Những kết quả sáng tạo cái mới

Một phần của tài liệu kl lam thi ngoc doan 710019v (Trang 39 - 43)

Một bộ lịch gồm 6 tờ thể hiện lại mọi hoạt động tiêu biểu của Festival. Như ban đầu tác giả đã xác định đây là một lễ hội với quy mô lớn và đã thành công, thu hút nhiều sự quan tâm của mọi người trong và ngoài nước; để có thể mô tả hết khong khí cũng như tính nhất của Festival là một điều khó khăn. Tác giả đã phân tích và chọn lọc riêng cho mình những hoạt động tiêu biểu và những nét văn hóa đặc trưng của xứ Huế, với sắc thái văn hóa của dân tộc Việt.

-Bìa: Mang một màu đỏ thắm, hoa văn cung đình Huế chìm trong nền và logo của Festival.

Mẫu logo gồm 2 phần:

Phần chữ Festival Huế + (năm tổ chức) là tác phẩm được tuyển chọn của hoạ sĩ Pháp De L’Estraint vào năm 1999, khi chuẩn bị tổ chức Festival Huế 2000. Ý tưởng cơ bản của biểu tượng là sử dụng màu cờ nền đỏ sao vàng của quốc kỳ Việt Nam làm nền, đi liền với màu cờ là hình Ngọ Môn ở Ðại Nội Huế được cách điệu và dòng chữ Festival Huế 2008 được bố trí theo cấu trúc ngữ pháp của tiếng Pháp và tiếng Việt.

Dưới nền logo chính của De L’Estraint, Ban tổ chức Festival Huế đưa thêm hình ảnh của linh vật long mã (ngựa hoá rồng) - là linh vật đặc trưng thường được trang trí trên một số kiến trúc Huế: Biểu tượng Long Mã được cách điệu từ hình tượng Long Mã tại bình phong trường Quốc Học, di tích lưu niệm thời Bác Hồ theo học tại trường Quốc Học Huế.

-Trang Lịch Tháng 1,2: Lễ hội Múa Lân ở Phố Cổ.

Theo tài liệu ghi chép, Múa lân-sư-rồng là một môn nghệ thuật múa dân gian Á Đông có nguồn gốc từ Trung Quốc, thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu, vì ba con thú này tượng trưng cho thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc...

Lân có hai loại: loại có sừng và không sừng.

Lân không sừng giống hổ là biểu tượng của tháng giêng. Ðầu lân không sừng dùng để múa, thường dính vào sau gáy một miếng vải đỏ, viết chữ Vương lớn và đậm nét, mình lân có vòng đen.

Lân có sừng chỉ có một sừng chính giữa nên còn gọi là kỳ lân, đầu tròn lớn, màu thân giống màu đầu lân, hay được sử dụng để múa nhất.

Lân chỉ chế tạo cái đầu thật công phu, còn mình là vải thêu, viền rất khéo. Có loại lân đặc biệt, nửa giống lân, nửa giống rồng, nhưng ít xuất hiện trong các buổi trình diễn.

Ðám múa lân thường gồm có một người đội chiếc đầu lân bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Ðầu lân có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo nhịp múa của lân. Ngoài ra còn có trống thanh la, não bạt, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu lân và quan trọng nhất không thể thiếu đó là ông Địa. Có nhiều kiểu múa lân.

"Ðộc chiếm ngao đầu" - Một con lân biểu diễn, thể hiện tài tả xung hữu đột, tiến thoái nhịp nhàng, bộ pháp hùng dũng, nhảy cao, trèo giỏi, tượng trưng cho cái uy, cái dũng của một mãnh tướng, một hảo hán, một vị anh hùng.

"Song hỉ" - Hai con lân cùng biểu diễn, thể hiện niềm hân hoan khoan khoái, tâm đầu ý hợp như loan với phụng, như vợ với chồng, như đất trời và âm dương tương hợp.

"Tam Tinh" - Ba con lân hợp múa với ba màu vàng, đỏ, đen, thể hiện những điều cầu nguyện của mọi người đạt được điều lành, ba điều tốt là Phúc, Lộc, Thọ.

"Tam Anh" - Ba con lân cùng múa, diễn tả Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi vừa hùng dũng, vừa có chí lớn, vừa thương yêu, gắn bó với nhau hơn cả anh em ruột thịt cho đến chết.

"Tứ Quý hưng long" - Bốn con lân cùng múa, gồm bốn đầu lân trắng, vàng, đỏ, đen (hoặc xanh), tượng trưng cho bốn mùa, bốn phương, bốn hiện tượng trong trời đất, diễn tả sự sung mãn, trường thọ, mạnh khỏe và hạnh phúc.

- Trang Lịch Tháng 3,4: Lễ hội Áo dài trên Cầu Trường Tiền. Áo Dài, trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam, Ôm sát cơ thể, có cổ cao và dài khoảng ngang gối. Nó được xẻ ra ở hông. Áo Dài vừa quyến rũ lại vừa gợi cảm, vừa kín đáo nhưng vẫn biểu lộ đường nét của một người thiếu nữ. Sân khấu là cầu Trường Tiền, 12 nhà tạo mẫu và người mẫu là 300 nữ sinh trung học Huế hai Bà Trưng.

- Trang Lịch Tháng 5,6: Nhã Nhạc Cung Đình tại Đại Nội, Lễ Nhạc Cung Đình Huế đã trở thành một hệ thống lễ nhạc khá đa dạng. Nhã nhạc vừa được UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

- Trang Lịch Tháng 7,8: Lễ hội Diều Huế trên Quảng Trường Ngọ Môn. Một trong những lễ hội tiêu biểu trong dân gian. Lễ hội thả Diều diễn ra hàng ngày vào buổi chiều trên Quảng Trường Ngọ Môn. Nơi đây tổ chức các cuộc thi thiết kế Diều, thả Diều…do Câu lạc bộ Diều Huế tổ chức.

- Trang Lịch Tháng 9,10: Vũ khúc Cunh đình Huế. Múa cung đình vốn có một quá trình phát triển khá lâu đời ở Việt Nam, với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng. Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung đình. Tác giả đã lựa chọn Vũ khúc "Múa quạt": (Vũ phiến) đại diện cho Vũ khúc Cung Đình Huế.

- Trang Lịch Tháng 11,12: Hò Giã Gạo_ cũng là một trong những lễ hội dân gian, sẽ diễn ra trong các chương trình khai mạc.

Lịch Khối: Mang đầy đủ chức năng một bộ lịch để xem ngày tháng. Tác giả muốn tạo sự khác biệt về không gian của lịch, bốc cục trên hình khối, màu sắc tổng thể. 12 địa danh với những công trình kiến trúc lâu đời, lăng tẳm, đền chùa mà không một nơi nào có thể tìm thấy như ở Huế. Bên cạnh đó, tác giả phát triển thêm 4 kiểu lịch kẹp sách, hình ảnh phát triển từ những thiếu nữ trong trang phục cung đình Huế, và tác giả muốn kết hợp giữa cung đình và dân gian từ chiếc áo dài; màu sắc đỏ, vàng cung đình; tím, xanh, trắng của nữ sinh Huế.

Lịch Chương trình: ghi lại thời gian, địa điểm của các hoạt động lễ hội kéo dài từ 03 – 11.06.2008

Po vớ thấ và chấ

Po Hu năm Lă Th đún chô Mộ

oster 1: Gi i chiếc nón ấp thoáng h đẹp nhất ở ất trữ tình c

oster 2: “D uế 2008. H m 1840. Ô ăng. Tháng hiệu Trị lên ng họa đồ ôn ở Bửu T ột số phác

ới thiệu về n lá trên t hình ảnh c ở Huế_ ch có sẵn tron

Di sản văn h Hình ảnh đặ Ông đổi tên

1/1841 M n ngôi, mộ của vua c Thành, như thảo tác g

ề Festival H ay_ hình ả chùa Thiên hìm đắm tro

ng Huế.

hóa với hội ặc trưng là n núi Cẩm Minh Mạng t tháng sau cha. Ngày ưng công v iả thể hiện

Huế, cô gá ảnh người n Mụ_ một

ong thiên n

i nhập và p Lăng Min m Kê thành băng hà tr u đã ra lện 20/8/1841, việc xây lăn n:

ái Huế tron con gái V trong nhữ nhiên, như

phát triển”

nh Mạng _ h núi Hiếu rong khi lă nh cho binh

, thi hài vu ng mãi đến

ng chiếc áo Việt Nam d ững kiến trú ư tạo hóa đ

là chủ đề c Ðược khở Sơn và gọ ăng vẫn chư h lính tiếp ua Minh M n đầu năm 1

o dài màu duyên dáng

úc tôn giáo đã tạo nên

chính trong ởi công xây ọi tên lăng ưa hoàn th

tục xây dự Mạng được

1843 mới h

tím cùng g. Xa xa, o cổ nhất chất thơ,

g Festival y dựng từ g là Hiếu ành. Vua ựng theo c đưa vào hoàn tất.

Một phần của tài liệu kl lam thi ngoc doan 710019v (Trang 39 - 43)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(52 trang)