1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

125 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các Thẩm phán và cán bộ toàn ngành, việc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như pháp luật về tố tụng dân sự và đảm bảo quyền con người trong việc

Trang 1

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG HỒ HẢI

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung cũng như những số liệu trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2018

Học viên

Nguyễn Phúc Nam

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ, bên cạnh sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô Học viện Hành chính quốc gia, sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Lời đầu tiên tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Trương

Hồ Hải đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô Học viện Hành chính quốc gia Hà Nội và phân viện Miền Trung; cô giáo chủ nhiệm lớp LH3

- T2 đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, và hoàn thiện đề tài luận văn thạc sĩ

Trân trọng cảm ơn!

Học viên Nguyễn Phúc Nam

Trang 5

vụ, việc hôn nhân và gia đình: 71.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình ở nước ta .71.1.2 Vai trò của quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình: 111.2 Nội dung quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình: 141.3 Các yếu tố bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân

và gia đình: 27Tóm tắt chương 1 31Chương 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 32

Trang 6

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến Quyền con người trong giải quyết các vụ việc

hôn nhân và gia đình - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh

Quảng Bình 32

2.1.1 Khái quát chung về đặc điểm chính trị, kinh tế - xã hội của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 32

2.2 Những ưu điểm về quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và nguyên nhân 39

2.2.1 Tình hình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch: 39

2.2.2 Những ưu điểm về quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch 42

2.2.3 Nguyên nhân của ưu điểm 59

2.3 Những hạn chế về quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và nguyên nhân 61

2.3.1 Những hạn chế, tồn tại: 61

2.3.2 Nguyên nhân của hạn chế 67

Tóm tắt chương 2 75

Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 77

3.1 Quan điểm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình 77

3.1.1 Yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng 77

3.1.2 Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân 80

Trang 7

3.1.3 Yêu cầu cải cách tư pháp 82

3.2 Giải pháp tăng cường quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình 84

3.2.1 Giải pháp chung 84

3.2.2 Giải pháp riêng 99

3.3 Kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm tạo điều kiện bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình 109

3.3.1 Kiến nghị với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Bố Trạch 109

3.3.2 Kiến nghị với Tòa án nhân dân Tối cao 110

Tóm tắt chương 3 111

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.Dưới đây là bảng số liệu giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch (từ năm 2013-2017) 40Bảng 2.2 Bảng số liệu về tỷ lệ giải quyết thông qua hoà giải 41

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chon đề tài luận văn

Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản của bất

cứ quốc gia nào Quyền con người phải được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật mà bất cứ quốc gia nào cũng phải thực hiện Để đạt được mục tiêu quan trọng đó, phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta được thể chế tại Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013:

“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”

Một trong những tiêu chí rất quan trọng của Nhà nước pháp quyền là bảo đảm cao nhất quyền con người trong mọi hoạt động của Nhà nước trong

đó có hoạt động giải quyết, xét xử của Tòa án Trong những năm qua, cùng với những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người trên tất cả mọi lĩnh vực nói chung và bảo đảm quyền con người trong giải quyết, xét xử của Tòa án trong đó có hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình

Thực tiễn hoạt động giải quyết, xét xử của ngành Tòa án trong những năm gần đây cho thấy các vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình ngày càng phức tạp, do vậy việc nhận thức và áp dụng pháp luật để giải quyết gặp không ít khó khăn Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các Thẩm phán và cán bộ toàn ngành, việc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như pháp luật về tố tụng dân sự và đảm bảo quyền con người trong việc giải quyết các

vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình đã đạt được những kết quả đáng khích

lệ góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, bất hòa trong quan hệ hôn

Trang 10

2

nhân, bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời góp phần làm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Không những vậy, thông qua việc giải quyết đối với các

vụ, việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình đã góp thêm một kênh tuyên truyền có hiệu quả về phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân

Bên cạnh đó, kéo theo sự phát triển của nền kinh tế thì các mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, đặc biệt trong mối quan

hệ hôn nhân và gia đình Số vụ việc về hôn nhân và gia đình mà toàn ngành cũng như Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình thụ lý đã gia tăng mỗi năm Ngoài bảo đảm giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình đúng với các quy định của pháp luật thì bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình luôn được lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình quan tâm chỉ đạo và đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận Tuy nhiên quá trình thực hiện cũng còn nhiều bất cập, vướng mắc, hạn chế tồn tại thuộc trách nhiệm của Toà án nói chung và chất lượng giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng Chính vì vậy, trong bối cảnh cả nước cũng như tỉnh Quảng Bình đang tiếp tục thực hiện chương trình cải cách Tư pháp theo Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Ban chấp hành Trung ương về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Ban chấp hành Trung ương về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và thực hiện các Nghị quyết, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh thì tăng cường quyền con người trong giải quyết, xét xử nói chung và trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình nói riêng là yêu cầu bức thiết

Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Quyền con người trong

Trang 11

3

giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình – Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ” làm luận văn thạc sĩ luật học

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn:

Nghiên cứu về giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Cụ thể gồm một số các đề tài của các tác giả như: Trần Công Thịnh, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đăng trên Tạp chí Luật học, tập 31, số 1 (tháng 3/2015)

”Hoà giải trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam”; tác giả Nguyễn Ngọc Phát, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh:” Thực tiễn áp dụng luật hôn nhân và gia đình trong giải quyết ly hôn” Luận văn thạc sỹ luật học, năm 2012 của tác giả Nguyễn Thanh Tú “Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” Luận văn thạc sỹ luật học năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Lan:

“Chia tài sản chung vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”; Luận văn thạc sỹ luật học năm 2014 của tác giả Nguyễn Thị Tâm “Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình trên địa bàn Hà Nội”; Các nghiên cứu của các học giả trên đã đề cập đến vấn đề giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình dưới góc độ về áp dụng pháp luật, giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình

Vấn đề quyền con người trong giải quyết, xét xử nói chung và các vụ việc hôn nhân-gia đình được các chuyên gia pháp lý và đặc biệt là những người làm công tác xét xử của ngành Tòa án nghiên cứu ở nhiều mức độ và khía cạnh khác nhau Các bài viết trên các tạp chí khác như: Tạp chí Tòa án, Tạp chí Luật học; Tạp chí Kiểm sát; Tạp chí Dân chủ; Tạp chí Nhà nước và Pháp luật… cũng có nghiên cứu về một số khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân

Trang 12

4

và gia đình; đó là những tiền đề, tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, các bài viết trên hoặc nghiên cứu chung về vấn đề quyền con người trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân hoặc nghiên cứu về một khía cạnh nào đó của hoạt động giải quyết, xét xử các tranh chấp về hôn nhân

và gia đình Song đến nay, chưa có một công trình khoa học nào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống dưới góc độ lý luận và thực tiễn về quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình đặc biệt là tại Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Vì vậy đó chính là lý

do để tôi chọn chủ đề này làm đề tài luận văn Cao học Luật của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:

Mục đích:

- Có ý nghĩa thực tiễn góp phần tăng cường bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của tỉnh Quảng Bình nói chung và tại Toà án nhân dân huyện Bố Trạch nói riêng

- Đóng góp cho công tác tăng cường chất lượng, hiệu quả giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của tỉnh Quảng Bình nói chung và Toà án nhân dân huyện Bố Trạch nói riêng

- Đóng góp một phần vào thành quả của chương trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW, Nghị quyết số 49/NQ-TW tại Việt Nam nói chung và huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng

Đồng thời, luận văn cung cấp cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, là tài liệu tham khảo cho những người trực tiếp làm công tác giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình trong hệ thống Toà án nhân dân; công tác giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên ngành Luật và không chuyên ngành Luật

Nhiệm vụ :

Trang 13

5

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền con người, về hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình

- Phân tích thực trạng quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, phân tích nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình tại Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

Từ đó đưa ra một số yêu cầu tăng cường quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình ở tỉnh Quảng Bình; đưa ra một số giải pháp chung và riêng, một số kiến nghị nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Với phạm vi là một luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận về quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình đồng thời nghiên cứu thực tiễn vấn đề trên tại Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình từ năm 2013 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn: Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể

là phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phương pháp phân tích quy phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích, bình luận nội dung của một số chế định

Trang 14

6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

Luận văn đề cập khá toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình tại Toà

án nhân dân huyện Bố trạch, tỉnh Quảng Bình trong bối cảnh tỉnh Quảng Bình đang tiếp tục phát huy hiệu quả của chương trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW Với những kết quả

mà luận văn đạt được, tác giả hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của tỉnh Quảng Bình nói chung và của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch nói riêng

7 Kêt cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình

Chương 2: Thực trạng quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Chương 3: Quan điểm, giải pháp và kiến nghị tăng cường quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình

Trang 15

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIẢI QUYẾT

CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình:

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình ở nước ta

Trên thế giới, có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, tuy nhiên, quyền con người được định nghĩa một cách khái quát “là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người”

Ở Việt Nam, quyền con người thường được hiểu “là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” Trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Đó chính là những biểu hiện của quyền con người một cách rõ rệt nhất

Khi xem xét về khái niệm quyền con người, chúng ta thấy rằng quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm gần gũi nhưng không đồng nhất Xét về nguồn gốc lịch sử, tư tưởng về quyền con người được hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại, còn khái niệm quyền công dân chỉ xuất hiện cùng với cách mạng tư sản, vì cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân với tư cách là một thành viên bình đẳng trong một nhà nước và pháp điển hoá các quyền tự nhiên của

Trang 16

8

con người dưới hình thức các quyền công dân Như vậy, khái niệm quyền con người xuất hiện trước khái niệm quyền công dân và về bản chất, quyền con người bao hàm và chứa đựng các quyền công dân được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình

Ở Việt Nam, quyền con người được quy định trong Hiến pháp và được thể chế hoá bằng các luật, đạo luật nhằm ghi nhận và bảo vệ quyền con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó quan hệ hôn nhân và gia đình

là lĩnh vực thể hiện quyền con người cụ thể nhất và có giá trị ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với mỗi con người Chính vì vậy, dù ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, chế độ xã hội nào, gia đình cũng luôn được Nhà nước quan tâm tác động bằng chính sách, điều chỉnh và bảo vệ bằng pháp luật

Hiện nay, qua các tài liệu nghiên cứu chưa hình thành khái niệm cụ thể

về quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình Mà qua phân tích khái niệm quyền con người nói chung ở trên ta có thể hiểu khái niệm một cách chung nhất về quyền con người trong hoạt động giải quyết các

vụ, việc hôn nhân và gia đình là hoạt động của Tòa án thông qua các Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, pháp luật

tố tụng dân sự, pháp luật hôn nhân và gia đình cùng các quy định khác của pháp luật nhằm bảo đảm các quyền con người trong suốt quá trình giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình theo các trình tự mà pháp luật quy định

Từ khái niệm đó chúng ta có thể đưa ra những đặc điểm cơ bản của quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình như sau:

Một là, quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước

Việt Nam dù không áp dụng triệt để nguyên tắc tam quyền phân lập mà chỉ thừa nhận những “hạt nhân” tích cực của học thuyết này nên quyền lực

Trang 17

cả những người có liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình Các quyết định hoặc bản án đó tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của chính con người (được gọi là đương sự) Do

đó việc bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình luôn mang tính quyền lực Nhà nước

Hai là, Tòa án là cơ quan có trách nhiệm chính trong bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình

Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình nên có trách nhiệm chính đối với việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình Trách nhiệm của Tòa án đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp, pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật hôn nhân và gia đình Ngoài bảo đảm quyền con người, quyền công dân cho các đương sự, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho công dân được thực hiện quyền tự bảo vệ mình Trong mọi trường hợp, Tòa án tuyệt đối không được gây khó dễ cho việc tham gia tố tụng của đương sự cũng như việc tham gia tố tụng của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân

và gia đình Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện

Trang 18

10

nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình Trong trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì Tòa án phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật

Ba là, hoạt động bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình phải căn cứ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật hôn nhân và gia đình

Quyền con người không những được pháp luật ghi nhận mà còn được pháp luật bảo vệ Do đó, bất cứ một hành vi vi phạm quyền con người nào cũng phải được xử lý theo pháp luật Song, tất nhiên quyền con người còn có quan hệ chặt chẽ với chủ quyền quốc gia, lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức, trật tự xã hội là những khách thể được pháp luật tố tụng dân sự nói chung và các quy định pháp luật về giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình nói riêng bảo vệ Như vậy, việc bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình phải tuân thủ chặt chẽ những trình tự, thủ tục được pháp luật quy định

Do đó, để bảo đảm quyền con người thì ngoài việc quy định cơ sở trách nhiệm dân sự, hệ thống các biện pháp khẩn cấp, các điều kiện để đảm bảo quyền con người thì còn phải tạo cho hoạt động giải quyết án hôn nhân và gia đình hay cụ thể hơn là áp dụng pháp luật được nghiêm minh, chính xác Vì nếu pháp luật được xây dựng đúng đắn mà việc áp dụng nó sai lệch, thiếu căn

cứ, không khách quan, công bằng thì mục đích của pháp luật chẳng những không đạt được mà các quan hệ xã hội (trong đó có quyền con người, quyền công dân) được pháp luật bảo vệ còn bị vi phạm nghiêm trọng sẽ làm cho nhân dân thiếu tin tưởng vào cơ quan bảo vệ pháp luật

Trang 19

và bảo vệ Một khi quyền con người đã được quy định trong pháp luật hôn nhân gia đình của nước ta thì nó sẽ trở thành quyền pháp định, là ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội thừa nhận, phục tùng, được quyền lực nhà nước tôn trọng và bảo vệ thông qua việc giải quyết của Toà án dựa trên các quy định cụ thể về chế độ hôn nhân và gia đình của nước ta Từ đó, chúng ta có thể thấy vai trò của quyền con người trong giải quyết các vụ án nói chung và trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình nói riêng mang ý nghĩa, vai trò to lớn cụ thể như sau:

Một là, bảo đảm ổn định và phát triển đời sống kinh tế - xã hội:

Bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình sẽ góp phần đem lại sự ổn định xã hội, đặc biệt ở góc độ tâm lý, giải quyết triệt để các mâu thuẫn trong vấn đề hôn nhân và gia đình, bảo đảm được trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước nói riêng và thể chế, bộ máy Nhà nước nói chung

Trang 20

12

Việc bảo đảm quyền con người trong hôn nhân gia đình góp phần bảo đảm về chính trị nhất là trong bối cảnh các vấn đề về nhân quyền trong nội bộ một quốc gia luôn được sử dụng như một con bài chính trị để tăng cường hoặc hạn chế các lợi ích mà các quốc gia đó được hưởng từ việc tham gia vào đời sống hợp tác quốc tế và tiến trình toàn cầu hóa

Sự ổn định xã hội và bảo đảm về chính trị sẽ là động lực và điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội, bởi vì nhân tố con người là quan trọng nhất trong bất cứ chế độ xã hội nào, gia đình lại là tế bào của xã hội Một gia đình ổn định bền vững hoặc một công dân lành mạnh sẽ là nguồn nhân lực quan trọng tạo ra của cải vật chất cho xã hội

Hai là, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân:

Trong mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước và công dân, việc bảo đảm quyền của công dân trong hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội Toà án nhân dân ở vị thế đại diện cho quyền lực nhà nước phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật để bảo đảm quyền con người khi giải quyết các vụ án dân sự nói chung và vụ, việc hôn nhân và gia đình nói riêng Nói cách khác, Tòa án sẽ không được sử dụng các thẩm quyền tố tụng để ép buộc, để áp đặt ý chí của mình đối với công dân Điều này cũng góp phần buộc các cơ quan Nhà nước phải sử dụng pháp luật để bảo đảm quyền công dân, giải quyết triệt để các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình, tránh khiếu kiện, khiếu nại nhiều gây bức xúc cho nhân dân, cho xã hội, góp phần xây dựng và duy trì ý thức thi hành, xử lý theo pháp luật trong trật

tự Nhà nước và xã hội

Do vậy, có thể nói, bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình cũng chính là một cơ sở cho tiến trình dân chủ hóa

Trang 21

Bốn là, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước nhất là các cơ quan tư pháp, tạo được ý thức pháp luật bền vững cho nhân dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình

Mục đích của việc bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

cả về tố tụng cũng như pháp luật về nội dung Đáp ứng được điều này công dân cảm thấy thõa mãn và tin tưởng tuyệt đối vào sự công bằng khách quan của pháp luật, coi đó là chỗ dựa vững chắc để giải quyết những xung đột, bất hòa và giải phóng cho họ thoát khỏi sự bi quan, ức chế hoặc bị chà đạp nhân phẩm danh dự có thể xảy ra trong hôn nhân, hoặc có thể giúp cho họ hàn gắn, níu kéo được hôn nhân suýt đỗ vỡ, từ đó quyền và lợi ích được bảo vệ sẽ tạo

ra ý thức hệ bền vững

Trang 22

bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa

vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình (Khoản

3 Điều 3)

Như vậy, gia đình có thể gồm vợ chồng, con cái, anh chị em, cha mẹ, ông bà…cùng chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, trong quá trình chung sống phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội,

mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và

xã hội

Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định việc kết hôn, để được công nhận hôn nhân hợp pháp; việc đăng ký kết hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật và việc ly hôn cũng như giải quyết các quan hệ liên quan đến hôn nhân cũng được tiến hành theo trình tự pháp luật nhất định, các bước phải được tuân thủ theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (có hiệu lực từ 01.7.2016), khi giải quyết một vấn đề cụ thể thì được áp dụng theo Luật Hôn nhân và gia đình

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã quy định hai loại trình tự thủ tục tố tụng hoàn toàn khác nhau, đó là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình và trình tự giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình Căn cứ quan trọng để

Trang 23

15

phân biệt vụ án hôn nhân và gia đình và vụ việc hôn nhân và gia đình là giữa các bên có tranh chấp với nhau hay không? Nếu giữa hai bên đương sự có tranh chấp với nhau thì được xác định là vụ án hôn nhân và gia đình; nếu không có tranh chấp được xác định là vụ việc hôn nhân và gia đình

Như vậy, chúng ta cũng có thể hiểu vụ án hôn nhân và gia đình là việc nguyên đơn và bị đơn tranh chấp với nhau về quyền và nghĩa vụ, trong đó nguyên đơn là người yêu cầu Tòa án buộc bên bị đơn phải thực hiện một số nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ về hôn nhân và gia đình Còn vụ việc hôn nhân gia đình là giải quyết theo yêu cầu của một hoặc hai bên đương sự tuyên bố một hoặc nhiều sự kiện pháp lý liên quan đến chế độ hôn nhân gia đình nhưng không có tranh chấp

Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án về các vụ án hôn nhân và gia đình gồm các loại tranh chấp sau:

- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn

- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ

Trang 24

16

Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án gồm những yêu cầu về hôn nhân và gia đình sau:

- Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

- Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

- Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

- Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn

- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

- Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình

- Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án

- Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình

- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc

cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác

có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam

- Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Trang 25

đó chính là việc đương sự được thực hiện những quyền gì trong tố tụng và Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho công dân được thực hiện những quyền đó như thế nào thông qua việc đương sự tự bảo vệ và có quyền nhờ người khác bảo vệ trong quá trình giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình kể từ khi nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và kết thúc bằng việc Toà án ra quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật theo trình tự thủ tục ở giai đoạn sơ thẩm

Khi tham gia vào hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình của Tòa án thì quyền con người mà pháp luật cần bảo đảm cho họ chính

là quyền của đương sự; đương sự có quyền tự mình bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ các quyền của mình ở bất cứ trình tự thủ tục tố tụng nào Mặc dù

ở mỗi trình tự giải quyết theo quy định của pháp luật có thủ tục, cách thức, quy trình giải quyết khác nhau nhưng đều vẫn phải bảo đảm những quyền con người đã được pháp luật quy định Có thể một số quyền chỉ có ở hình thức giải quyết này nhưng không áp dụng cho hình thức giải quyết khác, tuy nhiên trong luận văn này chỉ đề cập đến quyền con người trong giải quyết vụ, việc dưới hai khía cạnh đó là quyền con người do đương sự tự mình thực hiện và quyền con người thông qua người khác bảo vệ trong hoạt động giải quyết các

vụ, việc hôn nhân và gia đình

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về quyền của đương sự trong tố tụng dân sự, chúng ta đi vào phân tích nội dung quyền con người chính là quyền của đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền mà pháp luật quy định cho họ được hưởng, cụ thể:

Trang 26

18

- Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

Vợ, chồng đều có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, trong trường hợp một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tình thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn Pháp luật chỉ loại trừ người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Như vậy, công dân được quyền tự mình khởi kiện hoặc thông qua cha,

mẹ, người thân thích khác (chỉ trong một số trường hợp mà pháp luật quy định) được quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ, việc hôn nhân

và gia đình để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, Toà án bảo đảm cho họ được thực hiện đầy đủ quyền này chính là bảo đảm quyền con người trong tố tụng Phương thức khởi kiện, yêu cầu vụ, việc hôn nhân và gia đình có thể nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trực tiếp hoặc qua bưu điện (Điều 190 và Điều 362 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

- Quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền đưa ra yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hôn nhân và gia đình:

Đây là một trong các quyền tố tụng dân sự cơ bản của đương sự được quy định tại Điều 72, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Yêu cầu phản tố

để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa

vụ đối với bị đơn; do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa

Trang 27

- Quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự:

Đây là quy định tại các Điều 243, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nhằm giúp đương sự khắc phục được trường hợp đưa ra yêu cầu không đẩy

đủ, chính xác Để bảo đảm quyền công dân của đương sự, pháp luật không quy định hạn chế việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự nhưng

để tránh trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này gây khó khăn cho Tòa án cũng như đương sự khác, pháp luật quy định việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong một số trường hợp phải đáp ứng được những điều kiện nhất định như việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu; trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện nếu bị đơn đồng ý thì mới được Tòa án chấp nhận

- Quyền được tham gia hòa giải và tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền tự định đoạt theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Việc định đoạt đó có thể thông qua hoà giải của Toà án hoặc các đương sự tự thoả thuận với nhau Theo quy định tại Điều 10; Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án có trách nhiệm hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, trừ những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không hòa giải được

Trang 28

20

(Điều 206, 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) Trong quá trình giải quyết vụ

án hôn nhân gia đình, Tòa án phải chủ động việc hòa giải để giúp các đương

sự thỏa thuận hướng giải quyết vụ án nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Khi hòa giải, các đương sự có quyền có mặt tham gia hòa giải Trong trường hợp có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt thì theo đề nghị của đương sự, Tòa án hoãn việc hòa giải Bên cạnh đó, khi hòa giải, Tòa án hướng dẫn, giúp đỡ đương sự trong việc nhận thức quyền lợi, nghĩa vụ của họ để thỏa thuận giải quyết vụ án theo đúng pháp luật Ngoài việc hòa giải dưới sự hướng dẫn của Tòa án, đương sự còn có quyền tự hòa giải trong suốt quá trình tố tụng dân sự Trường hợp hòa giải mà các đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ việc dân sự thì theo Điều 211, Điều

212 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự theo thủ tục do pháp luật quy định, nếu nội dung thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội

- Quyền chấp nhận, bác bỏ yêu cầu của người khác của đương sự Đây là một quyền tố tụng dân sự đề cao quyền tự định đoạt của đương

sự, có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Để bảo đảm quyền bảo vệ của bị đơn trong tố tụng dân sự, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định bị đơn có thể chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn Đối với các đương

sự khác như nguyên đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng có quyền chấp nhận yêu cầu hay bác bỏ yêu cầu của đương sự khác

- Quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì người khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện

Trang 29

21

bị xâm phạm Theo quy định tại các Điều 189, 199, 248, 303 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì các đương sự có thể cung cấp cho Tòa án các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án hôn nhân và gia đình trước hoặc tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm hoặc phúc thẩm Ngoài ra, các đương sự được bình đẳng với nhau trong việc cung cấp chứng cứ, tài liệu chứng minh cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình

- Quyền của đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ

Các Điều 97 và 106 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: Trường hợp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án hôn nhân và gia đình đang do các

cá nhân, cơ quan, tổ chức khác quản lý, lưu giữ thì đương sự có quyền yêu cầu chủ thể đó cung cấp chứng cứ cho mình theo quy định của pháp luật

Trường hợp chủ thể quản lý, lưu giữ chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự không chịu cung cấp cho đương sự theo yêu cầu thì có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ

Các đương sự có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án dân sự mà tự mình không thể thực hiện được hoặc

đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản

Ngoài ra, để bảo đảm quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng

cứ của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự còn quy định đương sự có quyền khiếu nại việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án

- Quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ các tài liệu, chứng cứ

có liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự (Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

Trang 30

22

Việc đương sự được thực hiện quyền này thể hiện được tính công khai minh bạch trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ, giúp cho đương sự nắm được, tiếp cận được các chứng cứ của vụ án, có ý nghĩa làm cho việc tham gia

tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được tốt hơn Ngoài ra, còn làm cho các hoạt động tố tụng dân sự được công khai, minh bạch, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa án được đúng đắn

- Quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời của đương sự

Theo quy định tại Điều 111 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời trước hoặc tại phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự Đồng thời, các Điều 137 và 138 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi, áp dụng bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Đương sự có quyền khiếu nại đối với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về việc áp dụng, thay đổi,

bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại các Điều 140,

141 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

- Quyền yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thư ký Tòa án là những người tiến hành tố tụng và người giám định, người phiên dịch là những người tham gia tố tụng có vai trò quyết định trong việc giải quyết vụ án dân sự Chính vì vậy mà việc họ có khách quan trong quá trình tố tụng dân sự hay không sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền, lợi

Trang 31

23

ích hợp pháp của các đương sự Những trường hợp có nguy cơ dẫn đến việc không khách quan, vô tư trong việc giải quyết vụ án, pháp luật quy định họ phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi Những căn cứ để thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch được quy định tại các Điều 52, 53, 54, 60, 80, 82 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch cũng được ghi nhận là quyền của đương sự để bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Quyền này được thực hiện trước hoặc trong phiên tòa Do vậy, Tòa án phải có trách nhiệm thông báo cho đương sự biết những người tiến hành tố tụng được phân công tham gia vào quá trình giải quyết vụ án trước khi tiến hành các trình tự thủ tục tố tụng

- Quyền tham gia phiên tòa, phiên họp của đương sự

Phiên tòa, phiên họp là nơi Tòa án xem xét giải quyết các vấn đề của vụ việc dân sự Kết thúc phiên tòa, phiên họp, quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự được Tòa quyết định ghi trong bản án và được bảo đảm thi hành Tại phiên tòa, phiên họp đương sự có quyền trình bày về những vấn đề của vụ việc dân sự, được tham gia tranh luận để làm rõ các tình tiết, sự kiện có liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình

Để bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự, các Điều

227, 248 và 367 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định phải bảo đảm sự có mặt của đương sự trong phiên tòa, phiên họp; tại phiên tòa, phiên họp phải bảo đảm quyền trình bày, hỏi và tranh luận của đương sự

- Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự

Căn cứ để bảo đảm thực hiện quyền này được quy định tại Điều 24 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, theo đó Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho

Trang 32

24

đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này Tuy nhiên đương sự cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật này, nếu không thực hiện các nghĩa vụ đó thì phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa các chứng cứ của vụ án phải được công khai trừ trường hợp không được công khai quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật tố tụng dân sự Các đương sự đều có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai) Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai) Quá trình tranh tụng, Hội đồng xét xử lắng nghe ý kiến tranh luận từ hai phía, bảo đảm cho đương

sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được trình bày quan điểm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bảo đảm quyền bình đẳng giữa những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, bày tỏ quan điểm ý kiến để xác định sự thật khách quan; bảo đảm cao nhất quyền của đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng của đương sự; bảo đảm quyền thỏa thuận với nhau về

Trang 33

- Quyền tự bảo vệ hoặc nhờ Luật sư hay người khác bảo vệ trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình

Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì “Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Toà án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự được thực hiện quyền bảo vệ của họ”

Quy định này bảo đảm cho việc hỗ trợ người dân dễ dàng tiếp cận với công lý Bởi vì, không phải ai khi tham gia tố tụng đều hiểu biết về pháp luật

để tự bảo vệ lấy quyền lợi của mình, nhất là trong điều kiện hệ thống pháp luật của chúng ta tương đối phức tạp và thiếu hoàn chỉnh, các văn bản pháp luật với số lượng khổng lồ, quy định chồng chéo Do đó, nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện để giúp đỡ họ về mặt pháp lý là điều hết sức cần thiết Sự ghi nhận quyền nhờ người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương

sự còn có tác dụng làm cho các cán bộ Tòa án thận trọng, khách quan, tôn trọng pháp luật hơn

Trang 34

26

Ngoài ra, Điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 còn quy định: “Nhà nước

có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Toà

án Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của dương sự trong tố tụng dân sự” Như vậy, theo quy định tại Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý thì đương sự là người nghèo, người có công với cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì việc ghi nhận quyền được tư vấn, trợ giúp miễn phí trong việc thực hiện quyền khởi kiện cũng là một bảo đảm quan trọng để đương sự thực hiện quyền này

- Quyền ủy quyền cho luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác đại diện trong tố tụng dân sự của đương sự

Việc bảo đảm quyền của đương sự được ủy quyền cho người khác đại diện, được đại diện, hỗ trợ pháp lý trong tố tụng dân sự là một nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền con người của đương sự bởi không phải đương sự nào cũng hiểu biết pháp lý, có kinh nghiệm tố tụng để dễ dàng thực hiện tốt được quyền tố tụng dân sự của mình Quyền ủy quyền cho luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác đại diện trong tố tụng dân sự của đương sự là một bảo đảm cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương

sự Thông qua hoạt động tố tụng của những người này, đương sự có thể thực hiện tốt nhất các quyền tố tụng dân sự để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ (các Điều 75, 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án:

Để bảo đảm việc giải quyết các vụ, việc dân sự được đúng đắn, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự

2015 quy định Tòa án bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, từ đó

Trang 35

27

đương sự có thể được kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét theo trình tự phúc thẩm Để bảo đảm thực hiện quyền này, pháp luật quy định thời hạn đương sự được quyền nhận trích lục bản án, quyết định hoặc bản sao bản án, quyết định; thời hạn kháng cáo, điều kiện kháng cáo quá hạn Quy định về quyền kháng cáo được bảo đảm tại các Điều 269, 274, 275, 276, 277 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Ngoài ra, để tạo thuận lợi cho các đương sự được thực hiện quyền trên, Điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự đã kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng cáo

1.3 Các yếu tố bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình:

Thực tiễn xã hội và pháp lý ở Việt Nam cho thấy, công nhận, thực thi

và bảo vệ quyền con người về hôn nhân và gia đình là mục tiêu và nguyên tắc

cơ bản, nhất quán trong chính sách về gia đình của Đảng và Nhà nước ta Nó

đã và đang được bảo đảm thực hiện theo các yếu tố sau:

Một là, yếu tố pháp luật:

Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Quyền con người chỉ tồn tại khi nó được xã hội thừa nhận và được pháp luật công nhận, bảo vệ Còn Pháp luật là tiền đề, là nền tảng tạo cơ sở pháp lý để Toà án bảo đảm quyền con người, là phương tiện chính thức hoá các giá trị xã hội của quyền con người làm cho quyền con người trở thành ý chí và mục tiêu hành động của xã hội Thông qua pháp luật, quyền con người được lên tiếng bảo vệ Để bảo đảm quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm các quyền đó Pháp luật được coi là một điều kiện thiết yếu để bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình và có vai trò là

Trang 36

28

phương tiện pháp lý để công dân được bảo đảm các quyền của mình khi tham gia hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình với tư cách là đương sự Vậy nên hệ thống pháp luật nói chung cũng như pháp luật về tố tụng dân sự, pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng khi cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để thực sự trở thành một hành lang pháp

lý thông suốt, minh bạch, thuận lợi để bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và vụ việc hôn nhân và gia đình nói riêng

Với các quy định của pháp luật còn tạo ra nhiều thiết chế giám sát, đối trọng như gia tăng vai trò của luật sư, tăng cường vai trò kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát và vai trò giám sát xã hội của các cơ quan, cá nhân, tổ chức khác đối với vấn đề bảo đảm quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình

Hai là, hoạt động của cơ quan tư pháp:

Trong hoạt động đảm bảo quyền con người của công dân nói chung và đảm bảo quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình nói riêng Nếu như cơ quan lập pháp có chức năng xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật ghi nhận các quyền con người, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân, quy định các biện pháp cũng như trách nhiệm của các

cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân; Cơ quan hành pháp lại có chức năng triển khai các hoạt động đảm bảo quyền con người, quyền công dân thì Cơ quan tư pháp lại là cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quy định của pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền công dân Tuy là cơ quan bảo vệ pháp luật nhưng ngay trong hoạt động giải quyết của mình các cơ quan tư pháp gồm Tòa án, Viện kiểm sát cũng phải có trách nhiệm đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo đúng quy định của pháp luật

Trang 37

29

Muốn đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của Tòa án nói chung cũng như hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình nói riêng, Tòa án là cơ quan duy nhất được nhà nước trao quyền nhân danh nhà nước đưa ra phán quyết công tâm, khách quan, công bằng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Cách thức tốt nhất đó đòi hỏi không chỉ vì phán quyết của Tòa là chuẩn mực của sự công bằng mà cũng đòi hỏi thủ tục trong hoạt động tố tụng phải thuận tiện, dễ dàng và chi phí thấp để bất kỳ công dân nào cũng có thể tiếp cận được với Tòa án Cơ chế khiếu kiện ra Tòa án phải trở thành nếp suy nghĩ bình thường của mỗi công dân, và cả khi công dân đưa đại diện cơ quan nhà nước

ra trước Tòa án khi xét thấy quyền và lợi ích của mình bị cán bộ, công chức nhà nước xâm hại cũng phải trở thành nếp sinh hoạt bình thường trong thể chế Nhà nước và lúc đó Tòa án chỉ có thể độc lập và tuân theo pháp luật mà phán quyết

Trong điều kiện nước ta hiện nay, bên cạnh việc tăng cường vai trò của các Tòa án nói chung và trong hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình thì chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa án là rất quan trọng Vì hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân

và gia đình có tính chất khác biệt so với xét xử các vụ án hình sự, hành chính

và kinh tế Bởi gia đình là tế bào của xã hội, mọi xung đột trong gia đình được giải quyết cũng như quyền lợi của các thành viên trong gia đình được Tòa án đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật thì xã hội mới được ổn định Và bản thân phán quyết của Tòa án khi phân xử các mâu thuẩn của gia đình là dựa trên các quy định của pháp luật và trên cơ sở đảm bảo cao nhất quyền của con người theo quy định đã khẳng định được vị trí, vai trò cũng như nghĩa vụ của Nhà nước với công dân của mình

Trang 38

30

Ba là, yếu tố ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý:

Để bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình, ngoài các quy định của pháp luật, mỗi quốc gia còn cần xây dựng một hệ thống các cơ quan Nhà nước và đội ngũ công chức Nhà nước tại cơ quan tư pháp có ý thức trách nhiệm với công dân, có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp Ý thức trách nhiệm với công dân, lương tâm và đạo đức nghề nghiệp của các cơ quan Nhà nước và đội ngũ công chức Nhà nước chỉ

có được nếu Nhà nước và xã hội tạo lập cho họ ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý

Văn hóa pháp lý bao gồm ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật, việc thực hiện pháp luật và những con người áp dụng pháp luật Văn hóa là cái tự thân trong mỗi cá nhân con người cũng như đặc điểm, cách ứng xử chung, mang tính phổ biến, mang tính tích cực và tiến bộ của cả cộng đồng người Ý thức pháp luật là một thành tố quan trọng của văn hóa pháp lý Ý thức pháp luật nếu phân chia theo cấu trúc, trước hết bao gồm ý thức pháp luật nhóm và

ý thức pháp luật cá nhân Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, ý thức pháp luật nhóm phản ánh quan điểm, tư tưởng, tình cảm của một nhóm

xã hội nhất định về pháp luật, ý thức pháp luật cá nhân phản ánh quan điểm,

tư tưởng, tình cảm của một cá nhân cụ thể về pháp luật Về lý thuyết, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, nhóm xã hội này là các chủ thể sử dụng pháp luật và

áp dụng pháp luật, có hiểu biết sâu sắc về pháp luật và có địa vị trong xã hội, chính vì vậy, nếu có hành vi trái pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp, hoạt động tố tụng, thì những hành vi trái pháp luật chủ yếu xuất phát từ sự cẩu thả, tắc trách, thiếu trách nhiệm, hoặc cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật vì động

cơ cá nhân, vì tham nhũng hoặc vì các quan hệ chính trị, xã hội mang tính tiêu cực khác Do vậy vấn đề quyền con người khi thực hiện giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và vụ việc hôn nhân và gia đình nói riêng sẽ không được

Trang 39

31

bảo đảm Ngược lại, sẽ không thể bảo đảm được quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình nếu chính bản thân công dân không ý thức được về quyền của mình, không đóng vai trò chủ động trong quá trình thực hiện pháp luật Sự tự ý thức của công dân giúp cho công dân hiểu rõ về giới hạn quyền của bản thân và những nghĩa vụ mà họ cũng phải thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

Tóm tắt chương 1

Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận về quyền con người trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình, tác giả đã phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của quyền con người trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự nói chung và hoạt động giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình nói riêng nhằm làm rõ quyền con người chứa đựng những nội dung gì? Có đặc điểm như thế nào và vai trò của

nó có ảnh hưởng, tác động ra sao trong hoạt động tố tụng của Toà án khi giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình

Trên cơ sở tiếp cận cụ thể về lý luận, tác giả đã đi sâu phân tích các nội dung cụ thể của quyền con người trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình đó chính là pháp luật quy định cho đương sự được thực hiện những quyền gì và pháp luật bảo đảm cho họ ra sao để các quyền đó được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật Đồng thời đưa ra các yếu tố chính và cần thiết có tác động trực tiếp và gián tiếp dưới góc độ xã hội và pháp luật để bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình trong hệ thống Toà án nói chung và tại Toà án nhân dân huyện Bố Trạch nói riêng

Trang 40

32

Chương 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến Quyền con người trong giải quyết các vụ

việc hôn nhân và gia đình - Từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Bố

Trạch, tỉnh Quảng Bình

2.1.1 Khái quát chung về đặc điểm chính trị, kinh tế - xã hội của huyện Bố

Trạch, tỉnh Quảng Bình

Vị trí địa lý:

Huyện Bố Trạch có diện tích tự nhiên 2.124,2 km2, trải rộng từ Tây

sang Đông chiếm toàn bộ chiều ngang của Việt Nam; vừa tiếp giáp với biển

Đông, vừa tiếp giáp đường biên giới giữa Việt Nam và Lào Toàn huyện có

28 xã và 2 thị trấn, trong đó có 09 xã miền núi và 02 xã miền núi rẻo cao, có

các sông Son, sông Dinh, sông Lý Hoà chảy qua với đầy đủ địa hình đồng

bằng, miền núi, trung du và ven biển Có hệ thống giao thông đường bộ,

đường sắt, có đường bờ biển dài 24 km với bãi tắm Đá Nhảy và trên 40 km

đường biên giới Việt Lào Huyện còn có cửa khẩu Cà Roòng - Noọng Ma

(Việt Nam - Lào) và các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh như: Hang Tám

Cô, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Đặc điểm về chính trị:

Huyện Bố Trạch là huyện giữ vị trí trung tâm của tỉnh Quảng Bình sau

thành phố Đồng Hới Hệ thống chính trị của huyện Bố Trạch gồm: Huyện ủy,

Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể chính trị của huyện

Ngày đăng: 28/04/2021, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Quốc hội 13 (2014), Luật Hôn nhân và gia đình, Số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội 13
Năm: 2014
3. Chính phủ (2014), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
5. Quốc hội 13 (2012), Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc Hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc Hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013
Tác giả: Quốc hội 13
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
6. Trần Công Thịnh (2015), “Hoà giải trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam”.Tạp chí Luật học, tập 31, (số 01) (tháng 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoà giải trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trần Công Thịnh
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2015
7. Nguyễn Ngọc Phát, Đoàn LS TP Hồ Chí Minh (2010), Thực tiễn áp dụng Luật hôn nhân và gia đình trong giải quyết ly hôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn áp dụng Luật hôn nhân và gia đình trong giải quyết ly hôn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phát
Nhà XB: Đoàn LS TP Hồ Chí Minh
Năm: 2010
8. Nguyễn Thanh Tú (2012), “Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội theo Luật Hôn nhân vfa Gia đình năm 2000”, Luận văn thạc sỹ luật học, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội theo Luật Hôn nhân vfa Gia đình năm 2000
Tác giả: Nguyễn Thanh Tú
Năm: 2012
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TƯ ngày 14 tháng 5 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TƯ ngày 14 tháng 5 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
16. Đại học Luật Thành phố Hà Nội (2003), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Đại học Luật Thành phố Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2003
17. Đại học Luật Thành phố Hà Nội (2008), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Thành phố Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2008
18. Đào Thị Mai Hường (2010), “Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Đào Thị Mai Hường
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2010
19. Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2000), Một số bài viết về quyền con người của các tác giả Việt Nam,Tài liệu phục vụ tọa đàm, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bài viết về quyền con người của các tác giả Việt Nam
Tác giả: Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Nhà XB: Tài liệu phục vụ tọa đàm
Năm: 2000
20. Quốc hội (2002), Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013), NXB Chính trị quốc gia, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
22. Quốc hội (2002), Luật tổ chức TAND, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức TAND
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
23. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
24. Quốc hội (2011), Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2011
25. Tòa án nhân dân Tối cao (2000), Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Tòa án nhân dân Tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm