1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG các bản HIẾN PHÁP VIỆT NAM

30 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền Con Người Trong Các Bản Hiến Pháp Việt Nam
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia - [https://hvhchc.edu.vn](https://hvhchc.edu.vn)
Chuyên ngành Luật Hiến pháp
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM BÀI TIỂU LUẬN THÚC HỌC PHẦN Học phần LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM Mã phách Hà Nội 2021 1 Mục lục Mục lục 1.

Trang 1

TÊN ĐỀ TÀI : QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM

BÀI TIỂU LUẬN THÚC HỌC PHẦN

Học phần: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

Mã phách:………

Hà Nội -2021

Trang 2

Mục lục

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa việc nghiên cứu đề tài 3

6 Cấu trúc bài tiểu luận 3

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương I Khái niệm, đặc điểm và đặc trưng cơ bản của quyền con người 5

1.1 Khái niệm về quyền con người 5

1.2 Các đặc điểm, đặc trưng cơ bản của quyền con người 6

Tiểu kết chương I 7

Chương II Quyền con người trong các bản hiến pháp việt nam Quyền con người trong giai đoạn hiện nay 8

1.1 Quyền con người trong các bản Hiến pháp Việt Nam 8

1.2 Quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 23

Tiểu kết chương II 26

Chương III Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền con người trong quy định tại Hiến pháp 2013 27

Tiểu kết chương III 28

Kết luận 29

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền con người, một quyền vô cùng cơ bản mà bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có, dù là dân tộc nào, xã hội nào, tôn giáo nào cũng đều có quyền con người Có thể nói quyền con người gắn liền với mỗi cá nhân, mỗi con người sinh sống trên trái đất này Nhận thức được tầm quan trọng của Quyền con người nên trong các bản Hiến pháp của Việt Nam chúng ta kể từ khi giành độc lập tháng 9/1945 với bản Hiến pháp đầu tiên được hình thành năm 1946 cho tới các bản Hiến pháp được hoàn thiện sửa đổi sau này như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, và Hiến pháp 2013 hiện nay đều đề cập đến Quyền con người và đều xem đó là quyền cơ bản của mõi người Chính vì tầm quan trọng của Quyền con người nên em xin được chọn chủ đề" Quyền con người trong các bản Hiến pháp Việt Nam"làm đề tài cho Bài tiểu luận kết thức học phần Luật Hiến pháp Việt Nam của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

Tìm hiểu về Quyền con người được quy định trong các bản Hiến pháp tại Việt Nam, từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến bản Hiến pháp 2013 đang

có hiêu lực thi hành

Tổng hợp, phân tích Quyền con người được quy định trong các bản Hiến pháp ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận này hướng tới đối tượng là Quyền con người được quy định trong các bản Hiến pháp tại Việt Nam

Tình trạng thực thi các Quyền con người trong giai đoạn hiện nay,

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Bài tiểu luận này là các Quyền con người được quy định tại các bản Hiến pháp của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, quan sát,

so sánh, để đưa ra được cái nhìn khách quan, trung thực nhất về Quyền con người trong các bản Hiến pháp ở Việt Nam

5 Ý nghĩa việc nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩ vô cùng quan trọng, giúp cho chúng

ta có cái nhìn toàn diện hơn, hiểu sâu hơn về quyền con người trong các bản Hiến pháp từ đó mỗi chúng ta nâng cao đươc tầm hiểu biết, tuân thủ Hiến pháp

và vận dụng Quyền con người và đời sống

6 Cấu trúc bài tiểu luận

Chương I Khái niệm, đặc điểm và đặc trưng cơ bản của Quyền con người Chương II Quyền con người trong các bản Hiến pháp Việt Nam Việc đảm bảo Quyền con người trong giai đoạn hiện nay

Trang 5

Chương III Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền con người trong quy định tại Hiến pháp 2013

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG Chương I Khái niệm, đặc điểm và đặc trưng cơ bản của quyền con người 1.1 Khái niệm về quyền con người

Khái niệm về Quyền con người trên thế giới:

Quan điểm của cộng đồng quốc tế, nhất là của Liên hợp quốc khẳng định thì quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu , giúp hỗ trợ, bảo

về các cá nhân hoặc các nhóm người( thiểu số ) nhằm chống lại các hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của chủ thể( cá nhân hoặc nhóm người)

Trên quan điểm các quyền tự nhiên thì quyền con người (Human rights, Droits de LHomme) là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành Đây là những quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm do đấng tạo hóa ban cho con người như quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc, những quyền tối thiểu của con người mà bất kì chính phủ nào cũng phải bảo vệ

Khái niệm Quyền con người ở Việt Nam:

Khái niệm về Quyền con người ở Việt Nam được Viện nghiên cứu Quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra đó là:" Quyền con người là khả năng thực hiện các quyền tự nhiên và khách quan của con người, với thư cách là con người và tư cách là thành viên của xã hội , được đảm bảo bằng hệ thống chính sách, pháp luật Quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế về các giá trị con người trong các quan hệ vật chất, văn hóa, tinh thần, các nhu cầu tự do và phát triển."

Nhìn từ góc độ khái niệm của quốc tế hay của Việt nam chúng ta đều nhận thấy rằng Quyền con người là Quyền dành cho con người và duy nhất chỉ có

Trang 7

con người mới có Quyền con người đảm bảo cho mỗi người nhờ những chuẩn mực của Quốc gia và được Quốc tế công nhận, nhờ chính những chuẩn mực đó

mà mỗi con người có được môi trường phát triển bản thân, phát triển nòi giống hơn hết tất cả chúng ta đều có môi trường chung sống tốt nhất trên Trái đất này

1.2 Các đặc điểm, đặc trưng cơ bản của quyền con người

 Tính bao quát

Tính bao quan quát này thể hiện ở rõ nhất ở chỗ tất cả con người trên Trái Đất này, không phân biệt Quốc gia, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt quan điểm chính trị, cứ là con người thì hiển nhiên có quyền con người, Quyền con người này được cả Thế giới công nhận, không ai có thể phủ nhận được điều đó Tất cả chúng ta đang tồn tại trên Trái Đất bao la rộng lớn này đều

là thành viên dưới mái nhà chung, đều có Quyền con người

 Tính đặc thù

Tính đặc của Quyền con người được thể hiện ở chỗ mang nét đặc thù, đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, chính trị, quan điểm tôn giáo, của mỗi quốc gia, lãnh thổ Với sự thừa nhận tính đặc thù này mà mỗi quốc gia, lãnh thổ đó quy định nên các quy định pháp luật cụ thể không trái với các chuẩn mực quốc tế, hiệp ước quốc tế công nhận như quy định hạn chế một số quyền về chính trị hoặc mức độ bảo đảm một số quyền về kinh tế, xã hội

 Tính không thể phân chia

Tính không thể phân chia của Quyền con người thể hiện ở chỗ bất kì Quyền con người nào cũng đều bình đẳng và quan trọng như nhau, không có quyền nào quan trọng hơn quyền nào Bởi vì nếu không có sự bình đẳng đó thì

có thể ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất của mỗi người, mỗi cá nhân gây nên

sự bất bình đẳng cho mỗi con người

Trang 8

Tuy nhiên trong một số trường hợp, tùy thuộc vào một số trường hợp cụ thể một số quyền sẽ được ưu tiên ví dụ thiên tai, thảm họa, dịch bệnh ( đại dịch Covid-19 thì quyền được thăm khám, chăm sóc y tế sẽ được ưu tiên cho con người) Điều đó không có nghĩa là quyền này được ưu tiên hơn mà vì nó có mối

đe dọa cận kề nhất đối với con người

 Tính quan hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Quyền con người có tính quan hệ và phụ thuộc với nhau thể hiện ở chỗ đảm bảo quyền con người hoặc một phần có tính phụ thuộc và tác động lẫ nhau

Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp vi phạm quyền khác và ngược lại, tiến bộ trong việc đảm bảo một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

 Tính không thể chuyển nhượng

Quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào kể cả nhà nước , trừ một số trường hợp đặc biệt như người phạm tội ác thì sẽ bị tước quyền tự do

Tiểu kết chương I

Trong chương I em đã nêu Khái niệm, đặc trưng và đặc điểm của Quyền con người Có thể thấy Quyền con người là một quyền hết sức đặc biệt và quan trọng đối với mỗi người sống trên Trái Đất Là nền tảng cho sự phát triển của bản thân mỗi người Đó cũng là cơ sở để em đi tìm hiểu về quyền con người trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và việc đảm bảo Quyền con người trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

Chương II Quyền con người trong các bản hiến pháp việt nam

Quyền con người trong giai đoạn hiện nay

1.1 Quyền con người trong các bản Hiến pháp Việt Nam

Cùng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển của các chế định như Chế định về Quốc hội, chế định về Chính phủ, chế định về Quyền con người cũng được phát triển theo từng giai đoạn phát triển của đất nước Trong môi thời kì khác nhau thì Quyền con người, quyền và nghĩ vụ cơ bản của công dân cũng được quy định khác nhau và mang những đặc trưng khác nhau

 Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp coi trọng chế định quyền và nghĩ

vụ cơ bản của công dân Trong số bảy chương của Hiến pháp thì Chương về quyền lợi và nghĩ vụ cơ bản của công dân được xếp thứ hai cho thấy Nhà nước

đã coi trọng Quyền và nghĩa vụ cơ bản cua công dân trong Hiến pháp Một trong những nguyên tắc xây dựng Hiến pháp năm 1946 là nguyên tắc đảm bảo các quyền tự do, dân chủ của công dân Với Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên trong lịch sử Nhân dân Việt Nam được đảm báo các quyền tự do, dân chủ Điều 10 Hiến pháp năm 1946 Quy định:

Công dân Việt Nam có quyền:

- Tự do ngôn luận

- Tự do xuất bản

- Tự do tổ chức và hội họp

- Tự do tín ngưỡng

- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài

Lần đầu tiên trong trong lịch sử Việt Nam quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước Và cũng

Trang 10

là lần đầu tiên công dân Việt nam được hưởng quyền bầu cử, ứng cử, Nhân dân

có quyền bãi nhiệm các đại biểu do mình bầu ra khi họ tỏ ra không xứng đáng với danh hiệu đó

Có thể thấy với tình hình đất nước vừa được thành lập, chính quyền con non trẻ việc nhưng với bản Hiến pháp đầu tiên này chúng ta đã phần nào thấy được sự coi trọng vấn đề Quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp tuy nhiên ở Hiến pháp năm 1946 chúng ta chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về Quyền con người Quyền con người trong Hiến pháp 1946 chưa hề được đề cập hay nhắc tới trong Hiến pháp Có thể trong thời khì đất nước mới thành lập chính quyền non trẻ tình hình kinh tế,xã hội gặp nhiều khó khăn nên Nhà nước

và Nhà làm luật chưa thấy tầm quan trọng của Quyền con người mà mới chỉ thấy được sự cấp thiết Quyền và nghĩa vụ cơ bản của Nhân dân

 Hiến pháp 1959

Hiến pháp năm 1959 mở rộng quyền của công dân đồng thời quy định cơ chế đảm bảo việc thực hiện các quyền đó Ngoài những quyền và tự do đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 ghi nhận những thành tựu mới của Nhà nước dân chủ Nhân dân trong việc hình thành và phát triển quan hệ lao động mới Đạo luật cơ bản của Nhà nước không những quy định lao động là cơ sở phát triển kinh tế của đất nước, cơ sở nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân mà còn quy định đó là nghĩa vụ và danh dự của công dân (Điều 21 và Điều 32) Bằng quy định đó, Hiến pháp năm 1959 đã xác định một quan điểm mới về lao động, với quan điểm này nhân dân Việt Nam vốn dĩ cần

cù, sáng tạo, phát triển thêm tư chất đạo đức tốt đẹp của mình, coi lao động không những là nguồn gốc của cải xã hội, mà còn là nhu cầu của đời sống tinh thần của nhân dân Điều 30 Hiến pháp năm 1959 quy định:

“Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền làm việc Nhà nước dựa vào sự phát trỉến có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân, dần dần

Trang 11

mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bống, đế bảo đảm cho Công dân được hưởng quyền đó”

Đưa vào Hiến pháp quyền làm việc và đảm bảo cho công dân thực hiện quyền đó là một thành tựu lớn của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Cùng với quyền làm việc, Hiến pháp còn quy định quyền nghỉ ngơi Điều 31 Hiến pháp năm 1959 ghi nhận:

“Người lao động có quyền nghỉ ngơi Nhà nước quy định thời gian làm

việc và chế độ nghỉ ngơi của công nhân và viên chức, mở rộng dần những điều kiện vật chất về nghỉ ngơi và an dưỡng, để bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó”

Ngoài những quyền mà Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận, Hiến pháp năm

1959 quy định thêm nhiều quyền mới Ví dụ: Quyền của người lao động được

giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động (Điều 32); quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác (Điều 34); quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước (Điều 29) Về quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới, Hiến pháp năm

1959 đã phát triển thêm một bước mới Hiến pháp năm 1959 quy định rõ ràng,

cụ thể hơn Điều 24 Hiến pháp năm 1959 quy định:

“ Cùng làm việc như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam

giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triến các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ”

Cùng với việc quy định những quyền mới, Hiến pháp năm 1959 cũng quy định những nghĩa vụ mới mà trong Hiến pháp năm 1946 chưa được ghi nhận

Trang 12

Lần đầu tiên trong Hiến pháp quy định công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo

vệ tài sản công cộng (Điều 40)

 Hiến pháp năm 1980

Kế tục và phát triển Hiến pháp năm 1946 và 1959, Hiến pháp năm 1980 một mặt ghi nhận lại quyền và nghĩa vụ công dân đã quy định trong hai Hiến pháp trước, mặt khác quy định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới phù hợp với tình hình mới, giai đoạn mới của nền dân chủ Xã hội Chủ nghĩa So với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đã quy định thêm một số quyền mới của công dân như:

Quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội (Điều

56)

Quyền được khám và chữa bệnh không phải trả tiền (Điều 61)

Quyền có nhà ở (Điều 62)

Quyền được học tập không phải trả tiền (Điều 60)

Quyền của các xã viên hợp tác xã được hưởng phụ cấp sinh đẻ (Điều 63)

Hiến pháp cũng xác định thêm một số nghĩa vụ mới của công dân: Công dân phải trung thành với Tổ quốc (Điều 76), ngoài bổn phận làm nghĩa vụ quân

sự, công dân phải tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; ngoài nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kỉ luật lao động, tôn trọng những quy tắc sinh hoạt

xã hội, công dân còn phải bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật nhà nước; ngoài nghĩa vụ đóng thuế công dân còn phải tham gia lao động công ích theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, một số quyền mới quy định trong Hiến pháp năm 1980 không phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước Như đã phân tích ở phần nguyên tắc hiến pháp của chế định quyền và

nghĩa vụ cơ bản của công dân, việc quy định “chế độ học không phải trả

Trang 13

tiền” (Điều 60) không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta Nhà

nước ta còn nghèo, việc thực hiện:“chế độ học không phải trả tiền” là thiếu cơ

sở thực tiễn Cũng như quy định ở Điều 60, việc quy định “chế độ khám bệnh

và chữa bệnh không phải mất tiền” (Điều 61).Mang tính chủ quan duy ý chí,

không phù hợp với điều kiện kinh tế nước nhà, gây nhiều hậu quả tiêu cực trong

xã hội Quyền có nhà ở, trên thực tế, chưa có điều kiện để thực hiện một cách đầy đủ Vì vậy Điều 62 Hiến pháp năm 1980 nói về quyền có nhà ở của công dân cũng chỉ mang tính chất cương lĩnh

Nhìn nhận khách quan, chúng ta phải thấy rằng có một số quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1946 nhưng về sau do hoàn cảnh lịch

sử và quan điểm chính trị mà chúng ta phải hạn chế, không quy định trong Hiến

pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 Ví dụ: Quyền tự do xuất bản, quyền

tự do đi ra nước ngoài (Điều 10 Hiến pháp năm 1946), quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam theo Hiến pháp năm 1946 được Nhà nước bảo đảm (Điều

12 Hiến pháp năm 1946), còn trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm

1980 các quyền đó không được ghi nhận

Mặc dù có những hạn chế đã nói trên nhưng so với Hiến pháp năm 1946

và 1959, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm

1980 vẫn là một bước phát triển mới, phong phú hơn, nhiều quyền mới đã được ghi nhận trong Hiến pháp

 Hiến pháp 1992

Cũng như các chế định khác như: chế độ chính trị, chế độ kinh tế, các chế định về bộ máy nhà nước chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 đánh dấu một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử lập hiến Việt Nam Bên cạnh việc Hiến pháp mở rộng quyền và nghĩa vụ công dân còn tính đến khả năng thực thi của các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Hiến pháp năm 1992 đã khắc phục một số hạn chế về tư

Trang 14

tưởng chủ quan duy ý chí trong Hiến pháp năm 1980 bằng các quy định phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam Việc quy định quyền có việc làm của công dân trong Hiến pháp năm 1980 không hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn Thực tế cho thấy rằng việc đảm bảo cho mọi công dân có việc làm không phải là vấn đề đơn giản Ngay ở các nước có nền kinh tế phát

triển và có thể chế dân chủ thì “quyền có việc làm” cho mọi người vẫn là một

vấn đề nan giải Vì vậy, Điều 55 Hiến pháp năm 1992 xác định: ''Nhà nước và

xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động" là quy

định đúng đắn nhất Nó phù hợp với đường lối kinh tế của Nhà nước ta là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước, theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, phù hợp với cơ cấu kinh

tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; phù hợp với mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước ta là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân hên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế Như đã phân tích ở phần những nguyên tắc hiến pháp của chế định quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân, việc quy định ''chế độ giáo dục phổ thông

bắt buộc" và ''chế độ học không phải trả tiền" trong Hiến pháp năm 1980 là

không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Nhà nước ta còn nghèo, việc thực hiện chế độ giáo dục phổ thông bắt buộc không thể thực hiện được Và nếu thực hiện chế độ học không trả tiền cho tất cả các cấp bậc, trình độ thì Nhà nước không đủ khả năng trả lương cho đội ngũ giáo viên Chế độ lương bổng thấp khiến cho những người làm công tác giáo dục chưa bảo đảm cuộc sống là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho nền giáo dục của chúng ta xuống cấp nhanh chóng Khắc phục tình trạng nói hên, Hiến pháp năm 1992 đã sửa đổi Hiến pháp năm 1980 bằng những quy định phù hợp với những điều kiện

Trang 15

kinh tế nước nhà Hiến pháp năm 1992 đã xác định chỉ “cấp tiểu học là bắt

buộc, không phải trả học phí" và ''công dân có quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức" Ngoài việc học nghề và học văn hóa ở các trường

công lập, công dân có thể học văn hóa, học nghề ở các trường dân lập

Một trong những quyền chính trị quan trọng mà Hiến pháp xác lập cho công dân Việt Nam là quyền khiếu nại, tố cáo Điều 74 Hiến pháp năm 1992 quy định:

“Công dân có quyền khiếu nại, quyền tổ cáo với cơ quan nhà nước có

thẩm quyền về những việc làm trải pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tố chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thế và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự Nghiêm cẩm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khổng, vu cáo làm hại người khác”

Về cơ bản Điều 74 Hiến pháp năm 1992 là sự ghi nhận lại Điều 73 Hiến pháp năm 1980, bằng quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo cho các công dân được thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và buộc các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách phải xem xét và giải quyết kịp thời Hiến pháp không những nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo mà đồng thời còn nghiêm cấm việc lợi dụng quyền khiếu nại tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác Đây là một điểm phát triển mới của Hiến pháp năm 1992 Thực tế cho thấy rằng việc vu khống, vu cáo người khác là một hành vĩ nguy hiểm cho xã hội, làm tổn thất danh dự, nhân phẩm và cuộc sống bình thường của công dân

Ngày đăng: 03/11/2022, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w