Bảng 4.5. Tiêu thụ thức ăn (TTTĂ)-Hệ số chuyển biến thức ăn (HSCNTĂ) của gà trong đợt I
TTTĂ (g/con/ngày)
HSCBTĂ Kg TĂ/kg tăng trọng Đợt Tuần tuổi
Lô 1 Lô 2 Lô đối
chứng Lô 1 Lô 2 Lô đối chứng Tuần 1-2 21.67 22.39 25.96 1.72 1.82 2.20 Tuần 2-3 6.95 7.44 8.28 1.51 1.73 2.30 Tuần 3-4 10.21 8.62 12.14 1.79 1.69 2.38 Đợt I
Tuần 4-5 7.07 9.03 9.36 1.91 2.10 3.12 11.47 11.86 16.27 1.7 1.82 2.45 Trung bình
TTTĂ 1-5 tuần (g/con)
321.1 6
332.0
8 455.56 Với kết quả bảng 4.5 ta thấy:
Mức tiêu thụ thức ăn cho một con gà trong suốt giai đoạn 1-5 tuần tuổi ở lô đối chứng là cao nhất (455.56g). Kế đến là lô 2 (332.08g) và thấp nhất là lô 1 (321.16g). Điều đó chứng tỏ sự hiệu quả của của các chế phẩm trong quá trình gà chuyển hóa thức ăn, làm cho thức ăn được chuyển hóa tốt, không gây cho gà cảm giác đói ăn thường xuyên nên đã làm giảm được mức độ tiêu thụ thức ăn.
Nếu so sánh giữa lô 1 và lô đối chứng của thử nghiệm đợt I ta thấy nếu dùng chế phẩm 1 chúng ta có thể tiết kiệm được gần 30% lượng thức ăn cho gà, còn dùng chế phầm 2 thì lượng thức ăn tiết kiệm được thấp hơn; khoảng 25%. Như vậy, sẽ tiết kiệm được chi phí cho thức ăn rất nhiều.
Bảng 4.6: Tiêu thụ thức ăn (TTTĂ)-Hệ số chuyển biến thức ăn (HSCNTĂ) của gà trong đợt II
TTTĂ (g/con/ngày)
HSCBTĂ Kg TĂ/kg tăng trọng Đợt Tuần tuổi
Lô 1 Lô 2 Lô đối
chứng Lô 1 Lô 2 Lô đối chứng Tuần 1-2 21.16 20.87 31.84 1.64 1.67 2.61 Tuần 2-3 11.09 10.71 14.27 2.36 2.38 3.66 Tuần 3-4 14.33 16.50 18.21 1.99 2.50 3.39 Đợt II
Tuần 4-5 6.55 9.84 9.46 1.82 2.46 3.64 13.28 14.48 18.45 1.84 2.25 3.13 Trung bình
TTTĂ 1-5 tuần (g/con)
371.8 4
405.4
4 516.60 Với kết quả bảng 4.6 cho ta thấy kết quả trong đợt II
Trong suốt thời gian từ 1-5 tuần tuổi, mức tiêu thụ thức ăn cho một con gà ở lô đối chứng là cao nhất (51.660g), lô 1 thấp nhất (37.184g) và lô 2 (40.544g). Mức
tiêu thụ thức ăn hơi cao hơn trong đợt I.
So sánh với kết quả lô đối chứng, ta thấy lượng thức ăn lô 1 tiết kiệm khoảng 30%, lô 2 tiết kiệm khoảng trên 20% lượng thức ăn.
Biểu đồ 4.6. Tỷ lệ tiêu thụ thức ăn trong cả 2 đợt So sánh kết quả giữa đợt I và đợt II
So sánh sự tiêu thụ thức ăn giữa đợt I và đợt II, qua biểu đồ 4.3 ta thấy lượng thức ăn gà tiêu thụ trong đợt II cao hơn so với đợt I. Đó có thể là kết quả của việc thay đổi phương thức cho ăn trong đợt II khác với đợt I, trong đợt II đã cho gà ăn nhiều hơn so với đợt I.
Tuy nhiên, nhìn vào biểu đồ chúng ta vẫn thấy sự tương đồng trong cả 2 đợt nuôi thử nghiệm, đó là gà được nuôi có sử dụng thêm chế phẩm có mức tiêu thụ thức ăn ít hơn so với gà nuôi đối chứng, điều đó càng chứng tỏ việc chế phẩm tác động tích cực đến sự chuyển hóa thức ăn trong cơ thể gà và chế phẩm 1 (bột Nha Đam thô) cho hiệu quả cao hơn so với chế phẩm 2 (enzyme cellulose). Chế phẩm bột Nha Đam thô giúp tiết kiệm được hơn 30% lượng thức ăn so với lô đối chứng trong cả 2 đợt thử nghiệm, còn chế phẩm 2 enzyme cellulase tiết kiệm được trên 20% lượng thức ăn. Như vậy, chế phẩm enzyme cũng có tác dụng kích thích tăng như chế phẩm bột Nha Đam nhưng hiệu quả kém hơn.
4.3.2. Chỉ số chuyển biến thức ăn
Qua bảng 4.5, bảng 4.6, chúng ta nhận thấy tiêu tốn thức ăn bình quân cho 1kg tăng trọng qua 4 tuần nuôi như sau:
- Lô đối chứng có mức tiêu tốn cao nhất 2.45-3.13 (kg thức ăn/kg khối lượng).
- Lô 1 có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất 1.7-1.84 (kg thức ăn/kg khối lượng) - Lô 2 cho kết quả trung bình 1.82-2.25 (kg thức ăn/kg khối lượng).
Từ những kết quả trên chứng tỏ việc bổ sung chế phẩm giúp kích thích tiêu hóa tốt, tiêu tốn thức ăn ít nhất và mức tăng trọng cao cho kết quả tương tự nhau trong 2 đợt thí nghiệm với chế độ cho ăn như nhau là của lô; lô 2 có độ tiêu hao thức ăn cao, tăng trọng chậm hơn lô 1, nhưng vẫn cao hơn lô đối chứng. Gà ở lô đối chứng tăng trọng kém nhưng lượng thức ăn tiêu tốn lại nhiều hơn so với các lô thí nghiệm.
Biểu đồ 4.7. Hệ đồ chuyển biến thức ăn qua 2 đợt thí nghiệm