TÊN ĐỀ TÀI: SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO SINH HỌC 10... Hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện cho học sin
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN
KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO
SINH HỌC 10
Trang 2- -
Môn: Sinh học Người thực hiện: Nguyễn Văn Thìn Tổ: Hóa – Sinh – Thể - Địa Năm thực hiện: 2021
Số điện thoại: 0963077676
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng, biểu đồ iv
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1
3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU ……… 1
4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI ……… 2
5 CẤU TRÚC CỦA SKKN 2
PHẦN II: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3
1.1.1 Tình huống và tình huống dạy học 3
1.1.1.1.Tình huống 3
1.1.1.2 Tình huống dạy học 3
1.1.1.3 Bài tập tình huống và cấu trúc của bài tập tình huống 4
1.1.1.4 Phương pháp dạy học bằng bài tập tình huống 4
1.1.1.5 Đặc điểm của dạy học bằng bài tập tình huống ……… 5
1.1.1.6 Tiêu chuẩn của một bài tập tình huống tốt 5
1.1.1.7 Ưu - nhược điểm của dạy học bằng bài tập tình huống 5
1.1.2 Kỹ năng học tập của học sinh 6
1.1.2.1 Kỹ năng 6
1.1.2.2 Kỹ năng học tập 7
1.1.3 Kỹ năng so sánh 7
1.1.3.1 Khái niệm 7
1.1.3.2.Vai trò việc rèn luyện kỹ năng so sánh: 8
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
Trang 41.2.1 Thực trạng dạy - học sinh học ở trường THPT hiện nay 8
1.2.1.1 Thực trạng giảng dạy của giáo viên 8
1.2.1.2.Thực trạng rèn luyện kỹ năng so sánh thông qua bài tập tình huống 9
1.2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng dạy - học sinh học ở trường THPT 10
1.2.2 Cấu trúc chương trình phần tế bào học Sinh học 10 11
CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO – SINH HỌC 10……… 12
2.1 Quy trình thiết kế bài tập tình huống 12
2.2 Hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện cho học sinh kỹ năng so sánh trong dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10 12
2.3 Quy trình sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện cho học sinh kỹ năng so sánh trong phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 31
2.3.1 Quy trình chung 31
2.3.2 Ví dụ 32
2.4.Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện kỹ năng so sánh thông qua bài tập tình huống 33
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm 35
3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 35
3.3 Phương pháp thực nghiệm 36
3.4 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 36
3.4.1 Phân tích định lượng 36
3.4.2 Phân tích định tính……… 38
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
1 KẾT LUẬN 39
2 KIẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 42
BẢNG ĐIỂM CHI TIẾT - MÔN SINH HỌC - HỌC KỲ 1 - 2020-2021 …… 43
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
1 Bảng
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về phương pháp giảng dạy của giáo viên 9
Bảng 1.2: Kết quả điều tra ý kiến đánh giá của giáo viên về kỹ năng so sánh của học sinh 9
Bảng 1.3 Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên về sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh 10
Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng rèn luyện một số kỹ năng so sánh cho học sinh của giáo viên 10
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện kỹ năng so sánh 34
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp mức độ đạt được của HS của từng tiêu chí rèn luyện kỹ năng so sánh 36
Trang 7PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Luật giáo dục 2019, điều 7 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và
ý chí vươn lên”
Hiện nay, trong các trường THPT, nhất là các trường thuộc vùng miền núi xa trung tâm thành phố, cơ sở vật chất trường lớp còn hạn chế nên việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực có chuyển biến nhưng còn chậm Vì vậy, việc nghiên cứu và sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học mới là vấn đề cấp thiết
Để tổ chức hoạt động học tập cho HS theo hướng tích cực thì GV cần phải có công cụ, phương tiện để tổ chức như: bản đồ khái niệm, sơ đồ hóa, câu hỏi, bài tập, phiếu học tập Trong đó, việc sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh là cần thiết Có những ưu điểm rất lớn như dễ khái quát kiến thức, dễ sử dụng, hiệu quả cao, sử dụng được trong nhiều khâu của quá trình dạy học
Chương trình Sinh học THPT, phần Sinh học tế bào có vị trí tương đối quan trọng Những kiến thức về Sinh học tế bào là chìa khoá để giải quyết nhiều vấn đề thuộc hầu hết các chủ đề kiến thức về Sinh học, vi sinh vật, Di truyền, Tiến hoá…
với nội dung nêu lên thành phần, cấu tạo và vai trò các chất vô cơ và hữu cơ đối với tế bào, tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên mọi cơ thể sống đặc biệt giải các bài tập về nguyên phân, giảm phân, thụ tinh
Trong đề thi HS giỏi các cấp Đại học, Cao đẳng số câu hỏi đòi hỏi kĩ năng so sánh với tư duy lôgic cao chiếm khá nhiều và thường gây ra không ít khó khăn, lúng túng cho các em.Vì vậy, việc sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng
so sánh trong dạy – học s phát huy tính tích cực của HS và mang lại hiệu quả cao
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài : Sử dụng Bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học phần Sinh học
tế bào - Sinh học 10
2 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
- Quy trình xây dựng và sử dụng bài tập tình huống trong dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10
- Học sinh trường THPT Mường Quạ
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Sử dụng Bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10
Trang 84 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
4.1 Góp phần hệ thống hóa những cơ sở lí luận về bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học làm cơ sở cho việc đổi mới phương pháp dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10
4.2 Xây dựng được hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh
đủ tiêu chuẩn về phần Sinh học tế bào - Sinh học 10
4.3.Xây dựng được quy trình sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng
so sánh để dạy và tự học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10 4.4 Tiêu chí đánh giá kỹ năng so sánh thông qua bài tập tình huống trong dạy học sinh học
5 CẤU TRÖC CỦA SKKN ( Được trình bày bởi 3 phần)
I MỞ ĐẦU
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực trạng của việc sử dụng bài tập tình huống
để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học
1.1 Cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học
Chương 2: Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh để dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10
2.1 Phân tích nội dung chương trình phần kiến thức phần Sinh học tế bào - SH 10 2.2 Xây dựng hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh để dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3.1 Mục tiêu thực nghiệm sư phạm
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm
3.3 Đối tượng thực nghiệm
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm
III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 9PHẦN II: NỘI DUNG NHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Tình huống và tình huống dạy học
1.1.1.1.Tình huống
Theo từ điển Tiếng Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một địa điểm, trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải quyết Tình huống cũng có thể được miêu tả hoặc trình bày một trường hợp trong thực tế nhằm đưa ra một vấn đề chưa được giải quyết và thông qua đó đòi hỏi người đọc phải giải quyết
Xét về góc độ tâm lí học, tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó Trong quan hệ không gian, tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập cuả các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động [2]
Nói một cách khái quát, “Tình huống là toàn thể sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ hành động, đối phó, chịu đựng’’
Người ta phân biệt tình huống làm hai dạng chính:
- Tình huống đã xảy ra, đây là những tình huống đã xảy ra và được tích luỹ lại trong vốn tri thức của loài người
- Tình huống s xảy ra (dự đoán), đây là những tình huống mà con người dự đoán xảy ra trong tương lai
1.1.1.2 Tình huống dạy học
Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ xã hội cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà học sinh đã trở thành chủ thể hoạt động với đối tượng nhận thức trong một trường dạy học nhằm một
mục đích dạy học cụ thể [14]
Nguyễn Ngọc Quang còn đưa ra một cách tiếp cận mới của tình huống dạy học đó là tình huống mô phỏng hành vi Mô phỏng hành vi là bắt chước, sao chép, phỏng theo quá trình hành vi của con người, sự tương tác riêng cá nhân của người
đó, nhằm đạt mục đích nào đó Dùng tình huống mô phỏng này trong tổ chức dạy học nó trở thành tình huống dạy học Thực chất đó là quy trình chuyển tình huống
mô phỏng thành tình huống dạy học [7], [15]
Như vậy, bản chất của tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lên lớp,
chứa đựng mối liên hệ mục đích - nội dung - phương pháp theo chiều ngang tại
một thời điểm nào đó với nội dung là một đơn vị kiến thức
Trang 101.1.1.3 Bài tập tình huống và cấu trúc của bài tập tình huống trong dạy học
a Bài tập tình huống
Bài tập tình huống là những hệ thống đã, đang và có thể xảy ra được cấu trúc lại dưới dạng bài tập, là một cấu trúc ngôn ngữ mô hình hoá yêu cầu về kĩ thuật, biện pháp, phương pháp dạy học mà yêu cầu đó đang tiềm ẩn chưa được bộc lộ trước người dạy không có kinh nghiệm Khi giải bài tập tình huống thì không những giúp học sinh khắc sâu kiến thức mà còn rèn luyện các kỹ năng để vận dụng trong thực tiễn cuộc sống [6], [7]
b Cấu trúc của bài tập tình huống
Cấu trúc của bài tập tình huống trong dạy học được tạo thành từ hai yếu tố
cơ bản: Con người và các thành tố của quá trình dạy học [17]
Con người: Là giáo viên và học sinh Muốn làm việc có hiệu quả giáo viên phải nắm được nhu cầu, nguyện vọng, hoàn cảnh, điều kiện học tập của học sinh
Đối tượng lao động của giáo viên là học sinh Hứng thú học tập của học sinh là động lực kích thích tính tích cực sáng tạo, làm nâng cao chất lượng học tập Có thể tóm tắt những đặc điểm của giáo viên - học sinh như sau
Đặc điểm của giáo viên:
- Có kiến thức sâu và rộng, có lương tâm nghề nghiệp
- Sự tập trung, sự sẵn sàng làm việc
- Xác định được bản chất và trọng tâm vấn đề
- Chuẩn bị tốt các điều kiện dạy học cụ thể
Đặc điểm của học sinh:
- Có nhu cầu học tập
- Tập trung sự chú ý, có hứng thú học tập
- Có trình độ, năng lực tiếp thu bài học
- Có điều kiện, môi trường, không khí đạo đức chung tốt
Các thành tố của quá trình dạy học: Là thành phần cơ bản của tình huống dạy học Quá trình dạy học có hai mặt: Mặt nội dung và mặt quá trình có quan hệ chặt ch với nhau
Mặt nội dung gồm: Mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và kiểm tra, đánh giá Bài học có sinh động, đem lại hứng thú, để lại dấu ấn trong tâm hồn học sinh, đó là kết quả của năng lực và nghệ thuật sư phạm, của tinh thần trách nhiệm và lương tâm người giáo viên
Mặt quá trình gồm: Tạo tình huống có vấn đề, kích thích động viên, tạo động lực, tổ chức hoạt động, kiểm tra đánh giá
1.1.1.4 Phương pháp dạy học bằng bài tập tình huống
Trang 11Phương pháp dạy học bằng bài tập tình huống, giáo viên tổ chức cho học sinh xem xét, phân tích, nghiên cứu, thảo luận để tìm ra các phương án giải quyết
cho các bài tập tình huống, qua đó mà đạt được các mục tiêu bài học đặt ra [7]
1.1.1.5 Đặc điểm của dạy học bằng bài tập tình huống [6]
- Dựa vào các tình huống để thực hiện chương trình học, những tình huống không nhằm kiểm tra kỹ năng mà giúp phát triển chính bản thân kỹ năng
- Những tình huống có cấu trúc thực sự phức tạp, nó không phải chỉ có một giải pháp cho tình huống (tình huống chứa các biến sư phạm)
- Bản thân tình huống mang tính chất gợi vần đề, không phải học sinh làm theo ý thích của thầy giáo; học sinh là người giải quyết vấn đề theo phương thức thich nghi, điều tiết với môi trường; có hay không sự hỗ trợ của thầy giáo tùy thuộc vào tình huống
- Học sinh chỉ được hướng dẫn cách tiếp cận với tình huống chứ không có công thức nào giúp học sinh tiếp cận với tình huống
- Việc đánh giá dựa trên hành động và thực tiễn
1.1.1.6 Tiêu chuẩn của một bài tập tình huống tốt
- Về mặt nội dung:
+ Tính thời sự, sát thực tế, sát nội dung bài học
+ Bài tập tình huống phải mang tính giáo dục
+ Tạo khả năng để học sinh đưa ra được nhiều đáp án
+ Phải chứa đựng mâu thuẫn và mang tính khiêu khích
+ Tạo được sự hứng thú cho người học
+ Nêu ra được những vấn đề quan trọng, cốt lõi cho người học và phù hợp với người học
- Về mặt hình thức, bài tập tình huống phải:
1.1.1.7 Ưu - nhược điểm của dạy học bằng bài tập tình huống
Ưu điểm của dạy học bằng bài tập tình huống:
Đây là phương pháp có thể kích thích ở mức cao nhất sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập, lĩnh hội kiến thức; phát triển các kĩ năng học tập; giải quyết vấn đề, kĩ năng đánh giá, dự đoán kết quả, kĩ năng giao tiếp như:
Trang 12Tập thể
+ Làm việc theo nhóm
+ Thông tin qua lại
+ Trao đổi ý tưởng
Năng động (Không nghe, tiếp thu một cách thụ động)
Dân chủ + Sự bình đẳng mọi người tham gia
+ Trao đổi ý tưởng
nghe, nói, trình bày,… của học sinh; tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, tính sáng tạo, tiếp cận bài tập tình huống dưới nhiều góc độ; cho phép phát hiện ra những giải pháp cho các bài tập tình huống phức tạp; chủ động điều chỉnh các nhận thức, hành vi, kĩ năng của HS
Như vậy, phương pháp sư phạm này có thể phát huy được tính chất dân chủ, năng động và tập thể để đạt được mục đích dạy học
Nhược điểm của dạy học bằng bài tập tình huống:
Để thiết kế được một bài tập tình huống phù hợp với nội dung, mục tiêu đào tạo, trình độ của học sinh, kích thích được tính tích cực của các em thì đòi hỏi GV phải tốn nhiều thời gian, công sức Ngoài ra, GV cần phải có trình độ kiến thức, kinh nghiệm sâu, rộng, có kĩ năng kích thích, phối hợp tốt trong quá trình tổ chức thảo luận và giải đáp để giúp học sinh tiếp cận tri thức mới
1.1.2 Kỹ năng học tập của học sinh
1.1.2.1 Kỹ năng
Theo Trần Bá Hoành: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo trở thành kỹ xảo” [9], [11, [11]
Nguyễn Đình Chỉnh đã định nghĩa: "Kỹ năng là một thao tác đơn giản hoặc phức tạp mang tính nhận thức hoặc mang tính hoạt động chân tay, nhằm thu được một kết quả"[5]
Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết - đó là kiến thức Sở
dĩ như vậy là vì xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (phải hiểu mục đích, biết cách thức
đi đến kết quả và hiểu được những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó)
Mỗi kỹ năng chỉ biểu hiện thông qua một nội dung, tác động của kỹ năng lên nội dung ta đạt được mục tiêu
Mục tiêu = Kỹ năng Nội dung
Trang 13Thực chất của việc hình thành kỹ năng là hình thành cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động
cụ thể Muốn vậy khi hình thành kỹ năng (chủ yếu là kỹ năng học tập) cho học sinh cần:
+ Giúp cho học sinh biết cách tìm tòi để nhận xét ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng
+ Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, đối tượng cùng loại
+ Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng
1.1.2.2 Kỹ năng học tập
Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng học tập là khả năng của con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra
Kỹ năng học tập có các đặc trưng:
+ Là tổ hợp các hành động học tập đã được học sinh nắm vững; biểu hiện mặt kỹ thuật của hành động học tập và năng lực học tập của mỗi em
+ Kỹ năng học tập có mối quan hệ chặt ch với kết quả học tập Nó là yếu tố
có tính mục đích, luôn hướng tới mục đích của hoạt động học tập và có ý nghĩa quyết định đến kết quả học tập
+ Kỹ năng học tập là một hệ thống, trong đó có các kỹ năng học tập chuyên biệt Kỹ năng học tập là một hệ thống mở, mang tính phức tạp, nhiều tầng, nhiều bậc và mang tính phát triển Có những kỹ năng đặc thù cho môn học
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng, chu trình hoạt động nhận thức - học tập Nó bao gồm các bước: Sự tri giác, sự thông hiểu, sự ghi nhớ, sự vận dụng, sự khái quát hoá và sự hệ thống hoá Trong đó, sự thông hiểu kiến thức diễn ra thông qua xử lý thông tin bằng các thao tác trí tuệ: Phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, cụ thể hoá, trừu tượng hoá, so sánh đối chiếu, suy luận
Trong thực tiễn dạy học, nhiều học sinh còn rất lúng túng ở khâu này vì thiếu phương pháp xử lý thông tin và giáo viên cũng ít chú ý cung cấp và huấn luyện cho các em các phương pháp thích hợp và hiệu nghiệm [15]
Trong hệ thống kỹ năng nêu trên, chúng tôi quan tâm đến việc thiết kế và sử
dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh trong nhóm kỹ năng học tập
phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến thu thập, xử lý, sử dụng thông tin
1.1.3 Kỹ năng so sánh
1.1.3.1 Khái niệm
Trang 14Trong nhận thức cùng với sự hiểu biết sự vật, hiện tượng là cái gì và như thế nào, còn phải hiểu được sự vật, hiện tượng này không giống sự vật, hiện tượng khác ở chỗ nào thì phải sử dụng đến phương pháp so sánh
So sánh là sự phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng nhằm phân loại sự vật, hiện tượng thành những loại khác nhau
Các bước thực hiện biện pháp so sánh:
Bước 1: Nêu định nghĩa đối tượng cần so sánh
Bước 2: Phân tích đối tượng, tìm ra dấu hiệu bản chất của mỗi đối tượng so sánh
Bước 3: Xác định những điểm khác nhau của từng dấu hiệu tương ứng
Bước 4: Xác định những điểm giống nhau của từng dấu hiệu tương ứng
Bước 5: Khái quát các dấu hiệu quan trọng giống và khác nhau của 2 đối tượng so
sánh
Bước 6: Nếu có thể được thì nêu rõ nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó
Các hình thức diễn đạt so sánh:
+ Diễn đạt so sánh bằng lời
+ Diễn đạt so sánh bằng bảng hệ thống hay bảng phân tích
+ Diễn đạt so sánh bằng tranh sơ đồ
+ Diễn đạt so sánh bằng biểu đồ
+ Diễn đạt so sánh bằng sơ đồ logic
1.1.3.2.Vai trò việc rèn luyện kỹ năng so sánh
- Qua sự so sánh giúp học sinh phân biệt, hệ thống hoá và củng cố các khái niệm đồng thời so sánh là một thao tác tư duy rất quan trọng giúp học sinh tìm ra cái mới
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 1.2.1 Thực trạng dạy - học sinh học ở trường THPT hiện nay
Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, Tôi tiến hành quan sát sư phạm, tham khảo giáo án, dự giờ, trao đổi ý kiến với một số giáo viên cùng bộ môn, dùng phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên trường THPT Con Cuông, Trường THPT Mường Quạ, Con Cuông, thuộc tỉnh Nghệ An nhằm thu thập số liệu cụ thể về thực trạng dạy ở trường THPT hiện nay
1.2.1.1 Thực trạng giảng dạy của giáo viên
Tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 8 giáo viên sinh học của 2 trường THPT ( THPT Con cuông, THPT Mường Quạ,) thuộc tỉnh Nghệ An Kết quả thăm dò thu được:
Trang 15Bảng 1.1 Kết quả điều tra về phương pháp giảng dạy của giáo viên
Mức độ sử dụng
Thường xuyên
Không thường xuyên
Không sử dụng
độ sử dụng thường xuyên chỉ đạt 25% trong khi mức độ không sử dụng lên đến
62.5%)
1.2.1.2.Thực trạng rèn luyện kỹ năng so sánh thông qua bài tập tình huống
Bảng 1.2: Kết quả điều tra ý kiến đánh giá của giáo viên về kỹ năng so sánh của học sinh
Qua bảng 1.2 cho thấy rằng, đa số giáo viên đánh giá kỹ năng so sánh của học sinh
ở mức trung bình (50 %) Như vậy, kỹ năng so sánh tuy đã hình thành ở HS nhưng chưa thật sự đạt được ở mức khá tốt
Trang 16Bảng 1.3 Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên về sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh
Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng rèn luyện một số kỹ năng so sánh cho học sinh của giáo viên
Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Qua bảng 1.3 và 1.4, Tôi nhận thấy hầu hết GV đều nhận thức được sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh Tuy nhiên thực trạng rèn luyện kỹ năng
so sánh cho học sinh của một số giáo viên chưa thật sự đồng bộ và chưa có giải
pháp hợp lí đối với vấn đề này
1.2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng dạy - học sinh học ở trường THPT
* Về phía giáo viên:
- Một số GV đã quá quen thuộc với phương pháp dạy học truyền thống thuyết trình, giảng giải Do đó khi đổi mới phương pháp dạy học tích cực thường
tỏ ra lúng túng, gặp nhiều trở ngại
- Nhiều GV quan tâm đến việc truyền đạt kiến thức nhiều hơn mà quên đi việc rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS, dẫn đến kỹ năng học tập của HS chỉ đạt ở mức trung bình
- Một số GV còn thiếu kinh nghiệm trong đổi mới phương pháp dạy học nên tiết học chưa thật sự hấp dẫn, ít tạo điều kiện để cho học sinh tích cự chủ động trong việc xây dựng và tiếp thu bài học
* Về phía học sinh:
- Kỹ năng học tập của nhiều học sinh còn hạn chế, không đồng đều Vì vậy việc tổ chức giờ dạy có sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh gặp không ít khó khăn, nên giáo viên còn né tránh
- Nhiều học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp nên cảm thấy khó tiếp thu
* Nguyên nhân khách quan:
- Do ý thức ban đầu của HS đối với vị trí của môn Sinh học trong nhà trường phổ thông Chỉ một số ít HS theo học các khối ngành có môn Sinh học mới thật sự
Trang 17chú tâm vào môn học này Vì vậy đa phần HS chưa dành thời gian, công sức để đầu tư học tập như các môn khác
1.2.2 Cấu trúc chương trình phần Sinh học tế bào học Sinh học 10
Phần hai: Sinh học tế bào, 22 tiết chia làm 4 chương
Chương I: Thành phần hóa học của tế bào (từ bài 3 đến bài 6)
Chương thành phần hóa học của tế bào với nội dung nêu lên thành phần, cấu tạo và vai trò các chất vô cơ và hữu cơ đối với tế bào
Bốn nguyên tố C, H, O và N là những nguyên tố chính góp phần tạo nên khoảng 96% khối lượng các cơ thể sống
Các hợp chất hữu cơ như cacbohiđrat, prôtêin và axit nuclêic đều là những đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, trình tự sắp xếp và số lượng của các đơn phân trong mỗi phân tử quyết định các đặc tính lí hóa học của chúng
Chương II Cấu trúc của tế bào (từ bài 7 đến bài 12)
Chương này cho thấy tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên mọi cơ thể sống
Mọi tế bào đều được cấu tạo từ 3 bộ phận chính : màng sinh chất, tế bào chất và nhân (hay vùng nhân)
Tế bào thường có kích thước nhỏ đảm bảo tối ưu hóa tỉ lệ s/v Có 2 loại tế bào là : tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
Tế bào nhân sơ có kích thước nhỏ, không có hệ thống màng bên trong tế bào, không có các bào quan có màng bao bọc Vật chất di truyền của tế bào nhân
sơ chưa có màng bao bọc
Tế bào nhân thực có kích thước lớn hơn nhiều so với tế bào nhân sơ Vật chất di truyền của tế bào được bao bọc bởi 2 lớp màng tạo nên nhân tế bào, bên trong tế bào có hệ thống nội màng, có nhiều bào quan được bao bọc bởi 1 hoặc 2 lớp màng, các bào quan thực hiện những chức năng chuyên biệt : nhân tế bào chứa thông tin di truyền điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào, ti thể và lục lạp thực hiện chức năng chuyển hóa năng lượng, lizôxôm là nhà máy tái chế rác thải, Gôngi
là nhà máy lắp ráp và phân phối các sản phẩm của tế bào, ribôxôm là nhà máy tổng hợp prôtêin Các phương thức vận chuyển qua màng : vận chuyển chủ động, vận chuyển thụ động, xuất bào và nhập bào
Chương III: Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào (bài 13 và 17)
Cho thấy tế bào là hệ mở, luôn trao đổi chất và năng lượng với môi trường
ATP được coi là đồng tiền năng lượng của tế bào
Quang hợp là quá trình chuyển đổi năng lượng ánh sáng mặt trời thành dạng năng lượng tiềm ẩn trong hợp chất hữu cơ Quang hợp bao gồm 2 pha : pha sáng
và pha tối
Trang 18Hô hấp tế bào là quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ để tạo ra năng lượng dưới dạng ATP Quá trình phân giải glucôzơ bao gồm 3 giai đoạn (đường phân, chu trình Crep và chuỗi chuyền electron) với sản phẩm chính là ATP, các sản phẩm phụ là CO2 và nước
Chương IV: Phân bào (từ bài 18 đến 20)
Cho thấy Sự sống được duy trì liên tục từ thế hệ này qua thế hệ khác thông qua quá trình truyền đạt thông tin di truyền lưu trữ trên ADN
Quá trình truyền đạt thông tin di truyền trên ADN được thực hiện qua các hình thức phân chia tế bào
Nguyên phân là quá trình phân bào đảm bảo sự truyền đạt thông tin một cách nguyên vẹn từ tế bào này sang tế bào khác nhằm thực hiện các chức năng sinh sản, sinh trưởng và phát triển cũng như khả năng tái sinh các mô và cơ quan ở các
cơ thể sinh vật đa bào
Giảm phân chỉ xảy ra ở các cơ thể lưỡng bội có hình thức sinh sản hữu tính giúp tạo ra sự đa dạng di truyền làm nguồn nguyên liệu cho quá trình tiến hóa
CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY PHẦN TẾ BÀO HỌC – SINH HỌC 10
2.1 Quy trình thiết kế bài tập tình huống
Quy trình thiết kế tình huống và đưa tình huống vào rèn luyện kỹ năng so sánh của học sinh [8]:
2.2 Hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện cho học sinh kỹ năng so sánh trong dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10
Bài tập tình huống 1: (Dạy - học thí nghiệm phân biệt đường đơn, đường đôi và
chứng minh tính khử của đường glucôzơ)
Người ta tiến hành 3 thí nghiệm (TN) sau:
Xác định mục tiêu của chương, bài
Phân tích nội dung chương, bài để xác định đơn vị nội dung chương bài có thể thiết kế được các tình huống dạy học
Diễn đặt tình huống dưới dạng bài tập Kiể định tình huống đã được được thiết kế
Trang 19TN1: Vắt lấy nước cam, nho thêm vào một ít nước sau đó lọc qua phễu để có dịch
chiết
- Cho 5 ml dịch chiết vào cốc thuỷ tinh rồi đổ vào 2 ml thuốc thử phêlinh
- Đun sôi (trên lưới amiăng) vài phút
TN2: Cho một ít đường mía vào cốc thuỷ tinh, đổ vào 5 ml nước cất khuấy đều
- Cho vào dung dịch đường 2 ml thuốc thử phêlinh
- Đun sôi (trên lưới amiăng) vài phút
- Hãy mô tả hiện tượng xảy ra trong mỗi thí nghiệm Giải thích hiện tượng?
- Mục đích của mỗi thí nghiệm
Bài tập tình huống 2: (Dạy bài mới phần các nguyên tố hóa học và nước)
Quan sát hình v dưới đây và so sánh nước đá và nước thường.Theo em cho biết hậu quả gì có thể xẩy ra khi ta đưa các tế bào sống vào ngăn đá ở trong tủ lạnh?
Bài tập tình huống 3: (Dạy bài mới Cacbohiđrat (Saccarit) - lipit)
Bạn Nam khi GV yêu cầu so sánh về Cacbohiđrat thì bạn ấy thể hiện được như sau:
Chỉ tiêu so sánh
Đường đơn (Mônôsaccarit)
Đường đôi (Đisaccarit)
Đường đa (Pôlisaccarit)
Ví dụ Glucôzơ,fructôzơ,
galactôzơ, ribôzơ
Saccarôzơ, mantôzơ,lactôzơ
Xenlulôzơ, tinh bột, glicôgen
Cấu trúc - Có từ 3 đến 7
nguyên tử cacbon trong phân tử
- Dạng mạch thẳng hoặc vòng
- Gồm hai phân
tử đường đơn nối với nhau nhờ liên kết glicôzit bằng cách loại chung 1 phân tử nước
- Là 1 chuỗi gồm nhiều phân tử đường đơn tạo thành bằng các phản ứng trùng ngưng loại nước
+ Tạo mạch thẳng:
xenlulôzơ
+ Tạo mạch phân nhánh:
Trang 20tinh bột, glicôgen
Tính chất Khử mạnh Mất tính khử Không có tính khử Theo em đáp án của bạn Nam như thế nào ? Đáp án của em thì sao?
Bài tập tình huống 4: (khỏi động bài mới phần các nguyên tố hóa học và nước)
Cho HS quan sát những hình ảnh về người bị bứu cổ, béo phì, người sinh trưởng bình thường , cây bị một số bệnh do thiếu các nguyên tố vi lượng, học sinh so sánh và giải thích tại sao? -> vào bài
Bài tập tình huống 5: (Dạy bài mới Cacbohiđrat (Saccarit) - lipit)
Quan sát hình v dưới đây và so sánh các loại lipit về các chỉ tiêu cấu trúc hóa học
Trang 21Chỉ tiêu so sánh Cấu trúc hóa học Vai trò Dầu, mỡ
Photpholipit Steroit
Bài tập tình huống 6: (Dạy - học cấu trúc của ADN, ARN)
Hai bạn HS khảo sát thành phần nuclêôtit của một loại axit nuclêic thu được kết quả: HS1: A = 15%, T = 20% và kết luận axít nuclêic trên là ADN
HS2: A = 15%, T = 20% và kết luận axít nuclêic trên là ARN
Em có nhận xét gì về ý kiến trên? Kết quả của em thì sao ?
Bài tập tình huống 7: (Cũng cố Cacbohiđrat (Saccarit) - lipit) GV: Yêu cầu HS So sánh Caccbohidrat và Lipit
Cấu tạo Tính chất Vai trò
Bài tập tình huống 8: (Dạy – học Axitnucleic)
Khi quan sát 1 số hình ảnh sau:
Có ý kiến cho rằng: Sự khác biệt giữa cấu trúc ADN so với ARN là:
Chỉ tiêu so sánh
- 1 mạch ngắn với hàng chục đến hàng nghìn đơn phân.1 mạch:
+ mARN dạng mạch thẳng
ARN ADN
Trang 22- liên kết với nhau bằng liên kết hiđro
A-T: 2 liên kết hiđro
G- X: 3 liên kết hiđro
+ tARN có đoạn cuộn lại tạo nên một đầu có 3 thùy
+ tARN có vùng nuclêôtit liên kết
tạo đoạn xoắn kép cục bộ
Thành phần của một đơn phân
- Thành phần cấu trúc của nuclêôtit:
+ 1 bazơ nitơ (A,T,G,X)+ Đường C5 H10O4 + Axit phôtphoric
Thành phần cấu trúc của ribônuclêôtit:
+ 1 bazơ nitơ (A,U,G,X)+ Đường C5 H10O5 + Axit phôtphoric
Em có nhận xét gì về ý kiến trên
Bài tập tình huống 9: (Dạy - học cấu trúc ADN)
Ba đoạn phân tử ADN có chiều dài bằng nhau thuộc tế bào của 3 loài sinh vật khác nhau
- Phân tử ADN I có: A = T = 2.107 nuclêôtit; G = X = 3.107
- Phân tử ADN II có: A = T = 3.107 nuclêôtit; G = X = 2.107
- Phân tử ADN III có: A = T = 10%; G = X = 40%
Đoạn phân tử ADN nào có “nhiệt độ nóng chảy” cao hơn? Vì sao?
Bài tập tình huống 10: (Cũng cố cấu trúc của ADN)
Tại sao cũng chỉ với 4 loại nuclêôtit nhưng tạo hóa lại có thể tạo nên những sinh vật có những đặc điểm và kích thước rất khác nhau?
Một HS phát biểu: Phân tử ADN chỉ được cấu tạo từ bốn loại nuclêôtit, nhưng do thành phần và trình tự phân bố các nuclêôtit trên phân tử ADN khác nhau mà từ bốn loại nuclêôtit đó có thể tạo ra vô số phân tử ADN khác nhau Các phân tử ADN khác nhau lại điều khiển sự tổng hợp nên các prôtêin khác nhau quy định các tính rất đa dạng nhưng đặc thù ở các loài sinh vật khác nhau
Em có nhận xét gì về ý kiến trên?
Bài tập tình huống 11: Một bạn khi so sánh về cơ chế tổng hợp ADN và cơ chế
tổng hợp ARN đã nêu toàn bộ cơ chế tổng hợp ADN xong sau đó nêu toàn bộ cơ chế tổng hợp ARN
Theo em như vậy có chính xác không?
Bài tập tình huống 12: (Dạy – học tế bào nhân sơ)
Có 1 bạn muốn trình bày sự khác nhau giữa cấu tạo và chức năng về các thành phần của tế bào nhân sơ nhưng đang còn lúng túng Em hãy giúp bạn hoàn chỉnh bảng sau:
Trang 23Thành phần Cấu tạo Chức năng Thành tế bào peptiđôglican Quy định hình dạng của tế bào, bảo
bệ tế bào
Vỏ nhầy Polisaccarit, lipoprotein ………
Màng sinh chất ……… Trao đổi chất, bảo vệ tế bào
Mang, bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền
Bài tập tình huống 14: (Dạy - học cấu trúc tế bào nhân sơ)
Đặt 2 nhóm tế bào A và B lên 2 lam kính khác nhau, nhuộm chúng với dung dịch chứa Crystal violet sau đó tẩy bằng cồn và nhuộm lại bằng dung dịch nhuộm màu
bổ sung (Fuchsine) Kết quả thấy nhóm A có màu tím, nhóm B có màu hồng đỏ
- Xác định tên của 2 nhóm tế bào này Giải thích kết quả thí nghiệm
- Phân biệt đặc điểm của 2 nhóm tế bào trên
- Trong 2 nhóm tế bào trên, loại nào khó bị tiêu diệt hơn, vì sao?
Bài tập tình huống 15: (Dạy – học tế bào nhân thực)
Một bạn học sinh nói rằng: nhìn vào hình v dưới đây s so sánh được điểm giống nhau giữa Tế bào thực vật và tế bào động vật
Trang 24Theo em bạn ấy nói như vậy chính xác chưa, em hãy giúp bạn ấy so sánh?
Bài tập tình huống 16: (Dạy – học tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực)
Có 1 bạn muốn so sánh cấu trúc tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực nhưng đang
còn lúng túng Em hãy giúp bạn hoàn chỉnh bảng sau:
Nội dung so
Kích thước - Kích thước nhỏ - Kích thước lớn
Nhân
- Nhân chưa có màng bao bọc
- Nhân đã có màng bao bọc nên được gọi là nhân thực hay nhân hoàn chỉnh
Tế bào chất và các bào quan
- Tế bào chất không có hệ thống nội màng