gai trong thời gian 30 năm Ông Đỗ Long Giang phải nộp vào công quỹ 9.000 đồng Đông Dương Ông còn phải đảm bảo sản lượng than hàng năm là 20.000 tấn và nộp cho Nhà nước 2 đồng/tấn

Trang 10

Nhà nước ban hành dự thảo luật lao động, bảo vệ quyền lợi tối thiểu của người công nhân như tiền lương, điều kiện làm việc Kể từ ngày 2 tháng 10 năm 1945, Chính phủ cho phép tất cả các nhà kinh doanh đều được quyền khai trương, khuếch trương, nhượng lại hay di chuyển các cơ quan thương mại và kỹ nghệ hay tiểu công nghệ Do đó, nhiều nhà công thương Việt Nam đã huy động vốn để thành lập các công ty kinh doanh Một số công ty lớn đã ra đời như: Việt Thương công ty (có vốn 30 triệu đồng Đông Dương, chuyên kinh doanh hàng nông sản xuất nhập khẩu); Công ty Hương Việt, công ty Việt Bắc, v.v

• Thương nghiệp

Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 7 thủ tiêu việc "ngăn sông cấm chợ", đảm bảo cho sự buôn bán và chuyên chở thóc gạo được tự do trong toàn Bắc Bộ Sau đó, từ ngày 2 tháng 10 năm

1945 thì Sắc lệnh này được áp dụng cho cả Trung Bộ Ngày 22 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh thủ tiêu các nghiệp đoàn độc quyền kinh doanh, đồng thời nắm độc quyền về ngoại thương Ngày 6 tháng 10 năm 1945, Nha Thương vụ Việt Nam được thành lập với nhiệm

vụ nghiên cứu các vấn đề thương nghiệp và đề đạt với Chính phủ những chính sách cần thiết Chính phủ còn kêu gọi và khuyến khích thương nhân mở rộng hoạt động kinh doanh, đồng thời quyết định thành lập Hội thương gia Việt Nam (ngày 13 tháng 10 năm 1945)

Căn cứ vào hoàn cảnh và nhu cầu của đất nước lúc bấy giờ, Chính phủ có Sắc lệnh cấm xuất khẩu thóc gạo, ngô, đỗ và các chế phẩm từ ngũ cốc (ngày 9 tháng 10 năm 1945) Ngày 21 tháng 8 năm 1946, Chính phủ

ra Sắc lệnh số 160 về việc cấm xuất cảng các loại máy móc, hàng hóa sản xuất bằng kim khí, xe hơi và phụ tùng xe hơi Nhà nước khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng khác với điều kiện nhà kinh doanh phải xin phép Tuy vậy, những quyết định của Chính phủ về ngoại thương thời gian này thực hiện trên thực tế rất hạn chế bởi hầu hết các cửa khẩu quan trọng đều bị phong toả, hoặc nằm trong sự kiểm soát của quân đội nước ngoài [Nguyễn Trí Dĩnh & cộng sự, 2013, 518]

Trang 11

• Giao thông vận tải, bưu điện

- Về giao thông vận tải

Chính phủ đã thủ tiêu quyền kinh doanh đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam, giao cho Bộ Giao thông công chính quản lý; đồng thời tiến hành khôi phục, sửa chữa những cơ sở giao thông vận tải bị tàn phá sau chiến tranh Kết quả đã khôi phục được 50/60 chiếc cầu bị phá, sửa được

500 km đường bộ, tu sửa 32 km đường sắt; phục hồi 35 đầu máy, 206 toa hành khách, 134 toa hàng loại 20 tấn, 127 toa hàng loại 10 tấn

Chỉ hơn một tháng sau Cách mạng tháng Tám, giao thông vận tải đường sắt đã được phục hồi và hoạt động thông suốt Về đường thủy và đường hàng không: Từ tháng 9 năm 1945, Bộ Giao thông công chính đã

tổ chức đường vận tải thủy - bộ liên hợp từ Bắc vào Nam Tiếp đến, ngày

3 tháng 10 năm 1945, lập Nha Hàng hải thương thuyền Việt Nam, đặc trách quản lý giao thông đường thủy; đồng thời tổ chức Sở Hàng không, chuyên lo tu sửa mọi thiết bị kỹ thuật và chuẩn bị điều kiện để cho ngành Hàng không sau này ra đời

- Về bưu điện

Sau cách mạng, hệ thống thông tin liên lạc có vai trò cực kỳ quan trọng, nên Chính phủ đã dành cho lĩnh vực bưu chính sự quan tâm cần thiết Chỉ một tuần sau cách mạng, hệ thống điện tín và điện thoại nối giữa Hà Nội, Huế và Sài Gòn được phục hồi và hoạt động bình thường Đến giữa năm 1946, 4.000 km đường điện thoại đường dài được sửa chữa xong Trong bưu chính, người Việt Nam đã thay thế người Pháp đảm đương mọi việc của lĩnh vực này

b Chuyển dần nền kinh tế sang thời chiến

Vào cuối năm 1946, khi đàm phán giữa Chính phủ ta và Pháp bế tắc, nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh trên phạm vi toàn quốc là rất lớn Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ ta đã quyết định chuyển dần nền kinh tế sang thời chiến Chính sách kinh tế khi chuyển sang thời chiến Chính phủ được xác định rõ: "Tài chính kinh tế phải tập trung Mọi lực lượng của quốc dân được huy động để dùng trong việc kháng chiến, kiến quốc" [Đặng Phong, 2002, 214]

Trang 12

Thực hiện chủ trương, chính sách của Chính phủ, ở những thành phố thực dân Pháp chiếm được, ta tiến hành triệt để bao vây và phá hoại kinh

tế Ở những vùng nông thôn nơi Pháp thực hiện đánh rộng ra thì ta thực hiện chính sách "vườn không nhà trống" để gây khó khăn cho họ Đồng thời tổ chức phá đường để ngăn cản cuộc tiến công của địch Cả nước thực hiện phong trào "Ủng hộ kháng chiến Nam Bộ" Nhân dân miền Bắc

và miền Trung dốc sức người, sức của chi viện cho miền Nam Các toa

xe lửa chở đầy lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men, quần áo được đưa vào Nam và ra các mặt trận

Chính phủ còn phải chuẩn bị để đối phó trước tình hình chiến tranh ngày càng lan rộng ra cả nước Để phục vụ chiến tranh, việc tổ chức sản xuất và mua sắm vũ khí là một yêu cầu không thể thiếu Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập ngành quân giới Việt Nam Ngành này được xây dựng trên cơ sở các xưởng sửa chữa xe lửa và ô tô của Nhật và Pháp Ở miền Nam, ngay khi kháng chiến bùng

nổ, một số địa phương đã thành lập các công binh xưởng để chế tạo súng đạn Tính đến cuối năm 1946, ngành quân giới đã có 20 cơ sở lớn nhỏ, với 2.500 công nhân Bên cạnh đó, các xưởng may, xưởng đóng giày của

Bộ Quốc phòng cũng được xây dựng từ cuối năm 1945 Phong trào "Mùa đông binh sĩ" đã góp phần tích cực trong việc trang bị áo ấm cho bộ đội Chính phủ cũng tổ chức ra các cơ sở sản xuất thuốc men do Cục Quân y quản lý để sản xuất thuốc, bông, phục vụ cho kháng chiến

Như vậy, chỉ trong vòng 16 tháng (từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946), những thành công nổi bật của Đảng và Chính phủ ta là đẩy lùi được nạn đói, đẩy mạnh tăng gia sản xuất; xây dựng được nền tài chính, tiền tệ độc lập; các lĩnh vực sản xuất và trao đổi buôn bán được hồi phục Một trong những nhân tố quan trọng tạo nên thành công đó chính là bản lĩnh và sự tài tình của Đảng, của Chính phủ đứng đầu là Hồ Chủ Tịch trong việc đề ra chủ trương, chính sách kinh tế khôn khéo, đúng đắn, phát huy được tinh thần yêu nước và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Thành công đó đã góp phần ổn định, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần bảo vệ chính quyền và những thành quả cách mạng; đồng thời tạo tiền đề cho cuộc kháng chiến toàn quốc trong 8 năm tiếp theo

Trang 13

4.2 KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1947-1954

4.2.1 Kinh tế vùng tự do

a Chính sách kinh tế kháng chiến

Tháng 11 năm 1946, quân Pháp mở các cuộc tấn công ở nhiều khu vực thuộc miền Bắc và miền Trung; đồng thời gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta, đòi tước vũ khí của tự vệ Hà Nội và kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô Trước tình hình đó, từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ trung ương Đảng họp tại Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Hồ Chủ Tịch để có chủ trương đối phó Hội nghị cho rằng khả năng hoà hoãn không còn, do đó Hội nghị đã quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội Vào lúc 20h00

ngày 19 tháng 12 năm 1946, đài phát thanh phát Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cuộc kháng chiến toàn quốc

bùng nổ!

Kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam là cuộc kháng chiến của một nước nông nghiệp lạc hậu chống lại một nước đế quốc có nền kinh tế công nghiệp hiện đại Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử và các điều kiện khách quan, chủ quan, Đảng và Chính phủ ta đã đề ra đường lối chung cho cuộc kháng chiến là: "Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh" Tinh thần của đường lối chung này được quán triệt, vận dụng vào tất cả các lĩnh vực kháng chiến Về kinh tế, Đảng và Chính phủ xác

định rõ chính sách kinh tế kháng chiến có hai nội dung: Phá hoại kinh tế của địch và xây dựng kinh tế của ta

Do thực dân Pháp đánh ta trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt đối với kinh tế, chúng chủ trương bao vây kinh tế kháng chiến hòng làm cho sản xuất bế tắc, thị trường rối loạn Để chống lại, ta không chỉ đánh địch trên mặt trận quân sự mà còn đánh địch trên cả mặt trận kinh tế Nghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương ngày 3 tháng 4 năm 1947 nêu rõ: Phá kinh tế địch bằng cách tẩy chay và phá hoại quân sự Làm cho địch không kinh doanh, bóc lột gì được, không thực hiện được chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" Tất cả những gì có lợi cho địch (lương

Trang 14

thực, quần áo, đạn dược, đầu máy, xe cộ ) thì phải đốt phá, nếu ta không chiếm được để dùng [Văn kiện Đảng, 2001, tập 8, 181]

Đồng thời với nhiệm vụ phá hoại kinh tế địch, Chính phủ triển khai xây dựng nền kinh tế kháng chiến theo 2 nguyên tắc: "Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc" và "Tự cung, tự cấp về mọi mặt" Cụ thể:

Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc: Kháng chiến, kiến quốc được thực

hiện trên tất cả các lĩnh vực Việc xây dựng kinh tế lúc này "về hình thức

là kinh tế chiến tranh, về nội dung là dân chủ mới" [Trường Chinh, 1959, 35-36] Trong đó tính chất kháng chiến được ưu tiên hàng đầu, tất cả cho kháng chiến thắng lợi; quá trình xây dựng và phát triển kinh tế cũng nằm trong mục tiêu "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" Đối với kinh

tế, cần chú trọng phát triển nông nghiệp, tiếp đến là thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp Trong công nghiệp, chú trọng phát triển công nghiệp quốc phòng và khai thác nguyên liệu

Tự cung, tự cấp về mọi mặt: Do bị bao vây phong toả với bên ngoài

và giữa các vùng với nhau, nên phải tự cung, tự cấp về mọi mặt Chúng

ta phải tự mình giải quyết những nhu cầu cho kháng chiến, không phụ thuộc vào nước ngoài để có thể đảm bảo kháng chiến trường kỳ Tập trung sản xuất những thứ cần thiết, đáp ứng nhu cầu kháng chiến và dân sinh, không sản xuất những xa xỉ phẩm Bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, trường học cũng phải dành một phần thời gian để sản xuất tự túc, giảm bớt gánh nặng đóng góp của nhân dân

b Đặc điểm tình hình kinh tế

Thực hiện chủ trương, chính sách kinh tế kháng chiến của Chính phủ, trước khi rút khỏi các thành phố, các vùng đồng bằng lên các chiến khu, ta đã thực hiện "tiêu thổ kháng chiến", làm vườn không nhà trống, phá đường, cầu cống, công sở và các cơ sở kinh tế của Pháp1 Chúng ta còn thực hiện bao vây, phá hoại kinh tế địch Tại các cơ sở công nghiệp của Pháp vùng tạm chiếm, ta đã tháo gỡ máy móc và dụng cụ, làm cho

1 Trong những ngày đầu kháng chiến, ta đã phá hủy 1.060 km đường sắt, 5.640 km đường

bộ, 30.500 chiếc cầu và cống, 59.100 nhà xưởng, 84 đầu máy và 868 toa xe lửa [Đặng Phong, 2002, tập 1, 240]

Trang 15

sản xuất công nghiệp của Pháp ở nhiều nơi gần như bị tê liệt Nhìn chung, chúng ta đã thực hiện "tiêu thổ kháng chiến" tốt Tuy nhiên, trong phá hoại kinh tế địch, chúng ta mắc một số sai lầm ở vài nơi như chậm trễ trong việc phá hoại làm cho địch kịp thời sử dụng đường sá để tấn công, một số nơi lại chủ trương phá ở cả những nơi không cần phải phá Tuy vậy, việc phá hoại trên quy mô toàn quốc có ý nghĩa to lớn, làm cho quân đội Pháp bị vây hãm, khả năng tấn công bị giảm sút và chậm lại Bên cạnh "phá hoại kinh tế địch" thì "xây dựng kinh tế ta" là nhiệm

vụ có tầm quan trọng đặc biệt của vùng tự do Kinh tế kháng chiến vùng

tự do được xây dựng, phát triển qua hai đoạn với những đặc điểm tình hình khác nhau, đó là giai đoạn 1947-1950 và giai đoạn 1951-1954

• Kinh tế giai đoạn 1947-1950

Tư tưởng chỉ đạo kinh tế giai đoạn này là xây dựng cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến lâu dài, kinh tế phục vụ kháng chiến

- Nông nghiệp

Trong giai đoạn này, nước ta vẫn là nước có nền kinh tế lạc hậu; trong đó, nông nghiệp là ngành chủ đạo Chính vì thế chủ trương của Chính phủ là chú trọng phát triển nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho kháng chiến và đời sống người dân

Để khuyến khích, phát triển nông nghiệp, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau Đó là, thực hiện giảm tô thuế, bước đầu thực hiện "người cày có ruộng" Ngày 14 tháng 7 năm 1949, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 78/SL nhắc lại giảm tô 25%, xóa địa tô phụ và chế độ "quá điền" Tiếp theo vào tháng 5 năm 1950, Chính phủ ban hành Quy chế về việc tạm cấp ruộng đất của Việt gian, thực dân Pháp cho nông dân, bộ đội, du kích và những người tá điền đã từng lĩnh canh trên mảnh đất đó Chính phủ còn cho nông dân vay vốn để mua trâu bò, nông cụ, giống, phân bón, chi phí thủy lợi, khai hoang, mở rộng chăn nuôi, phát triển nông nghiệp Từ năm 1947 đến 1951, Sở tín dụng sản xuất đã cho khu vực nông nghiệp vay 181 triệu đồng [Nguyễn Ngọc Minh, 1966, 166] Năm 1947, Bộ Canh nông thực hiện vận động nông dân vào làm ăn tập thể Lúc đầu phong trào tương đối rầm rộ; song vì tổ chức ào ạt, nhận

Trang 16

thức và quản lý chưa tốt, nên sau đó có nhiều hợp tác xã đã giải tán Năm

1949, Chính phủ có chính sách rõ ràng hơn về hợp tác xã nông nghiệp Nhờ đó, các địa phương lại phát triển các hình thức hợp tác từ tổ đổi công, hợp công đến hợp tác xã Những hình thức kinh tế tập thể thời này

đã có tác dụng nhất định đối với sự phát triển và bảo vệ sản xuất

Trong giai đoạn này, việc cải tiến kỹ thuật canh tác và tổ chức chống địch phá hoại sản xuất nông nghiệp cũng được Chính phủ quan tâm Đội ngũ chuyên gia nông nghiệp được cử xuống cơ sở tìm hiểu tình hình thực

tế, đưa ra những sáng kiến đổi mới kỹ thuật thích hợp để phát triển nông nghiệp như dùng phân xanh bón ruộng, gieo trồng các giống lúa ngắn ngày, đưa các giống rau mới lên gieo trồng ở vùng núi Chính phủ còn chỉ đạo quân và dân ta chống địch càn quét, phá hoại để bảo vệ sản xuất

và đời sống nhân dân vùng tự do

Về thủy lợi, bộ đội, cơ quan đi đến đâu cũng tổ chức giúp dân xây dựng các cơ sở tiểu thủy nông để tăng vụ cho sản xuất, bảo vệ đê điều Với sự giúp đỡ của cán bộ, bộ đội, rất nhiều nơi đã đẩy mạnh phong trào thủy lợi nhỏ, chuyển những ruộng một vụ thành ruộng hai vụ (thêm vụ chiêm) Từ năm 1946 đến năm 1950, hàng chục triệu ngày công lao động được huy động, đã đào được hàng chục triệu mét khối đất đá Diện tích lúa được tưới tiêu tăng lên nhanh chóng, từ 22.500 héc ta (năm 1946) lên 134.000 héc ta (năm 1950) Trong suốt 8 năm kháng chiến, gần như không có vùng nào bị lụt, bị hạn, bị sâu bệnh phá hoại mùa màng

Những biện pháp trên đây của Chính phủ đã có tác dụng lớn trong việc giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp làm cơ sở kinh tế cho kháng chiến Trong giai đoạn 1947-1950, sản xuất được duy trì bình thường, sản lượng lúa tăng lên, hoa màu tăng mạnh Năm 1950, sản lượng lúa từ Bắc Trung Bộ trở ra đạt hơn 2.414.830 tấn Các loại hoa màu: Ngô, khoai, sắn, đỗ cũng tăng nhiều Riêng sắn, năm 1950, ở Việt Bắc đã tăng hơn những năm trước đến 100% Việc chăn nuôi gia súc ở một số địa phương cũng tăng hơn trước Nhìn chung, nông nghiệp thời kỳ này ổn định, có bước phát triển nhất định, đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu cho kháng chiến và dân sinh

Trang 17

- Công nghiệp

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có vai trò quan trọng

Để phục vụ kháng chiến, Đảng và Chính phủ có chủ trương phục hồi tiểu thủ công nghiệp và phát triển công nghiệp quốc phòng

+ Công nghiệp quốc phòng

Trong bối cảnh kháng chiến, Chính phủ chú trọng xây dựng, phát triển ngành công nghiệp quốc phòng Hệ thống công nghiệp quốc phòng được tổ chức từ Trung ương đến các tỉnh, huyện và các khu với quy mô nhỏ, phân tán, bí mật, dễ di chuyển Nhiều máy móc được vận chuyển từ

Hà Nội lên chiến khu để xây dựng các công binh xưởng, chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến Trong thời này, ngành công nghiệp quân giới đã có

nỗ lực lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của quân đội Sản xuất vũ khí tăng liên tục; nhiều loại vũ khí, đạn được chế tạo (súng mortier, súng SKZ không giật, các loại đạn lõm, mìn lõm, đạn đại bác ); chất lượng

vũ khí được cải tiến Đến năm 1949, vùng kháng chiến đã xây dựng được

130 xưởng sản xuất vũ khí, 21 xưởng quân dược, 20 cơ sở quân nhu Trong bốn năm đầu kháng chiến, ngành quân giới sản xuất được 6.000 tấn vũ khí các loại Ngành quân Y Dược sản xuất được các loại thuốc chữa bệnh sốt rét, penixilin dạng nước, chế được vỏ ống thuốc tiêm bằng thủy tinh, xi-lanh Từ năm 1950, quân nhu đảm bảo đủ quân trang, quân phục cho bộ đội

Trong điều kiện đặc biệt, nước Việt Nam mới vừa ra đời đã phải tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Những cơ sở công nghiệp đầu tiên hình thành không phải từ khu vực dân sự mà là từ quốc phòng Những cơ sở này, trong kháng chiến thì đáp ứng cho nhu cầu quân sự; về sau thời hoà bình sẽ có bộ phận trở thành cơ sở phát triển công nghiệp quốc dân (dân sự) Đây là đặc điểm, cũng đồng thời là quy luật hình thành, phát triển của ngành công nghiệp ở nước ta từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945

+ Công nghiệp dân dụng

Các doanh nghiệp dân dụng (hay doanh nghiệp quốc doanh) của Nhà nước cũng được quan tâm xây dựng Các doanh nghiệp này sản xuất và

Trang 18

lưu thông theo kế hoạch của Nhà nước; được Nhà nước cấp vốn, trả lương, lãi nộp Nhà nước, lỗ Nhà nước bù Công nghiệp quốc doanh được xây dựng, phát triển để đáp ứng nhu cầu kháng chiến và dân sinh

Trong công nghiệp quốc doanh, ngành khai thác than được ưu tiên phát triển Một số xí nghiệp, nhà máy có từ thời Pháp như cơ khí, hóa chất, dệt được khôi phục lại hoạt động Các nhà máy cơ khí được xây dựng ở tất cả các chiến khu trong cả nước Nhiệm vụ của các cơ sở này là sửa chữa máy móc, chế tạo các loại máy in, máy nổ, máy xát gạo, máy nghiền Ngành luyện kim có bước tiến lớn với việc nấu gang bằng lò cao

cỡ nhỏ (ở huyện Như Xuân, Thanh Hóa) năm 1950 Các địa phương đều

cố gắng tự sản xuất các hóa chất thông thường như axit, xút, cồn, ête, phân bón đáp ứng nhu cầu kháng chiến và dân sinh

+ Công nghiệp nhỏ và thủ công nghiệp

Chính phủ chủ trương phục hồi và phát triển những ngành đáp ứng nhu cầu thiết yếu của kháng chiến và dân sinh (dệt, giấy, xà phòng); tạm ngừng hoạt động những ngành có tính chất xa xỉ (mỹ nghệ, thêu ren, sơn mài) Hầu hết cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp là của những tiểu chủ tản cư từ các thành phố đến vùng tự do Chính phủ tạo điều kiện và giúp

đỡ để họ duy trì, phát triển sản xuất Nhà nước áp dụng các biện pháp khuyến khích thợ thủ công như cho vay vốn, cung ứng nguyên vật liệu, định mức thuế thích hợp hoặc không đánh thuế cho từng loại sản phẩm

và phổ biến kinh nghiệm sản xuất Tính từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 9 năm 1948, Nhà nước đã cung cấp tín dụng cho 775 nhà kinh doanh trong tiểu thủ công nghiệp, với tổng số tiền là 2.252.580 đồng

Chính phủ còn chủ trương xây dựng cơ sở quốc doanh dân dụng để sản xuất công cụ lao động, hàng tiêu dùng cho bộ đội và nhân dân Nhờ

có sự khuyến khích, hỗ trợ của Chính phủ, các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất được nhiều loại sản phẩm đáp ứng một phần nhu cầu của nhân dân Nghề sản xuất giấy từ chỗ chưa có cơ sở nào khi bắt đầu kháng chiến, đến năm 1950 đã tổ chức được hàng trăm cơ sở ở các liên khu, mỗi năm sản xuất được 1000-1500 tấn giấy Nghề dệt được xây dựng ở tất cả các nơi trong vùng kháng chiến, ở Nam Bộ tự túc được

Trang 19

100% về nhu cầu ăn mặc (1949) Liên khu V (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) tự túc được toàn bộ vải mặc và còn cung cấp cho nơi khác Liên khu II (Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu), liên khu IV (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) đã sản xuất được 16 triệu mét vải (1948) và 23,2 triệu mét vải (1950), đáp ứng được 40% nhu cầu của địa phương

- Thương nghiệp, giao thông vận tải và bưu điện

+ Thương nghiệp

Hoạt động thương nghiệp vẫn chủ yếu nằm trong tay tư nhân Nhà nước chỉ có cơ quan tiếp liệu để mua nhu yếu phẩm cho cơ quan và bộ đội Đầu năm 1947, "Nha tiếp tế" được thành lập, đến tháng 2 năm 1948 thì đổi thành "Cục tiếp tế và vận tải" Cục tiếp tế và vận tải có nhiệm vụ cung ứng hàng hóa cho kháng chiến và dân sinh Nhưng do chưa đáp ứng được yêu cầu, nên sau đó, các "Phòng tiếp liệu", "Cục ngoại thương" được Chính phủ lập ra để cùng với Cục vận tải và tiếp tế đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu vùng kháng chiến

Giá cả hàng hóa ở vùng kháng chiến có nhiều biến động theo thị trường và cũng chịu tác động rất lớn của chiến tranh Trong hoàn cảnh các vùng bị chia cắt, việc giao thương gặp nhiều khó khăn, một số mặt hàng trở nên khan hiếm, ngược lại một số mặt hàng khác không tiêu thụ được Giá cả trong điều kiện đó phụ thuộc nhiều vào cung cầu, ít phụ thuộc vào giá trị của hàng hóa Hai mặt hàng khan hiếm vào thời đó là muối và gạo, giá bị đẩy lên cao Ngược lại, có một số mặt hàng nông thổ sản của vùng rừng núi hoặc do địch bao vây, hoặc do chính sách ngăn cấm giao lưu, bị ứ đọng quá nhiều, giảm giá một cách nghiêm trọng Sự biến động về giá cả cũng thể hiện rõ trong quan hệ tiền - hàng Vào thời

kỳ vùng tự do bị thu hẹp, lượng tiền lưu hành lớn bị dồn vào một khu vực nhỏ, sự mất cân đối tiền - hàng dẫn đến giá cả tăng lên Ngược lại, khi giải phóng được các vùng Pháp tạm chiếm, thị trường được mở rộng, phạm vi lưu hành tiền cũng mở rộng, số lượng tiền và khối lượng hàng hóa được cân đối hơn, giá giảm xuống

Trang 20

Ngoại thương thời kỳ này là có sự buôn bán giữa vùng tự do với vùng Pháp tạm chiếm Trong những năm đầu, Nhà nước áp dụng chính sách "bao vây kinh tế địch", ngăn cấm buôn bán giữa vùng tự do với vùng tạm chiếm để cô lập địch, đấu tranh kinh tế với địch Tuy nhiên, tư thương vẫn mang hàng hóa ở vùng tự do sang vùng tạm chiếm và ngược lại Chính sách ngăn cấm giữa hai vùng đã tác động tiêu cực đến đời sống và sản xuất Vì thế từ năm 1950, Nhà nước áp dụng chính sách thương nghiệp mới "tự do nội thương, quản lý ngoại thương", chuyển từ

chủ trương triệt để bao vây sang chủ trương vừa bao vây, vừa lợi dụng kinh tế địch Chính sách kinh tế đúng đắn này đã tạo điều kiện khôi phục

và phát triển sản xuất ở vùng tự do như dệt vải, làm giấy, sản xuất mực

in, v.v

+ Giao thông vận tải

Giao thông vận tải có vai trò quan trọng trong kháng chiến, hoạt động kinh tế và dân sinh Bước vào cuộc kháng chiến, công việc đầu tiên của giao thông vận tải là phá hoại đường sá, cầu cống và phương tiện vận tải để Pháp không thể tấn công vào các vùng kháng chiến Chính phủ thành lập một hội đồng chuyên trách điều hòa đảm bảo vừa phá hoại, ngăn cản bước tiến quân của địch, vừa đảm bảo giao thông vận tải phục

vụ cho kháng chiến, thực hiện phương châm "ta đi được mà địch không

đi được" [Đặng Phong, 2002, T1, 316] Từ năm 1948, các khu căn cứ địa

đã được củng cố tương đối vững chắc, việc phá hoại đường sá để ngăn bước tiến của quân thù đã đạt yêu cầu Cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới, Chính phủ chỉ đạo sửa lại và làm thêm đường mới ở những nơi

ta kiểm soát để đảm bảo giao thông vận tải phục vụ cho kháng chiến Năm 1949 sửa được hơn 400 km đường bộ, hàng nghìn mét cầu cống qua sông, qua lạch được bắc lại Đến năm 1950, do nhu cầu vận chuyển hàng quân sự bằng cơ giới, nhiều đường cũ đã được mở rộng cùng với việc xây dựng một số đường mới như Bắc Sơn, Đình Cả - Thái Nguyên Khu

IV đã nạo vét thêm nhiều con kênh để vận chuyển những loại hàng hóa nặng cho các công binh xưởng trong rừng núi

Trong giai đoạn này phương tiện vận tải chủ yếu vẫn là phương tiện thô sơ Cán bộ đi công tác dùng xe đạp hoặc đi bộ Hàng hóa vận chuyển

Trang 21

bằng cách gồng gánh hoặc dùng các loại xe (cút kít, xe ngựa, xe bò, xe trâu, xe ba gác, xe đạp thồ) Riêng xe đạp là phương tiện chuyên chở hàng hoá rất hiệu quả, bình quân một xe chở được 2,5-3 tạ hàng Một số phương tiện cơ giới đã được đưa vào sử dụng như ô tô vận tải, xe lửa, xe goòng Giao thông đường thủy, do bị Pháp phong tỏa, nên ta chỉ có thể tổ chức các chuyến đi bí mật để nối Nam Bộ với Trung Bộ và Bắc Bộ, chủ yếu là sử dụng thuyền buồm, thuyền nan Việc sử dụng kết hợp các loại phương tiện giao thông thời này đã góp phần chuyên chở hàng chục vạn tấn hàng hoá, đạn dược cho các cơ quan, bộ đội, xí nghiệp

+ Bưu điện (bưu chính)

Bưu điện được quan tâm đúng mức trong giai đoạn này Ngày 15 tháng 10 năm 1947, Trung ương Đảng ra Chỉ thị: Phải củng cố giao thông liên lạc theo một hệ thống bán công khai hay bí mật, đặt địa điểm liên lạc dự bị, đặt giao thông song hành, thay luôn mật mã và giờ làm việc của cáp điện đài, quân sự hoá cơ quan mật mã Ba phương thức thông tin: điện thoại, vô tuyến điện, đường thư được triển khai và củng

cố vững chắc Thời kỳ này tồn tại 2 hệ thống: Giao thông liên lạc của Đảng và hệ thống bưu điện Ngày 28 tháng 6 năm 1947, Bộ Giao thông công chính đã ban hành Nghị định số 335/NĐ tổ chức lại ngành Bưu điện, hình thành 3 Nha Bưu điện trong cả nước: ở Trung ương có Nha Tổng Giám Đốc, dưới Nha Tổng Giám đốc có 3 Nha Giám đốc ở 3 miền: Nha Giám đốc Bưu điện Bắc Bộ, Nha Giám đốc Bưu điện Trung Bộ (Thanh Hóa - Thừa Thiên Huế) và Nha Bưu điện miền Nam Trong những năm đầu kháng chiến, ngành bưu điện gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn Nhưng cán bộ nhân viên trong ngành này đã tận dụng mạng thông tin sẵn có; đồng thời nghiên cứu, vận dụng phù hợp với mỗi tình thế, mỗi bối cảnh để đảm bảo thông tin tối ưu phục vụ kháng chiến, dân sinh

- Về tài chính, tiền tệ

Trong giai đoạn này, Chính phủ ta chủ trương thực hiện chính sách tài chính phân tán Về cơ bản giao cho các địa phương phải tự cấp, tự túc mọi mặt, tự lo lấy các khoản chi tiêu bằng cách dựa vào dân địa phương, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, Chính phủ chỉ cấp một phần Tài

Trang 22

chính dựa vào ba nguồn: sự đóng góp của dân, hệ thống thuế và phát hành tiền

Cách huy động dựa trên sự ủng hộ tự nguyện của nhân dân có ý nghĩa vô cùng to lớn Đây là chỗ dựa cơ bản để giải quyết những nhu cầu cấp bách trong khi chưa có khả năng hình thành hệ thống thuế ổn định Khắp các địa phương (cả vùng tự do lẫn vùng tạm chiếm), các đoàn thể

và nhiều cá nhân đã chủ động gây các loại quỹ khác nhau để giúp đỡ

kháng chiến Hầu hết các nơi đều có Hũ gạo kháng chiến, Quỹ nuôi quân, Quỹ binh sĩ bị nạn, Quỹ huấn luyện dân quân, Quỹ bình dân học

vụ Năm 1950, Chính phủ lập "Quỹ công lương" (thu 10 kg thóc/người)

và "Quỹ kháng chiến" (thu 60 đồng/người, tương đương với 10 kg thóc lúc đó) Nhà nước phát hành công trái (1950) nhưng không hiệu quả vì vùng ta kiểm soát là vùng nghèo, dân không có tiền mua công trái

Bảng 4.1 Cân đối thu - chi tài chính (1946-1950)

Năm Thu (Tấn thóc) Chi (Tấn thóc) Tỷ lệ thu so với chi (%)

độ thuế mới cho phù hợp với tình hình kháng chiến Cụ thể là bỏ thuế

ở thành thị và chuyển sang thu thuế bằng tiền, gồm: thuế điền thổ, môn bài, sát sinh, thuế quan và thuế trước bạ Trong giai đoạn từ 1946 đến 1950, hai khoản phát hành tiền và đóng góp tự nguyện của nhân dân là hai nguồn thu ngân sách lớn Trong đó nguồn thu chủ yếu vẫn

là phát hành giấy bạc, chiếm 70-80% tổng số thu Trong giai đoạn

Trang 23

này, đặc điểm của tài chính vùng tự do là bội chi ngân sách và thu không đủ chi Thu năm 1946 chỉ đảm bảo được 28% số chi, năm 1947 chỉ đạt 27%, năm 1948 là 20%, năm 1949 là 18%, năm 1950 thu chỉ đảm bảo được 23% số chi (Bảng 4.1)

Do hoàn cảnh chiến tranh, Chính phủ chủ trương xây dựng ba khu

vực tiền tệ riêng: Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ, Liên khu V và Nam Bộ Trong

đó, từ Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ: dùng đồng tiền do Bộ Tài chính phát hành năm 1946 Trong các năm 1946 đến 1950, Bộ tài chính đã phát hành 606 triệu đồng (1946), sau đó năm 1950, phát hành 11.600 triệu đồng (tăng 19 lần so với năm 1946) Việc làm này đã dẫn đến lạm phát tiền tệ Các tỉnh Liên khu V, lúc đầu dùng tiền năm 1946 Nhưng sau do khó khăn trong việc vận chuyển tiền từ Bắc vào Nam, tiền Tài chính không đủ đáp ứng nhu cầu, nên ngày 18 tháng 1 năm 1947, Chính phủ cho phép Ủy ban Kháng chiến miền Nam Trung Bộ phát hành một loại tiền riêng, gọi là "tín phiếu" Ở Nam Bộ, do vùng này kinh tế hàng hoá phát triển, để đáp ứng tình hình, Chính phủ chủ trương sử dụng tất cả các loại tiền trong lưu thông

Do việc vận chuyển tiền tài chính vào miền Nam hết sức khó khăn, vùng tự do lại bị chia cắt, liên lạc không thuận lợi nên chính quyền và nhân dân miền Nam có sáng kiến: dùng tiền Đông Dương có đóng dấu nổi của chính quyền cách mạng để tiêu dùng tạm thời Trong trường hợp không có tiền lẻ thì dùng một nửa tờ Đông Dương để tiêu Ở những nơi quá khó khăn thì các Ủy ban hành chính kháng chiến cắt tờ Đông Dương thành 4 phần, đóng dấu của Uỷ ban tỉnh vào mỗi phần rồi dùng như tiền

để tiêu dùng Do tình hình tiền tệ như vậy, vào cuối năm 1947, Chính phủ quyết định phát hành tiền riêng cho Nam Bộ

Việc hình thành các khu vực tiền riêng có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế - xã hội Việc làm này đã góp phần giúp cho hoạt động lưu thông tiền tệ phù hợp với lưu thông hàng hóa của từng vùng, đáp ứng yêu cầu kháng chiến từng khu vực, chống lại âm mưu phá hoại tiền tệ của địch; đồng thời ngăn chặn hành động lợi dụng chênh lệch giá cả giữa các vùng

để trục lợi của tư nhân

Trang 24

• Kinh tế giai đoạn 1951-1954

Bước sang giai đoạn này, Đảng và Chính phủ ta quyết định chấn chỉnh toàn bộ công tác kinh tế - tài chính; đồng thời thực hiện các kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, xây dựng, củng cố các doanh nghiệp quốc doanh Chủ trương này xuất phát từ hai lý do: 1) Cuộc kháng chiến đã chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn phản công giành thắng lợi cuối cùng; 2) Kinh tế - tài chính giai đoạn trước gặp khó khăn, thu không

đủ chi

Tình hình mới đòi hỏi phải thay đổi chủ trương kinh tế cho phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu mới Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ ta về các nhiệm vụ kinh tế trong giai đoạn này là: "Muốn kháng chiến trường kỳ phải luôn luôn bồi dưỡng kinh tế tài chính, phải coi nhiệm vụ kinh tế tài chính là nhiệm vụ rất quan trọng Trung ương cũng như các cấp phải gia cường việc lãnh đạo kinh tế tài chính, nắm vững chính sách kinh tế là tăng gia sản xuất, đảm bảo cung cấp; nắm vững chính sách tài chính là tăng thu giảm chi; thi hành đúng mức việc đấu tranh kinh tế tài chính với địch; mở mang mậu dịch với nước bạn Thực hiện việc khuyến khích, giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh và gọi vốn của tư nhân để phát triển công thương nghiệp, vận động nhân dân thi đua canh tác để bảo đảm "vụ mùa thắng lợi" [Văn kiện Đảng, 2001, tập 2, 508-509]

- Chấn chỉnh công tác kinh tế - tài chính

+ Về tài chính

Năm 1950 là năm khó khăn nhất về tài chính, đòi hỏi phải có chuyển biến quan trọng, tiến tới có một hệ thống tài chính khoa học và hợp lý hơn Hội nghị Trung ương Đảng lần I (tháng 3 năm 1951) đã quyết định thay đổi căn bản hệ thống tài chính, coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng

đầu Phương châm chỉ đạo hoạt động tài chính lúc này là tăng thu, giảm chi, thống nhất quản lý thu chi từ trên xuống dưới nhằm tránh thu chồng

chéo giữa Trung ương và địa phương Thực hiện chế độ đóng góp thống nhất trên cả nước, công bằng, hợp lý; ai có khả năng nhiều phải đóng góp nhiều, ai không có khả năng thì được miễn

Trang 25

Để thực hiện nhiệm vụ tăng thu, Chính phủ đã ban hành hệ thống

thuế mới, gồm 7 loại: Thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ và thuế tem

Trong đó thuế nông nghiệp quan trọng nhất vì nền kinh tế lúc này vẫn dựa chủ yếu vào nông nghiệp Thuế nông nghiệp có sự thay đổi về tên gọi, hình thức và chế độ thu Thuế nông nghiệp trước được gọi là thuế điền thổ và thu bằng tiền, nay thu bằng hiện vật (thóc) Từ thời điểm này, thuế nông nghiệp thu theo chế độ lũy tiến, từ 6 đến 45% Có thể nói, biểu thuế mới này có lợi cho nông dân, đồng thời có tác dụng điều tiết mạnh

mẽ thu nhập của địa chủ, phú nông (họ phải nộp nhiều hơn) Tầng lớp bần nông chỉ phải đóng từ 5-10%, còn trung nông đóng 10-20%, địa chủ

từ 30-50% sản lượng thu hoạch Thuế nông nghiệp còn có sự phân biệt giữa các vùng khác nhau Đối với những vùng có hoàn cảnh chiến tranh, vùng căn cứ du kích thì mức thuế nhẹ hơn so với vùng tự do; ở miền núi nhẹ hơn so với miền xuôi

Từ khi áp dụng, thuế nông nghiệp đã phát huy tác dụng một cách rõ rệt Ngay năm 1951, mức thu về thuế nông nghiệp đã vượt mức thu về thuế điền thổ tới 50% Tổng cộng trong suốt 4 năm từ 1951-1954, từ liên khu V trở ra, thuế nông nghiệp đã thu được 1.575.000 tấn thóc; trong đó chỉ một phần nhỏ thu bằng tiền Có thể nói, đây là cuộc cách mạng đối với thu thuế nông nghiệp, đem lại lợi ích lớn cho tài chính quốc gia Nhờ thuế nông nghiệp nhà nước đảm bảo cung cấp đủ lương thực cho cán bộ,

bộ đội, mà còn có một lượng đáng kể dành cho mậu dịch quốc doanh để bình ổn vật giá Ngoài thuế nông nghiệp, các loại thuế khác cũng có sự điều chỉnh Thuế công thương nghiệp được sửa đổi theo sắc lệnh số 44 ngày 22 tháng 7 năm 1951 Thuế công nghiệp thu thấp hơn thuế thương nghiệp nhằm khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp Thuế công thương nghiệp chia ra ba loại: thuế doanh nghiệp, thuế bán hàng và thuế buôn chuyến Mức thuế tương đối nhẹ để đảm bảo lưu thông hàng hóa, bình ổn vật giá, tránh chênh lệch giá quá lớn giữa các vùng Thuế xuất nhập khẩu được ban hành vào ngày 13 tháng 8 năm 1951, chủ yếu đánh vào kinh doanh hàng hóa giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do; thuế suất được thay đổi theo từng loại hàng hoá Thuế sát sinh, thuế trước bạ và thuế tem mang lại nguồn thu không đáng kể cho ngân sách

Trang 26

Chính phủ thực hiện giảm chi với nhiều biện pháp như: tiết kiệm chi

và giảm chi tới cấp huyện, chi chủ yếu phục vụ kháng chiến; giảm biên chế bộ máy nhà nước, tập trung cho lực lượng bộ đội Trong đợt giảm biên chế đầu tiên (tháng 8 và 9 năm 1951) có 35.159 nhân viên hành chính được chuyển sang công việc khác, tiết kiệm được 40.000 tấn thóc trong một năm

Từ năm 1951, do thu ngân sách tăng lên, chi hợp lý hơn, nên mức bội chi ngân sách đã giảm bớt, thu đáp ứng 30% chi (năm 1950 là 23%) Đến năm 1952, việc cân bằng thu chi tài chính đã tiến bộ đáng kể, thu đáp ứng được 78% chi, năm 1953 ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ thu đã vượt chi 16%; năm 1954 thu vượt chi 12% Như vậy, từ bội chi ngân sách đến thu lớn hơn chi đã phản ánh kết quả tích cực của các biện pháp

mà Chính phủ đã thực hiện

+ Về ngân hàng, tiền tệ

Ngày 6 tháng 5 năm 1951, Ngân hàng quốc gia được thành lập có các nhiệm vụ phát hành tiền, quản lý lưu thông tiền tệ, huy động vốn, cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa; quản lý ngoại hối và tổ chức đấu tranh tiền tệ với địch Ở miền Nam, do điều kiện chiến tranh, lại ở xa Trung ương, nên Chính phủ cho thành lập Ngân hàng nhân dân Nam bộ và phát hành tiền riêng

Ngân hàng Quốc gia tiến hành cải cách tiền tệ vào tháng 5 năm

1951, đổi tiền theo tỷ lệ 1 đồng ngân hàng bằng 10 đồng tài chính Từ chỗ phát hành tiền để giải quyết chi tiêu ngân sách thì nay ngân hàng chuyển sang chế độ phát hành tiền để phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần ổn định tiền tệ, tạo điều kiện cải thiện đời sống nhân dân Ngân hàng trung ương thông qua các chi nhánh ở địa phương thực hiện cho vay để phát triển sản xuất Đối tượng cho vay là các hộ nông dân, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp quốc doanh và tư thương

Trong giai đoạn này, ngân hàng còn có nhiệm vụ quan trọng khác là

tổ chức đấu tranh về tiền tệ với địch Hình thức đấu tranh thay đổi tùy theo từng vùng Ở vùng mới giải phóng, Chính phủ quy định: thuế thu bằng tiền ngân hàng, các cơ quan thương nghiệp quốc doanh chỉ bán bằng tiền ngân hàng Ở vùng tạm chiếm, lúc đầu lưu hành cả hai loại

Trang 27

tiền, tiền Đông Dương và tiền ngân hàng, số lượng tiền của hai loại tùy theo tương quan lực lượng giữa ta và địch Nhưng đến năm 1953, khi đồng Đông Dương bị mất giá, nhân dân không tin tưởng vào đồng Đông Dương nên chỉ lưu hành tiền ngân hàng

+ Mậu dịch quốc doanh

Ngày 14 tháng 5 năm 1951, Sở Mậu dịch quốc doanh được thành lập nằm trong Bộ Công Thương "Cục tiếp tế vận tải", "Cục ngoại thương"

và các "Phòng tiếp liệu" giải thể Nhiệm vụ của Sở mậu dịch là cung cấp hàng hoá cho quân đội, điều hòa thị trường, ổn định giá cả, giúp đỡ sản xuất và hướng dẫn thương nhân đoàn kết, đấu tranh với địch về lưu thông hàng hóa Mậu dịch quốc doanh đã nhanh chóng phát huy vai trò, tác dụng Trong thời gian chưa đầy một năm, mạng lưới mậu dịch quốc doanh đã hình thành ở hầu khắp các vùng tự do trong cả nước1 Hoạt động của Mậu dịch quốc doanh nhanh chóng phát triển, năm 1954 so với năm 1951 giá trị hàng hóa thu mua tăng gấp 23 lần Khi mới thành lập, Mậu dịch quốc doanh chỉ tập trung vào một số mặt hàng chính có tác dụng quyết định đối với sản xuất, đời sống và giá cả thị trường Đó là gạo, muối, vải, giấy viết, dầu hoả, xà phòng Mậu dịch thực hiện bán buôn là chính, mục đích là để nắm những nguồn hàng quan trọng từ đó

có điều kiện phân phối cho thương nghiệp bán lẻ và lãnh đạo, điều tiết thị thường

Hoạt động của Mậu dịch quốc doanh những năm này khá hiệu quả,

đã góp phần vào việc ổn định giá cả thị trường đối với những mặt hàng thiết yếu Ở nhiều nơi một số mặt hàng còn giảm giá bán (như gạo hạ giá 25-30%, muối hạ 30-40%, vải hạ 30%) Mậu dịch quốc doanh tập trung hoạt động ở những nơi có nguồn hàng quan trọng, nơi tiêu thụ tập trung

và nơi có khối lượng hàng hoá lưu chuyển lớn mà ở đó giá cả thường hay biến động Đó là thị trấn Kỳ Lừa (Lạng Sơn), các thị xã: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Tuy Hòa (Phú Yên) và các thị trấn: Đức Thắng (Bắc Giang), Nho Quan (Ninh Bình), Cầu Trâu (Thanh Hóa), chợ Tràng (Nghệ An), Đập Đá (Bình Định)

Trang 28

Trong công tác đấu tranh mậu dịch với địch, Chính phủ ta coi phương châm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tranh thủ xuất siêu là điểm mấu chốt Công tác đấu tranh mậu dịch với địch thu được kết quả đáng kể: hàng hóa xuất nhập khẩu tăng nhanh qua các năm, nhập khẩu được nhiều hàng thiết yếu; giá hàng ở vùng tự do ngày một giảm xuống và ổn định dần, góp phần thúc đẩy sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân vùng tự do Nhà nước vẫn tạo điều kiện cho thương nhân tự do buôn bán Thương nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lưu chuyển hàng hóa, góp phần bình ổn thị trường, ổn định đời sống nhân dân và đấu tranh kinh tế với địch

Trong giai đoạn này, quan hệ buôn bán với nước ngoài được mở rộng và phát triển hơn Chính phủ ta đã ký với Chính phủ Trung Quốc hai hiệp định thương mại: Hiệp định thương mại Việt - Trung (1952) và Hiệp định buôn bán tiểu ngạch (1953) Sau đó, nước ta đặt quan hệ ngoại giao, phát triển thương mại với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Việc phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa

có ý nghĩa quan trọng Từ đây, vùng tạm chiếm không còn là nguồn cung cấp độc quyền hàng hóa ngoại mà vùng kháng chiến cần Điều này đã làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch trên mặt trận kinh tế theo hướng có lợi cho ta, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến

- Thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm; xây dựng, củng cố doanh nghiệp quốc doanh

Đầu năm 1952, Đảng và Chính phủ đã đề ra kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, xây dựng, củng cố các doanh nghiệp quốc doanh để đáp ứng nhu cầu phát triển của cuộc kháng chiến Chính phủ xác định nhiệm vụ cấp bách của công tác kinh tế là tăng gia sản xuất, đảm bảo cung cấp lương thực; đi đôi với vận động tiết kiệm, hợp lý hóa việc tổng động viên nhân tài, vật lực cung cấp cho kháng chiến nhưng không làm thiệt hại đến tăng gia sản xuất địa phương1

1 Về sau nhìn lại thì thấy kế hoạch này chưa được cụ thể hóa, mới mang tính chất phương hướng Song, một số địa phương đã áp dụng kế hoạch hóa một cách cứng nhắc, đặt ra chỉ tiêu cụ thể: sản xuất lúa phải tăng 10% so với thu hoạch bình thường, tập trung vào ba loại cây: bông, lạc, đỗ; đặc biệt chú trọng sản xuất bông; trâu bò tăng từ 10-15%, mỗi nhà cấy 1 ha, nuôi 1 con lợn, 10 con gà Trong điều kiện kháng chiến, kế hoạch hóa như vậy

là không thích hợp

Trang 29

+ Về công nghiệp

Công nghiệp quốc phòng được chú trọng phát triển do nhu cầu của cuộc kháng chiến Từ năm 1951 đến 1953, từ Liên khu IV trở ra đã sản xuất được 1.310 tấn vũ khí, đạn dược Phong trào phát minh sáng chế được đẩy mạnh, trong 8 năm kháng chiến (1947-1954), ngành quân giới

đã có tới 45.456 sáng kiến, tiết kiệm được 2.954 triệu đồng cho Chính phủ Công nghiệp quốc phòng đã sản xuất được các loại vũ khí mới (súng SKZ, súng phóng bom, súng Badôka, súng cối) và có sự tăng trưởng mạnh mẽ1

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp từ năm 1951 trở đi đều có chuyển biến lớn Công nghiệp dân dụng phục vụ kháng chiến được mở mang, đó là khai thác than, khai thác khoáng sản, ngành cơ khí, hóa chất, công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng (giấy, xà phòng, diêm, thuốc lá) Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp tư nhân được khuyến khích phát triển Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, các địa phương trong cả nước đều đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho cán bộ, bộ đội và nhân dân Các tỉnh Liên khu IV mở thêm nhiều xưởng sản xuất giấy, xà phòng, xưởng dệt, phát triển các khung dệt gia đình, khuyến khích nghề ươm tơ, dệt lụa Liên khu V mở rộng diện tích trồng bông, phát triển mạnh nghề dệt lụa, dệt vải Các tỉnh ở Nam bộ tiếp tục phát triển nghề dệt vải, chiếu, làm nước mắm, làm đường,

xà phòng, sản xuất giấy gòn, giấy sáp và nhiều thứ thuốc chữa bệnh

+ Về nông nghiệp

Từ năm 1952, Đảng và Chính phủ đã phát động cuộc vận động toàn dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm Phong trào sản xuất và tiết kiệm được nhân dân hưởng ứng rộng rãi Cán bộ các cơ quan, xí nghiệp, học sinh và quân đội cũng tham gia sản xuất lương thực và thực phẩm

Tháng 3 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về sử dụng công điền công thổ, dựa trên nguyên tắc chia cấp công điền một cách công bằng, dân chủ và có lợi cho nông dân nghèo Phong trào hợp tác xã

1 Nếu chỉ tính riêng từ liên khu IV trở ra, sản xuất vũ khí năm 1953 so với năm 1946 tăng lên hơn 35 lần [Nguyễn Ngọc Minh, 1966, 197]

Trang 30

được củng cố lại nhằm tạo điều kiện giúp đỡ nhau trong sản xuất và bảo

vệ sản xuất Để tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, Nhà nước khuyến khích nhân dân xây dựng các công trình thủy lợi Đến đầu năm

1953, Liên khu III có 30.000 công trình tiểu thủy nông tưới cho 10 vạn ha; Liên khu IV có hệ thống thủy nông tưới cho 18.800 vạn ha Cải tiến

kỹ thuật nông nghiệp cũng đã có tác dụng to lớn làm cho diện tích gieo trồng được giữ vững, sản lượng nông nghiệp được tăng lên rõ rệt Năm

1953, ở vùng tự do từ Liên khu IV trở ra đã thu hoạch được 2.757.700 tấn thóc và 650.850 tấn hoa màu, tăng gấp 2 lần so với năm 1945

+ Về giao thông vận tải và bưu điện

Vùng kháng chiến mở rộng hơn trước nhiều Đặc biệt từ sau chiến dịch Biên giới (cuối 1950), việc kết nối với các nước xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu mở những tuyến đường lớn từ biên giới về và thông suốt vào khu IV để phục vụ cho các kháng chiến và hoạt động kinh tế Lúc này, "Giao thông vận tải là một mặt trận"; ngành giao thông vận tải được chú ý xây dựng Những con đường cũ được sửa và làm thêm một loạt đường mới trong các chiến khu Tính từ năm 1950 đến 1953, đã huy động được 20,6 triệu ngày công để làm đường Từ năm 1950 đến 1954,

từ Hà Tĩnh trở ra đã sửa chữa, khôi phục lại 3.670 km đường cũ, làm 505

km đường mới, 1.210 km đường được cải tiến để có thể dùng tạm, 47.000 m cầu được bắc lại và làm thêm, sửa chữa 458 km đường sắt và đóng thêm được 203 chiếc phà

Năm 1950, Chính phủ đã thành lập Cục Vận tải trực thuộc Bộ Quốc phòng và doanh nghiệp vận tải quốc gia thuộc Bộ Giao thông Công chính Phương tiện vận tải được sử dụng vẫn theo chủ trương kết hợp giữa cơ giới và thô sơ Từ sau chiến dịch Biên giới, vận tải ô tô ngày càng chiếm địa vị quan trọng, nhất là ở Việt Bắc Vận tải thô sơ vẫn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong giai đoạn này để có thể vận chuyển hàng hóa ở những đoạn đường xung yếu mà ô tô không thể thực hiện được Ngành giao thông vận tải đã đóng góp một phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc, đồng thời thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 31

Từ năm 1950, ngành bưu điện có bước phát triển mới Nhờ tập hợp những máy móc thu được từ quân đội Pháp, lại được sự giúp đỡ của nước bạn, nên đã có thể cải tạo và xây dựng được bộ máy bưu điện - vô tuyến điện thống nhất trên cả nước Ngày 12 tháng 6 năm 1951, Nha Bưu điện đổi thành Nha Bưu điện - Vô tuyến điện Việt Nam Hệ thống tổ chức của ngành Bưu điện - Vô tuyến điện được chấn chỉnh lại trên tinh thần tinh giản biên chế, gọn nhẹ, hợp lý từng bộ phận, từng khâu quản lý, khai thác, vận chuyển bưu chính, điện chính và vô tuyến điện để phù hợp trong tình hình mới Cho đến đầu năm 1953, ở vùng tự do, các tuyến đường đưa thư đã "thông suốt", từ biên giới Trung Quốc đến Trung ương

và về các Liên Khu, cho đến tận Nam bộ Trong vùng tạm chiếm, cũng

mở được một số tuyến chuyển thư ở Bình - Trị - Thiên và Tây Nguyên

Hệ thống vô tuyến điện đã hoạt động bình thường trong suốt những năm kháng chiến, đảm bảo được thông tin liên lạc quan trọng nhất từ trung ương tới các chiến khu và ra nước ngoài Do quân đội Pháp thường tìm mọi cách phá hoại nên các cơ sở bưu điện và vô tuyến điện của ta luôn phải di chuyển Nhưng ngay cả trong quá trình di chuyển, nó vẫn đảm đương được mọi nhiệm vụ liên lạc quan trọng nhất của Đảng và Chính phủ

+ Triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất

Tháng 3 năm 1953, Chính phủ phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và thực hiện thoái tô Chính sách giảm tô đã đạt được kết quả lớn Tính từ Liên khu IV trở ra, đến năm 1953 đã có 397.000 ha ruộng đất được giảm tô 25% Ở miền Tây Nam Bộ, có nơi mức tô được giảm cao hơn nhiều Đó là một đòn đánh mạnh vào tiềm lực kinh tế của địa chủ, là một dịp nâng cao ý thức giai cấp của nông dân và tác động mạnh đến nông thôn trong vùng tạm chiếm

Tháng 3 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ về việc sử dụng công điền đổi thổ, dựa trên nguyên tắc chia cấp một cách công bằng, dân chủ và có lợi cho dân nghèo Quyền sở hữu ruộng đất của các giai cấp xã hội ở nông thôn đến năm 1953 như trong bảng 4.2

Trang 32

Ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất Từ đầu năm 1954 đến khi hòa bình lập lại, trong vùng tự do đã tiến

hành 2 đợt cải cách ruộng đất ở 270 xã (thuộc Thái Nguyên, Thanh Hóa

và Bắc Giang) Kết quả thu được 44.500 ha ruộng đất, 10.000 trâu bò chia cho nông dân Thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất đã giải quyết vấn đề quan hệ sản xuất ở nông thôn, vấn đề lợi ích của nông dân lao động, kích thích sự phát triển sản xuất

Bảng 4.2 Tình hình sở hữu ruộng đất tính đến năm 1953

Thành phần Tỷ lệ dân số (%) Tỷ lệ ruộng đất sở hữu (%)

Như vậy, việc thực hiện chủ trương chấn chỉnh toàn diện kinh tế - tài chính trong giai đoạn 1951-1954 đã có ý nghĩa quan trọng Việc này đã làm cho kinh tế kháng chiến mạnh hơn; đồng thời làm suy yếu kinh tế của địch, góp phần tích cực vào thắng lợi của kháng chiến chống Pháp và tạo tiền đề quan trọng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này

Trang 33

- Giai đoạn 1 (tháng 9/1945 đến Thu Đông 1947): Giai đoạn này

thực dân Pháp dùng chiến tranh chớp nhoáng để nhanh chóng đánh chiếm các vùng kháng chiến Đây là chủ trương "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" Do có ảo tưởng có thể giành chiến thắng nhanh chóng, nên trong giai đoạn này thực dân Pháp chưa chú trọng việc phá hoại đối với kinh tế kháng chiến và bắt đầu thực hiện kế hoạch Buốc goanh Đây là kế hoạch phục hồi, hiện đại hóa và trang bị kinh tế trong 10 năm của thực dân Pháp, mục đích là để thực hiện mưu đồ tiếp tục khai thác và bóc lột các nước Đông Dương trên quy mô lớn

- Giai đoạn 2 (1948 đến 1950): Sau thất bại ở Việt Bắc Thu Đông

năm 1947, thực dân Pháp chuyển từ tấn công sang phòng ngự, chú ý đánh ta về kinh tế và chính trị nhiều hơn, thực hiện cuộc chiến tranh toàn diện hơn so với giai đoạn trước Pháp chú trọng củng cố và mở rộng vùng tạm chiếm, dùng ngụy quân và ngụy quyền phá hoại nhân lực, vật lực của ta Trong giai đoạn này, thực dân Pháp vẫn tiếp tục thực hiện kế hoạch Buốc goanh

- Giai đoạn 3 (1951 đến 1954): Do thất bại nặng nề ở các tỉnh Biên

Giới phía Bắc (cuối 1950), thực dân Pháp buộc phải điều chỉnh chính sách quân sự và kinh tế Về quân sự, Pháp rút ngắn phòng tuyến phòng ngự, tập trung binh lực ở Bắc bộ để đối phó với tình hình Về kinh tế thì một mặt bòn rút, bóc lột kiệt quệ Đông Dương, mặt khác rút và chuyển vốn sang các thuộc địa khác; tiếp tục chính sách "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" Bên cạnh đó, để nhận được nguồn viện trợ của Mỹ, Pháp để cho Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương

Trang 34

Kinh tế vùng tạm chiếm1 và vùng du kích có vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế nước ta Vì đây là những thành phố, những khu công nghiệp và những đồng bằng lớn Chính sách của Pháp đối với vùng này

có mấy điểm đáng lưu ý: 1) Tích cực động viên các khả năng kinh tế, tài chính vùng này phục vụ cho cuộc chiến tranh Đông Dương; 2) Tích cực khai thác nền kinh tế, tài chính Đông Dương phục vụ cho chính quốc; 3) Phá hoại kinh tế của vùng du kích và vùng tự do để gây khó khăn cho lực lượng kháng chiến

b Đặc điểm tình hình kinh tế

• Công nghiệp

Các vùng công nghiệp phát triển nhất thời thuộc địa trước đây vẫn chủ yếu thuộc vùng Pháp kiểm soát Tuy nhiên, nhiều cơ sở, xí nghiệp, hầm mỏ quan trọng đã thuộc vùng tự do kiểm soát (mỏ thiếc Tĩnh Túc,

mỏ kẽm Chợ Điền, mỏ sắt Linh Nham, mỏ than ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, mỏ apatit Lào Cai) Cơ cấu ngành nghề công nghiệp không thay đổi, hầu hết vẫn là các xí nghiệp cũ được sửa chữa lại Nhìn chung sản xuất công nghiệp ở vùng tạm chiếm bị thu hẹp, giảm sút nghiêm trọng so với thời kỳ trước chiến tranh Các xí nghiệp chế biến ở thành phố, tuy có được đầu tư thêm vốn và trang thiết bị; nhưng cũng bị phá hoại nghiêm trọng và luôn bị đe dọa bởi chiến tranh Sản xuất công nghiệp liên tục đi xuống trong quá trình tiến hành chiến tranh ở Việt Nam Bảng thống kê 4.3 cho thấy rõ tình hình công nghiệp trong vùng tạm bị chiếm

Sự giảm sút của các ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu là do các nhà tư bản Pháp nhận thấy tình hình bất lợi của cuộc chiến tranh thuộc về Pháp, nên họ đã rút dần vốn khỏi khu vực Người Hoa chiếm vị trí thứ hai trong công nghiệp vùng tạm chiếm Họ nắm trong tay những ngành công nghiệp như xay xát, chế biến nông phẩm, thực phẩm và dịch vụ Phần còn lại là các xí nghiệp nhỏ, có tính chất địa phương là của các nhà công nghiệp Việt Nam

1 "Vùng tạm chiếm" là những nơi địch tạm thời "kiểm soát" hoàn toàn Khái niệm vùng tạm chiếm có tính co giãn và rất tương đối Có thể hiểu đó là những vùng mà Pháp còn trực tiếp khống chế ở những mức độ khác nhau [Nguyễn Văn Nhật & cộng sự, 2017, tập 11, 61]

Trang 35

Ngoài những lĩnh vực công nghiệp đòi hỏi đầu tư dài hạn, một số lĩnh vực sản xuất có tính chất ngắn hạn, như giấy, gỗ, vật liệu xây dựng,

đồ nhựa đã có những sự phát triển đáng kể Có một số lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp sang thời kỳ này lại chiếm lĩnh được thị trường và không bị các công ty Pháp chèn ép như thời thuộc địa

Bảng 4.3 Tình hình sản xuất công nghiệp vùng tạm chiếm năm 1953

Sản phẩm Đơn vị Trước chiến tranh Năm 1953 So sánh (%)

và Pháp thực hiện chính sách khai thác tận thu, còn lại đều chiếm một tỷ trọng thấp không tới 50% mức sản lượng cũ (Bảng 4.4)

Trang 36

Bảng 4.4 Sản xuất nông nghiệp vùng tạm chiếm

Đơn vị Trước chiến tranh (A) 1953 (B) B/A (%)

Chú thích: (1) năm 1942, (2) năm 1944, (3) năm 1940, còn lại là năm 1938

Nguồn: [Nguyễn Ngọc Minh, 1966, 436]

Sản xuất nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng là do vùng Pháp tạm chiếm ngày càng thu hẹp Mặt khác ngay trong vùng tạm chiếm, do tác động ảnh hưởng của chiến tranh nên sản lượng cà phê, chè, mía lạc, dứa, lúa đều giảm mạnh Ở những vùng giáp ranh, có chiến sự và có hoạt động quân sự của cả hai bên, thì nông nghiệp cũng như đời sống của nông dân rất khó khăn Ở những vùng này, bộ đội và những lực lượng kháng chiến ra sức bảo vệ nhân dân, bảo vệ trâu bò, nhà cửa Trong khi

đó, Pháp dùng mọi cách để phá hoại sản xuất của nông dân như đốt phá đồng lúa, bắn chết trâu bò, phá hoại nông cụ

Từ cuối năm 1953, Chính phủ Bảo Đại cũng "noi theo" vùng kháng chiến, đưa ra chủ trương "cải cách điền địa" Các quy định tỏ ra rất coi

1 Ster: Đơn vị tính thể tích của củi, 1 ster bằng 0,7 m 3 gỗ tròn

Trang 37

trọng lợi ích của nông dân, như giảm tô, hoãn và xóa một số nợ, hạn chế diện tích của địa chủ và buộc họ phải nhượng lại cho nhà nước để nhà nước chia cho nông dân Tuy nhiên, ngay sau cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng đã có chủ trương giảm tô và tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho nông dân, rất nhiều nơi đã thực hiện chủ trương này rồi Việt Minh cũng đã vận động địa chủ hiến ruộng đất, phong trào này phát triển rất mạnh ở miền Nam Vì vậy, chủ trương cải cách điền địa của Bảo Đại cũng không có giá trị, ý nghĩa gì đáng kể

• Giao thông vận tải

Giao thông đường bộ và đường sắt vẫn còn chưa đủ đáp ứng nhu cầu Vận tải đường sắt giảm mạnh do nhiều tuyến đường gần như bị tê liệt bởi chiến tranh Theo thống kê của Pháp, thời kỳ trước chiến tranh toàn Đông Dương có khoảng 2.900 km đường sắt, đến thời kỳ kháng chiến chỉ còn 677 km được khai thác, nhưng cũng không ổn định Đường sắt luôn bị đe dọa bởi chiến sự nên ít hành khách muốn sử dụng loại phương tiện này

Hệ thống đường bộ bị co hẹp phần vì chiến tranh phá hoại, phần do

sự khống chế của lực lượng kháng chiến Vào năm 1950, trong tổng số 24.414 km chiều dài đường bộ các loại, có tới 15.573 km thực dân Pháp không còn kiểm soát được, vùng Pháp kiểm soát chỉ còn lại 8.861 km, trong đó Nam bộ là 3.818 km, Cao nguyên là 2.268 km, Trung bộ là: 1.664 km, Bắc bộ là: 1.111 km Trên một số tuyến đường ở miền Bắc đã

có các nhà kinh doanh Việt Nam đứng ra kinh doanh vận tải Trong đó, tuyến Hà Nội - Hải Phòng là con đường vận chuyển quan trọng đối với hàng nhập khẩu từ cảng Hải Phòng về Hà Nội

Ở miền Nam, giao thông đường bộ vùng tạm chiếm có địa bàn rộng hơn ở miền Bắc do vùng Pháp kiểm soát rộng hơn so với miền Bắc Các tuyến xe khách có thể chạy xuyên suốt 200-300 km như Sài Gòn - Cần Thơ, thậm chí 500 km như Sài Gòn - Nha Trang; Sài Gòn - Bạc Liêu Ở

đô thị xích lô là phương tiện đi lại phổ biến của giới trung lưu Xe điện tuyến ngắn được sử dụng trong nội thành Hà Nội Ở miền Nam, vào những năm 1952-1953 xuất hiện taxi nội thành Ở Sài Gòn đã xuất hiện

xe xích lô gắn máy, ngoài ra vẫn duy trì hình thức vận tải bằng xe ngựa,

Trang 38

xe thô sơ ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn Giao thông đường thủy ở miền Bắc

bị hạn chế trên mấy tuyến đường nối liền các đô thị lớn Hà Nội - Nam Định, Hà Nội - Thái Bình, Nam Định - Thái Bình là những tuyến đường vận tải hành khách và hàng hóa tương đối đều đặn Giao thông đường biển, những tuyến dài đi viễn dương đều do người Pháp kinh doanh, gần như độc quyền Người Việt có một số tàu chạy nối các đoạn ngắn ven biển

Giao thông đường hàng không có tiến bộ Pháp không còn độc quyền lĩnh vực này từ năm 1951, hãng Air Vietnam được chính thức thành lập vào ngày 8 tháng 6 năm 1951 với vốn điều lệ là 18 triệu đồng (306 triệu franc, tức là bằng 18 triệu franc của năm 1890), trong đó chính phủ Bảo Đại đóng góp 50% Nhiều tuyến hàng không quốc tế được mở thêm Vận tải hàng không nội địa cũng tăng lên do tình thế chiến tranh, các vùng miền bị chia cắt, vùng ta và Pháp kiểm soát đan xen theo thế cài răng lược

Trước chiến tranh, cán cân thương mại Đông Dương thường xuất siêu; nhưng từ năm 1947 bắt đầu chuyển sang nhập siêu ngày càng tăng

Trang 39

Xuất khẩu không thể bù đắp cho nhập khẩu Từ năm 1950, do có viện trợ

Mỹ nên bắt đầu xuất hiện nhiều mặt hàng Mỹ trên thị trường Việt Nam Hoạt động nội thương chủ yếu tiêu thụ những mặt hàng của ngoại thương Trong những năm 1947-1948 ở các thành phố Pháp tạm chiếm rất tiêu điều; nhưng từ năm 1950 về sau bắt đầu phục hồi do những người tản cư trở về và hàng nhập khẩu tràn vào Nhiều cửa hàng đại lý chuyên bán những mặt hàng nhập khẩu đã xuất hiện ở Sài Gòn và Hà Nội Hoạt động thương mại cũng đã lan rộng ra cả những vùng nông thôn, chợ ở thôn quê phát triển hơn so với trước Nhiều chợ mới xuất hiện, những tuyến đường buôn bán mới, những cửa khẩu, những thị trấn giáp ranh hình thành Hàng hóa còn được thương nhân chuyên chở đến cả vùng tự

do Đặc biệt, lĩnh vực dịch vụ phát triển mạnh trong thời kỳ chiến tranh,

từ 1949 đến 1953 tăng lên tới hơn 6 lần, trong đó phát triển nhất là các dịch vụ giải trí (sòng bài, tiệm nhảy) và tín dụng (nhà đất, cầm cố, gửi và cho vay tiền)

• Tài chính và tiền tệ

Về tài chính: Tài chính của thực dân Pháp giai đoạn này bị thâm hụt

nặng nề do chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" thất bại, sản xuất sụt giảm nghiêm trọng so với giai đoạn trước Phần lớn số thu của ngân sách không phải dựa vào nền kinh tế trong vùng mà dựa vào nguồn thu từ thuế hàng nhập khẩu, hoặc từ những khoản trợ cấp và trích từ quỹ

dự trữ nhưng thu vẫn không đủ chi Mỹ bắt đầu tiến hành viện trợ cho thực dân Pháp và chính phủ Bảo Đại từ ngày 16 tháng 2 năm 1950, đến hết năm 1950, số tiền viện trợ đã là 31 triệu đô la, tương đương với 10,8

tỷ Franc Năm 1952, số tiền viện trợ đã tăng lên đến 568 tỷ Franc chiếm 50% tổng chi phí cho chiến tranh Đến năm 1954, số viện trợ là 475 tỷ Franc, chiếm 80% tổng chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương

Về tiền tệ: Do tài chính gặp khó khăn chính quyền thuộc địa đã tăng cường phát hành tiền Năm 1954 lượng tiền phát hành tăng hơn 4 lần so

với năm 1945 Lạm phát tăng lên làm giá cả hàng hoá dịch vụ tăng vọt Nếu lấy tháng 3 năm 1946 là 100 thì đến năm 1954 giá cả tăng 732% Đời sống nhân dân vùng tạm chiếm, nhất là nhân dân ở các thành phố gặp rất nhiều khó khăn

Trang 40

Nhìn chung, kinh tế vùng thực dân Pháp tạm chiếm thời kỳ này vẫn

là nền kinh tế lạc hậu, mang nặng tính chất thuộc địa nửa phong kiến Các ngành sản xuất đều giảm sút, ngoại thương nhập siêu ngày càng lớn; tài chính kiệt quệ, lạm phát và giá cả tăng nhanh Đặc biệt nền kinh tế vùng này ngày càng lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ Cuộc sống của con người vùng tạm chiếm diễn ra theo hai cảnh sống trái ngược hẳn nhau, một bên là những người nghèo khổ, thiếu đói; còn bên kia là những người giàu có, sung túc Phần đông dân chúng trong vùng tạm chiếm sống khốn khó, bần cùng Họ là những người lao động phải chịu cảnh sưu cao, thuế nặng, lại thường bị cướp phá, bắt bớ, đe doạ Còn bọn thực dân, những viên chức cao cấp, sĩ quan quân đội, tư bản nước ngoài, chủ các xí nghiệp, hầm mỏ và những tay sai đầu sỏ trong bộ máy bù nhìn bán nước thì sống cực kỳ xa hoa dựa vào ngân sách chiến tranh, từ nguồn viện trợ Mỹ và từ sự cướp đoạt, bóc lột, từ những món lời kếch xù thu được nhờ đầu cơ, buôn gian bán lậu

Kết chương

Sau cách mạng, nước Việt Nam mới phải tập trung giải quyết nạn đói, khôi phục công thương nghiệp và chuyển dần nền kinh tế sang thời chiến Những thành công kinh tế trong hơn một năm đầu sau cách mạng tháng Tám 1945 đã góp phần giữ vững chính quyền cách mạng, ổn định đời sống và chuẩn bị tiền đề cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai Trong những năm 1947-1954, trên đất nước ta tồn tại hai vùng (tự do và tạm bị chiếm) với hai con đường - hai mô hình xây dựng, phát triển kinh tế khác nhau Ở vùng tự do, nền kinh tế mới mang tính chất dân tộc dân chủ nhân dân được xây dựng Còn vùng thực dân Pháp chiếm đóng thì tiếp tục mô hình kinh tế thuộc địa

Trong bối cảnh chiến tranh kinh tế vùng tự do tuy gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có những chuyển biến tích cực và để lại những kinh nghiệm quý cho xây dựng, phát triển kinh tế đất nước Nền kinh tế dân chủ mới đã thoát khỏi sự lệ thuộc vào Pháp, bước đầu thủ tiêu quan hệ sản xuất phong kiến thực dân, thực hiện "người cày có ruộng" Các ngành nghề phát triển tương đối đồng đều; nông nghiệp được duy trì bình

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Bá Ân (2012), Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước giai đoạn 2011-2020, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Nguyễn Bá Ân
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
[2] Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
[3] Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Những nội dung chủ yếu và mới trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung chủ yếu và mới trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
[4] Bộ Công Thương (2017), Báo cáo Logistics Việt Nam 2017, Nxb. Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Logistics Việt Nam 2017
Tác giả: Bộ Công Thương
Nhà XB: Nxb. Công Thương
Năm: 2017
[5] Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình (Chủ biên, 2001), Đánh thức con rồng ngủ quên, kinh tế Việt Nam đi vào thế kỷ 21, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh thức con rồng ngủ quên, kinh tế Việt Nam đi vào thế kỷ 21
Tác giả: Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
[6] Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng (2009), Kinh tế Việt Nam, thăng trầm và đột phá, Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam, thăng trầm và đột phá
Tác giả: Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
[7] Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng (Đồng chủ biên, 2013), Giáo trình lịch sử kinh tế, Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử kinh tế
Tác giả: Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng
Nhà XB: Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2013
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (năm: 1986, 1991, 1996, 2001, 2006, 2011, 2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1986, 1991, 1996, 2001, 2006, 2011, 2016
[9] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[10] Vũ Như Khôi, Trần Thị Thái (2016), Quá trình hình thành đường lối đổi mới ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành đường lối đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Như Khôi, Trần Thị Thái
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
[11] Võ Đại Lược (2013), Bối cảnh quốc tế và kinh tế Việt Nam thời kỳ 2000 đến 2010, Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh quốc tế và kinh tế Việt Nam thời kỳ 2000 đến 2010
Tác giả: Võ Đại Lược
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2013
[12] Trần Nhâm (2004), Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Trần Nhâm
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[13] Lê Hữu Nghĩa, Lê Danh Vĩnh (Đồng chủ biên, 2006), Thương mại Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại Việt Nam 20 năm đổi mới
Tác giả: Lê Hữu Nghĩa, Lê Danh Vĩnh
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[14] Đặng Phong (2008), Tư duy kinh tế Việt Nam (Chặng đường gian nan và ngoạn mục: 1975-1989), Nxb. Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy kinh tế Việt Nam (Chặng đường gian nan và ngoạn mục: 1975-1989)
Tác giả: Đặng Phong
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2008
[15] Lương Xuân Quỳ (Chủ biên, 2015), Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
[16] Tô Huy Rứa (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay
Tác giả: Tô Huy Rứa
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[17] Võ Văn Sen (2017), Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kinh tế Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Sen
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2017
[18] Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn (Chủ biên, 2008), Đổi mới ở Việt Nam nhớ lại và suy ngẫm, Nxb. Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ở Việt Nam nhớ lại và suy ngẫm
Tác giả: Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2008
[19] Trương Thị Tiến (1999), Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Trương Thị Tiến
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
[20] Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Viết Thông (Đồng chủ biên, 2011), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Viết Thông
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Cân đối thu - chi tài chính (1946-1950) - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2
Bảng 4.1. Cân đối thu - chi tài chính (1946-1950) (Trang 22)
Bảng 4.2. Tình hình sở hữu ruộng đất tính đến năm 1953 - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2
Bảng 4.2. Tình hình sở hữu ruộng đất tính đến năm 1953 (Trang 32)
Bảng 4.3. Tình hình sản xuất cơng nghiệp vùng tạm chiếm năm 1953 - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2
Bảng 4.3. Tình hình sản xuất cơng nghiệp vùng tạm chiếm năm 1953 (Trang 35)
1 Ster: Đơn vị tính thể tích của củi ,1 ster bằng 0,7 m3 gỗ tròn. - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2
1 Ster: Đơn vị tính thể tích của củi ,1 ster bằng 0,7 m3 gỗ tròn (Trang 36)
Bảng 5.1. Bình quân ruộng đất ở miền Bắc trước và sau cải cách ruộng đất - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2
Bảng 5.1. Bình quân ruộng đất ở miền Bắc trước và sau cải cách ruộng đất (Trang 48)
Bảng 5.2. Kết quả sản xuất nông nghiệp giai đoạn 1955-1957 - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2
Bảng 5.2. Kết quả sản xuất nông nghiệp giai đoạn 1955-1957 (Trang 51)
Bảng 7.1. Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2015 - Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam: Phần 2
Bảng 7.1. Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2015 (Trang 168)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm