1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl lu quoc viet 062440s

63 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề Hiện nay, những tiến bộ khoa học ứng dụng của ngành công nghệ sinh học nhằm nâng cao năng suất cũng như cải thiện chất lượng sản phẩm, chất lượng cuộc sống

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG

KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG

***o0o***

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG CỦA

GÀ ÁC NUÔI CÓ BỔ SUNG ENZYME

CELLULASE VÀ NHA ĐAM

Giáo viên hướng dẫn

TS HUỲNH THỊ BẠCH YẾN

Sinh viên thực hiện:

LƯ QUỐC VIỆT MSSV: 062440S

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 02/2011

Trang 2

CHÂN THÀNH CẢM ƠN

Tiến sĩ: Huỳnh Thị Bạch Yến

Đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

CHÂN THÀNH CẢM ƠN

Ban giám hiệu trường Đại học Tôn Đức Thắng

Ban chủ nhiệm Khoa Khoa Học Ứng Dụng cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường

CHÂN THÀNH CẢM ƠN

Anh Võ Thành Duy

Cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trại gà giống ở phường Khánh Hậu thành phố Tân An Long An, đã giúp đỡ tận tình trong việc cung cấp giống cũng như kinh nghiệm nuôi Gà Ác cho quá trình thực hiện khóa luận

Trang 3

Trang

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

PHẦN II: TỔNG QUAN 3

2.1 Sơ lược về giống Gà Ác 3

2.1.1 Nguồn gốc gà Ác 3

2.1.2 Đặc điểm giống gà Ác 3

2.1.3 Giá trị dinh dưỡng thịt gà Ác 5

2.2 Sơ lược về chế phẩm bổ sung 6

2.2.1 Nha đam (Lô hội) 6

2.2.1.1 Giới thiệu về Nha Đam 6

2.2.1.2 Thành phần hóa học trong Nha Đam 7

2.2.1.3 Tác dụng dược lý của Nha Đam 8

2.2.2 Sơ lược về enzyme cellulase 13

2.2.2.1 Giới thiệu về enzyme cellulase 13

2.2.2.2 Phân loại 13

2.2.2.3 Một số ứng dụng của enzyme cellulase 15

2.3 Kỹ thuật nuôi gà Ác 19

2.3.1 Chuồng trại 19

Trang 4

2.3.1.2 Dụng cụ úm gà con 19

2.3.1.3 Chế độ nhiệt độ, ánh sáng và ẩm độ chuồng nuôi 19

2.3.2 Vệ sinh an toàn khu chăn nuôi 22

2.3.2.1 Vệ sinh bên ngoài khu vực nuôi 22

2.3.2.2 Vệ sinh chuồng trại bên trong 22

2.3.2.3 Sát trùng chuồng trại sau mỗi lần nuôi 23

2.3.2.4 Phòng và trị bệnh 24

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 25

3.1 Thời gian và địa điểm 25

3.2 Nội dung và phương pháp thí nghiệm 25

3.2.1 Đối tượng thí nghiệm 25

3.2.2 Nội dung thí nghiệm 25

3.2.3 Phương pháp thí nghiệm 25

3.2.4 Quy trình chăm sóc 27

3.2.4.1 Con giống 27

3.2.4.2 Chuồng trại 27

3.2.4.3 Dụng cụ cho ăn uống và phương pháp phối trộn thức ăn 28

3.2.4.4 Quy trình vệ sinh khi nuôi thử nghiệm 29

3.3 Các chỉ tiêu cần theo dõi 29

3.3.1 Sinh trưởng 29

3.3.2 Chỉ tiêu chuyển hóa thức ăn 30

Trang 5

3.4 Phương pháp lấy và xử lý số liệu 31

3.5 Hiệu quả kinh tế 32

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Khối lượng bình quân 33

4.1.1 Kết quả đợt I 36

4.1.2 Kết quả đợt II 37

4.2 Tăng trọng tuyệt đối 39

4.3 Chỉ tiêu chuyển hóa thức ăn 44

4.3.1 Chỉ số tiêu thụ thức ăn 44

4.3.2 Chỉ số chuyển biến thức ăn 47

4.4 Chỉ tiêu sức sống 48

4.4.1 Tỷ lệ nuôi sống 48

4.4.2 Tình trạng sức khỏe 48

4.5 Hiệu quả kinh tế 48

4.5.1 Phần chi 48

4.5.2 Phần thu 49

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 51

Trang 6

Bảng 2.1 Nhiệt độ úm trong 4 tuần đầu 19

Bảng 2.2 Máng uống nước bán tự động 21

Bảng 2.3 Lịch chủng ngừa gà Ác 24

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm trong 2 đợt 26

Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cơ bản 26

Bảng 4.1 Khối lượng bình quân của gà ở đợt I 34

Bảng 4.2 Khối lượng bình quân của gà ở đợt II 35

Bảng 4.3 Tăng trọng tuyệt đối của gà ở đợt I 40

Bảng 4.4 Tăng trọng tuyệt đối của gà ở đợt II 41

Bảng 4.5 Tiêu thụ thức ăn-Hệ số chuyển biến thức ăn của gà trong đợt I 44

Bảng 4.5 Tiêu thụ thức ăn-Hệ số chuyển biến thức ăn của gà trong đợt II 45

Bảng 4.7: Chi phí thức ăn cho từng lô trong cả 2 đợt thí nghiệm 49

Bảng 4.8: Tổng thu, chi và lời lỗ của từng lô nuôi 50

Trang 7

Hình 2.1 Gà Ác trống 4

Hình 2.2 Gà Ác mái 4

Hình 2.3 Gà Ác 1 ngày tuổi 5

Hình 2.4 Cây Nha Đam 12

Hình 2.5 Nha Đam cắt ngang 13

Hình 2.6 Sơ đồ phản ứng thủy phân liên kết β-1,4-O-glucoside của cellulase 15

Hình 3.1 Chuồng nuôi gà Ác 27

Hình 3.2 Dụng cụ cho uống trong thử nghiệm 28

Hình 3.3 Dụng cụ cho ăn trong thử nghiệm 28

Hình 3.4 Cân cả lô thử nghiệm 31

Hình 3.5 Cân riêng gà trống mái từ tuần thứ 3 32

Trang 8

Biểu đồ 4.1 Khối lượng bình quân của gà tuần thứ 5 trong cả 2 đợt 38

Đồ thị 4.2 Đồ thị biểu diễn sự tăng trưởng của gà nuôi trong 2 đợt 39

Biểu đồ 4.3 Tăng trọng tuyệt đối của 2 đợt 42

Biểu đồ 4.4 So sánh tăng trọng tuyệt đối của gà trống và gà mái ở 2 đợt 49

trong tuần 3-4 Biểu đồ 4.5 So sánh tăng trọng tuyệt đối của gà trống và gà mái ở 2 đợt 43

trong tuần 4-5 Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ tiêu thụ thức ăn trong cả 2 đợt 46

Biểu đồ 4.7 Hệ đồ chuyển biến thức ăn qua 2 đợt thí nghiệm 47

Trang 9

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay, những tiến bộ khoa học ứng dụng của ngành công nghệ sinh học nhằm nâng cao năng suất cũng như cải thiện chất lượng sản phẩm, chất lượng cuộc sống đang được áp dụng rộng rãi trong những công nghiệp, nông nghiệp, y học,… Một trong những ngành có áp dụng nhiều ứng dụng của công nghệ sinh học nhất

là nông nghiệp, đặc biệt là trong chăn nuôi So với các phương pháp chăn nuôi truyền thống, có thời gian nuôi kéo dài, gây hao tốn rất nhiều về thức ăn ảnh hưởng đến lợi nhuận, do đó nhiều người chăn nuôi đã tiến hành bổ sung thêm một số chất kích thích tăng trưởng, chất tăng trọng, kháng sinh… để đạt lợi nhuận kinh tế cao

Đa số những chất này là những chất tổng hợp hóa học, nếu vật nuôi sử dụng sẽ tích lại dần trong cơ thể hoặc bài thải ra ngoài Như vậy, sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, gây nguy hại cho người sử dụng, không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm hoặc gây ô nhiễm môi trường

Luật quốc tế về vệ sinh thực phẩm tươi sống ra đời năm 1967 Nhưng cho đến nay, vấn đề về “thực phẩm sạch và an toàn” vẫn là điều mà xã hội quan tâm Thịt không an toàn không những gây nguy hại cho người tiêu dùng mà còn có thể tạo ảnh hưởng không tốt, gây sự lo ngai cho những sãn phẩm từ thịt vốn được coi là nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe Chẳng hạn như thịt gà Ác là một loại thực phẩm đặc biệt có tác dụng bồi bổ sức khỏe nhanh chóng nên được dùng như một phương thuốc để cải thiện thể lực được sử dụng từ lâu, trước khi có các loại thuốc hiện đại

Từ những vấn đề trên, chúng tôi thử nghiệm nuôi gà Ác thay thế những hợp chất hóa học không có lợi cho cơ thể vật nuôi và môi trường bằng những hợp chất

tự nhiên có nguồn gốc thực vật và vi sinh vật nhằm giúp cho vật nuôi cải thiện sức khỏe, tăng trọng nhanh, giảm thời gian nuôi…, đem lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi cũng như chất lượng tốt cho sản phẩm

Trang 10

Được sự đồng ý của Khoa Khoa Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Tôn Đức Thắng, với sự hướng dẫn của TS Huỳnh Thị Bạch Yến, chúng tôi tiến hành thực

hiện đề tài: “Khảo sát khả năng tăng trưởng của gà Ác nuôi có bổ sung enzyme cellulase và Nha Đam”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Sử dụng chế phẩm tự nhiên có nguồn gốc thực vật và vi sinh vật bổ sung vào nguồn thức ăn chăn nuôi gà Ác để tăng khả năng hấp thụ thức ăn, giúp tăng trọng nhanh

Trang 11

PHẦN II TỔNG QUAN 2.1 Sơ lược về giống gà Ác

2.1.1 Nguồn gốc giống gà Ác

Gà Ác là một trong những giống gà nội địa ở Việt Nam Gà Ác gắn bó với người dân Việt Nam từ rất lâu đời Cho đến nay, không ai biết chính xác gà Ác xuất hiện từ đâu và từ bao giờ Tác giả Từ Thái Trung (1997) điều tra cho thấy cụ

Lê Chu Kỳ ở xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh thì gà Ác được nuôi ở huyện khoảng những năm 1920-1930 Theo cụ Đáp ở xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long thì gà Ác cũng được nuôi vào khoảng những năm 1920-1930

2.1.2 Đặc điểm giống gà Ác

Gà Ác thuộc nhóm gà có tên khoa học là Gallus Bankiwa Gà Ác còn có các tên

gọi khác như gà 5 móng, hắc kê, ô cốt kê, white chicken

Gà Ác có ngoại hình nhỏ, lông trắng tuyết, da, thịt và chân có màu đen Mỗi chân gà có 5 ngón chân, ức và ngực phát triển Đùi ngắn phù hợp với tầm vóc nhỏ, trọng lượng trung bình là từ 1-1.5 kg ở một năm tuổi Con trống có mào đỏ hình răng cưa và phát triển lông đuôi dài Con mái có mào đen, lông đuôi ngắn, phát triển kém hơn gà trống Tuổi thọ trung bình của gà vào khoảng 24-25 năm Gà đẻ trung bình một năm khoảng 60-70 trứng Gà con có trọng lượng sơ sinh thấp, khoảng 18-23g/con, tỉ lệ nuôi sống cao 94-96%

Gà Ác có thể thích ứng với nhiều phương thức nuôi khác nhau:

- Nuôi theo phương pháp quãng canh: gà Ác có khả năng tự kiếm mồi rất tốt, chỉ cần bổ sung một lượng thức ăn rất nhỏ

- Nuôi theo phương pháp thâm canh: gà Ác cũng phát triển tốt

Gà Ác chịu nóng tốt nhưng không chịu rét nhất là gà con

Trang 12

Hình 2.1 Gà Ác trống

Hình 2.2 Gà Ác mái

● Đặc điểm sinh lý gà con

Gà con mới nở thân nhiệt chưa ổn định, thấp hơn gà trường thành khoản 2-30C Điều kiện bên ngoài khắc nghiệt như nắng gió, nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn có mầm bệnh là những bất lợi đối với gà con vì các chức năng của những cơ quan bên trong của gà con chưa phát triển hoàn chỉnh

Trang 13

Trong giai đoạn đầu gà con có tốc độ sinh trưởng rất cao, lớp lông tơ sẽ được thay thế bằng lớp lông phủ nên nhu cầu dinh dưỡng của gà con cao và giảm dần ở lứa tuổi sau Vì vậy, muốn gà con có mức sinh trưởng nhanh, sức sống cao, cần phải tạo mọi điều kiện để gà con thích nghi nhanh chóng với môi trường bên ngoài

Hình 2.3 Gà Ác 1 ngày tuổi 2.1.3 Giá trị dinh dưỡng của thịt gà Ác

Từ lâu, người ta đã sử dụng thịt gà Ác để làm những bài thuốc nổi tiếng, thịt,

da, xương đều màu đen, máu đỏ hơn gà thường, chứa nhiều lysine Thịt gà Ác được

ưa chuộng vì bổ dưỡng, thường dùng cho người suy nhược, dưỡng bệnh, sản phụ mới sinh, thịt gà Ác hầm thuốc bắc (hoài sơn, sinh địa, sâm, táo tàu ) giúp bồi dưỡng cơ thể bị suy ngược Nếu kết hợp với tam thất, mật ong thì nó trở thành một món ăn bổ dưỡng không kém nhân sâm

Đặc biệt, thịt gà Ác không gây dị ứng như các loại gà khác, lại có khả năng giúp mau lành xương

Sử dụng gà Ác lúc nhỏ thì thịt mềm, dễ tiêu hóa, dễ nhiệt phân Khi vào cơ thể đạm thịt gà Ác bị thủy phân thành nhiều amino acid, trong đó lysine chiếm tỷ lệ cao Lysine là một amino acid quan trọng nó giúp cho cơ thể xúc tiến sinh trưởng và

Trang 14

phát triển, tạo kháng thể (γ-globutine) chống lại mầm bệnh bảo vệ cơ thể, tạo máu, duy trì trạng thái thần kinh bình thường, tham gia quá trình tạo xương Ngoài lysine còn có các amino acid quan trọng cần thiết cho sự sống, tạo chất kích thích, điều hòa sinh trưởng cho cơ thể (Nguyễn Huy Hoàng, 1997)

Viện chăn nuôi quốc gia Việt Nam đã tiến hành phân tích chất lượng thịt gà Ác Kết quả cho thấy hàm lượng chất sắt (giúp bổ máu) trong thịt gà Ác rất cao, chiếm 7,9%, trong khi gà Ri chỉ có 3,9% So với gà Ri, hàm lượng của một số acid amin cũng cao hơn Tỷ lệ phần trăm acid aspartic là 2,065 (gà Ri là 1,857); glutamine 3,175 (2,784); serine 0,860 (0,871); histidin 0,628 (0,819); glycine 0,901 (0,819); threonine 1,116 (1,006); lysine 2,072 (1,903)

Theo dinh dưỡng học cổ truyền, gà Ác có công dụng bổ can thận, ích khí huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh suy nhược, tiểu đường, đi tả lâu ngày do

tỳ hư, chán ăn, khí hư, di tinh, hoạt tinh, thận suy, đau lưng, ra mồ hôi trộm, kinh nguyệt không đều

Theo dinh dưỡng học hiện đại, thịt gà Ác ít mỡ, rất giàu đạm (có khoảng 18 loại acid amin), nhiều vitamin như A, B1, B2, B6, B12, E, PP và các nguyên tố vi lượng như K, Na, Ca, Fe, Mg, Mn, Cu Kết quả nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng Trung Quốc cho thấy, thịt gà Ác phòng chống mệt mỏi, tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu dưỡng khí, cải thiện công năng miễn dịch

2.2 Sơ lược về chế phẩm bổ sung

2.2.1 Nha đam (Lô hội)

2.2.1.1 Giới thiệu về Nha đam

Tên khoa học: Aloe Vera Linne (Aloe Barbadensis Mill, Aloe Vulgaris Lamk) Họ: Aloaceae (Lô hội)

Cây Lô hội là loại cây bụi nhỏ xương rồng, còn được gọi bằng một số tên khác như: Tượng đảm, Long tu, Du thông, Lưỡi hổ, Hổ thiết thuộc chi Aloe, họ Huệ

Trang 15

tây (Liliaceae) Trong khoảng 180 loài thuộc chi Aloe thì chỉ có 4 loài được sử dụng

để làm thuốc bổ dưỡng và chữa bệnh, một số loài có độc tố Hai loài được chú ý

nhiều nhất là Aloe Ferox Mill và Aloe vera Linne

Theo Võ Văn Chi (1991), Đỗ Thanh Hội (1997), thì cây Lô hội là loại cây dạng thân cỏ, mập, màu xanh lục nhạt, thân ngắn Cây Lô hội trưởng thành có lá mập, dài

30 – 50 cm, rộng 5 – 10 cm, dày 1- 2cm

Lá Lô hội gồm 2 phần: phần vỏ ngoài là lớp màu xanh, khi cắt ngang chảy ra nhựa màu vàng có mùi hắc, để khô chuyển thành màu đen, phần trong là phần thịt mọng nước dạng gel Cụm hoa của cây cao khoảng 1m, mọc thành chùm, hoa to đều có màu vàng lục nhạt Quả nang hình trứng màu xanh, chứa nhiều hạt Nếu rạch một đường giữa lá Lô hội tươi rồi dùng thìa nạo ở giữa lá Lô hội quan sát sẽ có một chất gel trong suốt

Theo sách Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ thì chi Aloe ở nước ta chỉ có

1 loài là Aloe vera Linne Sinensis Berger tức là cây Lô hội lá nhỏ

2.2.1.2 Thành phần hóa học trong nha đam

Phân tích các thành phần lấy từ lá Nha Đam (Lô hội), các nhà nghiên cứu tìm thấy các chất sau:

- Hợp chất anthraquinon: Đây là thành phần có tác dụng chữa bệnh của cây Lô hội bao gồm:

- Aloe emodine, không có trong dịch tươi Lô hội mà có trong nhựa khô, chiếm 0,05

- 0,5% Chất này tan trong ether, chloroform, benzen,

- Barbaloin: chiếm 15 - 30% thành phần nhựa của Lô hội, chất này sẽ tan dần khi

để ngoài không khí và ánh sáng, tan được trong nước, cồn, aceton, tan ít trong benzen và chloroform

- Aloinosid A, Aloinosid B, Anthranol

* Glycosid, Aloezin, Aloenin

Trang 16

* Chất nhựa: Esther của acide Cinnamic

* Chất hữu cơ: monosacharide, polysacharide, cellulose, mannose, L- Rhamnose

* Các vitamine: B1, B2, B6, acide folic

* Các enzyme: oxydase, lipase, amilase, catalase, allnilase

* Các nguyên tố khoáng vi lượng: zinc, potassium, magnesium, manganese, calcium Theo Al.Awadi F (1991) và Ajabnoor MA (1990)

2.2.1.3 Tác dụng dược lý của Nha Đam

Các nhà nghiên cứu thảo dược và y học dân gian xem Lô hội là một loại “Cây thuốc” có dạng giống cây xương rồng và lá hình dao găm chứa chất gel trong suốt, được mang từ Châu Phi sang Bắc Mỹ vào thế kỷ 16

Nhưng trước khoảng thời gian này khá lâu, Aloe – một cái tên có nghĩa là

“Chất đắng trong suốt” đã được biết rộng rãi như là một loại cây chủ lực có tác dụng chữa vết thương Người Ai Cập cổ đã ví cây Lô hội là một “loại cây bất tử”

và được chôn nó cùng với các vị vua Ai Cập Trong những thập niên gần đây, các nghiên cứu y khoa đã xác định và đưa ra nhiều tuyên bố quan trọng của loại “chất đắng trong suốt” này được dùng với dạng dung dịch hoặc cũng có thể dùng dưới dạng viên nang mềm chính là thành phần cốt lõi của cây Lô hội

Năm 1996, tổ chức lương thực thế giới FAO đã tổ chức điều tra các loại thực vật hoang dại dựa vào các tiêu chuẩn tổng hợp để tiến hành bình chọn các loài cây

có lợi cho cơ thể con người, đã xếp cây Lô hội là “ Cây thực phẩm bổ dưỡng tốt nhất cho con người ở thế kỷ 21” và thành lập Uỷ ban khoa học về Lô hội quốc tế IASC để tư vấn những vấn đề liên quan đến sản phẩm Lô hội phục vụ con người Hiện nay trên thế giới đã có 1500 mặt hàng mỹ phẩm, thực phẩm bổ dưỡng từ

Lô hội Các nước có nền công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia có ngành sản xuất và chế biến Lô hội phát triển mạnh

Sau đây là những công bố về tác dụng của cây Lô hội trong y học:

Trang 17

a) Làm lành vết thương

Dịch chiết lá Lô hội thoa vào vết thương sẽ làm tê nhẹ giúp giảm ngứa, giảm sưng đau, đồng thời có tác dụng kháng khuẩn và chống nấm, làm tăng việc lưu thông máu ở vùng bị thương, kích thích các nguyên bào sợi và tế bào da có nhiệm

vụ làm lành vết thương Một nghiên cứu trên động vật tại hiệp hội y khoa đã phát hiện ra rằng, cả hai phương cách uống và thoa ngoài da đều có tác dụng đẩy nhanh quá trình làm lành vết thương Các con vật được thử nghiệm này đã được pha dung dịch Lô hội (100mg/kg trọng lượng cơ thể) vào nước uống của chúng trong vòng hai tháng hoặc được thoa trực tiếp 25% chất kem Lô hội lên vết thương trong vòng

6 ngày [17] Lô hội có tác dụng tích cực trong cả hai trường hợp, diện tích vết thương đã giảm 62% ở những con đã uống Lô hội với tỷ lệ giảm 51% trong nhóm thử nghiệm Trường hợp thoa ngoài da đã giảm 51% diện tích vết thương so với tỉ

lệ 33% trong nhóm thử nghiệm [8],[19]

b) Hỗ trợ quá trình hồi phục sau phẫu thuật

Lô hội có tác dụng rút ngắn thời gian phục hồi sau phẫu thuật Người ta thử nghiệm trên các bệnh nhân lứa tuổi 18 bị bệnh mụn trứng cá phải chịu phẫu thuật da mặt Người ta đắp những miếng băng lên mặt họ, một bên là miếng băng phẫu thuật, một bên là miếng băng có thấm dung dịch Lô hội Kết quả là bên có tẩm dung dịch Lô hội lành nhanh hơn bên kia gần 75 tiếng đồng hồ [18]

Ở một nghiên cứu ở Thái Lan, 27 bệnh nhân bị bỏng ở mức độ khác nhau được chia thành hai nhóm Một nhóm được đắp một miếng gạc thấm dung dịch Lô hội, một nhóm đ-ợc đắp một miếng gạc có thêm dung dịch vaseline (petroleum jelly) Kết quả là các vết bỏng của nhóm dùng Lô hội lành nhanh hơn, với thời gian lành trung bình là 12 ngày so với nhóm sử dụng vaseline là 18 ngày [8]

Trang 18

thương trên cơ thể là superoride dismutase (một loại enzyme chống oxy hoá) và glutathione (một loại acid amin kích thích hệ thống miễn dịch) [8]

d) Làm lành các vết thương tổn do bệnh vẩy nến

Một số nghiên cứu đã thí nghiệm trên 60 bệnh nhân dùng loại kem có chứa 0,5

% chiết suất Lô hội Người ta bôi loại thuốc mỡ này 3 lần một ngày trong 5 ngày liên tiếp (tổng cộng 15 lần bôi trong một tuần) và bôi trong 4 tuần Kết quả kiểm tra sau 8 tuần thử nghiệm là các bệnh nhân trong nhóm có dùng chiết xuất Lô hội đã lành các tổn thương trên da nhiều hơn (82,8%) so với nhóm dùng thuốc an thần (7,7%)

e) Có tác dụng đối với các vấn đề về ruột

Một số nghiên cứu được công bố về nước uống Lô hội có tác dụng trong việc chữa trị các bệnh viêm nhiễm đường ruột 10 bệnh nhân được uống nước Lô hội một ngày 3 lần, mỗi lần là 2 ounce và uống liên tục trong 7 ngày Sau một tuần, tất

cả các bệnh nhân đã tránh khỏi được bệnh tiêu chảy, 4 người đã cải thiện vấn đề về ruột, và 3 người cho biết là cảm thấy khoẻ hơn

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng Lô hội có khả năng cân bằng hệ thống đường ruột bằng cách “điều chỉnh độ pH trong đường ruột, đồng thời cải thiện tính co bóp của ruột - dạ dày, tăng tính nhuận tràng và làm giảm lượng vi sinh vật trong phân,

kể cả men.” Các nghiên cứu đã chứng minh rằng nước dinh dưỡng Lô hội có tác dụng giúp giải độc tố trong đường ruột, trung hoà tính acid trong dạ dày, đồng thời làm giảm chứng táo bón và loét dạ dày

Gần đây một báo cáo của Smith L (1997) [17], đối với các bệnh tiểu đường, Lô hội còn có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu ở bệnh tiểu đường Người ta thử nghiệm trên 5 bệnh nhân bị tiểu đường bằng cách cho uống 1/2 muỗng canh chiết xuất từ Lô hội mỗi ngày, trong vòng 14 tuần trở lên Kết quả là lượng đường trong máu đã giảm ở tất cả các bệnh nhân, trung bình giảm khoảng 45% mà không

có sự thay đổi về trọng lượng [8]

Trang 19

f) Giảm chứng sưng khớp

Lô hội còn có tác dụng giúp phòng chống được chứng viêm khớp và làm giảm

sự viêm nhiễm tại các khớp do chứng viêm khớp gây ra Lô hội còn có thể ức chế khả năng phản ứng tự miễn dịch gắn liền với một số dạng viêm khớp[8]

Các nhà nghiên cứu còn cho biết nhiều hợp chất từ Lô hội có khả năng chống viêm Một loại acid hữu cơ trong Lô hội có tác dụng làm giảm chứng viêm đến 79,7% và ức chế phản ứng tự miễn dịch đến 42,4% hợp chất anthraquinone trong lá

Lô hội cũng có khả năng làm giảm chứng viêm nhưng không có tác dụng đối với phản ứng tự miễn dịch [16], [17]

g) Kích thích phản ứng miễn dịch chống ung thư

Một nghiên cứu gần đây, Lô hội có khả năng giúp kéo dài thời gian sống và kích thích hệ thống miễn dịch ở các bệnh nhân bị ung thư Ngoài tác dụng ức chế sự phát triển các khối u, theo một số thử nghiệm trên chuột cho thấy Lô hội còn giúp kéo dài tuổi thọ trung bình đến 22% ở những con chuột dùng trong thử nghiệm uống theo liều mỗi ngày 50mg Lô hội/kg trọng lượng cơ thể và 32% ở những con uống theo liều 100mg/kg trọng lượng Một thử nghiệm trên các tế bào ung thư người (bên ngoài cơ thể) cho rằng dùng Lô hội liều cao có khả năng hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư này [19] Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một hợp chất (lectin) từ Lô hội khi được tiêm thẳng vào các khối u đã kích hoạt được hệ thống miễn dịch chống ung thư Các tế bào lympho T đã bắt đầu tấn công các tế bào trong khối u được tiêm lectin

Lô hội khởi động hệ thống miễn dịch bằng cách kích hoạt các đại thực bào, nguyên nhân việc phóng thích các chất kích hoạt miễn dịch và chống ung thư như interferon, interleukine Hơn nữa, các nhà nghiên cứu tuyên bố Lô hội còn có khả năng đẩy mạnh sự phát triển các tế bào bình thường

Tác dụng phòng ngừa bệnh của Lô hội đã được xác định trên 673 bệnh nhân bị ung thư phổi ở Okinawa Nhật Bản Cuộc thử nghiệm này đã quan sát mối quan hệ giữa các số lượng tương đối của 17 loại dinh dưỡng từ thực vật trong chế độ ăn,

Trang 20

đồng thời quan sát quá trình diễn ra của căn bệnh ung thư phổi trong giai đoạn hơn

5 năm [21], [22]

Trong số đó, duy chỉ có Lô hội là loại dinh dưỡng từ thực vật có tác dụng bảo vệ khỏi bệnh ung thư Theo các kết quả dịch tễ học cây trồng cho biết thì Lô hội có tác dụng ngăn chặn các chất gây ung thư phổi Hơn nữa, Lô hội còn là chất phòng ngừa rộng rãi, hay còn gọi là một loại dưỡng chất phòng chống được nhiều loại bệnh ung thư cho con người”

Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy chỉ những Aloe có thành phần nguyên vẹn về hoạt tính sinh học mới có hiệu quả làm lành vết thương, chống viêm, điều hòa miễn dịch, nhuận trường, vì vậy nếu dùng nhiều qua đường tiêu hóa, có thể dẫn đến tiêu chảy

Khi ứng dụng trong mỹ phẩm, Aloe có tác dụng làm ẩm da, dưỡng da, hồi phục những tế bào da bị tổn thương

Hình 2.4 Cây Nha Đam (Lô hội)

Trang 21

Hình 2.5 Nha Đam cắt ngang 2.2.2 Sơ lược về enzyme cellulase

2.2.2.1 Giới thiệu về enzyme cellulase

Cellulase là nhóm enzyme thủy phân, có khả năng cắt liên kết glucoside trong phân tử cellulose và một số cơ chất tương tự khác Đó là một phức hệ gồm nhiều loại enzyme khác nhau và được xếp thành 3 nhóm cơ bản: endo-β-1,4-glucanase hay carboxymethyl cellulase (CMCase) (EC 3.2.1.4), exo-β-1,4-glucanase hay cellobiohydrolase (EC 3.2.1.91) và β-glucosidase hay β-D-glucoside glucohydrolase (EC 3.2.1.21) Mỗi loại enzyme tham gia thủy phân

β-1,4-O-cơ chất theo một β-1,4-O-cơ chế nhất định và nhờ có sự phối hợp hoạt động của các enzyme

đó mà phân tử cơ chất được thủy phân hoàn toàn tạo thành các sản phẩm đơn giản nhất Endo-β-1,4-glucanase là loại enzyme tham gia xúc tác phản ứng thủy phân các liên kết β-1,4 glucoside ở bên trong các phân tử cellulose và một số cơ chất tương tự khác thành các sản phẩm đơn giản hơn (các oligosaccharide)

2.2.2.2 Phân loại

Theo Ủy ban danh pháp của Hiệp hội Hóa sinh và Sinh học phân tử Quốc

tế, cellulase thuộc lớp 3 (hydrolase): các enzyme xúc tác phản ứng thủy phân, tổ hợp 2 (glycosidase): thủy phân các liên kết glycoside, nhóm 1: thủy phân liên kết O- và S-glycoside (International Union of Biochemistry and

Trang 22

Molecular Biology, 1992) Cellulase là một phức hệ gồm nhiều loại enzyme khác nhau Tùy theo quan điểm của từng tác giả mà các enzyme thuộc phức hệ cellulase được xếp thành các nhóm khác nhau Trước đây, cellulose được chia làm hai nhóm: nhóm enzyme C1 và nhóm enzyme Cx Các enzyme C1 có khả năng thủy phân sợi cellulose tự nhiên, có tính đặc hiệu không rõ ràng Các enzyme Cx được chia thành hai loại: exo β -1,4-glucanase (3.2.1.21) xúc tác cho phản ứng cắt đứt gốc glucose từ đầu không khử của chuỗi cellulose; endo β-1,4-glucanase (3.2.1.4) hoạt động tùy tiện hơn, xúc tác cho phản ứng thủy phân liên kết bên trong phân tử cellulose

Hiện nay, cellulose được chia làm ba dạng: dạng 1 là endoglucanase hoặc1,4-β-D-glucan-4-glucanohydrolase hay carboxylmethylcellulase (CMCase) (EC 3.2.1.4), dạng 2 là exoglucanase bao gồm 1,4- β -D-glucan glucanohydrolase (còn gọi là cellodextrinase) (EC 3.2.1.74) và 1,4- β -D-glucan cellobiohydrolase (cellobiohydrolase) (EC 3.2.1.91), dạng 3 là β -glucosidase hoặc β -glucoside glucohydrolase (EC 3.2.1.21) Endoglucanase xúc tác cho phản ứng thủy phân các liên kết ở bên trong phân tử cellulose Exoglucanase thủy phân các liên kết ở đầu khử và đầu không khử của phân tử cellulose β-glucosidase thủy phân các phân tử cellodextrin và cellobiose thành glucose

Các cellulase có nguồn gốc khác nhau được sắp xếp thành các họ Trước đây, dựa vào cấu trúc bậc một của phân tử protein enzyme, cellulase được chia làm 6 họ: A, B, C, D, E và F Sau đó, cellulase được chia thành 9 họ: A, B, C, D, E, F, G,

H và I dựa vào cấu trúc của tâm xúc tác Hiện nay, các cellulase được sắp xếp trong

12 họ: 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12, 44, 45, 48, 61 và 74

Trang 23

Hình 2.6 Phản ứng thủy phân liên kết β-1,4-O-glucoside của cellulase 2.2.2.3 Một số ứng dụng của enzyme cellulase

Các cellulase nói chung và endo-β-1,4-glucanase nói riêng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp như: công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất dung môi hữu cơ, đặc biệt trong công nghệ xử lý rác thải, sản xuất phân bón vi sinh

a Trong công nghiệp thực phẩm

Sử dụng các chế phẩm enzyme có thể coi là một trong những phương hướng tiến bộ có triển vọng nhất của sản xuất nước quả và nước uống không cồn Dịch quả sau khi ép chiết thường chứa các thành phần tế bào thịt quả và các chất sơ có bản chất polysaccharide làm cho dịch có độ nhớt cao và màu đục Glucanase thường được sử dụng để phá vỡ thành tế bào, thủy phân các polysaccharide làm giảm độ nhớt của dịch quả tạo thuận lợi cho quá trình tách chiết và làm trong Glucanase kết hợp với các hemicellulase, pectinase trong chế phẩm enzyme Viscozyme 120L được ứng dụng chủ yếu để xử lý phá vỡ màng tế bào đậu tương [15] Trong quá trình sản xuất nước cà rốt thường sử dụng endoglucanase xử lý ở giai đoạn dịch hóa

đã tạo ra nhiều pectin hơn

Trong công nghệ sản xuất bia, dịch lên men ngoài các thành phần đường, protein còn có một lượng không nhỏ các phân tử khối lượng cao như cellulose và β-glucan, làm ảnh hưởng xấu đến quá trình lọc và chất lượng sản phẩm Người ta

Trang 24

thường sử dụng β-glucanase để loại bỏ những thành phần này Các chế phẩm như

Finizym 200L gồm các cellulase từ A niger, β-glucanase từ Bacillus subtillis,

Disporotrichum dimorphosporum đã được sử dụng trong sản xuất bia Ngoài ra,

endoglucanase còn được sử dụng trong công nghệ sản xuất bánh mì, bánh biscuit và thực phẩm chức năng Glucanase từ Humicola insolens được ứng dụng trong sản

xuất bánh mì, làm tăng độ mềm và xốp cho bánh mỳ Glucanase từ Trichoderma

reesei, A niger được ứng dụng trong sản xuất fructooligosaccharide Đây là một

trong số các oligosaccharide chức năng (prebiotic) được sản xuất để bổ sung vào khẩu phần ăn Prebiotic có nhiều lợi ích về mặt dược phẩm cũng như có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe Khi được bổ sung vào cơ thể người và động vật, prebiotic có nhiều tác động sinh lý quan trọng như: ngăn cản quá trình xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh, bảo vệ các chức năng của gan, làm giảm lượng cholesterol trong huyết thanh, tăng khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng lại bệnh ung thư, cản trở sự phát triển của các vi sinh vật trong khoang miệng Các phế phụ phẩm nông nghiệp như lõi ngô, bã mía, bã sắn, vỏ trấu là cơ chất lý tưởng cho việc sản xuất các oligosaccharide Các enzyme tốt nhất sử dụng cho quá trình này chủ yếu có nguồn gốc từ nấm mốc Hiện nay, nhu cầu sử dụng các oligosaccharide ở các nước trên thế giới là rất lớn Tại Nhật Bản, nhu cầu hàng năm về các oligosaccharide vào khoảng 1000-2000 tấn/năm [25]

b Trong công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi

Chăn nuôi là một nhánh quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam Thu nhập từ chăn nuôi hàng năm đạt 20% tổng giá trị kinh tế của ngành nông nghiệp Chăn nuôi không những cung cấp các loại thực phẩm như trứng, thịt, sữa cho thị trường mà còn cung cấp nguồn phân bón rất hữu ích cho ngành trồng trọt Đây cũng

là nguồn thu nhập đáng kể góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân Việt Nam Tuy nhiên, ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng đang gặp phải nhiều khó khăn Một trong những vấn đề cần được giải quyết hiện nay là làm thế nào để nâng cao năng suất vật nuôi, tăng hiệu quả chăn nuôi mà vẫn đảm bảo an toàn cho môi trường xung quanh, đặc biệt là sức khỏe con người Trước tình hình đó, nhiều nhóm giải pháp đã được đưa ra và một trong những giải pháp được nhiều nhà khoa học quan tâm là sử dụng các loại thức ăn chăn nuôi

Trang 25

có nguồn gốc sinh học hoặc bán sinh học như sản xuất và bổ sung các chế phẩm enzyme vào trong thức ăn chăn nuôi Bổ sung chế phẩm enzyme vào thức ăn chăn nuôi một mặt làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và hấp thụ chất dinh dưỡng, từ đó làm tăng tốc độ sinh trưởng phát triển, nâng cao chất lượng vật nuôi Mặt khác, nhờ tác dụng của enzyme mà thức ăn được tiêu hóa triệt để, khai thác tối đa nguồn năng lượng vốn có, tiết kiệm chi phí chăn nuôi, đồng thời làm giảm lượng phân thải ra ngoài, góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Thức ăn gia súc, gia cầm được chế biến từ các loại ngũ cốc có chứa nhiều cellulose và glucan Những thành phần này thường không được tiêu hóa triệt để, làm tăng độ nhớt của dịch dạ dày Do đó chúng đã hạn chế sự hấp thu các chất dinh dưỡng, làm giảm khả năng tiêu hóa của động vật Bổ sung enzyme celulase vào thức ăn đối với gia súc là 2.5-4%,và gia cầm là từ 0.25-1.5%, sẽ làm tăng khả năng phân giải các hợp chất trên, giải phóng glucose và các oligosaccharide, làm giảm độ nhớt, tăng khả năng hấp thu và chuyển hóa thức ăn [15] Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi bổ sung glucanase độc lập hoặc kết hợp với các enzyme khác vào thức ăn chăn nuôi làm tăng đáng kể tốc độ tăng trưởng và giảm thiểu bệnh tật cho vật nuôi Tiềm năng ứng dụng to lớn của glucanase trong chăn nuôi đã thu hút sự quan tâm của nhiều công ty chế biến thức ăn gia súc, gia cầm Một số chế phẩm là tổ hợp các enzyme như: Rovazyme G2 (DSM Nutritional Products Ltd, Thụy Sỹ) là tổ hợp của

3 loại enzyme (cellulase, β-glucanase và xylanase); Roxazyme G (DSM Nutritional Products Ltd, Thụy Sỹ) là tổ hợp của 7 loại enzyme (cellulase, glucanase, protease, amylase, pectinase, xylanase, hemicellulase); Natugrain (tập đoàn BASF, Đức) là hỗn hợp của endoxylanase và endoglucanase; Rhodizyme-CF (Rampart-Power Bangladesh Ltd) là tổ hợp của 5 loại enzyme (cellulase, amylase, protease, lipase, pectinase) Chế phẩm SSF của Mỹ hiện đang bán tại thị trường Việt Nam là tổ hợp của 6 loại enzyme: β-glucanase (200 BGU/g), phytase (1000 PU/g), α-amylase (30 FAU/g), pectinase (4000 AJDU/g), protease (700 HUT/g) và xylanase (100 XU/g)

c Trong công nghiệp sản xuất dung môi hữu cơ

Sử dụng glucanase xử lý nguyên liệu giàu cellulose, glucan trước khi lên men

đã làm tăng hiệu suất thu hồi dung môi lên trung bình là 1,5% Nhiều chế phẩm enzyme đã được sử dụng trong ngành công nghiệp này như neutrase 0,5L có chứa

Trang 26

β-glucanase sử dụng trong công nghiệp sản xuất ethanol Đồng thời, nhiều chủng vi sinh vật kỵ khí trong chi Clostridium sinh tổng hợp glucanase được sử dụng trong công nghệ lên men sản xuất dung môi hữu cơ, acetic acid [23], sản xuất acetone, butanol và isopropanol [24]

d Trong công nghệ xử lý rác thải sản xuất phân bón vi sinh

Việc sử dụng enzyme quan trọng nhất trong công tác bảo vệ môi trường là sử dụng enzyme trong xử lý chất thải, chuyển các chất thải thành sản phẩm có ích, hoặc trong công nghệ tái sử dụng phế thải, chuyển các phế thải thành sản phẩm có ích Trong nhiều năm qua cả ở thế giới và Việt Nam, các chủng vi sinh vật sinh tổng hợp enzyme phân hủy cellulose đã được ứng dụng rất có hiệu quả để xử lý rác thải sinh hoạt Năm 1999, Nguyễn Lan Hương và cộng sự đã phân lập và tuyển chọn được các chủng vi khuẩn và xạ khuẩn có hoạt tính cellulase, sau đó bổ sung vào bể

ủ rác thải đã rút ngắn được chu kỳ xử lý rác thải sinh hoạt từ 5-7 ngày Nhiều chủng

vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm đã được nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả trong quá trình xử lý rác thải ở Việt Nam [9], [11], [13], [14] Nhiều chế phẩm vi sinh trong

đó có chứa hệ sinh vật sinh tổng hợp cellulase đã được nghiên cứu và sản xuất để

xử lý rác thải Trong đó, chế phẩm Micromix 3 khi bổ sung vào bể ủ rác thải có thổi khí đã rút ngắn được 15 ngày ủ, giảm một nửa thời gian lên men so với đối chứng Đồng thời, lượng mùn tạo thành khi xử lý rác bằng chế phẩm Micromix 3 cao hơn 29%và các chất dinh dưỡng cao hơn 10% so với đối chứng Sản phẩm của quá trình

xử lý rác thải được phối trộn và bổ sung thêm một số vi sinh vật có ích cố định đạm tạo thành phân bón vi sinh, được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp đã góp phần nâng cao năng suất cây trồng, giảm thiểu được nguồn và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường [9]

Ngoài ra, đã có những nghiên cứu ảnh hưởng của cellulase đến nấm gây bệnh cây

trồng như: cellulase của Trichoderma harzianum, từ đó ứng dụng sản xuất thuốc

bảo vệ thực vật sinh học [12]

Trang 27

Có thể dùng lồng hay cót ép cao 45 cm quây tròn có đường kính 2-3 m (tùy vào

số lượng gà), máng ăn, máng uống có thể dùng máng tròn hay máng dài và được bố trí, đặt xen kẽ nhau trong quây úm, dụng cụ sưởi ấm có thể dùng đèn dầu (đèn bão), than củi, dây điện trở, đèn hồng ngoại hay đèn dây tóc Thường qui mô chăn nuôi nhỏ người ta thường dùng đèn dây tóc để úm gà, loại đèn này có công suất từ 40-

100 mỗi bóng úm được từ 30-50 con

2.3.1.3 Chế độ nhiệt độ, ánh sáng và ẩm độ chuồng nuôi

a Nhiệt độ

Trước khi đem gà mới nở vào lồng úm cần được khởi động trước 1 giờ Khi gà con được cho vào lồng úm, cần nhanh chóng thả gà con nhẹ nhàng kết hợp đếm gà khi thả gà và quay úm

Bảng 2.1 Nhiệt độ úm trong 4 tuần đầu

Tuần tuổi Nhiệt độ ở gần nguồn

nhiệt ( 0 C) Nhiệt độ khu vực úm

Trang 28

Nhiệt độ úm gà con trong tuần thứ nhất ổn định 33-350C dưới chụp úm Sau mỗi tuần, nhiệt độ giảm đi 20C

Nhiệt độ úm được kiểm tra bằng nhiệt kế đặt cao ngang lưng gà, giữa khoảng cách nguồn nhiệt tới vách quây

Chúng ta có thể quan sát hoạt động của gà để điều chỉnh nhiệt độ cho thích hợp:

- Gà con co cụm lại, chồng khít lên nhau dưới đèn úm, ăn uống ít, gà con phản ứng chậm với tiếng động Điều này có thể thấy nhiệt độ úm không đủ

- Gà con tản ra xa đèn úm, nằm sải cánh, há miệng thở, ăn ít, uống nước nhiều Điều này chứng tỏ nhiệt độ úm quá cao

- Gà con biểu hiện lanh lẹ, phân tán đều trong quây úm, gà ăn uống đều nhiều nhanh lớn Điều này chứng tỏ nhiệt độ úm thích hợp

- Gà con dạt về một phía có thể do gió lùa, cần phải kiểm tra màng che

b Ánh sáng

Ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lấy thức ăn, sinh trưởng của gà Ác cho nên nếu khu vực nuôi có nhiều cây cối quá rậm rạp và có nhiều tán cây to um tùm thì chúng ta nên tỉa bớt những cành tạo sự thoáng mát, để gà dễ tìm sâu bọ, dế, giun đất… để làm nguồn thức ăn bổ sung

c Ẩm độ

Gà Ác rất nhạy cảm với ẩm độ cao, cho nên chúng ta cần thông thoáng tốt Bình thường ẩm độ trong chuồng nuôi khoảng 60-70%

d Thông thoáng

Thông thoáng tốt giúp cung cấp đầy đủ lượng oxy cho gà, khí độc (NH3,

H2S,…) cũng thoát ra khỏi chuồng nuôi, kiểm soát được ẩm độ và nhiệt độ trong chuồng nuôi, đồng thời còn giúp kiểm soát được dịch bệnh Tuy nhiên, gà con trong tuần đầu rất cần được giữ ấm cho nên phải che chắn chuồng nuôi để khỏi mất nhiệt khu vực úm Trong trường hợp điện cúp điện nên mở rèm che chuồng nuôi ra ngay

để gà khỏi bị ngộp và giẫm đạp lẫn nhau, rồi tiếp theo chúng ta mới tìm cách xử lý mất điện Sau khi úm được 1 tuần có thể chúng ta tháo rèm che để chuồng nuôi được thông gió với tốc độ khoảng 0,2 m/giây là được, để chuồng nuôi không bị ẩm thấp làm cho gà chậm lớn và dễ bị bệnh

Trang 29

e Mật độ

Mật độ nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất của gà Khi mật độ nuôi thích hợp gà tăng trưởng tốt và ít nhiễm bệnh Mật độ gà nuôi (lồng, sàn) từ 1 ngày đến 2 tuần tuổi từ 40-50 gà/m2 và từ 3-4 tuần khoảng 20-25 gà/m2 Sau 4 tuần có thể thả gà ra vườn với mật độ 2-3 m2/gà (tuyệt đối không thả rong gà) Tuy nhiên, trong một đợt nuôi để dễ quản lý được đàn gà chúng ta nên chia diện tích chuồng thả ra thành từng khu (quây lưới nylon) và nuôi luân chuyển nhau để khai thác và tận dụng tốt nguồn thức ăn tự nhiên

f Cách cho ăn uống

Gà con mới đưa về cho uống nước có pha thêm đường, 2-3 giờ sau cho gà uống kháng sinh, sinh tố

Qua ngày thứ hai, không cho gà uống glucose nữa, chỉ cho uống kháng sinh, sinh tố Đến ngày thứ năm ngừng uống kháng sinh

Những tuần sau chỉ cho uống sinh tố: Vitamino 1ml/5 lít nước, Vitamin C 1g/1 lít nước Đến tuần thứ 4 ngừng không cho uống sinh tố

Bảng 2.2 Máng uống nước bán tự động

Cho gà ăn sau khi gà về 2-3 giờ, bắt đầu cho gà ăn ngay thức ăn hỗn hợp Rắc thức ăn hỗn hợp trên khay ăn và rải rác trên giấy lót nền trong ngày đầu để gà tập quen dần với thức ăn và ăn mạnh Cho gà ăn 6-8 lần trong ngày nhằm tiết kiện thức

ăn, tránh rơi vãi, vấy bẩn, kích thích gà ăn nhiều bằng thức ăn mới

Dùng khay tròn đường kính 50 cm để đựng thức ăn cho gà ăn Cách sắp xếp và

số lượng máng ăn, máng uống cần được quan sát, nếu 3/4 gà có chỗ đứng ở máng

ăn là đủ máng

Máng ăn và máng uống xếp xen kẽ nhau, bố trí gần nguồn nhiệt úm, đèn úm sao cho gà dễ tìm thấy, không phải di chuyển xa

Trang 30

2.3.2 Vệ sinh an toàn khu chăn nuôi

2.3.2.1 Vệ sinh bên ngoài khu vực nuôi

Bên ngoài chuồng trại cần có tường rào bao quanh, ở vành đai này không được

đổ phân, chất độn chuồng và các chất thải khác

Đảm bảo nước không bị đọng và hệ thống thoát nước của khu này không được nhập chung với hệ thống thoát chất thải của khu chăn nuôi

Trước cổng trại cần phải có hố sát trùng và thường xuyên thay hoá chất sát trùng 1-2 ngày/lần, sử dụng một trong các loại thuốc sát trùng sau: chlorhexidin 1%, biodine 0,5%, cresol 2% nhằm ngăn cản sự lây lan mầm bệnh từ bên ngoài vào trại Phương tiện vận chuyển khi đi ra vào trại phải được phun xịt bằng hoá chất sát trùng như biodine 0,5%, biocide 1%

2.3.2.2 Vệ sinh chuồng trại bên trong

Sát trùng chuồng 7 ngày trước khi nuôi, sau mỗi đợt nuôi và khi chuyển đàn… bằng biodine 0,5%, biocide 1% và máng ăn, máng uống, phải được cọ rửa hàng ngày

Các lối đi và khu vực xung quanh chuồng hàng tuần cần phun thuốc sát trùng

và 2-3 lần/tuần (nếu có dịch bệnh)

Mỗi dãy chuồng trại nuôi cần có hố sát trùng như vôi bột hay dung dịch cresol 2%

Hạn chế khách tham quan vào trại và công nhân qua lại giữa các khu chăn nuôi

Định kỳ hàng tháng vệ sinh hệ thống cống rãnh và phương tiện vận chuyển chất thải phải kín và không rơi vãi ra ngoài

Khu cách ly: bố trí thấp hơn và cuối hướng gió chính so với khu chăn nuôi gà khoẻ mạnh, có lối đi riêng và đây là nơi mổ khám và tiêu hủy xác chết

Khu xử lý chất thải: bố trí thấp hơn khu cách ly và cuối khu cách ly và có hố xử

lý phân Nước thải đầu ra của cơ sở chăn nuôi phải đạt tiêu chuẩn

Trang 31

2.3.2.3 Sát trùng chuồng trại sau mỗi đợt nuôi

Dụng cụ thiết bị chăn nuôi, chất độn chuồng bẩn được mang ra khỏi chuồng và mang tới nơi quy định

Quét dọn, rửa sạch chuồng nuôi từ trong ra ngoài, xung quanh chuồng nuôi

Để chuồng khô ráo, sữa chữa hư hỏng trong chuồng và xung quanh chuồng sau thời gian nuôi trước

Tiêu diệt ký sinh trùng, côn trùng trong chuồng bằng hóa chất khử trùng (Dipterex 5%)

Đóng kín cửa ra vào, hạ các phên máng che quanh chuồng

Phun dung dịch thuốc sát trùng lên bề mặt trần, vách, nền và ít nhất 3 lần quanh chuồng

Thuốc sát trùng thường dùng như: Formalin 4-6%, TH4 0.5-1%, Chloramin B1 2%

Sau đó tưới đẫm lên nền chuồng dung dịch xút

Khóa kín cửa ra vào để chuống khô tự nhiên

Chất độn chuồng cần được sát trùng để đảm bảo không có mầm bệnh truyền nhiễm Khi đưa chât độn vào chuồng , đưa từng lớp một và phun sương lên trên một lược thuốc sát trùng

Sau khi sát trùng và đưa chất độn chuồng vào, tùy theo đặc tính của thuốc sát trùng chuồng phải để trống 7-14 ngày kể từ ngày xử lý xong lớp độn chuồng

Ba ngày trước khi chuẩn bị đưa gà về, phun loại thuốc sát trùng không độc hại như: Cloramin B liều thấp 0.5%, Benzalkanium 0.5%,

Ngày đăng: 30/10/2022, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Tăng Thị Chính, Lý Kim Bảng, Lê Gia Hy (1999), Nghiên cứu sản xuất cellulase của một số chủng vi sinh vật chịu nhiệt phân lập từ bể ủ rác thải. Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: 790-797 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc
Tác giả: Tăng Thị Chính, Lý Kim Bảng, Lê Gia Hy
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
12. Cao Cường, Nguyễn Đức Lượng (2003), Khảo sát quá trình cảm ứng enzyme chitinase và cellulase của Trichoderma harzianum ảnh hưởng của hai enzyme này lên nấm bệnh Sclerotium rolfsii. Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: 321-324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trichoderma harzianum "ảnh hưởng của hai enzyme này lên nấm bệnh "Sclerotium rolfsii. Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc
Tác giả: Cao Cường, Nguyễn Đức Lượng
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2003
13. Đặng Minh Hằng (1999), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh tổng hợp cellulase của một số chủng vi sinh vật để xử lý rác. Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: 333-339 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc
Tác giả: Đặng Minh Hằng
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
14. Phạm Thị Ngọc Lan, Phạm Thị Hòa, Lý Kim Bảng (1999), Tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn có khả năng phân giải cellulose từ mùn rác. Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: 177-182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học, Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Lan, Phạm Thị Hòa, Lý Kim Bảng
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
15. Đặng Thị Thu, Lê Ngọc Tú, Tô Kim Anh, Phạm Thu Thủy, Nguyễn Xuân Sâm (2004), Công nghệ enzyme, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ enzyme
Tác giả: Đặng Thị Thu, Lê Ngọc Tú, Tô Kim Anh, Phạm Thu Thủy, Nguyễn Xuân Sâm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
16. Trần Thị Đoan Oanh, 2004. Nghiên cứu sử dụng chế phẩm tự nhiên thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà ác. Luận văn tốt nghiệp Đại Học Nông Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng chế phẩm tự nhiên thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà ác
17. Nguyễn Văn Tuân, 2009. Tuyển chọn, nuôi cấy chủng ASPERGILLUS AWAMORISinh tổng hợp Endo-β-1,4-Glucanase và đánh giá tính chất lý hóa của Endo- β-1,4- Glucanase. Luận văn thạc sĩ Đại học Thái Nguyên.● Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn, nuôi cấy chủng ASPERGILLUS AWAMORI "Sinh tổng hợp Endo-β-1,4-Glucanase và đánh giá tính chất lý hóa của Endo- β-1,4-Glucanase
21. Grindlay D, Reynolds T (1986), “The Aloe vera phenomenon: A review of the properties and modern uses of the leaf parenchyma gel” Journal of Ethnopharmacology, pp.117- 151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Aloe vera phenomenon: A review of the properties and modern uses of the leaf parenchyma gel
Tác giả: Grindlay D, Reynolds T
Năm: 1986
22. Ghannam N and others (1986). “The antidiabetic activity of Aloes: Preliminary clinical and experimental observations”. Hormone Research, pp 288-294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The antidiabetic activity of Aloes: Preliminary clinical and experimental observations
Tác giả: Ghannam N and others
Năm: 1986
23. Cheryan MS, Shah PM, Witjitra K (1997), "Production of acetic acid by Clostridium thermoaceticum", Adv Appl Microbiol, 43: 1-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Production of acetic acid by Clostridium thermoaceticum
Tác giả: Cheryan MS, Shah PM, Witjitra K
Năm: 1997
24. Dürre P (1998), "New insights and novel developments in clostridial acetone/butanol/isopropanol fermentation", Appl Microbiol Biotechnol, 49: 639- 648 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New insights and novel developments in clostridial acetone/butanol/isopropanol fermentation
Tác giả: Dürre P
Năm: 1998
25. Nakakuki T (2003), "Development of functional oligosaccharides in Japan", Trends Glycosci Glycotechnol, 15(82): 57-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of functional oligosaccharides in Japan
Tác giả: Nakakuki T
Năm: 2003
1. Tiến sĩ Lâm Minh Thuận (2004) Giáo trình chăn nuôi gia cầm. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh Khác
2. Nguyễn Huy Hoàng, 1997. Nuôi Gà Ri và 27 toa thuốc. Nhà xuất bản tổng hợp Đồng Tháp Khác
3. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại thực vật-Thực vật bậc cao, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Khác
4. Võ Văn Chi (1991), Cây thuốc An Giang, NXB Ủy ban khoa học kỹ thuật An Giang Khác
5. Võ Văn Chi (1991), Từ điển thực điển thực vật thông dụng (Tập 1), NXB Khoa học kỹ thuật Khác
7. Đỗ Thành Hội (1977), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Khoa học kỹ thuật Khác
8. Võ Thanh Thái (1962), Tác dụng của Lô hội đối với vết thương và áp xe, y học thực hành, NXB TPHCM Khác
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006), Danh mục thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi được nhập khẩu vào Việt Nam. Số 01/2006/QĐ- BNN Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w