SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG VÀ CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12 Người thực hiện: NGUYỄN VĂN DUYÊN Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo dục
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Trãi
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG VÀ CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN DUYÊN
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn GDCD Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
-I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1 Họ và tên: NGUYỄN VĂN DUYÊN Ngày tháng năm sinh: 02 - 11 - 1982
7 Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Trãi
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: ĐHSP TP Hồ Chí Minh ngành Giáo dục chính trị
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC:
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn GDCD
- Số năm có kinh nghiệm: 7 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Trang 3Tên sáng kiến kinh nghiệm: SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG VÀ CÂU CHUYỆN PHÁP TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12
PHẦN A NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục công dân là môn học bên cạnh cung cấp kiến thức khoa học còn có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đạo đức và nhân cách cho học sinh Tuy nhiên ở một số trường THPT môn học này cũng bị xem là môn phụ, chưa thực sự thu hút sự đam mê, yêu thích của học sinh Nhiều giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ vị trí, tầm quan trọng của bộ môn này trong quá trình giảng dạy nhằm cung cấp kiến thức, phương pháp học tập đặc thù bộ môn trong đào tạo nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh nên chưa có nhiều nghiên cứu, sáng tạo để tạo ra những phương pháp giảng dạy hiệu quả Đa số giáo viên sử dụng phương pháp truyền thống: đọc - chép theo sách giáo khoa là chủ yếu, thiếu hấp dẫn, học sinh khó hiểu, nhàm chán Trong khi đó môn GDCD còn là môn đóng vai trò chính trong việc tích hợp rất nhiều vấn đề như: Giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, kỹ năng sống, bảo vệ môi trường, giáo dục pháp luật, giáo dục
về an toàn giao thông
Vì thế, khi giảng dạy nếu không biết cách lựa chọn nội dung tích hợp phù hợp thì không những làm loãng kiến thức mà còn khiến học sinh cảm thấy chán và từ
đó không thích môn học này
Là giáo viên trẻ làm công tác giảng dạy môn GDCD lớp 12 từ năm 2005 Bản thân tôi nhận thức được rằng thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của môn học, giáo viên trong mỗi tiết dạy cần phải quán triệt sâu sắc các nguyên tắc cơ bản trong nguyên lý dạy học:
II CƠ SỞ LÍ LUẬN
Môn GDCD lớp 12 gồm 10 bài với nội dung chủ đạo “ công dân với pháp luật” trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về pháp luật, các quyền cơ bản của công dân Bởi vậy, việc giảng dạy của giáo viên không những gặp khó khăn về nội dung kiến thức pháp luật khô khan, khó nhớ và khó truyền tải mà còn chú trọng việc rèn luyện một số kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử
Có thể nói, môn GDCD lớp 12 có nhiều kiến thức liên quan với cuộc sống hiện tại cho nên việc liên hệ giữa bài học và cuộc sống thực tiễn là điều cần thiết Để làm được điều này buộc người thầy phải tham khảo nhiều tài liệu, tích lũy nhiều vốn sống, có kiến thức sâu rộng và truyền đạt đến học sinh bằng niềm say mê thực
sự của mình
Trang 4Việc gây hứng thú, cuốn hút và làm cho học sinh yêu thích bộ môn hay không phần chính là ở người thầy chứ không phải là nội dung chương trình, đó cũng chính là lý do khiến bản thân tôi cố gắng trong mỗi tiết dạy để đảm bảo hiệu quả giảng dạy và mục tiêu giáo dục đặt ra
Tạo cho người học khả năng trình bày những điều đã học và suy nghĩ về điều đó (diễn đạt, nhận xét)
Tạo điều kiện để người học có thể trao đổi lân nhau và trao đổi với giáo viên
III CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thuận lợi
Chương trình môn Giáo dục công dân lớp 12 có nhiều nội dung phù hợp với dạy học theo tình huống mà còn phát huy hiệu quả cao khi giáo viện tổ chức cho học sinh làm bài tập tình huống
Giáo viên được đào tạo và tập huấn thường xuyên về đổi mới phương pháp dạy học Xu hướng phát triển của xã hội tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau
Dạy học theo tình huống phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi HS, khắc phục được sự nhàm chán, gây hứng thú cho người học, kích thích học sinh tư duy tích cực
Trong thời gian gần đây môn giáo duc công dân nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội, của các cơ quan banh nghành, các cấp chính quyền Đặc biệt Bộ giáo dục đã có văn bản chỉ đạo yêu cầu các trường quan tâm có giải pháp hữu hiệu trong công tác giáo dục pháp luật trong học sinh sinh viên
2 Khó khăn:
Mục đích học môn GDCD 12 trang bị kiến thức cơ bản về pháp luật nhưng nội dung kiến thức rộng khó truyền tải, khó tiếp thu khô, khó, dài… nên GV khó dạy,
HS khó học Đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm
Tài liệu tham khảo đặc thù phục vụ cho môn GDCD 12 không phong phú, chưa
phổ biến chưa theo kịp với diễn biến thực tế của xã hội đặt ra Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là HS đối với bộ môn này còn khá lệch lạc: không đầu tư, không chú ý thậm chí là xem thường hoặc học cho xong
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, bản thân dạy môn GDCD đặt ra yêu cầu
* Thứ nhất: Phải đổi mới phương pháp giảng dạy của mình để mỗi tiết học
có hiệu quả cao nhất
* Thứ hai: Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn GDCD lớp 12 với nội dung
là kiến thức pháp luật thể hiện đường lối chính sách của Đảng cho nên việc truyền thụ kiến thức GDCD mang tính thực tiễn
* Thứ ba: Xuất phát từ nhu cầu của học sinh không muốn học tập kiến thức
lý luận suông mà cần có những ví dụ cụ thể sinh động để các em năm kiến thức đơn giản và nhanh nhất Qua đó tự rèn luyện nhận thức và hành động của bản thân cho phù hợp yêu cầu của xã hội
IV MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1.Đối với giáo viên
Trang 5Với việc chọn đề tài trên giúp cho giáo viên tự tìm tòi học hỏi củng cố lòng nhiệt huyết trong quá trình giảng dạy trung thành với quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước
Thực hiện tốt “nguyên tắc tính thực tiễn” sẽ giúp cho người giáo viên
không ngừng cập nhật thông tin mới nhất để lấy dẫn chứng cho từng tiết giảng của mình, có như vậy bài giảng mới được hấp dẫn và sinh động
2 Đối với học sinh
Cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về pháp luật, thái độ và hành động ứng
xử đúng đắn phù hợp với sự phát triển của xã hội
Trong giai đoạn ngày nay, học sinh chú trọng học kiến thức các môn khoa học
tư nhiên, chạy theo cái mới theo xu hướng hiện đại nên một bộ phận lớn học sinh không nắm kiến thức pháp luật cơ bản dẫn tới tình trạng vi phạm pháp luật trong học sinh ngày gia tăng Việc giảng dạy gắn với các bài tập tình huống giúp hình thành cho các em thái độ và hành động đấu tranh bảo vệ cái thiện, cái đúng cái chuẩn mực, kiên quyết đấu tranh chống lại các hiện tượng vi phạm pháp luật
Thông qua kiến thức đã học các em biết tuyên truyền, vận động người thân, gia đình mọi người xung quanh cùng thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Thông qua mỗi tình huống người thầy phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Dạy theo cách này học sinh rất thích vì được “phát ngôn” trình bày, tranh luận nhận định, quan điểm của mình theo sự hiểu biết của mình
Ngoài ra, người thầy cũng cần áp dụng các PPDH tích cực, kỹ thuật dạy học mới như: tổ chức cho học sinh học nhóm để các em tự nghiên cứu, hợp tác, tìm tòi
và đưa ra kết quả của riêng mình, từ đó học sinh sẽ dần làm quen và dễ xử lý tình huống gặp phải trong thực tế cuộc sống Giáo viên chỉ là người định hướng và chốt lại vấn đề cốt lỗi cho học sinh
Khi sử dụng tình huống trong giảng dạy tôi nhận thấy khả năng tiếp thu bài học của học sinh nhanh hơn, tạo ra được sự hứng thú, tập trung, sôi nổi đóng góp
ý kiến và thông qua đó rèn luyện cho các em kĩ năng sống, phát huy tính tích cực cho học sinh
II CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Bộ Giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) đang có những động thái đánh giá một cách toàn diện về những bất cập trong việc dạy học môn Giáo dục công dân (GDCD)
Nhằm mục tiêu định hướng, hình thành ý thức, tư cách đạo đức của học sinh trong thời đại mới, chương trình sách giáo khoa về môn học này đang khiến cả giáo viên
Trang 6lẫn học sinh gặp khó khăn trong việc cảm thụ và ứng dụng Giáo viên gọi môn học này là môn “3K”: khó, khô và khổ.
Đối với môn công dân 12 để giải quyết khó khăn đặc trưng môn học pháp luật kiến thức “khô”, buộc bản thân tôi áp dụng một số giải pháp cụ thể như sau:
1 Giáo viên phải hiểu rõ thế nào là sử dụng tình huống trong giảng dạy:
Tình huống là một hoàn cảnh thực tế trong đó có chứa đựng mâu thuẫn, xung đột Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện có cốt truyện, nhân vật, có chứa đụng xung đột… Tình huống trong dạy học là những tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huống thực, được cấu trúc hóa nhằm mục đích dạy học, đem lại hiệu quả giảng dạy
2 Cách thức sử dụng tình huống pháp luật:
Tình huống có thể dài hay ngắn, tùy thuộc từng nội dung vấn đề mà bài học đã
đề cập sao cho hiệu quả và gắn liền với nội dung bài học
Một số tình huống đề xuất phù hợp nội dung bài học
Bài 1: Pháp luật và đời sống:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt
ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích tạo lập trật tự, ổn định cho
Ví dụ 2: Sống với nhau được gần 10 năm, nhưng bà H luôn phải nhẫn nhục trước ông chồng vũ phu, nóng tính và hay chửi bới, đánh đập vợ con Sự việc gần đây nhất, do không đồng ý trước việc bà H dồn tiền mua cho con gái một cái xe đạp để đi học, ông P đánh bà gẫy tay Biết chuyện, mấy chị em trong Hội liên hiệp phụ nữ xã khuyên bà H nên biết dùng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đề nghị cho biết vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội đối với mỗi công dân?
Đề xuất trả lời:
Pháp luật có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Đối với mỗi công dân, pháp luật là phương tiện để công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 7Ở nước ta, các quyền con người về chính trị, kinh tế, dân sự, văn hóa và xã hội được tôn trọng, được thể hiện ở các quyền công dân, được quy định trong Hiến pháp và luật
Như vậy, thông qua các quy định trong các luật và văn bản dưới luật, pháp luật xác lập quyền của công dân đồng thời cũng quy định các nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Căn cứ vào các quy định của pháp luật, công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Mặt khác pháp luật là phương tiện để công dân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua các luật về hành chính, hình sự, tố tụng, trong đó quy định thẩm quyền, nội dung, hình thức, thủ tục giải quyết các tranh chấp, khiếu nại
và xử lí các vi phạm pháp luật xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Mọi hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp, lợi ích chính đáng của công dân đều bị xử lý nghiêm minh
Bài 2: Thực hiện pháp luật.
Ví dụ về bài tập tình huống:
Ví dụ 1
H (22 tuổi) bị tâm thần từ nhỏ Trong một lần phát bệnh, H đã đánh gãy tay em
Q ở gần nhà gây tổn hại sức khỏe 30% cho em Xin hỏi: hành vi của H có phải là
vi phạm pháp luật hình sự không?
Đề xuất trả lời:
Căn cứ vào khái niệm Tội phạm do Bộ Luật hình sự quy định thì vi phạm pháp luật hình sự phải có đầy đủ các dấu hiệu cơ bản sau đây:
Là hành vi trái pháp luật được quy định trong Bộ Luật hình sự
Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiệnNgười vi phạm phải có lỗi cố ý hoặc vô ý
Xâm phạm, gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
Trong trường hợp này, H đã thực hiện hành vi trái pháp luật, làm tổn hại đến sức khỏe của em Q Tuy nhiên, H bị tâm thần từ nhỏ và thực hiện hành vi gây thương tích khi đang phát bệnh Điều đó có nghĩa H thực hiện hành vi trái pháp luật trong tình trạng mà anh ta không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình
Pháp luật hình sự Việt Nam coi tình trạng của H là không có năng lực trách nhiệm hình sự Cụ thể, Khoản 1, Điều 13, Bộ luật hình sự quy định: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.”
Như vậy, do H là người không có năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi trái pháp luật do anh thực hiện không phải là vi phạm pháp luật hình sự
Trang 8Theo em, hành vi của người CSGT có đúng là hành vi thực hiện pháp luật không ? nếu đúng thì đó là hành vi áp dụng pháp luật hay tuân thủ pháp luật ?
Hành vi vượt đèn vàng không đúng quy định của chung là hành vi gì?
Qua tình huống nay em rút ra cho mình bài học gì ?
Đề xuất trả lời:
Trên thực tế, A đã vi phạm pháp luật vì đã vượt đèn vàng không đúng quy định của luật giao thông đường bộ Điểm c khoản 3 Điều 10 Luật giao thông đường bộ quy định: Tín hiệu vàng là báo sự thay đổi tín hiệu Khi đèn vàng bật sang, người điều khiển phương tiện phải cho xe dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi qua vạch dừng thì được đi tiếp
Bài 3 Công dân bình đẳng trước pháp luật:
Tình huống: An và Bình là đôi bạn thân cùng thi vào một khoa của trường Đại học sư phạm Hai bạn có số điểm thi bằng nhau An đã đậu nguyện vọng 1 vì
An là người dân tộc thiểu số, còn Bình thì không đậu
Theo em, điều đó có trái với nguyên tắc: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật không? Vì sao?
Công dân Việt nam có cha hoặc mẹ là người dân tộc thiểu số thuộc nhóm ưu tiên
1 Bạn Bình không phải là con em người dân tộc thiểu số nên không được hưởng chính sách ưu tiên
- Ý nghĩa: Con em đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn
ở vùng sâu, vùng xa để khắc phục sự chênh lệch, rút ngắn khoảng cách tạo điều kiện để phát triển nên Nhà nước đã có những chính sách ưu tiên Mục đích tạo khối đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau… tiến kịp trình độ chung cả nước
Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ví dụ 1:
Kết thúc giờ học Giáo dục công dân, Quỳnh và Nhàn tranh luận với nhau về nội dung của quyền tự do kinh doanh Quỳnh cho rằng: “Công dân có quyền tự do kinh doanh bất cứ nghề gì, hàng gì Đó mới là nội dung của quyền tự do kinh doanh” Nhàn không đồng tình với quan điểm trên, mà hiểu rằng kinh doanh phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép Ý kiến của bạn nào đúng, bạn nào sai? Hãy giải thích rõ hơn về quyền tự do kinh doanh?
Trang 9Theo quy định của Hiến pháp, công dân có quyền tự do kinh doanh nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật Người kinh doanh phải tuân theo quy định của pháp luật và sự quản lý của Nhà nước như phải kê khai đúng số vốn, kinh doanh đúng ngành, mặt hàng ghi trong giấy phép, không kinh doanh những lĩnh vực mà Nhà nước cấm như thuốc nổ, vũ khí, ma túy, mại dâm…
Ví dụ 2Chị Lan kết hôn cùng anh Tú Trước khi kết hôn chị Lan làm thư ký Giám đốc công ty TNHH Do công việc phải thường xuyên đi công tác ký kết các hợp đồng, chị Lan ít có thời gian chăm sóc gia đình Kết hôn được 6 tháng anh Tú yêu cầu chị
Lan phải nghỉ việc với lý do “Phụ nữ phải có trách nhiệm chăm lo cho gia đình
Kiếm tiền là công việc của đàn ông” Chị Lan không đồng ý nhưng anh Tú tuyên bố trong gia đình người chồng là chủ, mọi việc vợ phải nghe và làm theo lời chồng Nếu chị cứ đi làm hai người sẽ chia tay Anh Tú có quyền buộc chị Lan phải nghỉ việc cơ quan để ở nhà phục vụ gia đình không ? Suy nghĩ của anh Tú về quan hệ vợ chồng có đúng không? Pháp luật quy định thế nào về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng?
Đề xuất trả lời:
Theo các quy định của Hiến pháp và Luật hôn nhân gia đình, công dân nữ và
nam có quyền ngang nhau về mọi mặt cả trong gia đình và ngoài xã hội
Hiến pháp năm 1992 quy định công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình, vợ chồng bình đẳng với nhau
Điều 64 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã quy định:
“Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng ”
Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình như sau:
- Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình
- Vợ chồng tự do lựa chọn nơi cư trú, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính
- Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau
- Vợ chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào
- Vợ chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ
Suy nghĩ của anh Tú về địa vị ông chủ của người chồng trong gia đình là sai
Trong gia đình, vợ chồng phải bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ đối với nhau và ngang nhau Anh Tú không có quyền buộc chị Lan phải nghỉ việc cơ quan để ở nhà Hai người cần bàn bạc giúp đỡ nhau thu xếp công việc nhà và tạo điều kiện để chị Lan tiếp tục làm việc
Trang 10Bài 5: Bình đẳng giữa các dân tộc tôn giáo:
Tình huống1 : Giờ ra chơi giữa hai tiết học, Ngọc và Nam tranh luận với nhau
về môn Giáo dục công dân vừa học Ngọc cho rằng tất cả mọi người phải đi theo một tôn giáo nào đó, song Nam lại có ý kiến trái ngược lại khi nói một người có thể không theo một tôn giáo nào cũng được Đó mới là nội dung của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Xin hỏi ý kiến nào đúng? Tại sao?
Đề xuất trả lời:
Điều 70 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”
Tín ngưỡng là lòng tin vào một cái gì đó thần bí như thần linh, thượng đế, chúa trời Còn tôn giáo là một hình thức tín ngưỡng có hệ thống tổ chức, với những quan niệm, giáo lí thể hiện rõ sự tín ngưỡng, sùng bái thần linh và những hình thức
lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có nghĩa là công dân có quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng hay tôn giáo nào; người đã theo một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó có quyền thôi không theo nữa, hoặc bỏ để theo tín ngưỡng, tôn giáo khác mà không ai được cưỡng bức hoặc cản trở Như vậy ý kiến của Nam cho rằng một người có thể không theo một tôn giáo nào là ý kiến đúng, vì đó chính là nội dung của quyền tự do tín ngưỡng
Tình huống 2 : Việt Nam có 54 dân tộc anh em và có rất nhiều tôn giáo khác nhau Mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và mọi người có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo Hãy giải thích ý nghĩa của quyền này?
Đề xuất trả lời:
Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo luôn chung sống hòa hợp, gắn bó với dân tộc Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, ngay từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 đều khẳng định quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân
Điều 70 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”
Việc Hiến pháp, pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo nào của công dân, cho thấy thái độ, quan điểm đúng đắn của Nhà nước ta về các vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo bởi tín ngưỡng và tôn giáo là một nhu cầu quan trọng trong đời sống tinh thần của một bộ phận rất lớn người dân
Trang 11Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản.
Tình huống 1 : Các em học sinh tranh luận với nhau rằng: Trong mọi trường hợp, công an đều
có thể bắt người nếu nghi là phạm tội? Điều này đúng hay sai? Vì sao?
Đề xuất trả lời:
Đối với mỗi công dân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền quan trọng nhất, được ghi nhận tại Điều 71 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang
Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, công an đều có quyền bắt người, vì chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong những trường hợp mà pháp luật quy định mới có quyền bắt người
3 Ngoài sử dụng tình huống pháp luật Giáo viên nên sưu tầm những câu chuyện liên quan pháp luật phụ trợ cho bài giảng.
Việc dùng câu chuyện pháp luật vừa nhằm mục đích tuyên truyền, vừa giúp học sinh tiếp cận kiến thức và rút ra bài học cho bản thân Tuy nhiên giáo viên nên lựa chọn tình huống dí dỏm, có tiếng cười, kết hợp cách kể chuyện hài hước
Một điểm quan trọng nữa trong việc sử dụng câu chuyện pháp luật giáo viên cần khéo léo tóm tắt nội dung câu chuyện sao cho phù hợp nội dung bài học đảm bảo thời gian lên lớp ( mỗi câu chuyện nên sử dụng khoảng thời gian 3-5p, trong một tiết học nên sử dụng 1 mẩu chuyện tiêu biểu) Để đảm bảo nội dung câu chuyện có trình tự để quý thầy cô thuận lợi trong việc góp ý cho đề tài Tôi xin phép trình bày câu chuyện bằng dạng văn viết
Sau đây là một số câu chuyện mà tôi đề xuất sử dụng:
Câu chuyện 1:
Tại con gà mái! ( đề xuất sử dụng trong bài 6)
Ông Nguyễn Văn Nam, khởi kiện bà Nguyễn Thị Nghiệp, yêu cầu bà Nghiệp phải nhổ cột mốc đã cắm sang đất nhà ông Số là ông Nam và bà Nghiệp là hai anh
em, được cha mẹ để lại cho thửa đất và hai bên đã chia đôi, cắm cọc ranh giới đất
Ông Nam đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Bà Nghiệp hiện đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xảy ra chuyện ông Nam mang cọc sang cắm vào đất bà Nghiệp, lấn sang 20cm Bà Nghiệp nhổ cọc và yêu cầu cắm lại mốc cũ; ông không chịu, ra xã giải quyết ông Nam vẫn cương quyết tranh chấp;
đồng thời gửi đơn lên tòa án yêu cầu bà Nghiệp trả phần đất bị bà lấn 20cm
Tòa xem xét hồ sơ, đo đạc thực tế; tiến hành hòa giải; sau một hồi vòng vo, tòa
án hỏi: Dù đất ông thừa, thiếu, hay đủ thì ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện?
Ông Nam: Đúng
Tòa: Ông có thể cho biết lý do?