Điều 14, Hiến pháp 1992 Bổ sung, sửa đổi năm 2013 của Việt Nam đã ghi nhận: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế,
Trang 1MỞ ĐẦU
Bảo đảm quyền con người là mục tiêu cốt lõi của Luật Nhân quền quốc tế
và là một trong những nội dung quan trọng bậc nhất của các Hiến pháp dân chủ trên thế giới Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966) đã ghi nhận: các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền pháp lý của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này
Ở Việt Nam, vấn đề bảo đảm quyền con người đã được khẳng định từ Hiến pháp năm 1946 và tiếp tục được kế thừa trong các bản Hiến pháp năm
1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 1992 (Bổ sung, sửa đổi năm 2013) Điều
14, Hiến pháp 1992 (Bổ sung, sửa đổi năm 2013) của Việt Nam đã ghi nhận: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và Pháp luật
Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội Đảng, Nhà nước có
cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân, theo phương hướng: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết
Trên cơ sở kiến thức được trang bị của môn học Lý luận và pháp luật về quyền con người trong chương trình Hoàn thiện kiến thức để cấp bằng Cao cấp
lý luận chính trị, trong bài thu hoạch này, em xin đề cập một số nội dung cơ bản
về “Đảm bảo quyền con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay”.
Trang 2NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
1 Khái niệm quyền con người và đảm bảo quyền con người:
1.1 Quyền con người:
Cho đến nay ở nước ta nhược điểm chung của các định nghĩa về quyền con người là chưa chỉ ra tính thống nhất trong thuộc tính tự nhiên - xã hội của quyền của con người, và vai trò xã hội - cần phải được chỉ ra của công tác bảo đảm quyền con người Cần lưu ý là trong định nghĩa về quyền con người không nên dừng ở việc xác định nhân phẩm chung chung, bởi thực tế pháp luật định vị
cả nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, để thông qua đó, dù là những cá nhân hay nhóm người yếu thế, với năng lực hạn chế, cũng luôn được bảo đảm quyền của mình một cách phù hợp thông qua pháp luật; và việc bảo đảm nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và cả năng lực vốn có của mỗi người và mỗi tập thể không tách rời việc bảo đảm quyền của dân tộc Việt Nam
Vì thế, một định nghĩa phù hợp với Việt Nam có thể là: Quyền con người
là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, được pháp luật công nhận nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, (bảo đảm) thực hiện và thúc đẩy quyền sống, tự do, hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam
1.2 Đảm bảo quyền con người:
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, bảo đảm quyền con người là việc các chủ thể có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp về lập pháp, hành pháp, tư pháp, kinh
tế, thể chế, … để thực hiện hóa các nguyên tắc và tiêu chuẩn về quyền con người trong hoạt động quản lý của Nhà nước, trong chương trình phát triển kinh
tế - xã hội của các quốc gia, dân tộc
2 Tầm quan trọng của bảo đảm quyền con người:
Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi
Trang 3mới không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua
Tầm quan trọng của bảo đảm quyền con người được thể hiện thông qua ba đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, quyền con người là mục tiêu cốt lõi của Luật Nhân quyền quốc
tế và là một trong những nội dung quan trọng bậc nhất của các Hiến pháp dân chủ trên thế giới
Thứ hai, bảo đảm quyền con người là một nội dung cơ bản của nguyên
tắc tiến bộ và công bằng xã hội Ở Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển
Thứ ba, và là yêu cầu cơ bản của quá trình phát huy dân chủ và xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Dân chủ, pháp quyền và quyền con người luôn có mối quan hệ chặt chẽ và thúc đẩy lẫn nhau Bảo đảm quyền con người luôn cần có dân chủ và pháp quyền, cũng như thực hiện pháp quyền và dân chủ trong thời đại ngày nay đều có yêu cầu bảo đảm toàn bộ các quyền con người đã được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia công nhận
II- THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1 Thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay:
1.1 Xây dựng hiến pháp, pháp luật, chính sách về quyền con người:
Trong thời kỳ đổi mới, khuôn khổ pháp lý cho việc bảo đảm quyền con người đã được chế định trong Hiến pháp năm 1992 và đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật, chính sách Quá trình này, Nhà nước luôn coi trọng nọi luật hóa toàn diện các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là quốc gia thành viên như: Công ước uốc tề về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Trang 4(ICESCR, 1966); Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc (ICERD, 1965; Công ước về quyền trẻ em (CRC, 1989),
Thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, ngày 28/11/2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua việc sửa đổi,
bổ sung Hiến pháp năm 1992 trong đó quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận chủ yếu tại Chương II và là một trong những nội dung quan trọng nhất của Hiến pháp Các quy định về quyền con người, quyền công dân trong bản Hiến pháp này có nhiều đổi mới quan tọng, về cơ bản
là tương thích với Luật Nhân quyền quốc tế, phù hợp với bối cảnh và trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam
1.2 Thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách bảo đảm quyền con người:
Trong thời kỳ đổi mới, việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách được Nhà nước thực hiện chủ yếu dưới các hình thức sau:
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn hoặc Kế hoạch hành động nhằm thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề chung, có ý nghĩa chiến lược trong việc bảo đảm quyền con người Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các cơ quan Đảng, chính quyền địa phương có nghĩa
vụ thi hành
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn, (nghị định, thông tư, ) thực hiện các luật (bộ luật) của Quốc hội; và pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm bảo đảm các quyền như: quyền bầu cử, quyền ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; các quyền về lao động, việc làm, an sinh xã hội, Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ thi hành
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, chính queyenf địa phương lồng ghép các tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người vào quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách phát triển như:
Trang 5Chương trình cải cách hành chính nhà nươc giai đoạn 2011- 2020; Chương trình, mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2012 – 2015; Chương trình xây dựng nông thôn mới,
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương trực tiếp áp dụng một số biện pháp về pháp luật, chính sách, hành chính, kinh tế, mang tính sáng tạo, phù hợp với từng bối cảnh để nâng cao năng lực thụ hưởng quyền của người dân, đặc biệt là của các nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương
1.3 Xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người:
Theo Hiến pháp năm 2013, các thiết chế của nhà nước như: Quốc hội, chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, chính quyền địa phương; Tòa án, Viện Kiểm sát, đề có nghĩa vụ bảo đảm các quyền con người theo Hiến pháp và pháp luật Trong nhiều năm qua, Việt Nam coi trọng xây dựng và củng cố một số cơ quan, tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu không ngừng nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các thiết chế nhà nước trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người
1.4 Huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp vào quá trình bảo vệ, thúc đẩy quyền con người:
Phù hợp với quy định về quyền lập hội trong Tuyên ngôn phổ quát về con người (1948) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966), Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức này trong quá trình bảo vệ quyền con người Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện
xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.5 Tuyên truyền, giáo dục về quyền con người:
Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ sau khi có Chỉ thị 12-CT/TW (1992) của Ban Bí thư, hoạt động tuyên truyền, giáo dục quyền con người đã được tích cực triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau Nhiều chương trình nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền được triển khai thực hiện tại các trường
Trang 6chính trị, hành chính, Ban chỉ đạo về nhân quyền cua Chính phủ, các trường đại học, các viện nghiên cứu, Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, tập huấn về nhân quyền còn được thực hiện thông qua một số dự án hợp tác quốc tế của Quốc hội, Chính phủ; của các ngành, các cơ quan như: ngoại giao, tư pháp, công
an, báo chí, tôn giáo, dân tộc và của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp
1.6 Hội nhập quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền:
Để phát huy tốt vai trò, nâng cao uy tín quốc tế và hội nhập vào đời sống chính trị - xã hội quốc tế, Việt Nam đã gia nhập, phê chuẩn hầu hết các công ước quốc tế chủ chốt về quyền con người Từ những n ăm 1980, Nhà nước đã thực hiện tương đối đầy đủ và bảo đảm thời gian hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ các báo cáo quốc gia của các công ước nhân quyền quốc tế mà Việt Nam là thành viên Nhà nước Việt Nam cũng đã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trả lời và giải quyết kháng thư của Liên hợp quốc Trong việc thực thi nghĩa vụ thực hiện các thủ tục đặc biệt (Special Procedures – SP) cho đến nay, Việt Nam đã đón các chuyên gia
về vấn đề người thiểu số; đói nghèo cùng cực và nhân quyền; tác động của nợ nước ngoài đối với nhân quyền, quyền được chăm sóc y tế; báo cáo viên đặc biệt
về quyền văn hóa và tôn giáo
Trong phạm vi khu vực, cùng các nước thành viên ASEAN, Việt Nam đã
có những đóng góp tích cực vào việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN
về nhân quyền (AICHR), Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em (ACWC) và Tuyên bố nhân quyền ASEAN (11-2012) Qua đó thể hiện cam kết và quyết tâm cao của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng
và thúc đẩy các quyền con người cũng như các quy định của pháp luật quốc tế
về quyền con người
2 Một số thành tựu cơ bản về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam:
Trong điều kiện như vậy, công tác bảo đảm quyền con người ở nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng Cụ thể như sau:
Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và khẳng định: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Điều
Trang 7đó cũng đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức: từ sự đồng nhất một cách ấu trĩ khái niệm quyền con người, như là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hoặc như là một thứ công cụ chính trị, mà các thế lực tư bản chủ nghĩa ở phương Tây sử dụng để chống phá các nước XHCN đến cách nhìn nhận khách quan hơn, coi nhân quyền là sản phẩm chung, là sự kết tinh của nền văn minh nhân loại; tuy mang tính phức tạp và nhạy cảm, nhưng vẫn là một yếu tố không thể bỏ qua trong đời sống chính trị hiện đại Xét riêng trên lĩnh vực lập pháp, chỉ tính từ năm 1996 đến năm 2002, Nhà nước đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 Bộ Luật và Luật, trên 120 Pháp lệnh, gần 850 văn bản pháp luật của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành, trong đó đã “nội luật hóa” một cách toàn diện những công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX và trong thời kỳ này Đây là điều mà trong giai đoạn trước hầu như chúng ta chưa làm được
2.1 Bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở nước ta trong quá trình đổi mới ở Việt Nam
So với các Hiến pháp năm 1959 và 1980, Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người, với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người (Điều 50) cũng như
bổ sung một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực Cụ thể:
- Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân: Bình đẳng trong bầu cử, ứng cử, tự ứng cử; bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và nhiều dạng quan hệ dân sự khác, đặc biệt là bình đẳng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh; bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học – công nghệ như quyền được học tập của công dân, quyền nghiên cứu, sáng tạo, chuyển giao, chuyển nhượng kết quả nghiên cứu của mọi công dân
- Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, cụ thể: ngăn ngừa những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con
Trang 8người (trong đó kể cả những bị can, bị cáo và những phạm nhân đang thi hành
án phạt tù)…
- Bảo đảm một số quyền dân sự, chính trị khác: Quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, hội họp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…
2.2 Bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới, từ năm 1986 đến nay, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có thể kể như Bộ Luật Dân sự (1995), Bộ Luật Lao động (1994), Luật Giáo dục (1998), Luật Bảo
vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (1991), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Pháp lệnh về người tàn tật (1998)…
Nội dung bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được cụ thể trong các quyền tiêu biểu nhất:
- Bảo đảm quyền làm việc: ở nước ta, quyền làm việc được ghi nhận trong các bản Hiến pháp và được Hiến pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền
và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55)
- Bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục: Ngay từ khi mới giành được độc lập, Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH do Đảng đề ra năm 1991 xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu Quan điểm này được thể chế hóa trong Điều 35 Hiến pháp năm 1992: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hiện thực hóa quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân trong thời kỳ mới
- Bảo đảm quyền được chăm sóc y tế: Từ khi đổi mới đến nay, cũng giống như các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác, có sự chuyển đổi về hướng tiếp cận việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế từ chế độ bao cấp hoàn toàn của Nhà nước sang hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, đa dạng hóa các loại hình dịch
Trang 9vụ y tế, thực hiện chế độ BHYT, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe
- Quyền được bảo đảm xã hội: Từ khi đổi mới, Đảng và Nhà nước chủ trương đổi mới chính sách bảo đảm xã hội theo hướng mọi người lao động và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, tách quỹ BHXH với công nhân, viên chức nhà nước và những người làm công
ăn lương ra khỏi ngân sách theo hướng xã hội hóa công tác BHXH Điều 56 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động” Ban hành Luật BHXH (2006), hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ ngày 1/1/2008 đối với BHXH tự nguyện và từ ngày 1/1/2009 đối với bảo hiểm thất nghiệp
2.3 Đảm bảo quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương:
Nhóm xã hội dễ bị tổn thương bao gồm người cao tuổi, người có công, người nghèo, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ và người dân tộc thiểu số
Quyền của các nhóm này đã được quy định tại Điều 37, 59 Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2013) Theo đó, Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đã người có công với nước Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác Việt Nam cũng là những nước đầu tiên tham gia ký công ước về quyền của Người khuyêt tậu (20-10-2007); công ước về quyền trẻ em – CRC 920-02-1990) và 02 nghị định thư không bắt buộc
bổ sung CRC năm 2000; phê chuẩn công ước về xóa bỏ phân biệt tất các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 18-12-1982
3 Hạn chế trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay:
Bên cạnh những thành tựu mà nước ta đã đạt được vẫn còn những hạn chế của công tác bảo đảm quyền con người, thể hiện trong tổ chức, hoạt động của
Trang 10một số thể chế, thiết chế liên quan đến bảo đảm quyền con người; trong thực tế bảo đảm quyền con người cho người dân và trong công tác giáo dục, nghiên cứu, hội nhập quốc tế và đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người Nguyên nhân xuất phát từ hạn chế trong nhận thức, trong công tác lãnh đạo, quản lý; và từ những khó khăn trong công tác bảo đảm quyền con người (điều kiện địa lý - tự nhiên không thuận lợi, thiếu hụt nguồn lực, “diễn biến hòa bình”,
sự xâm nhập của tệ nạn quốc tế, )
III PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trên cơ sở chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước; căn cứ thực trạng và những vấn đề đang đặt ra trong bảo đảm quyền con người và có tính đến những vấn đề lớn về nhân quyền trên thế giới, có thể dự báo trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 diễn ra: 1/ Xu hướng phát triển theo hướng đa dạng và gia tăng phân hóa
xã hội trong nhu cầu về quyền con người; 2/ Xu hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế, thiết chế bảo đảm quyền con người theo hướng dân chủ và pháp quyền xã hội chủ nghĩa với sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội; 3/ Xu hướng tích cực, chủ động tham gia có trách nhiệm vào việc bảo đảm các giá trị phổ quát của quyền con người và tích cực, chủ động đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền trong hội nhập quốc tế
Do đó, quan điểm chỉ đạo công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được xác định theo hướng: 1/ Nhân dân
là chủ thể của quyền và bảo đảm quyền con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; 2/ Quyền con người vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù và trong xã hội cơ bản được thể hiện ở tính nhân loại gắn với tính giai cấp và tính dân tộc; 3/ Bảo đảm quyền con người theo phương châm thực hiện các giá trị nhân quyền phổ quát trên cơ sở chủ quyền quốc gia và gắn với các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa; 4/ Quyền con người không đồng nhất với quyền công dân, gồm cả quyền tập thể và quyền