1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm quyền con người trong của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự

148 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu của đề tài  Mục đích nghiên cứu Việc tìm hiểu, nghiên cứu trên cơ sở lý luận của vấn đề bảo đảm quyền con người của ngườ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM

KHOA LUẬT HÌNH SỰ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS VÕ THỊ KIM OANH

GIẢNG VIÊN KHOA LUẬT HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2011

Trang 3



Lời cảm ơn

Trong thời gian thực hiện khóa luận tác giả đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ nhiều cá nhân và cơ quan Xin chân thành cảm ơn những người đã tạo điều kiện để khóa luận này được hoàn thành

Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến cô

Võ Thị Kim Oanh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa luận

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Lời mở đầu

Chương I: Nhận thức chung về quyền con người của người tham gia tố

tụng trong hoạt động xét xử hình sự 1

1.1 Khái niệm về người tham gia tố tụng 1

1.1.1 Định nghĩa về người tham gia tố tụng 1

1.1.2 Đặc điểm người tham gia tố tụng 3

1.1.3 Phân loại người tham gia tố tụng 5

1.1.4 Vị trí vai trò của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự 6

1.2 Khái niệm về quyền con người của người tham gia tố tụng trong xét xử hình sự 8

1.2.1 Khái niệm chung về quyền con người 8

1.2.2 Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự 14

1.2.3 Cơ sở cho việc bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự 18

Chương II: Pháp luật thực định về bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự 26

Trang

Trang 5

2.1 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong

hoạt động xét xử vụ án hình sự thông qua các nguyên tắc cơ

bản trong tố tụng hình sự 26 2.1.1 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong

các nguyên tắc đặc thù của tố tụng hình sự 29 2.1.2 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong

các nguyên tắc chung 36 2.2 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong

hoạt động xét xử vụ án hình sự thông qua việc quy định quyền

và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng 49 2.2.1 Nhóm quyền thể hiện đặc trưng cho địa vị pháp lí của người

tham gia tố tụng 49 2.2.2 Nhóm quyền xuất phát từ vai trò và chuyên môn của người

tham gia tố tụng 55 2.2.3 Những nghĩa vụ của người tham gia tố tụng 58 2.3 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong

hoạt động xét xử vụ án hình sự thông qua việc quy định các

biện pháp cưỡng chế 61 2.3.1 Bảo đảm quyền con người trong việc quy định căn cứ áp dụng

biện pháp ngăn chặn 61 2.3.2 Bảo đảm quyền con người trong việc quy định thủ tục áp dụng

biện pháp ngăn chặn 66 2.3.3 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong

các quy định về các biện pháp cưỡng chế khác 69 2.4 Bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng trong hoạt động

xét xử vụ án hình sự thông qua các quy định chung về xét xử 71

Trang 6

2.4.1 Bảo đảm quyền con người trong việc quy định giới hạn xét

xử 71 2.4.2 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng thông

qua thủ tục kháng cáo 73 2.5 Bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng thông qua việc

quy định trình tự tố tụng tại phiên tòa Hình sự 75 2.5.1 Thủ tục trước khi mở phiên tòa 76 2.5.2 Thủ tục tại phiên tòa 77

Chương III: Thực tiễn bảo đảm quyền con người của người tham gia

tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự và một số giải

gia tố tụng trong hoạt động xét xử 95 3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc bảo đảm quyền

con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử

VAHS 109 3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền

con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử

vụ án hình sự 117 3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 117 3.2.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao việc bảo đảm quyền con

người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử hình

sự 125

Trang 7

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 BLHS : Bộ luật hình sự

2 BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

3 CQĐT: Cơ quan điều tra

4 CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo đảm quyền con người là một chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền về tay nhân dân, ngay buổi đầu khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tôn trọng các quyền công dân và quyền con người trong Nhà nước Việt Nam mới:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không

ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự

do và mưu cầu hạnh phúc”

Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân, vì dân Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế Quyền con người trong tố tụng hình sự (TTHS) mà tiêu biểu là trong hoạt động xét xử với đặc tính quyền lực nhà nước rõ nét, lại là quyền dễ

bị xâm phạm và bị tổn thương nhất; hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của công dân Chính vì vậy, hoạt động TTHS, trong bất cứ nhà nước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người Đứng trước xu thế toàn cầu

về quyền con người và đảm bảo nhân quyền trong tư pháp thì vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS nói chung, quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự (VAHS) nói riêng là một vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết Hiệu quả của việc thực hiện vấn đề này trở thành một trong những thước đo mức độ tiến bộ và dân chủ của mỗi xã hội, mỗi chế độ nhà nước

Theo tinh thần cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị và Nghị quyết 49 ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 định hướng thì vấn đề bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS trở thành một trong những vấn đề được ngành tư pháp và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng hàng đầu hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 10

Nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS phải giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ Bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS là một đề tài có tính mới, mang ý nghĩa thời sự và có tính ứng dụng cao Tính tới thời điểm hiện tại, theo hiểu biết khiêm tốn của tác giả thì số lượng công trình nghiên cứu về đề tài này là rất ít, thậm chi là rất hiếm Hiện nay chỉ mới thấy Luận văn cử nhân “Bảo vệ người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự” năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thường Còn lại, các công trình nghiên cứu các

đề tài có liên quan đến vấn đề này của các tác giả nổi tiếng cũng không phải là nhiều,

có thể kể đến như: bài viết chuyên khảo về “Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và định hướng tiếp tục hoàn thiện” của TS.Võ Thị Kim Oanh; “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự” của PGS.TS.Nguyễn Thái Phúc; ThS Đinh Thế Hưng với bài viết “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự”… so với đề tài tác giả đang nghiên cứu, những đề tài kể trên hoặc ở góc độ rộng hơn, hoặc hẹp hơn

Từ đó, có thể thấy được, tính tới thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện và cụ thể nào về đề tài bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS Do đó mà việc nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài này là yêu cầu khách quan của công tác nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu của đề tài

 Mục đích nghiên cứu

Việc tìm hiểu, nghiên cứu trên cơ sở lý luận của vấn đề bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS; phân tích đánh giá các quan điểm của pháp luật, những hạn chế về bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong thực tiễn xét xử và nguyên nhân của những hạn chế đó nhằm hướng đến mục đích là đưa ra những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS

 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Hoạt động xét xử VAHS theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)

2003 gồm có xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tuy nhiên, xét xử tái thẩm và giám đốc thẩm chỉ là thủ tục xét xử đặc biệt chứ không phải cấp xét xử thứ ba nên tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài

Trang 11

này ở việc tập trung tìm hiểu các vấn đề ở khía cạnh lí luận và thực tiễn liên quan đến việc bảo vệ quyền con người của người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm

Theo quy định của pháp luật TTHS, người tham gia tố tụng trong hoạt động xét

xử gồm có: bị cáo, người bị hại, người làm chứng, người bào chữa, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, người giám định, người phiên dịch Nhưng do bị giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu của một luận văn cử nhân và xuất phát từ tính quan trọng, phổ biến của việc bảo vệ quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS nên tác giả chỉ đề cập đến các chế định pháp luật cũng như các vấn đề thực tiễn có liên quan đến việc bảo đảm quyền của bị cáo, người bị hại, người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch để nêu bật ý nghĩa nền tảng của công tác bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tác giả nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước

ta về Nhà nước và pháp luật, về Nhà nước pháp quyền XHCN, về bảo đảm quyền con người, quyền công dân…

Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: liệt kê, phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, quy nạp… để tiếp cận và làm sáng tỏ nội dung của đề tài ở cả mặt lí luận và thực tiễn

5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Dưới góc độ là một công trình nghiên cứu khoa học ở phạm vi luận văn cử nhân, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc giải quyết về mặt lí luận một trong những nội dung mang tính thời sự và toàn cầu là vấn đề bảo đảm quyền con người cũng như một trong những mục tiêu của cải cách tư pháp ở nước ta là bảo vệ người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS

Về mặt thực tiễn, luận văn chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật TTHS hiện hành cũng như những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật với vấn đề bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong thực tiễn xét xử Từ đó, tác giả

đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của vấn đề trên

Trang 13

Chương I:

NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI THAM GIA

TỐ TỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm về người tham gia tố tụng

1.1.1 Định nghĩa về người tham gia tố tụng

Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết VAHS theo quy định của pháp

luật, trong đó bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT),

người tiến hành tố tụng (NTHTT) và của những cá nhân, cơ quan, tổ chức khác tham

gia vào quá trình này Những cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được gọi là người tham gia

tố tụng Nói cách khác, người tham gia tố tụng chính là những cá nhân, cơ quan tổ

chức khác cũng đóng vai trò là chủ thể của pháp luật TTHS bên cạnh CQTHTT và

NTHTT

Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đã kế thừa hầu hết các quy định về người

tham gia tố tụng trong chương III của BLTTHS 1988 (bao gồm người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và

nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền

lợi của đương sự, người giám định và người phiên dịch; quyền và nghĩa vụ của họ)

Mặc khác, theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính

trị về cải cách tư pháp thì BLTTHS 2003 cũng đã quy định chặt chẽ hơn về quyền và

nghĩa vụ của người tham gia tố tụng; tăng thêm các quyền hạn cho người bào chữa như

tham gia hỏi cung bị can, tranh luận tại phiên tòa; quy định về trách nhiệm của cơ quan

và NTHTT trong vấn đề đảm bảo việc thực hiện quyền của người tham gia tố tụng…

trong các quy định từ Điều 48 đến Điều 62

Trang 14

Tuy nhiên cho tới hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định rõ

ràng và cụ thể khái niệm về người tham gia tố tụng Pháp luật TTHS của Việt Nam

cũng giống như pháp luật TTHS của Đức và một số quốc gia khác: không có định

nghĩa chung về người tham gia tố tụng và cũng chỉ dừng lại ở mức liệt kê những người

tham gia tố tụng quy định quyền và nghĩa vụ pháp lí của họ

Nhìn chung, từ thực tiễn của quá trình TTHS, ta có thể hiểu nôm na người tham

gia tố tụng là người là người cùng với CQTHTT và NTHTT có những hoạt động để

giải quyết VAHS theo những trình tự luật định Dù vậy, việc đi đến thống nhất về mặt

câu chữ và thuật ngữ pháp lí cho khái niệm người tham gia tố tụng là hoàn toàn cần

thiết mà pháp luật hiện hành chưa giải quyết được vấn đề này nên dẫn đến nhiều hệ lụy

trong việc xác định tư cách của người tham gia tố tụng cũng như vấn đề bảo đảm

quyền lợi của họ

Hầu hết các khái niệm về người tham gia tố tụng hiện nay đều xuất phát từ góc

độ quyền và nghĩa vụ Theo Từ điển Thuật ngữ pháp lí thì “Người tham gia TTHS: bị

can, bị cáo, người bào chữa, người bị tạm giữ, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn

dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án, người bảo vệ quyền lợi của

đương sự; người làm chứng, người giám hộ, người phiên dịch Bộ luật tố tụng hình sự

quy định người tham gia TTHS có quyền và nghĩa vụ trong quá trình điều tra truy tố và

xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa

án có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người

tham gia tố tụng”[63]

Theo tác giả Lại Văn Trình trong luận án tiến sĩ Luật học “Bảo đảm quyền con

người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” thì: người

tham gia tố tụng là người “mà quyền và lợi ích của họ có liên quan đến vụ án hoặc đến

quá trình tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân

sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm

Trang 15

chứng…”[48-tr.28] Theo tập bài giảng luật TTHS thì “Người tham gia tố tụng là các

cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các cá nhân có năng lực

pháp lý để tham gia vào các quan hệ pháp luật hình sự, có quyền và nghĩa vụ tố tụng

theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự”[14-tr.93]

Như vậy, nghiên cứu về người tham gia tố tụng trong lĩnh vực TTHS có nhiều

khái niệm và định nghĩa khác nhau Sự khác nhau này xuất phát từ những nhận thức và

mục đích nghiên cứu không giống nhau Dù tồn tại những khác biệt trong các định

nghĩa nhưng tựu chung, theo tác giả, có thể đồng nhất chúng ở cách hiểu: người tham

gia tố tụng có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực pháp lý và tham gia vào các

quan hệ pháp luật TTHS với những quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của

pháp luật TTHS

1.1.2 Đặc điểm người tham gia tố tụng

Khái niệm người tham gia tố tụng ở trên phản ánh các thuộc tính pháp lý đặc

trưng của từng loại đối tượng được quy định tại chương IV BLTTHS và đặc trưng cho

địa vị tố tụng của họ

Tuy cùng góp phần vào việc giải quyết VAHS nhưng do tư cách pháp lí khác

nhau nên người tham gia tố tụng cũng có những đặc điểm khác biệt so với NTHTT

Những đặc điểm đặc trưng của người tham gia tố tụng bao gồm:

Thứ nhất, về mặt năng lực pháp lý, người tham gia tố tụng phải là những tổ

chức hoặc cá nhân có năng lực pháp lý để tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS Như

vậy, không phải bất kì ai cũng có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS với

tư cách là người tham gia tố tụng mà tư cách người tham gia tố tụng chỉ được đặt ra đối

với những cá nhân hay tổ chức đáp ứng được điều kiện: có năng lực pháp lý để tham

gia vào quan hệ pháp luật TTHS theo luật định

Trang 16

Thứ hai, người tham gia tố tụng là một chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS

Pháp luật đã quy định cho từng loại người tham gia tố tụng những quyền và nghĩa vụ

riêng biệt so với các chủ thể khác của quan hệ này để bảo vệ lợi ích cho chính mình

hay cho người khác Mỗi người tham gia tố tụng có một địa vị pháp lý nhất định và có

quan hệ đối với các CQTHTT và NTHTT Trong mối tương quan đó, người tham gia

tố tụng sẽ được các chủ thể khác của quan hệ pháp luật tố tụng bảo đảm cho quyền

được giải thích và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Nhờ những quy định về

quyền mà người tham gia tố tụng biết mình được làm gì và làm ra sao… để có thể chủ

động hơn trong khi tham gia tố tụng và tạo được ý thức pháp luật Bên cạnh việc quy

định về quyền, pháp luật TTHS cũng quy định về những nghĩa vụ tương ứng cho người

tham gia tố tụng Tất nhiên với những tư cách pháp lí khác nhau thì mỗi người tham

gia tố tụng cũng phải thực hiện những nghĩa vụ khác nhau, ví dụ như đối với người bị

hại thì việc khai báo về các tình tiết mà mình biết của vụ án vừa là quyền vừa là nghĩa

vụ, nếu từ chối khai báo mà không có lí do chính đáng thì có thể chịu trách nhiệm hình

sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự (BLHS) 1999 (khoản 4 Điều 51 BLTTHS); trong

khi đó, đối với bị cáo - người biết khá rõ các tình tiết mấu chốt của vụ án thì việc khai

báo không phải là nghĩa vụ của họ vì nó được ghi nhận thành quyền trình bày lời khai

theo Điều 10 của BLTTHS 2003: “…bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng

minh là mình vô tội” Nghĩa vụ là điều bắt buộc phải thực hiện và trong pháp luật

TTHS thì đa phần các nghĩa vụ luôn có các biện pháp cưỡng chế đi kèm để đảm bảo

việc thực hiện; còn quyền thì việc thực hiện hay không phụ thuộc vào ý chí chủ quan

của chủ thể có quyền Dù vậy, người tham gia tố tụng vẫn có nghĩa vụ chung đó là

nghĩa vụ tuân thủ các quy định trong BLTTHS

Thứ ba, người tham gia tố tụng là những người được quy định trong BLTTHS

nên người tham gia tố tụng phải chịu sự điều chỉnh và chi phối bởi những quy định

này Người tham gia tố tụng theo quy định tại chương IV BLTTHS 2003 bao gồm bị

Trang 17

can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người

làm chứng, người phiên dịch, người giám định xuất hiện trong quá trình giải quyết vụ

án với những vai trò khác nhau Tuy nhiên, trong các quy định của mình, pháp luật tố

tụng đã tác động đến người tham gia tố tụng thông qua việc chỉ ra những quyền và

nghĩa vụ để họ thực hiện Qua đó mà các CQTHTT, NTHTT có thể xác định được sự

thật khách quan của vụ án, việc công tố và xét xử có thể diễn ra trên cơ sở đúng người

đúng tội; tính nghiêm minh, công bằng và nhân đạo của pháp luật được đảm bảo

Từ các đặc điểm trên có thể thấy được người tham gia tố tụng đóng vai trò quan

trọng trong việc giải quyết VAHS Việc tham gia của họ trong hoạt động TTHS góp

phần bảo vệ công lý và đảm bảo công bằng xã hội

1.1.3 Phân loại người tham gia tố tụng

Người tham gia tố tụng theo chương IV BLTTHS được liệt kê thành 12 loại

người khác nhau: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị

đơn dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đến vụ án, người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên

dịch Hiện nay, có nhiều quan điểm về việc phân chia 12 loại người này như: phân chia

căn cứ vào thời điểm tham gia tố tụng, phân chia căn cứ vào quyền hạn và nghĩa vụ khi

tham gia tố tụng, phân chia căn cứ vào vị trí vai trò khi tham gia tố tụng Tuy nhiên,

theo quan điểm chủ quan của tác giả thì cách phân chia căn cứ theo vị trí, vai trò của họ

trong tố tụng như các tác giả của Tập bài giảng tố tụng hình sự của trường Đại học

Luật thành phố Hồ Chí Minh năm học 2008-2009 là hợp lí nhất[14-tr.93-122] Theo

đó, người tham gia tố tụng được chia thành ba nhóm:

Trang 18

Nhóm 1: nhóm người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án bao gồm:

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Nhóm 2: nhóm người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người

khác (những người thuộc nhóm 1) và góp phần bảo vệ công lý bao gồm: người bào

chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự

Nhóm 3: nhóm người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý: người làm chứng,

người giám định, người phiên dịch

Những người này có thể không cùng lúc xuất hiện trong một giai đoạn hoặc một

hoạt động của quy trình tố tụng vì ở từng giai đoạn, từng hoạt động thì yêu cầu những

người khác nhau để đáp ứng việc giải quyết vụ án, và có sự chuyển hóa tư cách địa vị

tố tụng Có loại người tham gia tố tụng sẽ xuất hiện gần như xuyên suốt các giai đoạn

tố tụng nhưng cũng có loại người tham gia tố tụng chỉ xuất hiện ở một giai đoạn nhất

định nào đó.Ví dụ như tham gia vào hoạt động xét xử thì tư cách của người bị tạm giữ

hay bị can sẽ không còn mà chỉ xuất hiện bị cáo bên cạnh người bị hại, nguyên đơn

dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người bảo

vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án,

người phiên dịch

1.1.4 Vị trí vai trò của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử vụ

án hình sự

Từ việc phân loại ở trên có thể thấy được khi tham gia vào hoạt động xét xử

VAHS, người tham gia tố tụng sẽ có vị trí, vai trò khác nhau tùy theo tư cách tham gia

tố tụng của họ Đó là:

Trang 19

Đối với nhóm 1- nhóm người có quyền và nghĩa vụ pháp lí liên quan đến vụ án-

mặc dù không phân tích vị trí, vai trò của từng người trong tố tụng nhưng có thể thấy

rằng vai trò của họ trong tố tụng là ngoài việc tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng

của mình thì họ còn giúp CQTHTT, NTHTT hoàn thành nhiệm vụ của TTHS là giải

quyết tốt vụ án, đảm bảo sự công bằng của pháp luật là xét xử đúng người đúng tội,

công tác xét xử khách quan và dân chủ

Nhóm 2- nhóm người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người

khác và góp phần bảo vệ công lý (bảo vệ quyền lợi cho bị cáo, người bị hại, nguyên

đơn dân sự, bị đơn dân sự…) gồm có người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi cho

đương sự Người bào chữa là người được bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo ủy

quyền mời hoặc nhờ tham gia tố tụng nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo về mặt pháp lý Như vậy, khi tham gia tố

tụng, người bào chữa đã hình thành quan điểm vụ án theo hướng có lợi cho thân chủ

mình Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng dù thực hiện chức năng bảo vệ thân chủ thì người

bào chữa vẫn phải đảm bảo công lý, tôn trọng phạm luật Người bảo vệ quyền lợi cho

đương sự là người được CQTHTT chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho

người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến

VAHS Luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc những người đáp ứng được những điều

kiện cần thiết được Tòa án chấp thuận thì có thể trở thành người bảo vệ quyền lợi cho

đương sự tại phiên xét xử Cũng như người bào chữa, họ tham gia việc bảo vệ quyền

lợi cho đương sự trong sự tuân thủ những quy định của pháp luật TTHS nhằm đảm bảo

cho việc xét xử diễn ra công bằng, khách quan và dân chủ

Đối với nhóm 3- nhóm người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý (người làm

chứng, người giám định, người phiên dịch) là những người tham gia tố tụng theo yêu

cầu của CQTHTT Sự tham gia của họ vào hoạt động xét xử là một nghĩa vụ phục vụ

cho việc xác minh sự thật vụ án nhằm làm cho công tác xét xử đạt được hiệu quả, bản

Trang 20

án được tuyên sẽ mang tính thuyết phục cao hơn chứ không phải họ tham gia vì quyền

lợi thiết thân trực tiếp của họ

Sự vô tư của hai nhóm người này là điều kiện quan trọng để làm sáng tỏ sự thật

vụ án, đảm bảo công lí được thực thi, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của

những người tham gia tố tụng khác như bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên

quan,… đồng thời qua đó có thể đạt đến được tính nhân đạo và khoan hồng trong việc

quyết định hình phạt và ra bản án khi xác định được tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo

Từ việc phân tích trên, chúng ta có thể thấy được vai trò của người tham gia tố

tụng trong quá trình giải quyết VAHS Họ là vừa là đối tượng tác động cả các hoạt

động trong tố tụng, vừa là chủ thể của các hoạt động đó Nhờ họ mà các CQTHTT,

NTHTT tìm ra được sự thật khách quan của vụ án, giúp cơ quan xét xử đưa ra kết luận

bị cáo có tội hay không có tội, giúp cơ quan công tố và giám sát hoạt động tố tụng biết

được quá trình giải quyết vụ án có công bằng, khách quan và dân chủ hay không Song,

BLTTHS lại chưa cụ thể hóa được vị trí vai trò của từng người tham gia tố tụng nên

còn dẫn đến nhiều bất cập trong việc thực thi pháp luật TTHS Vì vậy, để bảo đảm

quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng thì pháp luật cần phải có những

quy định chi tiết và thống nhất về vấn đề nêu trên

1.2 Khái niệm về quyền con người của người tham gia tố tụng trong

xét xử hình sự

1.2.1 Khái niệm chung về quyền con người

Bàn về quyền con người (hay còn gọi nhân quyền) có nhiều quan niệm khác

nhau Trường phái pháp luật tự nhiên cho rằng: quyền con người là đặc quyền tự nhiên

Đặc quyền tự nhiên này do pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định

“Quan niệm khác xem con người cũng như quyền con người trong tổng hoà các mối

quan hệ xã hội Theo quan niệm này, nhân quyền là một giá trị nhân loại, đồng thời có

Trang 21

tính lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời

đại khác nhau”[20-tr.10;12]

Quyền con người (tiếng Anh: Human rights) là những quyền tự nhiên của con

người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Quyền con người

được xem là một trong mười sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp,

phân tâm học, thuyết tương đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World Wide Web, xà phòng,

số không, và lực hấp dẫn Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson

đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ Các

chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson

đã nêu, mà chính các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó – các

quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình Theo quan điểm của các

nhà triết học thời đại khai sáng của thế kỷ XVII và XVIII thì các quyền không thể tước

bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ Các quyền này không bị phá

hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể

xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” các quyền này Các quyền không thể tước bỏ bao gồm

quyền được sống, quyền tự do (các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín

ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội) quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được

bảo vệ bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các

quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ Các xã hội dân chủ đồng thời

thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các

quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì Vì các quyền này

tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng

như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó Ví dụ như điều sửa

đổi bổ sung đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ không đưa ra quyền tự do tín ngưỡng hay

tự to báo chí cho dân chúng Điều sửa đổi bổ sung đó nghiêm cấm Quốc hội thông qua

các luật vi phạm tới tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và quyền hội họp ôn hòa Nhà

Trang 22

sử học Leonard Levy đã phát biểu: “Các cá nhân có thể tự do khi chính phủ của họ

không tự do” Các nội dung chi tiết và các thủ tục của luật pháp liên quan tới quyền con

người cần phải thay đổi tùy theo xã hội, nhưng tất cả các nền dân chủ đều được giao

trọng trách trong việc xây dựng các cấu trúc xã hội lập hiến, lập pháp để bảo đảm cho

các quyền con người đó[57]

Học thuyết Mác-Lê Nin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng

nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng giá trị tinh

hoa của nhân loại về con người và quyền con người Các Mác đã xuất phát từ con

người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật-xã hội ” Do đó quyền con người là sự

thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội.”[19-tr.14]

Ngày mùng 10 tháng 12 năm 1948, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã long

trọng tuyên bố bản Tuyên ngôn quyền con người Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử

nhận loại, cộng đồng thế giới đã đảm nhận trách nhiệm quảng bá và bênh vực quyền

con người như một nghĩa vụ trường kỳ Khoản 1 và 2 của bản tuyên ngôn nhân quyền

đã khẳng định rằng: Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng trong phẩm giá và

quyền lợi, và mỗi một cá nhân, không phân biệt chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn

ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc hay xã hội đều được hưởng mọi quyền

lợi và tự do, được công bố trong bản tuyên ngôn Trong 21 khoản đầu của tuyên ngôn,

chúng ta có thể kể ra những quyền cơ bản sau đây: quyền được sống, được tự do và

được đảm bảo an ninh cá nhân, quyền không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn

hay chịu những hình phạt độc ác, vô nhân đạo hay chà đạp phẩm giá con người, quyền

được bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền

không bị bắt giữ, giam cầm hay đày ải trái phép; quyền không bị can thiệp vào đời

sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, quyền được đi lại, quyền được cư trú, quyền

được một quốc tịch, quyền được kết hôn và lập gia đình, quyền được sở hữu, quyền

Trang 23

được tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do hội

họp

Theo Từ điển Tiếng Việt 1992, quyền là: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công

nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” Từ đó, có thể hiểu quyền con người là

những quyền mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng

Như vậy, trong tư tưởng nhân loại hiện đại thì con người và những gì thuộc về

con người là những giá trị, mục đích cao cả nhất đối với mọi tổ chức và tất cả các xã

hội Khái niệm quyền con người là một khái niệm mở bởi nó có thể thay đổi theo sự

phát triển của con người và xã hội loài người Cũng vì lí do này mà việc bảo đảm thực

hiện quyền con người là một quá trình liên tục và phức tạp gắn chặt với từng hoàn cảnh

và điều kiện cụ thể Nhưng tựu chung lại, để quyền con người có thể được nhìn nhận là

một giá trị cao cả thì Nhà nước phải là chủ thể đầu tiên có trách nhiệm thực hiện quyền

con người bằng hệ thống pháp luật dân chủ và tiến bộ Dưới góc độ pháp luật TTHS,

bảo đảm quyền con người là vấn đề mang tính đa diện và phức tạp, vì thế để nâng cao

hiệu quả vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS thì điều kiện cần là phải nắm

được bản chất và đặc điểm của quyền con người

Về bản chất, quyền con người là những vấn đề thuộc riêng về con người nên

bản chất của quyền con người xuất phát từ chính bản chất của con người Con người là

một thực thể tự nhiên-xã hội, là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, cho nên

quyền con người cũng vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội Do con người là

một thực thể sinh học xã hội, cho nên quyền con người vừa mang tính phổ biến vừa

mang tính đặc thù Tính phổ biến của quyền con người có nghĩa quyền con người được

áp dụng phổ biến mọi nơi, cho mọi đối tượng Tính đặc thù của quyền con người có

nghĩa, quyền này ở mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ do trình độ phát triển khác nhau mà có

đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện của quốc gia, lãnh thổ đó Quyền con người

mang tính xã hội, nên trong xã hội có sự phân chia giai cấp nên nó vừa mang tính giai

Trang 24

cấp sâu sắc, vừa là một giá trị của nhân loại Trong Nhà nước XHCN có sự kết hợp hài

hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợí ích toàn xã hội Lợí ích cá nhân là

mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, đồng thời bảo đảm lợi ích của tập thể, của

cả cộng đồng xã hội Tức là quyền con người phải được đặt trong mối quan hệ với

nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm

bảo lợí ích xã hội

Như vậy, “quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người

mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội nhất định

Quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội, vừa mang tính phổ

biến, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính nhân loại và thống

nhất với quyền dân tộc cơ bản”[44-tr.14]

Quyền con người có mối liên hệ mật thiết với quyền công dân Các Mác cho

rằng quyền con người và quyền công dân luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có

mối quan hệ biện chứng với nhau “Quyền công dân chính là quyền con người trong

một xã hội cụ thể, trong một chế độ chính trị-xã hội nhất định với một nền pháp luật cụ

thể do Nhà nước đó thừa nhận quy định”[19-tr.24]

Hiến pháp 1992 của nước ta đã ghi nhận hai nguyên tắc đặc biệt quan trọng

nhằm bảo đảm quyền con người được thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhà nước và

công dân đó là:

Nguyên tắc thứ nhất: các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội

phải được tôn trọng (Điều 50 Hiến pháp)

Nguyên tắc thứ hai: Nhà nước có nghĩa vụ đảm bảo thực hiện các quyền và

nghĩa vụ pháp lý của công dân (Điều 51 Hiến pháp)

Trang 25

Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách

phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền

con người Hiến pháp năm 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi

công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước

pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại

và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe không phân biệt giới tính, sắc

tộc, tôn giáo Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền

này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền[2]

Về đặc điểm, tác giả hoàn toàn nhất trí với quan điểm quyền con người mang

một số đặc điểm cơ bản được thống nhất thừa nhận mà T.S Luật học Võ Thị Kim Oanh

đã có lần tổng kết như sau[43-tr32-33]:

- Quyền con người là những giá trị vừa gắn liền với cá nhân con người,

vừa gắn liền với lợi ích quốc gia dân tộc Bởi, con người là công dân của một nhà

nước, là thành viên của một dân tộc, cộng đồng và không ai sống riêng rẻ ngoài cộng

đồng

- Quyền con người vừa mang tính chất tự nhiên, vừa mang tính xã hội vì

con người là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội Quyền con người xuất phát

từ đặc điểm tự nhiên của con người nhưng con người lại tồn tại trong xã hội nên quyền

con người cũng mang tính xã hội và bị chi phối bởi các đặc tính của xã hội mà con

người tồn tại

- Quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù Vấn

đề bảo vệ quyền con người là vấn đề chung của toàn cầu nhưng mỗi quốc gia ghi nhận

và thực hiện vấn đề này ở những mức độ và cách thức khác nhau phụ thuộc vào tình

hình kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia đó

Trang 26

Việc nắm vững bản chất và đặc điểm của quyền con người sẽ giúp ta tìm ra cách

lý giải cho việc tồn tại những mức độ khác nhau của việc bảo đảm quyền con người khi

nghiên cứu các chế định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; tìm ra cách thức

đảm bảo quyền con người và hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như cơ chế

bảo đảm thi hành quyền con người sao cho hiệu quả nhất trong điều kiện cho phép của

xã hội hiện tại

1.2.2 Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự

Từ việc tìm hiểu khái niệm về quyền con người nói chung, ta có thể đi đến khái

niệm về quyền con người trong TTHS Quyền con người trong TTHS là quyền con

người của những cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS Đó là các quyền

được ghi nhận trong Hiến pháp, trong các văn kiện pháp luật và được BLTTHS cụ thể

hóa thành các quy định trong các điều khoản và có cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện

các quyền này Đó là hệ thống các quyền cơ bản của con người trong hoàn cảnh cụ thể

khi tham gia vào quan hệ TTHS: như quyền được bảo đảm tính mạng sức khỏe, quyền

được tố giác tội phạm, quyền được bào chữa và tự bào chữa, quyền được giải quyết oan

sai và bồi thường thiệt hại… Ths Đinh Thế Hưng cũng đã khái quát lại trong bài viết

“Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự”: quyền con người trong TTHS là

những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật

TTHS mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và đảm bảo

thực hiện trên thực tế

Theo đó, quyền con người của người tham gia tố tụng chính là quyền con người

trong TTHS được ghi nhận qua hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS từ Điều

3 đến Điều 32; hệ thống các quyền của người tham gia tố tụng trong các quy định về

nghĩa vụ của CQTHTT, NTHTT tại chương III và các quyền của người tham gia tố

tụng trong các quy định tại chương IV của BLTTHS

Trang 27

Ở góc độ tiếp cận gần hơn, quyền con người trong TTHS là sự cụ thể quyền

được sống, quyền được tự do, trong lĩnh vực TTHS Đây được coi là tiêu chuẩn về

nhân quyền trong TTHS Theo đó, quyền con người trong TTHS bao gồm những

quyền sau (Điều 10, 11 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948, Điều 14, 15 và 11

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966) Có thể liệt kê ra đây một

số loại quyền cơ bản của con người trong TTHS như:

- Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và Tòa án công bằng, công

khai

- Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền tự

do cá nhân khác Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS phải trên cơ

sở luật định

- Quyền được suy đoán vô tội

- Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ

- Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt

- Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan

Quyền không bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi…

- Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử…

Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội- đối tượng quan trọng

nhất cần bảo vệ trong TTHS Tuy nhiên, tham gia vào quá trình TTHS không chỉ có

những người bị buộc tội mà còn nhiều người khác mà lâu nay khi nghiên cứu về quyền

con người trong TTHS, chúng ta hay ít chú ý đó là quyền của người bị hại, quyền của

người làm chứng và những người liên quan khác Những người này họ cũng có quyền

con người của họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm,

Trang 28

quyền được bảo đảm các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng con đường

TTHS

Pháp luật TTHS có vị trí quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người thông

qua việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng

và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm

oan người vô tội hướng tới mục đích góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích

của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp

luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng

chống tội phạm

Những định hướng trên được quán triệt và thể hiện ở tất cả các quy định của luật

TTHS trong quá trình giải quyết vụ án: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của

các CQTHTT và NTHTT, tạo thành hệ thống các quy phạm làm cơ sở cho việc bảo

đảm quyền con người

Xét xử VAHS là khái niệm pháp lý dùng để chỉ hoạt động của Tòa án nhằm làm

rõ bản chất khách quan của vụ án, từ đó ra bản án thích hợp để phán quyết một người

có tội hay không có tội; đồng thời đây còn là hoạt động tạo ra phán quyết cuối cùng,

dứt khoát để giải quyết các vấn đề liên quan đến VAHS như các quyền: tự do, danh dự,

quyền tài sản, quyền nhân thân và cả quyền cơ bản của con người là quyền được bảo

hộ tính mạng Vì vậy vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của người

tham gia tố tụng nói riêng là vấn đề quan trọng gắn liền với hoạt động xét xử VAHS

Trong các giai đoạn của TTHS thì xét xử là giai đoạn quan trọng nhất vì lúc này

Tòa án sẽ trên cơ sở tổng hợp những thông tin, tình tiết của vụ án thu thập được từ các

giai đoạn trước đó và sự thể hiện của các bên tham gia tố tụng tại phiên xét xử mà ra

phán quyết bị cáo có tội hay không và sẽ áp dụng hình phạt gì (nếu có) Xét xử VAHS

là hoạt động đặc trưng của nhánh tư pháp thuộc chức năng, thẩm quyền chuyên biệt và

Trang 29

riêng biệt của Tòa án, nhân danh nhà nước để đưa ra kết luận cuối cùng cho việc giải

quyết vụ án, giải quyết mối quan hệ được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật được cho là

bị xâm hại bởi hành vi phạm pháp của một bên chủ thể của quan hệ TTHS Xét xử là

hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết VAHS thể hiện bản chất của nền tư pháp

quốc gia nên việc bảo đảm quyền con người được thể hiện tập trung nhất trong hoạt

động xét xử của Tòa án

Hoàn thiện chế định về người bào chữa, người tham gia tố tụng, đảm bảo quyền

con người, quyền bình đẳng của các bên trong tranh tụng là yêu cầu của cải cách tư

pháp hiện nay Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020 chỉ rõ: “xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người

tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân

chủ, nghiêm minh”

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ ràng buộc quyền và

nghĩa vụ pháp lý giữa hai bên chủ thể Một bên là Nhà nước (bao gồm các cơ quan Nhà

nước, và các chủ thể có trách nhiệm được Nhà nước trao quyền) và bên kia là cá nhân

công dân Việc bảo đảm đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân, đảm bảo

được quyền con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư

tưởng… trong đó bảo đảm về mặt pháp lý là vấn đề rất có ý nghĩa Đặc biệt là các hoạt

động của cơ quan Nhà nước có mối quan hệ trực tiếp với người dân, trong đó đảm bảo

về mặt pháp lý hoạt động của các cơ quan tố tụng là vấn đề cực kỳ quan trọng

Vấn đề này có thể thấy khá rõ nét trong hoạt động chính yếu của TTHS là hoạt

động xét xử Dưới góc độ bảo đảm quyền công dân, quyền con người thì hoạt động xét

xử của Tòa án là hoạt động mang tính pháp lý cao nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích

của công dân nói chung và người tham gia tố tụng nói riêng Phán quyết cuối cùng của

Tòa án phải căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên xét xử và phải dựa trên cơ sở tổng

hợp các chứng cứ của cơ quan điều tra, quan điểm của kiểm sát viên, lập luận của

Trang 30

người bào chữa, lời khai của bị cáo và nhân chứng… Từ đó mới thể hiện được tính dân

chủ của hoạt động xét xử, sự công bằng của pháp luật, năng lực của những người thực

thi công lý trong vấn đề bảo đảm quyền con người của công dân mà cụ thể là quyền

của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử VAHS Cần lưu ý rằng bản chất của

việc xét xử không phải là nhằm hướng người bị buộc tội vào tội danh nào đó mà phải

là nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề người bị buộc tội có tội hay không, những vấn đề

liên quan đến vụ án sẽ được giải quyết như thế nào, quyền lợi và lợi ích của các bên

tham gia tố tụng sẽ được bảo đảm ra sao

Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử

VAHS cũng như trong toàn bộ quá trình tố tụng biểu hiện trong việc pháp luật TTHS

ghi nhận quyền con người ở nhiều khía cạnh khác nhau như: quy định những nguyên

tắc cho hoạt động xét xử; những ghi nhận về quyền của người tham gia tố tụng và

nghĩa vụ của các cơ quan chức năng; quy định về thủ tục, điều kiện áp dụng biện pháp

ngăn chặn; trình tự của hoạt động xét xử…Việc ghi nhận này mang ý nghĩa rất lớn, nó

không chỉ là biểu hiện đặc trưng của một nền pháp chế XHCN mà còn là tiêu chuẩn để

xác định mức độ dân chủ của pháp luật TTHS Việt Nam

1.2.3 Cơ sở cho việc bảo đảm quyền con người của người tham gia tố

tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự

 Cơ sở lí luận:

Phát hiện, xử lý tội phạm là công việc của bất kỳ nhà nước nào nhằm bảo vệ lợi

ích của nhà nước, của xã hội, của cá nhân trong xã hội đó Tuy nhiên, con người khi

sinh ra ai cũng có quyền sống trong môi trường an toàn, trong đó có sự an toàn về pháp

lý Sẽ là một xã hội bất công và quyền con người bị xâm phạm nếu dân chúng luôn

cảm thấy bất an bởi cảm giác có thể bị đưa vào vòng quay của hoạt động TTHS với tư

cách người bị tình nghi, bị can, bị cáo bất cứ lúc nào Vừa đảm bảo việc phát hiện xử lý

tội phạm, vừa phải đảm bảo không xâm phạm quyền con người là một mâu thuẫn mà

Trang 31

giải quyết hài hòa mâu thuẫn này đó chính là biểu hiện của một kiểu TTHS trong một

nhà nước văn minh Công việc đầu tiên đòi hỏi nhà nước nào cũng phải làm là: ghi

nhận cụ thể những quyền con người nào trong hệ thống pháp luật TTHS của mình

Việc ghi nhận này không phải là sự ban phát từ phía nhà nước mà bắt nguồn từ nhiều

yếu tố trong đó có việc thừa nhận những giá trị cao quý nhân loại đã thừa nhận chung

Những giá trị đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, không ngừng nghỉ của

loài người mới đạt được “Từ chỗ quyền con người trong đó có tính mạng, sức khỏe

phẩm giá của con người bị chà đạp trong các phiên tòa man rợ, phi nhân tính thời

trung cổ, phong kiến, phiên tòa “giàn thiêu” giáo hội… cho đến kiểu tố tụng văn minh,

nhân đạo trong nhà nước pháp quyền chứng minh thuyết phục cho giá trị của quyền

con người trong TTHS Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện Quốc tế về quyền

con người trong TTHS như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công

ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Những nguyên tắc cơ

bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ

nhục con người năm 1985…”[31]

Bảo đảm quyền con người là một trong những vấn đề quan trọng, được hầu hết

các quốc gia trên thế giới quan tâm Bảo đảm quyền con người chính là bảo đảm được

nền dân chủ, bảo đảm được hiệu quả, hiệu lực của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích

hợp pháp của công dân Trong Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, quyền

con người được ghi nhận và bảo vệ, các quyền tự do cá nhân của con người còn được

nhấn mạnh và được gọi là các quyền dân sự Ngày nay, chất lượng cuộc sống, trình độ

văn minh của các quốc gia được thể hiện ở thước đo dân chủ, sự thoả mãn và bảo đảm

quyền tự do cá nhân của mỗi công dân Vì vậy “việc bảo đảm các quyền con người

được coi là một trong các chuẩn mực đánh giá trình độ giải phóng con người, sự phát

triển xã hội ở mỗi quốc gia”[58]

Trang 32

Việt Nam đã qua hơn 20 năm của công cuộc “mở cửa” và đang trên đà hội nhập

với thế giới ở tất cả các lĩnh vực, trong đó không loại trừ lĩnh vực tư pháp Trên cơ sở

truyền thống nhân đạo và nền văn hóa mang đậm tính nhân văn, Đảng và nhà nước ta

luôn xác định vấn đề bảo đảm quyền công dân nói chung và quyền con người của

người tham gia tố tụng nói riêng là trọng tâm của TTHS Vì thế nhiệm vụ trung tâm mà

Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 02/01/2002 và Nghị quyết

49/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng ban hành ngày

02/06/2005 đặt ra trong quá trình cải cách tư pháp là yêu cầu tôn trọng và bảo vệ hiệu

quả quyền con người nói chung; quyền tự do, dân chủ bình đẳng của các bên trong hoạt

động TTHS nói riêng

Bản chất của pháp luật nói chung đó là tính giai cấp Nói cách khác, pháp luật

chính là cơ sở để Nhà nước thiết lập, củng cố và bảo vệ chế độ Đây cũng được coi là

công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lí các mối quan hệ trong xã hội, quản lí trật tự

công cộng, thực hiện chức năng bảo giám công dân của mình Pháp luật TTHS Việt

Nam cũng là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, cũng có nhiệm vụ bảo vệ

Nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN, đảm bảo an ninh trật tự; ngăn ngừa và xử lí hậu quả

do những hành vi vi phạm pháp luật gây ra, đảm bảo cho nhân dân có được cuộc sống

bình yên, hạnh phúc Quyền lợi của Nhà nước đã gắn liền với lợi ích của nhân dân và

luật TTHS có nghĩa vụ phải bảo vệ những lợi ích này

Từ việc quy định những nguyên tắc dân chủ, các nguyên tắc về quyền, nghĩa vụ

của người tham gia tố tụng và các quy định cụ thể khác mà pháp luật TTHS Việt Nam

góp phần khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức bị tội phạm

xâm hại, các quyền của những người tham gia tố tụng có thể bị đe dọa bởi hành vi vi

phạm pháp luật tố tụng của CQTHTT, NTHTT trong quá trình giải quyết vụ án

Vấn đề quyền con người được pháp luật TTHS ghi nhận bằng nhiều quy định đa

dạng về hình thức và nội dung Đây là hành lang pháp lý để những người tham gia tố

Trang 33

tụng chủ động hơn trong việc tham gia giải quyết vụ án, để công dân tích cực hơn trong

việc giám sát hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống

tội phạm

Việt Nam là quốc gia theo chế độ XHCN nên bản chất của Nhà nước là nhà

nước của dân, do dân và vì dân, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, lợi ích của

công dân gắn liền với lợi ích quốc gia, dân tộc Nhà nước bảo vệ nhân dân trong các

mặt đời sống xã hội cũng chính là bảo vệ chính mình Vì thế mà một trong những mục

tiêu cơ bản đặt ra cho cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS hiện nay

là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong TTHS nói

chung và trong hoạt động xét xử VAHS nói riêng Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày

02/06/2005 của Bộ chính trị ban chấp hành trung ương Đảng là văn kiện chính trị quan

trọng làm nền tảng cho các hoạt động như: tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lí luận và xây

dựng căn cứ pháp lý cho công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn Việt Nam đang nổ

lực xây dựng Nhà nước pháp quyền như hiện nay Một trong những nguyên tắc cơ bản

của cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền là hướng tới việc

bảo đảm vững chắc và hữu hiệu các quyền tự do của con người và của công dân với tư

cách là các giá trị xã hội cao quý nhất

Giai đoạn xét xử tại phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất vì tại đây, các bên

chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS thực thi chức năng tố tụng của mình một các công

khai và đầy đủ nhất Cũng vào lúc này, yêu cầu đảm bảo quyền con người của người

tham gia tố tụng, đặc biệt là của bị cáo được đặt ra cấp thiết nhất trong tất cả các giai

đoạn tố tụng Đặc điểm của hoạt động xét xử của Tòa án là liên quan trực tiếp đến các

quyền của con người như quyền tự do, danh dự, tài sản,… thậm chí cả tính mạng Do

vậy mà đảm bảo xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không làm oan người vô

tội và bỏ lọt kẻ phạm tội cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính

đáng của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng Tuy nhiên, hoạt động

Trang 34

xét xử VAHS của Tòa án vẫn còn tồn đọng nhiều thực trạng xâm phạm đến quyền và

lợi ích của người tham gia tố tụng mà tiêu biểu là các đối tượng như bị cáo, người bị

hại, người bào chữa, người làm chứng Do đó việc bảo vệ những đối tượng này là rất

cần thiết

Quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng không phải lúc nào cũng được đảm

bảo Ví dụ như đối với bị cáo, dù pháp luật đã quy định về quyền tự bào chữa hoặc nhờ

người khác bào chữa nhưng trên thực tế của hoạt động xét xử, việc thực hiện quyền

này vẫn còn nhiều hạn chế, quyền và lợi ích của bị cáo vẫn bị xâm hại Trong hoạt

động xét xử, người tham gia tố tụng luôn ở vị thế yếu hơn so với các CQTHTT và

NTHTT, họ có nguy cơ bị xâm phạm quyền cơ bản của công dân như quyền tự do,

quyền tài sản, nhân phẩm… thậm chí cả quyền được bảo đảm tính mạng Khi các

quyền này bị xâm hại thì khả năng khôi phục là rất khó Một trong những nguyên nhân

đó là trong quá trình giải quyết VAHS, các cơ quan có thẩm quyền chưa có sự quan

tâm cần thiết đến người tham gia tố tụng vì chưa xem họ là một bên của quan hệ tố

tụng Do đó, cần phải có cơ chế hợp lý để bảo vệ những người này, nâng cao địa vị

pháp lý của họ trong hoạt động xét xử Điều này cho thấy việc bảo đảm quyền của

người tham gia tố tụng là rất cần thiết trong TTHS Đây là vấn đề trọng yếu của nền

pháp chế XHCN vì nó là cơ sở để đánh giá mức độ dân chủ trong pháp luật Việt Nam

Ngày nay, các thuật ngữ như “nhân quyền” hay “bảo vệ quyền con người” đã

không còn xa lạ đối với nhận thức của nhân loại vì nó đã được các điều ước quốc tế

quy định và các quốc gia nội luật hóa chúng trong Hiến pháp cũng như trong hệ thống

pháp luật chuyên ngành Dù ít hay nhiều thì khi quy định các quyền của con người thì

các nhà làm luật cũng ban hành theo đó các điều khoản bảo đảm để các quyền này

được thực thi Điều này không chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn vô

cùng to lớn Bởi vậy mà trong quan hệ pháp luật TTHS, quyền của bên chủ thể này

thường hay gắn liền với nghĩa vụ của các bên chủ thể khác Ví dụ như quyền được bào

Trang 35

chữa hoặc tự bào chữa của bị can, bị cáo được được BLTTHS ghi nhận cùng với nó là

cơ chế đảm bảo cho quyền này được thi hành trên thực tế thông qua việc quy định

nghĩa vụ của CQTHTT và NTHTT… Việc bảo vệ người tham gia tố tụng trong hoạt

động xét xử được biểu hiện ở những nguyên tắc của TTHS, quy định quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật TTHS, các quy định chung về xét xử cũng như

các trường hợp riêng về xét xử bị cáo là người chưa thành niên, các quy định về việc áp

dụng biện pháp cưỡng chế mà đặc biệt là việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong

TTHS, các quy định về trình tự, thủ tục tại phiên tòa… Những quy định này đã thể hiện

được sự tiến bộ trong quan niệm và đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta với

vấn đề áp dụng cơ chế bảo đảm quyền con người trong đổi mới tư pháp hiện nay Điều

đó không chỉ thể hiện được bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân của một Việt

Nam XHCN mà còn mang đậm tính nhân văn, nhân bản, hòa nhập với nền văn minh

tiến bộ của nhân loại

 Cơ sở thực tiễn:

Mặc dù pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng đã có những quy định

cụ thể về vấn đề bảo đảm quyền con người, nhất là quyền của người tham gia tố tụng

nhưng vẫn còn nhiều trường hợp các CQTHTT, NTHTT thực hiện chưa tốt những quy

định này Điển hình nhất là vấn đề xâm phạm quyền tự do và những quyền gắn liền với

nhân thân khác của người tham gia tố tụng trong việc áp dụng các biện pháp ngăn

chặn Tiêu biểu như trường hợp của hai chị em Hắc Thị Bạch Tuyết và Hắc Thị Bạch

Thủy tại tỉnh Bình Thuận mà báo chí đã phản ánh là một trong những ví dụ vi phạm

pháp luật về trình tự thủ tục giải quyết VAHS Khi chỉ mới nghi ngờ cô Hắc Thị Bạch

Tuyết và em gái là Hắc Thị Bạch Thủy tráo vàng giả mà chủ tiệm vàng Mỹ Kim đã dẫn

giải hai cô tới công an thị trấn Chợ Lầu; và tại đây, được công an thị trấn cho phép, chủ

tiệm vàng đã tự tiện “giữ” chị em cô Tuyết từ 16 giờ ngày 21/1 đến 2 giờ ngày

22/1/2006, thậm chí còn cởi hết quần áo của các cô để khám xét[64] Hay vụ oan án

Trang 36

gây được sự quan tâm của dư luận trong thời gian gần đây đó là vụ 3 thanh niên ở xã

Yên Nghĩa (Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Đình Kiên (tức Lợi), Nguyễn Đình Kiên (cùng

30 tuổi), Nguyễn Đình Tình (29 tuổi) do “Quá trình điều tra và xét xử có nhiều thiếu

sót” như lời của các cơ quan tố tụng thừa nhận trong công văn gửi cho cấp lãnh đạo

vào năm 2009 mà bị chịu oan hơn 10 năm với tội danh cướp tài sản và hiếp dâm

Trong thực tiễn giải quyết VAHS, không phải bao giờ CQTHTT, NTHTT cũng

tuân thủ triệt để các nguyên tắc của luật TTHS nên đã dẫn tới nhiều trường hợp xâm

phạm và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng, bị can, bị

cáo Những vụ án được liệt vào dạng “kỳ án” như vụ án “vườn điều” ở Bình Thuận,

“vườn cam” ở Bến Tre, mới đây là vụ án “vườn mít” ở Bình Phước với việc xử oan bị

cáo Lê Bá Mai… sẽ là những “vết tì” của ngành tư pháp không chỉ về nghiệp vụ tố

tụng mà còn ở khía cạnh bảo vệ quyền con người Các CQTHTT đã bỏ qua những chi

tiết làm bằng chứng ngoại phạm, hoặc đã tạo ra những sai phạm nghiêm trọng trong

các giai đoạn tố tụng, kể cả giai đoạn xét xử dẫn tới hậu quả làm oan và suýt chút nữa

đã thi hành án tử hình, tước đi mạng sống của người vô tội

Vấn đề vi phạm quyền con người của người tham gia tố tụng còn xuất hiện ở

những khâu tưởng chừng không thể ngờ tới Hạn chế trong việc xác định tư cách của

người tham gia tố tụng, hay xác định sai tư cách của những người này đã làm ảnh

hưởng nghiêm trọng đến việc xác định quyền và nghĩa vụ của họ cũng như những chủ

thể có liên quan trong việc giải quyết VAHS Một khi quyền và nghĩa vụ của người

tham gia tố tụng chưa được định rõ thì làm sao thực hiện được việc bảo vệ quyền lợi

của họ trên thực tế, làm sao giải quyết được vụ án một cách hiệu quả, khách quan và

công bằng? Tình trạng này không phải mới xuất hiện nhưng nó vẫn còn tồn tại cho tới

hiện nay Không ít vụ án khi người tham gia tố tụng bị triệu tập tới phiên tòa thì họ vẫn

chưa biết được tư cách tố tụng của họ là gì…

Trang 37

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của những sai phạm này Nhìn chung,

có hai nguyên nhân chính: về mặt khách quan, đó là hệ lụy đến từ những bất cập trong

các quy định của pháp luật; về mặt chủ quan, đó là hạn chế đến từ nhận thức chuyên

môn và thái độ tôn trọng pháp luật của NTHTT chưa cao Do đó, nâng cao việc bảo

đảm các quyền cơ bản của công dân, của người tham gia tố tụng đứng từ góc độ lập

pháp lẫn góc độ áp dụng pháp luật đóng một phần quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng

thành công mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Theo đó, vấn đề bảo đảm quyền

con người nói chung, quyền của người tham gia tố tụng nói riêng trong hoạt động xét

xử cần phải được quan tâm và nâng cao hơn nữa cả ở khía cạnh lập pháp và áp dụng

pháp luật

Trang 38

Chương II:

PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI

THAM GIA TỐ TỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1 Bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng trong hoạt động xét xử

vụ án hình sự thông qua các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 được Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ tư thông qua

toàn văn ngày 26 tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07

năm 2004 Với 8 phần, 37 chương và 346 điều, trong đó có 260 điều được sửa đổi, 48

điều được bổ sung mới và 38 điều được giữ nguyên so với BLTTHS 1988, BLTTHS

2003 thể chế hóa kịp thời quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước

pháp quyền XHCN trên cơ sở tổng kết thực tiễn và có vận dụng kinh nghiệm nước

ngoài Nổi bật nhất trong sự mới mẻ của bộ luật này là vấn đề dân chủ, bình đẳng và

bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử

VAHS như là những nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt Bộ luật

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 ra đời với một trong những mục tiêu quan trọng là

đảm bảo thực hiện dân chủ hơn nữa trong hoạt động TTHS, bảo đảm các quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân Bởi vì: “yêu cầu đối với hoạt động TTHS không chỉ dừng

lại ở chứng minh tội phạm và người phạm tội để có thể ra một phán quyết đúng người,

đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm “tâm phục, khẩu phục”, mà cao hơn, hoạt động

TTHS phải bảo đảm tôn trọng và thực hiện quyền tự do, dân chủ của công dân và phải

đứng trên quan điểm đó để chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người

phạm tội”[36]

Trang 39

Bộ luật tố tụng hình sự 1988 đã đi vào cuộc sống và phát huy được tác dụng tích

cực của nó trong vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ trật tự trị an, thực thi

công bằng xã hội Tuy nhiên, do sự vận động và phát triển không ngừng của mọi mặt

đời sống, làm thay đổi về bản chất nhiều mối quan hệ, quyền con người mà đặc biệt là

quyền tự do dân chủ của công dân ngày càng được coi trọng và nâng cao thừa nhận

trong mọi lĩnh vực Chính vì thế mà pháp luật (cả pháp luật nội dung và pháp luật tố

tụng) đều cần phải có sự sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội mới

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã kế thừa phát huy những nguyên tắc truyền thống

được khẳng định trong thực tiễn áp dụng BLTTHS 1988 đồng thời bổ sung một số

nguyên tắc mới nhằm hoàn thiện để bảo đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của

công dân mà đặc biệt là quyền con người của người tham gia tố tụng

Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đã xác định 30 nguyên tắc cơ bản xuyên suốt

trong quá trình hoạt động TTHS từ Điều 3 đến Điều 32, từ nguyên tắc pháp chế cho tới

nguyên tắc giám sát hoạt động tố tụng Các nguyên tắc này là “linh hồn” cho Bộ luật,

chỉ đạo cho mọi hoạt động TTHS, đảm bảo tính công khai, khách quan, bình đẳng và

chính xác của TTHS Chúng là kết tinh của văn minh nhân pháp lý nhân loại với mục

tiêu của mọi Nhà nước là: đảm bảo tự do, an toàn, công bằng và bình đẳng của mọi con

người Đó là quyền sống, tự do và an ninh cá nhân, quyền bình đẳng trước pháp luật và

được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền được bình đẳng trước Tòa án quyền

được xét xử công khai, công bằng bởi một Tòa án độc lập, không thiên vị và được coi

là vô tội cho đến khi hành vi của họ được chứng minh theo pháp luật tại một phiên tòa

công khai và công bằng Đây được coi là nền tảng cho pháp luật TTHS trong nền

XHCN

Xét xử VAHS cũng như các hoạt động xét xử khác, đều phải tuân theo những

nguyên tắc nhất định để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ tố

tụng Mặc dù BLTTHS đã quy định các nguyên tắc khá cụ thể nhưng xuất phát từ

Trang 40

nhiều nguyên nhân mà vấn đề nhận thức và áp dụng những nguyên tắc này còn chưa

thống nhất dẫn tới những hệ lụy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của người

tham gia tố tụng Vì vậy, cần phải hiểu đúng các nguyên tắc này để hướng đến việc áp

dụng phù hợp chúng trong thực tiễn xét xử, hạn chế tối đa những sai lầm để đảm bảo

được vấn đề bảo đảm quyền con người, nhất là người tham gia tố tụng trong hoạt động

xét xử VAHS

“Nguyên tắc của luật tố tụng hình sự là những tư tưởng, những quan điểm,

những phương châm và định hướng chi phối hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật

tố tụng hình sự”[14-tr.34] Mặc dù vậy, không phải bất kì quan điểm, tư tưởng nào về

hình thức và cách thức hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật đều được gọi là

nguyên tắc mà chỉ những tư tưởng, quan điểm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế

xã hội thì mới được coi là nguyên tắc Điều này cho thấy rằng nguyên tắc không chỉ

mang tính chất cơ bản, tính chỉ đạo mà còn mang tính khách quan, tính thời đại Tính

khách quan và tính thời đại của nguyên tắc là những yêu cầu, điều kiện khách quan và

cần thiết để đảm bảo cho hoạt động TTHS đạt được mục đích xử lí công minh VAHS

Nếu nguyên tắc không đảm bảo được những yêu cầu này thì chỉ là lý thuyết suôn,

không mang tính thực tiễn mà thôi

Nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối

toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng

pháp luật TTHS Những nguyên tắc cơ bản này đã thể hiện đầy đủ quan điểm định

hướng của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người Trong số 30

nguyên tắc cơ bản được quy định ở BLTTHS năm 2003 (từ Điều 3 – Điều 32) ở những

cấp độ khác nhau đều thể hiện tinh thần bảo vệ quyền con người với hai định hướng:

xử lý nhanh chóng, kịp thời đúng pháp luật đối với tội phạm xâm phạm quyền con

người và đảm bảo không làm ảnh hưởng tới quyền con người khi tiến hành tố tụng

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w