Khối lượng bình quân chúng ta tính theo công thức:
KLBQ = Tổng khối lượng gà cân / tổng số gà cân
Trong đó số gà cân trong từng lô là 5 con, ta có bảng thống kê 4.1, 4.2
Bảng 4.1: Khối lượng bình quân (g) của gà ở đợt I
Lô 1 Lô 2 Lô đối chứng
Lô
Tuần tuổi Trống Mái BQ Trống Mái BQ Trống Mái BQ
1 - - 44 - - 42 - - 42.7
2 - - 132 - - 128 - - 125
3 170 158 164 162 154 158 152 148 150
4 218 190 204 205 181 193 197 175 186
5 243 217 230 236 210 223 215 199 207
Bảng 4.2 : Khối lượng bình quân (g) của gà ở đợt II
Lô 1 Lô 2 Lô đối chứng
Lô
Tuần tuổi
Trống Mái BQ Trống Mái Chung Trống Mái BQ
1 - - 43.5 - - 43 - - 41
2 - - 134 - - 130.5 - - 126.5
3 173 161 167 168 156 162 162 146 154
4 223 212 217.5 213 203 208 201 183 192
5 252 233 242.5 245 227 236 218 201 210.5
Kết quả khối lượng bình quân của gà Ác trong các lô thử nghiệm được trình bày trong bảng 4.1 và bảng 4.2.
Qua bảng 4.1, bảng 4.2 chúng ta nhận thấy:
4.1.1. Kết quả đợt I
● Khối lượng bình quân của gà 1 tuần tuổi
Gà lúc 1 tuần tuổi được phân chia đồng đều ở mỗi lô trong mỗi đợt thí nghiệm, vì gà giống được mua cùng một thời điểm và lựa chọn khối lượng là tương đối bằng nhau.
● Khối lượng bình quân gà lúc 2 tuần tuổi
Trong cả 3 lô ở thời điểm khi nuôi được 1 tuần thì bắt đầu có dấu hiệu khác biệt về khối lượng giữa các lô dùng chế phẩm và lô đối chứng. Trong đó ta thấy ở lô 1 có khối lượng bình quân cao nhất (132g), và lô đối chứng cho khối lượng bình quân thấp nhất (125g). Điều này cho bắt đầu cho thấy chế phẩm bắt đầu có ảnh hưởng sự tăng trọng của đối tượng thử nghiệm là gà Ác trong tuần đầu tiên dùng thử. Trong tuần đầu dùng chế phẩm ta thấy chế phẩm 1 sử dụng Nha Đam có hiệu quả hơn so với chế phẩm 2 sử dụng cellulase, biểu hiển khá rõ qua cân nặng của của gà thử nghiệm ở lô 1 là 132g trong khi đó gà dùng của lô 2 có khối lượng là 128g.
Trong giai đoạn này ta thấy khối lượng gà tăng khá nhiều từ trong khoảng thời gian tuần 1-2. Khối lượng của gà tăng khá nhanh do trong giai đoạn này gà bắt đầu chuyển từ giai đoạn gà con sang giai đoạn trưởng thành nên sự chuyển hóa của gà diễn ra nhanh hơn theo nhu cầu cơ thể gà.
● Khối lượng bình quân gà lúc 3 tuần tuổi
Sự khác biệt về khối lượng rõ nét hơn vào 2 tuần tuổi. Trong đó lô 1 cho kết quả tăng trọng cao nhất (164g) và lô đối chứng có kết quả tăng trọng vẫn thấp nhất (150g)
Ta thấy sự tăng trọng nhanh của cả 2 lô có sử dụng chế phầm, lô 1 gà tăng 32g sau một tuần nuôi và lô 2 tăng 30g trong khi lô đối chứng cũng tăng về khối lượng nhưng chỉ tăng 25g. Ở giai đoạn này chúng ta thấy được sự khác biệt giữa hai chế phẩm sử dụng trong đó chế phẩm 1 cho tác dụng tốt hơn chế phẩm 2 thể hiện qua khối lượng của gà.
Ở giai đoạn 3 tuần tuổi bắt đầu có thể phân biệt rõ ràng giữa gà trống và gà mái, qua đó thấy được khối lượng của gà trống lớn hơn so với gà mái điều đó thể hiện rất rõ qua cả 3 lô thử nghiệm.
● Khối lượng bình quân gà lúc 4 tuần tuổi
Trong giai đoạn 4 tuần tuổi gà có dấu hiệu tăng trọng mạnh ở cả 3 lô thí nghiệm trong đó lô 1 có chỉ số tăng cao nhất với mức tăng bình quân của tuần 3-4 là 40g. Trong khi đó, mức tăng bình quân của lô đối chứng và lô 2 tương đương nhau.
Qua tuần thứ 4 có thể phân biệt dễ dàng giữa gà trống và gà mái, sự khác biệt về khối lượng của gà trống và gà mái càng cao hơn so với tuần thứ 3, chứng tỏ mức độ thành thục cũng như tiêu hóa thức ăn của gà trống là cao hơn so với gà mái.
● Khối lượng bình quân của gà lúc 5 tuần tuổi
Ở tuần thứ 5 lô 1 vẫn giữ được khối lượng cao nhất (230g) mức tăng có phần chậm hơn trong các tuần 1-4. Tuần thứ 5 khối lượng bình quân của lô 1 và lô 2 là tương đương nhau nhưng vẫn cao hơn lô đối chứng.
Sau tuần thứ 5 ta có thể thấy kết quả của việc bổ sung chế phẩm rất rõ ràng trong thử nghiệm đợt I giữa gà được cho ăn có bổ sung chế phẩm và gà nuôi không bổ sung chế phẩm.
4.1.2. Kết quả đợt II
● Khối lượng bình quân của gà từ 1-3 tuần tuổi
Cũng tương tự như thử nghiệm trong đợt I chỉ khác gà giống 1 tuần tuổi trong đợt II có khối lượng tương đối nhỏ hơn gà đợt I. Tuy nhiên, sự tăng trọng vẫn diễn ra như trong đợt I, gà tăng trọng nhanh vào thời gian từ 1 tới 2 tuần tuổi và lô 1 vẫn cho kết quả cao nhất (134g), lô đối chứng vẫn giống đợt I cho kết quả thấp nhất (126.5g), sự tăng trọng trong tuần thứ 3 vẫn tương tự như đợt I bắt đầu tăng chậm lại và lô 1 vẫn cao nhất với (167g), lô đối chứng vẫn thấp nhất (154g). Trong thử nghiệm đợt II tình trạng tăng cân của gà trống và gà mái lúc 32 tuần tuổi hoàn toàn không có gì khác với đợt I vẫn cho kết quả tương tự gà trống tăng cân nhanh hơn gà mái.
● Khối lượng bình quân của gà từ 3-5 tuần tuổi
Khối lượng gà được nuôi từ 3 tới 5 tuần tuổi của đợt II không khác so với đợt I, lô 1 cho kết quả cao nhất trong tuần thứ 5 (242.5g), lô đối chứng cho kết quả thấp nhất (210.5g).
● So sánh kết quả
Biểu đồ 4.1. Khối lượng bình quân của gà 5 tuần tuổi ở 2 đợt
Kết quả từ những bảng thống kê và biểu đồ 4.1 cho thấy sự trùng hợp trong cả 2 đợt thử nghiệm I và II đều cho kết quả tương tự nhau. Đó là, gà ở lô 1 và lô 2 của 2 đợt thử nghiệm đều cho cao hơn so với lô nuôi đối chứng, điều đó chứng tỏ việc bổ sung chế phẩm vào thức ăn có hiệu quả hơn so với việc cho gà không được bổ sung chế phẩm.
Trong cả 2 thử nghiệm thì kết quả của lô 1 luôn cho khối lượng cao nhất, chứng tỏ chế phẩm sử dụng trong lô 1 là bột Nha Đam thô hiệu quả hơn so với chế phẩm sử dụng trong lô 2 là enzyme cellulase.
Trong thử nghiệm đợt II có khối lượng bình quân cao hơn đợt I, do chế độ cho ăn thay đổi điều đó chứng tỏ trong giai đoạn từ 3-5 là giai đoạn cần cho gà ăn bổ sung, tăng cường độ cho ăn từ 3 lần một ngày lên 5 lần một ngày mới thích hợp cho gà tăng trọng nhanh và khỏe mạnh hơn.