TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần LUẬT LAO ĐỘNG Mã p.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
TÊN ĐỀ TÀI : QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần: LUẬT LAO ĐỘNG
Mã phách:………
Hà Nội -2021
Trang 2MỤC LỤC
Contents
MỞ ĐẦU 2 PHẦN NỘI DUNG 4
1 Khái niệm 4
2 Quy định của pháp luật hiện hành về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và thực tiễn hiện nay 4 2.1 Quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 4 2.2 Thực tiễn hiện nay 8
3 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện Pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động hiện nay ở Việt Nam 15 3.1 Giải pháp hoàn thiện Luật lao động 2019 về quyền đơn phương chấm dứt HĐ của người lao động 15 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi cũng như hạn chế việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái Pháp luật của người lao động 16 KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
Bộ luật lao động năm 2019 được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 20-11-2019 và có hiệu lực từ ngày 01-01-2021 Bộ luật Lao động năm 2019 với nhiều thay đổi và nội dung mới liên quan đến quyền lợi của người lao động Nổi bật trong đó là " Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động" đây là quyền rất quan trọng có thể nói nó quan quan trọng không kém quyền được giao kết hợp đồng lao động Nhận thấy được vai trò và tầm quan trọng của "Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động" trong
bộ luật Lao động 2019 nên em đã lựa chọn đề tài" Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được quy định tại Bộ luật Lao động 2019" làm đề tài cho bài tập lớn kết thúc học phần Luật lao động
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu rõ về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động trong Bộ luật lao động 2019
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động trong Bộ luật lao động năm 2019, so sánh với quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động trong bộ luật lao động năm
2012, và luật lao động năm 1994
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Điều số 35 Luật lao động năm 2019 về "Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động"
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trong Luật lao động 2019
Trang 4Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp như : So sánh, phân tích, tổng hợp, để giải quyết các vấn đề một cách rõ ràng nhất được đặt ra trong bài tập lớn
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
1 Khái niệm
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động việc được "rút" ra khỏi một giao kết hợp đồng lao động đã được giao kết trước đó mà không cần có sự thỏa thuận hay đồng ý của bên còn lại
Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc Người lao động chấm dứt quan hệ lao động đã được kí kết trước đó mà không cần sự thỏa thuận hay đồng ý của bên còn lại
Từ trước đến nay việc đơn phương chấm dứt hợp đồng hay thỏa ước đều không được khuyến khích vì bên đơn phương chấm dứt hợp đồng hay giao kết thường phải chịu hậu quả nặng nề, tuy nhiên trong Bộ Luật lao động thì việc Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động lại là một quyền quan trọng của người lao động, quyền đó quan trọng không kém quyền được giao kết hợp đồng lao động
2 Quy định của pháp luật hiện hành về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và thực tiễn hiện nay
2.1 Quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Bộ Luật lao động 2019 được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày
20-11-2019 và có hiệu lực từ ngày 01-01-2021, trong đó Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được quy định cụ thể tại điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019 Cụ thể:
Thứ nhất, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
- Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn
Trang 6- Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn
có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng
- Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng
- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Như vậy, trước đây theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì chỉ có hợp đồng lao động không xác định thời hạn người lao động mới có quyền chấm dứt không cần lý do Cơ sở của việc quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do từ quyền tự do lựa chọn việc làm và vấn đề cấm cưỡng bức lao động Theo đó, khi người lao động không muốn tiếp tục làm việc vì bất cứ lý do gì cho dù thời hạn hợp đồng lao động vẫn còn thì họ có quyền tự do chấm dứt hợp đồng, bởi phải tiếp tục làm việc là trái với ý chí, mong muốn tự nguyện của họ Tuy nhiên điều này cũng không đồng nghĩa với sự cổ suý cho việc chấm dứt tùy tiện, bừa bãi, thiếu tính chuyên nghiệp của người lao động Do đó, cùng với sự ghi nhận, tôn trọng quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động bằng pháp luật thì tự bản thân người lao động và qua các thiết chế xã hội pháp lý khác (Tổ chức đại diện người lao động, quan hệ lao động tập thể, giáo dục, tuyên truyền ) để người lao động có những hành vi xử sự đúng mực và sử dụng quyền này phù hợp với nguyện vọng của bản thân cũng như hài hòa với lợi ích của người sử dụng lao động
Thứ hai, Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
Trang 7Với căn cứ này, người lao động để đơn phương chấm dứt hợp đồng cần minh chứng về việc người sử dụng lao động đã không bố trí, phân công công việc cho mình hoặc địa điểm làm việc theo đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động Tuy nhiên, cũng cần lưu ý điều khoản công việc có thể có nhiều công việc kiêm nhiệm khác nhau hoặc công việc có chuyên môn tương tự, điều khoản địa điểm làm việc cũng có thể bao gồm nhiều địa điểm khác nhau (Trụ
sở chính, chi nhánh ) Chính vì vậy, cần lưu ý đánh giá đầy đủ, toàn diện cam kết về điều khoản địa điểm, công việc phải làm để minh chứng lý do chấm dứt
là có cơ sở
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
Quan tâm hàng đầu của người lao động khi tham gia quan hệ lao động và thu nhập Do đó, khi người sử dụng lao động không trả lương, trả không đầy
đủ hoặc trả không đúng thời hạn đã thỏa thuận làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người lao động và gia đình họ thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Khái niệm tiền lương ở đây cần được hiểu là tổng thu nhập của người lao động, tức là bao gồm tiền lương ghi trong hợp đồng và các khoản bổ sung khác có thể không được ghi nhận trực tiếp trong hợp đồng lao động (Lương kinh doanh, lương chuyên cần, phụ cấp chức vụ, trách nhiệm ) Do đó, có thể người sử dụng lao động vẫn trả đủ lương ghi trong hợp đồng nhưng thiếu các khoản thu nhập hợp pháp khác thì vẫn bị coi là trả không
đủ lương Cũng cần lưu ý, khi người lao động sử dụng căn cứ này để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động vẫn phải trả
đủ số tiền lương còn thiếu của người lao động
Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn và đã khắc phục vấn
Trang 8đề này thì người lao động không được sử dụng để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc
Đây là những hành vi bị cấm trong bộ luật lao động Do đó, khi bị người
sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành
vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; Bị cưỡng bức lao động;
bị quay rối tình dục thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ngay lập tức mà không cần báo trước
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều
138 của Bộ luật này;
Khi lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền
về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
Đây là quy định mới của bộ luật lao động năm 2019 so với bộ luật lao động năm cũ 2012 Theo đó, người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định (Nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi) thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
mà không cần điều kiện đủ năm tham gia bảo hiểm xã hội Quy định nhằm tạo
cơ hội cho người lao động căn cứ vào tình trạng sức khỏe, điều kiện, nguyện
Trang 9vọng Sẽ lựa chọn quyết định có tiếp tục làm việc hay không Đây cũng là một biểu hiện của quyền tự do lựa chọn việc làm cho người lao động
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động
Thông tin trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động là rất quan trọng với người lao động bởi nó ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn có tham gia quan
hệ lao động hay không Do đó, khi người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực, đồng nghĩa với việc lừa dối dẫn đến người lao động hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng hay có sự nhầm lẫn, quyết định không đúng nên không đạt được mục đích khi tham gia quan hệ lao động, vì vậy người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
2.2 Thực tiễn hiện nay
2.2.1 Đánh giá khái quát
Có thể nói sau 6 năm thực hiện Bộ luật lao động năm 2012 cho tới nay đã xuất hiện nhiều bất cập , rào cản thậm chí gây khó khăn trong việc đưa đất nước
ta hội nhập với thế giới Một trong những vấn đề được quan tâm trong Bộ luật lao động đó chính là Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động, Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
là một quyền được quan tâm sửa đổi theo hướng mở rộng, thích ứng phf hợp với điều kiên thực tế và có lợi nhất cho người lao động, tạo ra sự an toàn cho người lao động đồng thời khắc phục những vấn đề bất cập tồn tại từ Bộ luật lao động năm 2012
2.2.2 Ưu điểm
Trang 10Sau khi tìm hiểu ta có thể nhận thấy được những điểm mới, được bổ sung quy định trong Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động của
Bộ luật lao động năm 2019
Thứ nhất người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động mà không cần có lý do, chỉ cần tuân thủ thời hạn báo trước
Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới
12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn và phhari báo trước nếu đáp ứng các điều kiện sau:
Điều kiện 1:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;
d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;
đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;
g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục
Trang 11Điều kiện 2:
Phải tuân thủ thời hạn báo trước tùy vào loại hợp đồng và lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng Đối với người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn chỉ cần báo trước 45 ngày mà không cần lý do chấm dứt
Có thể thấy với quy định này tại Bộ luật lao động năm 2012 đã tồn tại rất nhiều bất cập, cụ thể người lao động phải đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên mới được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động điều đó khiến cho người lao động gặp khó khăn trong việc tự do lựa chọn việc làm gây khó dễ cho người lao động khi muốn chấm dứt hợp đồng lao động để tìm kiếm công việc mới phù hợp hơn với bản thân
Để khắc phục những điểm bất cập đó thì Điều 35 Bộ luật lao động năm
2019 đã có những sửa đổi, người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do mà chỉ cần báo trước cho người sử dụng lao động theo thời hạn thương ứng với từng loại hợp đồng Cụ thể:
Tại khoản 1 điều 35 Bộ luật lao động 2019 quy định:
1 Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn
có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Trang 12Có thể thấy với quy định này người lao động đã có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của mình, người lao động có thể dễ dàng lựa chọn công việc phù hợp với mình mà không cần phải lo lắng về việc chấm dứt hợp đồng với công việc cũ, tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền tự do lựa chọn việc làm phù hợp với bản thân Tuy nhiên việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của người sử dụng lao động chẳng hạn như ảnh hưởng đế nhân sự sản xuất gây trậm trễ trong công việc vì vậy luật vẫn quy định người lao động phải có trách nhiệm với giao kết hợp đồng đã kí bằng việc báo trước cho người sử dụng lao động biết trước thời gian đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tùy vào thời hạn hợp đồng đã ký kết trước đây điều đó giúp cho người sử dụng lao động chủ động được nguồn nhân lực tránh việc ảnh hưởng đến quá trình sản xuất hay hoạt động kinh doanh
Thứ hai điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 đã quy định về các trường
hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước
Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2012, đa số các trường hợp khi chấm dứt HĐLĐ đều phải báo cho người sử dụng lao động trước một khoảng thời gian, trừ trường hợp người lao động nữ mang thai phải nghỉ theo chỉ định của bác sĩ Có thể thấy điều này tồn tại rất nhiều bất cập với quy định phải báo trước
ít nhất 3 ngày trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng điều này là vô cùng không hợp lý ví dụ người lao động bị đánh đập, hành hạ, nhục mạ thậm chí bị xâm hại hay quấy rối tình dục hay bất kì lý do vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động mà họ khônng tiện nói ra bởi vì nó là những việc
tế nhị, kín đáo thì việc phải báo trước 3 ngày là bất hợp lý Nếu như báo trước
3 ngày thì trong 3 ngày đó họ vẫn phải chịu sự giám sát, tiếp xúc với những vấn
đề tiêu cực trên thì đó quả thật là một điều vô cùng tồi tệ Chưa kể sau 3 ngày