1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl lam thi ngoc doan 710019v

52 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Ðông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG

KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

(Phần Lý Luận)

Đề tài:

Festival Huế 2008

Giáo viên hướng dẫn: Phan Khương

Sinh viên thực hiện: Lâm Thị Ngọc Đoan

Mã số sinh viên: 710019V

Khóa: 07

Chuyên ngành: ĐỒ HỌA

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 08/2007

Trang 2

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HỘI ĐỒNG

***

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2007 Chữ ký của Giáo viên Hội Đồng

Trang 3

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

***

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2007 Chữ ký của Giáo viên Hướng Dẫn

Trang 4

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

***

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2007 Chữ ký của Giáo viên Phản Biện

Trang 5

PHẦN 1:

LỜI NÓI ĐẦU

Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam, là kinh đô một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên và là kinh đô xưa của triều đại Nguyễn kéo dài gần hai thế kỷ Trải qua thời gian Huế vẫn phần nào giữ được những nét cổ kính và trầm mặc Và chính cái vẻ trầm mặc ấy đã tạo cho Huế một dấu ấn riêng rất dễ nhận ra, đó là dáng vẻ trầm lắng và vô cùng quyến rũ

Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306) Trong khoảng thời gian khá dài ấy Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam Trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Ðông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên nền văn hóa Việt - Chăm Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Ðông Nam Á, Trung Quốc, Ấn

Ðộ, phương Tây

Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống

Ở Huế đi đâu cũng có thể gặp những di tích, di vật hàm chứa những huyền thoại, những câu chuyện lịch sử kì thú Nhưng do là kinh đô cuối cùng của Việt Nam nên các di tích liên quan đến vương triều Nguyễn dường như chiếm đa số, chúng "lấn át" các di tích thuộc các thời kỳ khác, khiến người ta quên mất hoặc khó nhận ra rằng, Huế không chỉ là mảnh đất của vương triều cuối cùng mà còn là kinh đô của triều Tây Sơn, và đặc biệt là thủ phủ - đô thành suốt hơn 100 năm của các chúa Nguyễn

Trang 6

Từ đầu thế kỷ XIV (khi Vua Chăm là Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí cho nhà Trần để làm lễ sính cưới công chúa Huyền Trân), các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI-XVIII), triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và 13 đời vua Nguyễn (1802-1945) đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở vùng Huế một tài sản văn hoá vô giá Tiêu biểu nhất là Quần thể

di tích của Cố đô đã được sánh ngang hàng với các kỳ quan hàng ngàn năm của nhân loại trong danh mục Di sản Văn hoá Thế giới của UNESCO

Xuất phát từ những kết quả bước đầu của Festival Việt Pháp 1992 giữa Thành phố Huế và Codev Việt Pháp, Tỉnh Thừa Thiên Huế đã sớm hình thành ý tưởng tổ chức một Festival với qui mô lớn hơn, chất lượng cao hơn Ý tưởng ấy đã được sự đồng tình của nhiều Bộ, Ngành Trung ương và Ðại Sứ Quán Cộng Hòa Pháp tại Việt Nam.Tháng 10 năm 1998, Chính phủ đã có quyết định cho phép tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Ðại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức Festival Huế 2000

Thành công của Festival Huế 2000 đã tạo tiền đề cho những thành công tiếp theo của các kỳ Festival Huế 2002, 2004 và 2006; từng bước khẳng định thương hiệu Festival Huế, khẳng định năng lực tổ chức hoạt động văn hóa, lễ hội mang tầm khu vực và quốc tế, tạo tiền đề xây dựng Huế trở thành thành phố Festival của Việt Nam

”Di sản Văn hóa với Hội nhập và Phát triển” là chủ đề chính của Festival Huế

2008, sẽ diễn ra từ 3-11/6/2008 Đây cũng dịp kỷ niệm 220 năm vua Quang Trung lên ngôi tại Phú Xuân Huế

Dự kiến, tại Festival Huế 2008 sẽ có 8 chương trình nghệ thuật, lễ hội lớn làm chủ đạo như:

1 Lễ khai mạc

2 Lễ hội tái hiện Quang Trung lên ngôi Hoàng đế

3 Lễ hội Nam Giao

4 Lễ hội thi Tiến sĩ võ

5 Lễ hội Áo dài

6 Chương trình Khám phá huyền thoại sông Hương

7 Chương trình Âm sắc Hoàng cung Huế và Lễ bế mạc

Trang 7

Bên cạnh những chương trình đã thành công gắn liền với thương hiệu Festival Huế, nhiều chương trình mới, ấn tượng đang được gấp rút chuẩn bị, đó là Liên hoan phim Quốc tế lần đầu tiên của Việt Nam vào tháng khởi động Festival (5/2008) Khai thác không gian văn hóa tại khu vực Kỳ Đài và Thượng Thành phía nam, khu Hổ Quyền - Voi Ré, khu vực các lăng tẩm để tổ chức các điểm tham quan du lịch gắn với tái hiện hoạt cảnh lịch sử Nghiên cứu tái hiện lễ hội thi Tiến sĩ võ, biểu diễn súng thần công

Về nghệ thuật, Pháp sẽ tiếp tục là đối tác chính của Festival Huế 2008 với các đoàn nghệ thuật Hanneton của Paris, đoàn nghệ thuật Carrabosse vùng Poitou-Charentes Đại sứ quán Pháp còn chuẩn bị 6 hoạt động nghệ thuật đặc sắc để tham dự Festival Festival Huế 2008 cũng là Festival đầu tiên có sự tham dự của các đoàn nghệ thuật đến từ châu Phi và Bắc Mỹ bên cạnh các đoàn nghệ thuật đến từ châu Âu (Hội đồng Anh, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Rumani ), châu Á (Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Campuchia, ) và Nam Mỹ (Brazil)

Tác giả đã lựa chọn đề tài: Thiết kế Lịch – Card – Thiệp cho Festival Huế 2008 Nhằm quảng cáo, tuyên truyền cho Festival, thu hút người xem đến với lễ hội Festival Huế đã trải qua 4 kỳ lễ hội, với nhiều thành công vang dội, nổi tiếng trong

và ngoài nước nhưng cũng còn nhiều mặt hạn chế còn rút kinh nghiệm Với vai trò là một Designer tương lai, tác giả phải nỗ lực hết khả năng thể hiện sự hiểu biết, tình cảm và ý tưởng của mình để mang đến hiệu quả quảng cáo, tuyên truyền cao nhất cho Festival Huế 2008

Trang 8

PHẦN 2:

NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN & THỰC TIỄN

1.1: Lịch sử của đề tài nghiên cứu: Lịch – Card – Thiệp

Lịch là một hệ thống đặt tên cho các chu kỳ thời gian: ngày tháng năm Các ngày

tháng cụ thể có thể dựa trên sự chuyển động thấy được của các thiên thể Lịch cũng

là một thiết bị vật lý (thông thường là trên giấy) để minh họa cho hệ thống (ví dụ- lịch để bàn) Các loại lịch được sử dụng hiện nay phần lớn là dương lịch, âm lịch, âm dương lịch hay lịch tùy ý

- Âm lịch được đồng bộ theo chuyển động của Mặt Trăng (các tuần trăng) như lịch Hồi giáo, ngày trong tháng được tính theo các pha trong chu kỳ của Mặt Trăng

Âm lịch thường dùng một tháng để tương ứng với một chu kỳ Mặt Trăng để các ngày trong tháng có thể dùng để miêu tả tuần trăng Một âm lịch cũng có thể dùng để miêu tả mùa màng, như lịch Trung Quốc, lịch Hebrew, lịch Ấn Độ

- Dương lịch dựa trên thay đổi thấy được theo mùa, được đồng bộ theo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời như lịch Ba Tư Dương lịch gắn mỗi ngày tháng cụ thể cho từng ngày mặt trời Một ngày có thể là chu kỳ giữa bình minh và hoàng hôn, với chu kỳ kế tiếp là đêm, hoặc nó có thể là chu kỳ của hai sự kiện giống nhau và kế tiếp nhau, chẳng hạn hai hoàng hôn kế tiếp

- Âm dương lịch là lịch được đồng bộ theo cả chuyển động của Mặt Trăng và chuyển động biểu kiến của Mặt Trời như lịch Do Thái

Các lịch Julius và Gregory

Lịch Julius do hoàng đế Julius Caesar đưa ra vào năm 45 trước Công nguyên Lịch Julius chia thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm một ngày vào cuối tháng

2 tạo thành năm nhuận Cho đến năm 1582, Giáo Hoàng Gregory XIII quyết định bỏ

10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng tương ứng trở lại Vì sự thông tin chậm trễ và vì lý do tôn giáo, nhiều nước không áp dụng lịch Gregory ngay sau đó Mãi sau này lịch Gregory đã được chấp thuận bởi phần lớn các quốc gia ở phương Tây và từ đó nó đã trở thành lịch phổ biến và thông dụng nhất trên thế giới

Trang 9

Sử dụng hiện tại

Lịch được sử dụng rộng rãi nhất ngày nay là lịch Gregory Trên thực tế nó là tiêu chuẩn quốc tế và được sử dụng ở mọi nơi trên khắp thế giới cho các mục đích thông thường; bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia trước đây sử dụng lịch khác Lịch Do Thái là lịch chính thức của chính quyền Israel, nhưng lịch Gregory được sử dụng rộng rãi hơn trong kinh doanh ở Israel và càng ngày càng được ưa chuộng hơn Lịch Ba Tư được sử dụng ở Iran và Afghanistan Lịch Hồi giáo được sử dụng bởi những người theo đạo Hồi trên toàn thế giới Lịch Trung Quốc, Hêbrơ, Hindu và lịch Julius cũng được sử dụng rộng rãi trong các mục đích tôn giáo, xã hội Nhìn chung lịch Gregory được sử dụng rộng rãi nhưng các loại lịch khác cũng được

sử dụng

Card – Thiệp chủ yếu sử dụng chất liệu Giấy hoặc một số chất liệu khác đặc trưng

cho địa điểm nói đến Card – Thiệp là sản phẩm tuyên truyền, quảng cáo thời gian, địa điểm của ban tổ chức đến khách mời Nó đại diện cho ban tổ chức, thành phố hay một quốc gia nên đòi hỏi tính sang trọng, trang nghiêm, đơn giản không quá cầu kỳ Màu sắc, bố cục, font chữ rõ ràng, dễ đọc, dễ di chuyển bằng mọi phương tiện

Poster là phương tiện quảng cáo thông dụng nhất nơi công cộng Mục đích nó mang

đến hiệu quả cao nhất vì đó là nơi công cộng nhiều người qua lại, dễ nhận biết và thu hút nhất Nhà kinh doanh muốn sản phẩm tiêu thụ cao thì không thể xem nhẹ việc quảng cáo Cũng như việc tạo dựng được lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm của mình là một bước tiến đầu tiên dẫn đến thành công Kế tiếp là hình ảnh, con chữ, màu sắc, bố cục rõ ràng, chất lượng và có bắt mắt người xem hay không? Đơn giản hay phức tạp thì mục đích cuối cùng nhằm tuyên truyền, quảng cáo; ý tưởng nêu ra

dễ hiểu đối với người xem Tuy nhiên cũng cần chú ý đến sản phẩm là dành cho ai, lứa tuổi nào, thời gian, địa điểm, mục đích gì thì là một trong những cách đi tìm ý tưởng và cách thể hiện của người thiết kế Mặt khác, Poster nhiều khi đi ngược lại mục đích quảng cáo của nó Văn hóa, tôn giáo, phong tục của mỗi dân tộc, về môi trường nơi đô thị… là những vấn đề quan trọng mà người thiết kế cần phải cân nhắc

Trang 10

1.2: Hiện trạng và thực tế đề tài

Quảng cáo và tiếp thị ngày càng trở nên không thể thiếu trong xã hội ngày một phát triển như Việt Nam Cũng như ngành thiết kế đồ họa cũng trở nên phổ biến và được biết đến nhiều hơn trước đây Cùng với các công nghệ bùng nổ, các chiến dịch quảng cáo càng khuếch tán nhiều hơn, đa dạng hơn trên mọi thông tin đại chúng như poster, brochure và một số phương tiện đa truyền thông đang nổi lên gần đây như web, 3D, multimedia… thì thiết kế đồ họa càng được xem trọng và yêu cầu, đòi hỏi chuyên nghiệp hơn trong mọi lĩnh vực văn hóa, kinh tế v.v… Một nhà thiết kế ngoài mặt am hiểu sản phẩm của mình, có thật nhiều ý tưởng, phải có một chiến dịch quảng cáo chuyên nghiệp trong mọi lĩnh vực, phải tạo ra được thương hiệu riêng cho từng sản phẩm

Quay trở lại đề tài Festival Huế này, vốn đã có một nền tảng văn hóa lâu đời, là cố

đô của di sản văn hóa thế giới, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam và sắc thái văn hóa của các vùng văn hóa lớn Thì bản chất của lễ hội đã thu hút được đông đảo khách mời trong và ngoài nước Festival Huế đầu tiên tổ chức năm 2000 nhưng nó

đã gây được tiếng vang lớn và qui mô hoạt động rộng lớn, bao gồm nhiều lễ hội văn hóa của dân tộc ta và giao lưu văn hóa với các nước khác (Campuchia, Trung Quốc, Pháp, Indonexia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Thái Lan ) Ở các kỳ Festival trước đây

đã có gần 500 phóng viên – với 300 phóng viên của Trung ương và các tỉnh, 34 phóng viên nước ngoài, đại diện cho hơn 120 cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình, các hãng thông tấn trong nước và quốc tế về dự Với hơn 195 suất diễn của 33 Ðoàn nghệ thuật của 9 nước và hơn 30 chương trình lễ hội văn hóa nghệ thuật cộng đồng diễn ra trong 12 ngày đêm; đã thu hút gần 1 triệu lượt người đến tham gia, có hơn 150.000 lượt người vào thăm các di tích, văn hóa, lịch sử danh lam thắng cảnh 75.000 lượt khách nước ngoài, tham gia 31 tour du lịch chất lượng cao Lễ hội mang nhiều màu sắc văn hóa khác nhau nên vấn đề ngôn ngữ là khó khăn nhất để diễn đạt cho tất cả các nước tham gia cùng hiểu, cùng góp sức cho lễ hội thành công Một số quảng cáo trong các kỳ Festival trước thông dụng tiếng Việt và Pháp, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất trên toàn cầu, có thể sử dụng ngôn ngữ này giao lưu với các nước khác

Đây cũng là dịp để tổ chức thông tin, quảng cáo, tuyên truyền sâu rộng về Thừa Thiên Huế và vùng văn hóa Huế cho nên không thể xem nhẹ việc quảng cáo

Trang 11

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC SÁNG TÁC

2.1 CÁCH THỨC TỔ CHỨC SÁNG TÁC (THIẾT KẾ)

Quá trình làm bài tốt nghiệp, tác giả đã đi theo những định hướng, lên kế hoạch thiết

kế phác thảo như sau:

2.1.1 Chọn đề tài:

(Như đã nêu ở phần “Lời mở đầu” và “Nội dung”)

2.1.2 Sưu tầm tài liệu:

Bước đầu của công việc thiết kế bao giờ cũng là thu thập tư liệu, tư liệu càng nhiều thì khả thể hiện, biểu đạt càng nhiều Muốn tìm tư liệu chính xác, sâu sắc thì ngoài tư liệu của khách hàng cung cấp, người thiết kế cần có sự nghiên cứu sâu sắc, hiểu biết rộng và phân tích cái nào thì hữu dụng

Internet ngày càng thông dụng và phổ biến ngày nay, người thiết kế phải biết khai thác từ nguồn thông tin này Tuy nhiên, đó cũng chỉ là mặt lý thuyết, nhiều đề tài đòi hỏi cần nghiên cứu ngoài thực tế thì mới thực, mới đắt giá

Với đề tài này, tác giả đã khai thác thông tin nhiều từ Internet, sách từ các nhà xuất bản về lịch sử, bài viết, hoa văn… Hình ảnh một số thì từ Internet và từ những nguồn thông tin khác về Huế Festival Huế là một lễ hội có quy mô rộng lớn, đôi khi tư liệu tác giả thu nhập được nhiều nhưng khi thể hiện thì chưa tổng quát hết quy mô, mà chỉ

đi sâu vào một khía cạnh nào đó của lễ hội

2.1.3 Nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc và kết hợp với phác thảo, bởi vì từ giai đoạn này ý tưởng bắt đầu được hình thành

Sau khi đã có đầy đủ tư liệu trong tay thì tác giả bắt đầu nghiên cứu và phân loại theo từng chủ đề về lịch sử, bài viết, hình ảnh và một số đặc trưng riêng về Huế như phong tục, văn hóa, màu sắc…

Trang 12

Có 3 nguyên lý bố cục cơ bản

1 Nguyên lý bố cục hàng lối

2 Nguyên lý bố cục tự do

3 Nguyên lý bố cục cân đối (đăng đối, đối xứng)

MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ BỐ CỤC TRANG TRÍ :

+ Đăng Đối

* Đăng đối đơn :

- Đăng đối nhau phía trên + phía dưới ( theo trục ngang )

- Đăng đối nhau bên trái + bên phải ( theo trục dọc )

- Đăng đối nằm khác nhau ( theo đường chéo )

+ Nguyên tắc xoay chiều

- Những họa tiết trang trí có thể xếp theo chiều ngược lại để tạo nên sự sinh động + nhịp nhàng

+ Hình mảng không đều

- Ngoài các tthể thức trên , còn áp dụng thể thức bố cục đặt hình mảng không đều nhau Tuy vậy , vẫn phải tạo ra sự cân bằng + cân xứng Cân xứng không có nghĩa là bằng nhau như nguyên tắc đăng đối mà có thể một bên to + một bên nhỏ + thuận mắt mà không lấn áp nhau

+ Nguyên tắc phá thể (Tự do)

- Là làm giảm đi những mảng + hình + đậm nhạt có xu hướng làm át đi bố cục chung

Trang 13

2.1.5 Chọn lựa phác thảo

Sau khi phác thảo được hòan thiện và chấp nhận thì tác giả tiến hành lựa chọn, so sánh và tiến hành triển khai phác thảo

2.1.6 Đẩy sâu phát thảo

Phác thảo nào được chọn thì bắt đầu đẩy sâu thể hiện lại đường nét, cách điệu, lọc nét, cân bằng bố cục,vị trí, kích thước, màu sắc, hình ảnh thì xửa lý lại kỹ hơn

2.1.7 Thể hiện thành phẩm

Khi bản duyệt được chấp nhận theo yêu cầu thì sản phẩm cuối cùng được hoàn tất trong giai đoạn thiết kế Và tùy theo sản phẩm thế nào thì lựa chọn chất liệu, cách thể hiện đúng như ý tưởng ban đầu

Trong đồ án này tác giả thể hiện:

Bộ Lịch 7 tờ (40x40 cm), Lịch khối, Lịch kẹp sách, thiệp mời, card Vip: rửa ảnh Poster: khổ A1: rửa ảnh

Trang 14

2.2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU SÁNG TÁC CỤ THỂ:

2.2.1 Nghiên cứu tài liệu của đề tài

 Về lịch sử Huế

Địa danh "Huế" - Sự xuất hiện của địa danh "Huế"

Hiện chưa có nguồn thông tin nào khẳng định địa danh "Huế" chính thức xuất hiện lúc nào, theo một số thông tin thì:

- Vua Lê Thánh Tông có lẽ là người đầu tiên nói đến địa danh Huế trong bài văn nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn Trong đó có câu: “Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bì hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám tầm chở đã vạy then"

- Những tài liệu sử học cũ ngoại trừ Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu khi nói tới Huế, đều dùng cái tên Phú Xuân hoặc Kinh đô, hoặc Kinh, chứ không dùng tên Huế

- Bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim là bộ sử đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, ngoài nguồn sử liệu truyền thống, tác giả đã sử dụng nguồn

sử liệu của phương Tây, và tên Huế xuất hiện

- Trong hồi ký của Pierre Poivre, một thương nhân Pháp đến Phú Xuân vào năm 1749, cái tên Huế xuất hiện nhiều lần dưới dạng hoàn chỉnh là Hué

- Năm 1787, Le Floch de la Carrière đã vẽ bản đồ duyên hải Đàng Trong cho

Bộ Hải Quân Pháp, trong đó bản đồ đô thành Huế được vẽ một cách khá rõ và cái tên Huế đã được ghi như cách người Pháp thường viết về sau: HUÉ

- Trong một lá thư viết tại Sài Gòn ngày 15 tháng 7 năm 1789 của Olivvier de Puynamel gởi cho Létodal ở Macao, hai lần cái tên Hué được nhắc đến khi nói về tình hình nơi này

- Trên bản đồ Việt Nam in trong "Dictionarii Latino-Annamitici" (tome II) của Taberd, in năm 1838 tại Ấn Độ, thấy có tên Huế

- Trong "Dictionarium Annamitico-Latinum" của Pigneau de Béhaine và J.L Taberd có giải thích, Huế: provincia regia Cocincinae

- Hồi ký "Souvenirs de Huế" xuất bản năm 1867 tại Paris của Michel Đức Chaingeau -con trai của Jean Baptiste Chaigneuau, tức Đức Thắng Hầu Nguyễn Văn Thắng, một trong những người Pháp theo giúp vua Gia Long, làm quan tại triều đình Huế

Trang 15

Một số kiến giải về địa danh "Huế"

Hiện nguồn gốc tên gọi này được một số nhà "Nghiên cứu Huế" kiến giải như sau: Học giả Thái Văn Kiểm kiến giải:

- Căn cứ trên những dữ kiện về ngôn ngữ và từ điển thì có thể chữ Huế đã xuất hiện trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, chữ Huế bắt nguồn từ chữ Hóa trong địa danh Thuận Hóa

- Hóa biến thành Huế có thể là do kị huý, theo ông, có thể là tên ông Nguyễn Nạp Hóa, cháu 6 đời của ông Nguyễn Bặc - công thần của Nhà Đinh - tổ của Nhà Nguyễn hoặc cũng có thể do kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, chánh cung của vua Minh Mạng, thân mẫu của vua Thiệu Trị- vì Hoa và Hóa đọc na ná - nên Hóa phải đổi thành Huế

- Kiến giải của Cadière: Huế chỉ là một cách ghi âm không chính xác của Hoá Huế đã bắt dầu có từ thời Huế-Kim Long với cái tên là Hóa

- BS Nguyễn Hy Vọng - tác giả của Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt khẳng định: Huế đã có tên riêng là Huế ngay từ trước 1651 là năm xuất bản tự điển Việt-Bồ-La và không dính gì đến Hóa của châu Hóa hay Thuận Hóa

- Nghiêm Đức Thảo, đã có một kiến giải về nguồn gốc của Huế dựa trên bài văn "Thập giới cô hồn quốc ngữ văn" của Lê Thánh Tông Ông kết luận: phải nói địa danh Huế có trước khi vua Lê Thánh Tông ghé đến, ít ra là trước năm 1497

- Nhà nghiên cứu Võ Hương An cho rằng: Một địa phương Việt Nam thường

có hai tên, một tên chính thức bằng chữ Hán, và một tên Nôm do dân chúng đặt Trong trường hợp như thế, sử sách Nhà Nguyễn có khuynh hướng chỉ ghi tên chính thức, tên “chữ” (Hán) và thường bỏ qua cái tên thông tục Đó là lý do cái tên Huế không có trong sử liệu Nhà Nguyễn Quốc ngữ thời A de Rhodes là loại quốc ngữ chưa định hình Sự hiện hữu của hai âm "hóa", "huế" về cùng một địa phương và có giá trị như nhau cho phép nghĩ rằng vào thời bấy giờ Kim Long còn có một tên khác

là Kẻ Huế hay Kẻ Hóa (tùy theo cách gọi của dân chúng) Những cái tên Kehue hay Kehoá ban đầu đó tiếp tục xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau theo cách nghe và cách viết của mỗi người (Tây phương), cho đến khi định hình hẳn, từ nửa sau thế kỷ

18, theo cách của Pháp là Hué

Trang 16

Huế là thủ đô cũ của Việt Nam độc lập từ năm 1802 nên Huế không chỉ là một trung tâm chính trị mà còn là một trung tâm văn hoá, tôn giáo của triều đại nhà Nguyễn cho đến 1945 Thừa Thiên Huế hiện có 8 huyện và thành phố Huế, một trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế và du lịch quan trọng của cả nước

Trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam, Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa Thừa Thiên Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau từ Bắc vào, từ Nam ra và cư dân miền biển lên và cả từ trên miền cao xuống cùng cư trú và cùng phát triển Chất ca nhạc Huế bắt nguồn

từ phía Bắc có mang sắc thái Chàm phương Nam Cho nên màu sắc xa xưa của Huế còn lại là sự tích hợp, tiếp thu, kế thừa và phát triển của cả hai miền

Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn, là kinh đô của triều đại Tây sơn, rồi đến kinh quốc của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam Suốt mấy thế kỷ qua, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được hội

tụ về đây góp phần cho một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Bởi vậy, nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến nhữnh thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích do thiên nhiên khéo tạo

Nằm giữa lòng thành phố Huế, bên bờ Bắc của sông Hương chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nhà Nguyễn vẫn sừng sững trước bao biến động của lịch sử và thách thức của thời gian Quần thể di tích bao gồm: Huế, ba toà thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ Nam ra Bắc Hệ thống thành quách ở đây cũng là một sự kết hợp hài hoà nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú… Từ phía ngược lại, những công trình kiến trúc ở đây như hoà lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu kỳ diệu khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó Được giới hạn bởi một vòng tường thành mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cáo của triều đình Nguyễn Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau là Tử cấm thành- nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia

Trang 17

Xuyên suốt cả ba toà thành, con đường Thần Đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan trọng nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn, điện Thái Hoà, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung…Hai bên đường Thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một cảm giác nhẹ nhàng, thơ mộng…

Xa về phía Tây Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hoá Lăng vua, đôi khi lại là một cõi thiên đường tạo ra cho chủ nhân hưởng thú tiêu dao lúc còn sống, rồi sau đó mới trở thành cõi vĩnh hằng khi bước vào thế giới bên kia Hàm nghĩa như vậy nên kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt ở Việt Nam

Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ảnh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa núi rừng hồ ao, được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm giữa chốn đồng không quạnh quẽ, cũng phần nào thể hiện tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bở tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ… Bên cạnh thành quách, cung điện, lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữ trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với triều đại mà cách xếp đặt các khoảng không gian hài hoà trong bố cục Song song với Kinh thành vững chãi bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Thành án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống thành luỹ của Kinh đô

Trang 18

Đan xen giữa các khu vực kiến trúc còn có đàn Nam Giao - nơi vua tế trời; đàn Xã Tắc - nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền - đấu trường duy nhất dành cho voi và hổ; Văn Miếu- nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời Nguyễn; Võ Miếu- nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc tên tiến sĩ võ; điện Hòn Chén

- nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na… và những danh lam thắng cảnh như sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận…

Ông Amadou Mahtar M’bow- Nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra một nhận xét trong lời kêu gọi cho cuộc vận động bảo vệ, giữ gìn, tu sửa và tôn tạo Di sản văn hoá Huế: “Nhưng Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hoá sôi động - ở đó đạo Phật và đạo Khổng đã thấm sâu, hoà nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo”

Gắn với một triều đại phong kiến với những quy tắc của triết lý Khổng Mạnh, lễ hội

và âm nhạc đã phát triển vô cùng phong phú và mang đậm phong cách dân tộc

- Triều đình thì có lễ Tế Giao, Tế Xã Tắc, lễ Nguyên Đán, lễ Đoan Dương, lễ Vạn Thọ, lễ Đại triều, lễ Thương triều, lễ Ban Sóc, lễ Truyền Lô, lễ Duyệt Binh… Mỗi một lễ hội đều có những bước nghi thức mà phần chính của nó là âm nhạc lễ nghi cung

- Dân gian cũng đa dạng các loại hình lễ hội: lễ hội điện Hòn Chén, lễ hội Hòn Ngư, lễ hội vật Sình, lễ hội đua ghe, lễ hội tế đình, tế chùa, tế miếu… gắn kết với các loại hình lễ hội lại là những hình thức âm nhạc lễ nghi dân gian

Cùng tồn tại với dòng âm nhạc mang tính lễ nghi, loại hình âm nhạc mang tính giải trí tiêu khiển của xứ Huế cũng được thế giới biết đến như một điển hình mang đậm bản sắc riêng của một vùng văn hoá, mộc mạc thuần khiết, đặc thù không pha trộn

Đó là những điệu múa Huế, những vở tuồng Huế, những bài ca Huế mà ngày nay đã trở thành những hình ảnh không thể thiếu trong một chuyến đến thăm Cố đô Huế ngày nay vẫn đang cố gắng bằng mọi khả năng, cố giữ gìn những tinh hoa văn hoá

cổ truyền của dân tộc, cố bảo tồn những nét văn hóa nghệ thuật, cố phục hồi những giá trị tinh thần quí báu của cha ông

Trang 19

Vừa qua, Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế phối hợp với Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam dưới sự cố vấn của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, đã thiết lập

hồ sơ đệ trình UNESCO xin công nhận âm nhạc cung đình Huế: Nhã nhạc (triều Nguyễn) là Kiệt tác di sản Văn hoá Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại Tuy mọi việc vẫn còn ở phía trước, song hành động đó cũng đủ nói nên giá trị vô giá của

âm nhạc truyền thống Huế

Ngày nay, Huế trở thành một thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam Cứ hai năm một lần, nhân dân thành phố Huế lại đón chào ngày lễ hội trọng đại này Huế sẽ

mãi mãi được giữ gìn - cho Việt Nam và cho thế giới…

Văn hoá Huế

Trong khoảng thời gian khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306), Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam Có sự tác động của văn hóa Ðông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2

và sau thế kỷ 13 hổn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên nền văn hóa Việt - Chăm và ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Ðông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Ðộ, phương Tây

Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống

Trang 20

ch Huế Đórong khoản

uế xưa, nay

trí cung đìhiều dạng

ình Huế là

và chủ đề h

nh v.v

kiến trúc cukiến trúc t

ức bình ph

à một đặc đhoa văn tra

ung đình vtruyền thốnchính là Qu

điểm khôngang trí, chẳ

và kiến trúc

ng và kiếnuần thể di hoá do triề

ến nửa đầu

và một vàimột tác p

u tố triết lý

h "bài thơ đ

Hoa v điêu trên Th

ngàn xưa thực hiện t

ác cung điệ

g thể thiếuẳng hạn như

c dân gian,

n trúc hiệntích Cố đô

ều Nguyễn

u thế kỷ 20

i vùng phụphẩm nghệ

ý, tâm linh

đô thị tuyệt

văn và phù hái Bình Lâu

từ thời kỳtrên các đồ

ện, đền đài

u khi muốnư:

Trang 22

Nghệ thuật Tuồng ở Huế

Nghệ thuật Tuồng ở Huế có bước phát triển rất sớm từ thế kỷ XVII dưới thời các chúa Nguyễn Ðến triều Nguyễn, tuồng được xem là quốc kịch, triều đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tuồng phát triển Ngay trong Ðại Nội đã có nhà hát Duyệt Thị Ðường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Ðường Tại Khiêm Lăng, có Minh Khiêm Ðường thời Minh Mạng đã thành lập Thanh Bình Thự làm nơi dạy diễn viên tuồng Thời Minh Tự Ðức đã thành lập Ban Hiệu Thư chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính

và sáng tác tuồng

Có thể nói triều Nguyễn đã đóng góp lớn vào việc phát triển nghệ thuật và nâng cao kịch bản tuồng ở Huế và ngược lại, các nghệ nhân cả nước và công chúng Huế đã góp sức làm cho tuồng kinh thêm phong phú, trở thành mẫu mực và là đỉnh cao của nghệ thuật tuồng Việt Nam

Trong dàn nhạc Tuồng gồm có bộ gõ: (trống, thanh la, mõ ), bộ hơi (kèn, sáo, chủ yếu là kèn); bộ dây (nhị, cò, hồ, đại, tiểu )bộ gảy: (tam, tứ, nguyệt )

Ca Huế

Ca Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống "hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng Ðiệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng Ðiệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán Kỹ thuật đàn

và hát Ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng Ca Huế lại mang đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế nên gần gũi với Hò Huế, Lý Huế, là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc dân gian

Những hình thức thường gặp hiện nay là:

Hoà tấu song thanh của 2 nhạc cụ: Tranh, Nguyệt, Bầu, Nhị, Tỳ Bà hoặc Bầu, Nguyệt

Hoà tấu tam thanh của 3 nhạc cụ: Nguyệt, Nhị, Tranh; Bầu, Nhị, Tranh hoặc Tỳ Bà, Nguyệt, Tranh

Hòa tấu tứ tuyệt của 4 nhạc cụ: Bầu, Nhị, Tranh, Nguyệt hoặc Nhị, Tỳ Bà, Nguyệt, Sáo

Hoà tấu ngũ tuyệt của 5 nhạc cụ: Nhị, Nguyệt, Tranh, Tỳ bà, Sáo

Đặc biệt khi đệm cho hát, người hát thường có 1 đôi phách nhỏ để gõ nhịp

Trang 23

Tính nǎng của các nhạc cụ được sử dụng trong ca nhạc Huế:

Đàn tranh (thập lục) là nhạc khí dây gẩy, có 16 dây Nhạc công ngồi chơi đàn, tay

phải gẩy đàn, tay trái nhấn nháy trên dây Đàn tranh có âm cao, trong sáng, vui tươi

Đàn Nguyệt (đàn kìm) là nhạc khí dây gẩy, có 2 dây Nhạc công ngồi chơi đàn, tay

phải gẩy đàn bằng móng tay để dài của mình hoặc bằng một miếng nhựa, tay trái bấm phím, luyến láy, nhấn rung Âm thanh của đàn nguyệt ấm áp, tươi sáng, rộn ràng

Đàn Nhị (đàn Cò) là nhạc khí dây kéo, có 2 dây Nhạc công ngồi kéo đàn, tay phải

cầm cung vĩ kéo, tay trái bấm dây với những ngón rung, nhấn, láy, vuốt Âm sắc đàn nhị da diết, tha thiết, đẹp, giàu khả nǎng diễn cảm Nhạc công ngồi chơi đàn, tay phải gẩy đàn bằng miếng nhựa hoặc bằng móng tay, tay trái bấm phím với các ngón nhấn, vuốt, rung Âm sắc của đàn tỳ bà ấm, đục

Đàn Bầu: Còn gọi là đàn Độc huyền Đàn Bầu thuộc họ dây gẩy, chỉ có một dây

Khi chơi nhạc công ngồi gẩy đàn Tay phải cầm que gẩy, tay trái cầm vòi đàn Âm sắc của đàn bầu mượt mà, ngân nga, ngọt ngào gần với giọng nói người Việt

Sáo: Thuộc nhạc khí họ hơi Sáo dùng để thổi ngang, làm bằng một ống trúc hoặc

một ống nứa nhỏ Khi diễn tấu, nhạc công dùng 2 ngón tay cái đỡ sáo, các ngón còn lại đặt lên lỗ bấm, đưa sáo ngang lên môi thổi, hướng sáo về phía tay phải Kỹ thuật thổi có: vuốt hơi, nhấn hơi, rung hơi Kỹ thuật bấm có vuốt, lướt, láy Sáo ngang

có âm sắc mượt mà, khoẻ, trong sáng và linh hoạt

Lễ Nhạc Cung đình Huế

Bắt nguồn từ 8 loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, đại yến cửu tấu nhạc, cung trung nhạc, đến triều Nguyễn lễ nhạc cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Ðại nhạc và Nhã nhạc (tiểu nhạc) với hệ thống các bài bản lớn

Âm nhạc cung đình Việt Nam-Nhã nhạc (triều Nguyễn) vừa được UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể của thế giới Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm

Trang 24

Theo dòng lịch sử thì Nhạc cung đình Việt Nam đã có một truyền thống rõ rệt

- Nhà Lý (thế kỷ thứ 11-13):

Những bức chạm trên các tảng đá ở chân cột chùa Phật Tích (Bắc Ninh) thấy có 10 nhạc công chia thành hai nhóm Những nhạc khí sử dụng bao gồm: Phách (hai miếng tre gõ vào nhau), đàn gáo, ống sáo ngang, đàn tranh, ống sênh (loại khèn bè) Ngay chính giữa là một hoa sen cách điệu hóa, tiếp theo là ống sênh, đàn tỳ bà, ống tiêu (thổi dọc), nguyệt cầm, trống loại phong yêu cổ (một tay cầm dùi, một tay vỗ như loại trống ghi năng của Chăm mà hình thắt đáy lưng ong)

- Nhà Trần (thế kỷ thứ 13-15):

Theo An nam chí lược của Lê Tắc thì Đại Nhạc dùng trong triều đình gồm kèn tất lật, tiểu quản (loại ống thổi dọc), tiểu bạt (chập chõa nhỏ) và phạn ổ (trống cơm, có chú thêm "gốc từ nhạc khí Chiêm Thành, người Chăm) và một nhạc khí gọi là "đại cấu" Tiểu nhạc dùng trong dân dã, gồm có cầm, tranh, thất huyền, song huyền và tiêu loại

- Nhà Lê (thế kỷ thứ 15 đến cuối thế kỷ 18)

Trong Lê triều hội điển và Lịch triều hiến chương loại chí đều có ghi về 8 thể loại nhạc (Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Đại Yến nhạc, Cung trung chi nhạc, Cứu nhật nguyệt giao trùng nhạc) cùng nhiều điệu múa liên quan

- Nhà Nguyễn (đầu thế kỷ 19 đến năm 1945):

Bao gồm: Đại nhạc, Nhã nhạc, Huyền nhạc Tế giao, Miếu nhạc, Yến nhạc Với những nhạc cụ khác nhau và cách thức ứng xử trình diễn khác nhau

Trang 25

Vũ khúc cung đình Huế

Với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung đình Việt Nam thể hiện được sự phát triển nâng cao múa hát cổ truyền của người Việt

- Các vũ khúc xưa ở Huế

Múa cung đình vốn có một quá trình phát triển khá lâu đời ở Việt và đến thời nhà Nguyễn thì đạt đến đỉnh điểm Múa cung đình là môn nghệ thuật chuyên phục vụ cho các đối tượng là vua chúa, hoàng gia, triều đình và sứ thần ngoại quốc

Vũ khúc "Tam tinh chúc thọ": Có nghĩa là ba sao chúc sống lâu Đó là ba sao

Phúc, Lộc, Thọ Vũ khúc này được dùng trong dịp lễ Vạn Thọ, múa chúc thọ nhà vua Đến đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ sửa lại để múa vào các ngày

lễ Vạn Thọ, Thánh Thọ, Tiên Thọ, Thiên Xuân, ngụ ý chúc nhà vua phúc-lộc-thọ kiêm toàn

Vũ khúc "Bát tiên hiếu thọ": Có nghĩa là 8 vị tiên dâng trái cây và vị thuốc có tác

dụng làm cho sống lâu Tám vị tiên đó là Hán Chung Ly, Lâm Thái Hòa, Hàn Tương

Tử, Trương Quá Lão, Hà Tiên Cô, Tào Quốc Cửu, Lã Đồng Tân, Lý Thiết Quài Vũ khúc "Bát Tiên Hiếu Thọ" múa vào ngày lễ vạn thọ, Thánh thọ, Tiên thọ để chúc nhà vua trường thọ

Vũ khúc "Múa quạt": (Vũ phiến), cũng do Đào Duy Từ đặt ra, múa vào các buổi

yến tiệc, tân hôn dành cho Hoàng Thái Hậu, Hoàng Hậu, phi tần, công chúa thưởng lãm

Vũ khúc "Tứ linh": Là bốn loài thú linh thiêng: Rồng (long), Kỳ lân (long hay ly),

rùa (qui) và chim phượng (phụng) Vũ khúc này có từ thời cổ được Đào Duy Từ sửa chữa lại để múa vào những ngày Vạn thọ, Thánh thọ, Tiên thọ, Thiên xuân và cúng

Mụ

Vũ khúc "Trình tường tập khánh": Múa vào các ngày lễ Tứ ngũ tuần đại khánh

Điệu múa có bốn vị tứ trụ đại thần vâng lệnh Thượng đế xuống trần gian chúc cho dân giàu nước mạnh

Vũ khúc "Nữ tướng xuất quân": Múa trong những ngày lễ chiến thắng, Hưng quốc

Khánh niệm, những buổi dạ yến và tiếp sứ thần nước ngoài Vũ khúc này do Đào Duy Từ đặt ra để ghi nhớ công đức Hai Bà Trưng có công đánh giặc giữ nước

Trang 26

Vũ khúc "Bát dật": Có từ thời cổ, đến năm Minh Mạng nguyên niên (1820), nhà

vua sai Viện Hàn Lâm sửa lại để múa những khi tế xã tắc, tế miếu, tế giao, tế lịch đại

đế vương và Đức Khổng phu tử

Vũ khúc "Lục cúng hoa đăng": Do các vị sư Ấn Độ truyền sang ta từ thời cổ Các

chùa ở hạt Thuận Thành, Văn Lâm, Mỹ Hào, Văn Mỹ, Thường Tín thờ Phật tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) là bốn vị Phật giúp dân chúng thu hoạch tốt mùa màng Khi cúng, thường múa để dâng hương-hoa-trà-quả và bánh lên Tam đảo

Vũ khúc "Lục triệt hoa mã đăng": Là một vũ khúc phức tạp, dùng cả người lẫn

ngựa, thường múa vào ngày lễ Hưng quốc Khánh niệm ở trước Phu Văn Lâu cho công chúng xem

Vũ khúc "Tam Quốc-Tây Du": Cũng do Đào Duy Từ đặt ra để diễn lại sự tích

những vị anh hùng chiến đấu vì dân vì nước Còn riêng điệu múa Tây Du nhằm làm siêu thoát âm hồn thập loại chúng sinh Vũ khúc Tam Quốc-Tây Du múa vào các ngày lễ Vạn thọ, Khánh thọ và Tiên thọ

Vũ khúc "Đấu chiến thắng Phật": Múa vào các ngày lễ Vạn thọ, Khánh thọ, Tiên

thọ và cúng Mụ Đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ đem kinh Phật đặt ra

vũ khúc này chủ yếu để trừ yêu ma quỷ chướng Vì điệu múa có hai vị thần là Tề Thiên Đại Thánh và Hộ Pháp nên cũng gọi là múa song quang

Ẩm thực Huế

Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn Các món ăn dân giã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, thông minh với

kỹ thuật nấu nướng giỏi giang, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế Ngoài ra, cơm chay Huế chắc chắn sẽ khiến bạn không bao giờ quên được hương vị tinh khiết tuyệt vời của những món ăn Huế

Ngày đăng: 30/10/2022, 06:27

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN