Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải xử lý hàng loạt các vấn đề tài chính như: huy động vốn, quản lý sử dụng vốn, bảo toàn và phát triển vốn, vay và trả nợ, ph
Trang 1KHOA KINH TẾ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đề tài :
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY MAY PHÚC YÊN
GVHD : THS Trịnh Minh Huyền
MSSV : 410880.Q LỚP : 04Q1N
TP.HỒ CHÍ MINH – THÁNG 06 / 2004
Trang 2Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp hôm nay, đó cũng là một sự phấn đấu không
ngừng của mỗi sinh viên, một phần đó cũng là kết quả của sự học tập suốt bốn năm
qua, là một sự đào tạo không mệt mỏi cũa quý thầy cô trường ĐH Bán công Tôn Đức
Thắng, những người đã truyền lại cho chúng em những kiến thức quý báu để làm hành
trang bước vào cuộc đời
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trường Đại Học Bán Công Tôn Đức
Thắng, đặc biệt đến các thầy cô khoa Kinh tế Xin cảm ơn Cô Trịnh Minh Hiền
người đã tận tâm, chỉ dẫn giúp em hòan thành đề tài hôm nay
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc Công ty TNHH may Phúc Yên,
đặc biệt là các Anh, Chị phòng kế toán đã hết lòng giúp đỡ em trong suốt thời gian
thực tập tại công ty, không những giúp em hòan thành tốt đề tài tốt nghiệp mà còn
truyền đạt những kinh nghiệm thực tiễn quý báu liên quan đến công việc về sau
Với thời gian thực tập còn hạn chế nên không ít nhiều có những thiếu sót, em
kính mong nhận được những chỉ bảo của quý thầy cô và các anh chị, để cuốn đề tài
hòan thiện hơn nữa
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, Ngày 01 tháng 07 năm 2004
Đỗ Đình Giang
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải tự tìm cho mình nguồn vốn kinh doanh, phải tạo cho mình một sức mạnh tài chính tốt, phải sản xuất kinh doanh có hiệu quả Vì hoạt động của doanh nghiệp là mục tiêu sinh lời và tối đa hoá lợi nhuận, cho nên doanh nghiệp phải xây dựng phương hướng hoạt động kinh doanh và xác định mục tiêu trong tương lai sao cho đạt hiệu quả cao nhất Để đạt được điều đó thì doanh nghiệp phải theo sát và nắm được những biến đổi của thị trường từ đó hoạch định những chính sách tạo cho mình nguồn vốn cần thiết, một nguồn tài chính dồi dào đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh và giúp doanh nghiệp đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của thị trường
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải xử lý hàng loạt các vấn đề tài chính như: huy động vốn, quản lý sử dụng vốn, bảo toàn và phát triển vốn, vay và trả nợ, phân phối doanh thu và lợi nhuận, hình thành các quỹ phục vụ nhu cầu sản xuất và phúc lợi, và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, với khách hàng
và đối tượng có liên quan khác Vì vậy tài chính doanh nghiệp vừa phải đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh, vừa phải tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đánh giá đúng các nhu cầu về vốn, tìm được các nguồn tài trợ, sử dụng vốn hiệu quả là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay Nhận thức được tầm quan trọng đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài
“phân tích tình hình tài chính tại Công ty may Phúc Yên” Thông qua việc phân tích
và đánh giá tình hình tài chính tại công ty từ đó có thể nhìn thấy được thực trạng và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính
Trang 7Trang 1
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
1.1 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP :
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế, biểu hiện dưới hình
thức giá trị (quan hệ tiền tệ), phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các
quỹ tiền tệ, nhằm phục vụ quá trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và góp
phần tích lũy vốn cho xã hội
Các quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Tất cả các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với
Nhà nước ( nộp thuế cho ngân sách Nhà nước ), ngân sách Nhà nước cấp vốn cho
doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn liên doanh hoặc góp vốn cổ phần ( mua cổ
phiếu ) hoặc cho vay ( mua trái phiếu ) tùy theo mục đích yêu cầu quản lý đối với
nền kinh tế mà quyết định góp vốn hoặc cho vay nhiều hay ít
Những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và thị trường:
Quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp khác
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, với bạn hàng và khách hàng
thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, mua bán vật tư, hàng hoá, phí bảo hiểm, tiền lãi, tiền công, chi trả cổ
tức…
Quan hệ giữa doanh nghiệp ngân hàng, với các tổ chức tín dụng phát sinh
trong quá trình cho vay, hoàn trả vốn và trả lãi
Những quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp:
Quan hệ kinh tế doanh nhiệp với các phòng ban, phân xưởng, tổ đội sản xuất
trong quá trình phân bổ tài sản, vốn liếng, tạm ứng…
Quan hệ kinh tế doanh nhiệp với các cán bộ công nhân viên tronh quá trình
phân phối thu nhập cho gnười lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng…
Những quan hệ kinh tế trên, được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ,
thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là
các quan hệ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh doanh nghiệp là một
đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị là chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời phản
ánh rõ nét mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu trong hệ thống
tài chính nước ta
1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp có 3 chức năng sau:
1.1.2.1 Chức năng tạo vốn, đảm bảo thoả mãn nhu cầu vốn cho quá trình
sản xuất kinh doanh:
Trang 8Để có đủ vốn cho hoạt đông sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp
phải thỏa mãn nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, tổ chức huy động vốn và sử
dụng vốn đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển quá trình sản xuất kinh
doanh ở doanh nghiệp
Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp là tạo môi trường hoạt động phong phú, đa
dạng để tạo vốn và phát triển các loại hình tín dụng thu hút tối đa các nguồn vốn
nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế xã hội và nhân dân tạo nguồn vay dồi dào với
mọi doanh nghiệp
1.1.2.2 Chức năng phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp:
Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân
phối, thu nhập bằng tiền mà doanh nghiệp đạt được trước tiên phải bù đắp các chi
phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh như: bù đắp hao mòn máy móc,
nhà xưởng, thiết bị, trả lương cho lao động, mua nguyên vật liệu để tiếp tục cho
chu kỳ sản xuất kinh doanh mới, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, phần còn
lại doanh nghịêp, sử dụng để hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện vốn
hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có) Chức năng phân phối tài chính của doanh
nghiệp là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp, quá trình đó
luôn gắn với những đặc điểm vốn có của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình
thức sở hữu của doanh nghiệp
1.1.2.3 Chức năng giám đốc ( hoặc kiểm tra ) bằng tiền đối với các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp:
Tài chính doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thu chi tiền tệ và các chỉ tiêu
phản ánh bằng tiền để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn sản xuất kinh doanh và
hiệu quả sản xuất kinh doanh Cụ thể qua tỉ trọng, cơ cấu nguồn vốn huy động,
việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính
toán các yếu tố chi phí vào giá thành và phí lưu thông, việc thanh toán công nợ
với ngân sách, với người bán, với công nhân viên, với tín dụng và kiểm tra việc
chấp hành kỹ luật tài chính, kỹ luật thanh toán, kỹ luật tín dụng của doanh
nghiệp Trên cơ sở đó giúp cho các nhà quản trị phát hiện những khâu mất cân
đối, những sơ hở trong công tác điều hành quản lý trong sản xuất kinh doanh để
có biện pháp ngăn chặn kịp thời các khả năng xảy ra nhằm duy trì và nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm chức năng giám đốc
của tài chính doanh nghiệp, vì vậy chức năng này trong phạm vi doanh nghiệp
nơi mà hàng ngày, hàng giờ thực hiện việc tiêu dùng vật tư và lao động thì có ý
nghĩa quan trọng hàng đầu
Tóm lại: Ba chức năng trên có mối liên hệ mật thiết hữu cơ với nhau
Chức năng tạo vốn và chức năng phân phối được tiến hành đồng thời với quá
trình thực hiện chức năng giám đốc, chức năng giám đốc được tiến hành tốt là cơ
sở quan trọng cho những định hướng sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho việc
sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục, việc tạo vốn và phân phối tốt, sẽ
khai thông các luồng tài chính dồi dào là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp
1.2 NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP:
1.2.1 Định nghĩa:
Trang 9Trang 3
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp khoa học, cho phép đánh
giá tình hình tài chính: quá khứ và hiện tại giúp cho việc ra quyết định quản trị và
đánh giá doanh nghiệp một cách chính xác
1.2.2 Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ của phân tích tài chính là trên cơ sở những nguyên tắc về tài
chính doanh nghiệp và phương pháp phân tích mà phân tích đánh giá thực trạng
của hoạt động tài chính, vạch rõ những mặt tích cực và tiêu cực của việc thu chi
tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng các yếu tố, từ đó đề ra các
biện pháp, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
1.2.3 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp nhà phân tích đánh giá chính xác
sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi, tiềm năng, hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, đánh giá những triển vọng cũng như những rủi ro trong tương lai của
doanh nghiệp, để từ đó ra những quyết định thích hợp Những người sử dụng báo
cáo tài chính cũng được tiến hành theo nhiều cách khác nhau
1.2.3.1 Phân tích tài chính đối với nhà quản trị:
Đối với các nhà quản trị phân tích tài chính nhằm:
Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động sản xuất kinh
doanh trong quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng
thanh toán, khả năng hoàn trả nợ vay, mức độ rủi ro của tài chính doanh nghiệp
Định hướng các quyết định của hội đồng quản trị, ban giám đốc như:
quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, phân chia lợi tức, phân chia cổ phần…
Là cơ sở cho các kế hoạch đầu tư, phần ngân sách thương mại…
Cuối cùng phân tích tài chính là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản
lý
Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và là cơ sở
cho các nhà quản trị để làm sáng tỏ các chính sách, sách lược của doanh nghiệp
1.2.3.2 Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư:
Các cổ đông, các chủ sở hữu của doanh nghiệp quan tâm trực tiếp đến việc
tính toán các giá trị của doanh nghiệp vì họ đã giao vốn cho doanh nghiệp và có
thể chịu rủi ro Thu nhập của cổ đông là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của
vốn đầu tư, hai yếu tố này chịu ảnh hưởng lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghịêp
Do đó, các nhà đầu tư thường tiến hành đánh giá khả quan sinh lời của doanh
nghiệp
1.2.3.3 Phân tích tài chính với nhà cho vay:
Nhà cho vay muốn đảm bảo khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, thì
phân tích tài chính của doanh nghiệp đi vay, phân tích tài chính đối với các
khoản nợ vay dài hạn, khác với các khoản nợ vay ngắn hạn
Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay quan tâm đến khả
năng thanh toán nhanh của doanh nghịêp Nghĩa là khả năng ứng phó của doanh
nghiệp đối với các món vay khi đến hạn trả
Trang 10 Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả
năng hoàn vốn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Dù cho vay ngắn hạn hay dài hạn thì người ta cho vay đều quan tâm tới cơ
cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo của doanh nghiệp đi vay
1.2.3.4 Phân tích tài chính đối với cơ quan Nhà nước:
Đối với cơ quan Nhà nước như: cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan
chủ quản … qua phân tích tài chính sẽ thấy được thực trạng tài chính của doanh
nghiệp, trên cơ sở đó các cơ quan Nhà nước sẽ có biện pháp quản lý doanh
nghiệp có hiệu quả hơn
1.2.4 Yêu cầu của việc phân tích tài chính:
Đánh giá các tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt, đảm bảo
vốn cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn
Đánh giá hiệu quả sử dụng của từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh và kết quả tài chính của hoạt động sản xuất kinh doanh
Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá các nhân tố ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đề ra những biện pháp có hiệu
quả để khắc phục những điểm hạn chế và khai thác triệt để những năng lực tiềm
tàng của công ty để nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỂ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
Hệ thống báo cáo tài chính gồm những văn bản đặc biệt riêng có của hệ
thống kế toán được tiêu chuẩn hoá trên phạm vi quốc tế về nguyên tắc về mực
Báo cáo tài chính là phần chiếm vị trí quan trọng trong báo cáo thường niên, nội
dung mà các báo cáo tài chính phản ánh là tình hình tổng quát về tài sản, sự hình
thành tài sản, sự vận động và thay đổi của chúng qua mỗi kỳ sản xuất của doanh
nghiệp Cơ sở thành lập các báo cáo tài chính là dữ liệu thực tế phát sinhqua mỗi
kỳ kinh doanh được kế toán theo dõi ghi chép theo những quy tắc khách quan
Tính chính xác và tính khoa học của các báo cáo tài chính càng cao bao nhiêu sự
phản ánh về sức khoẻ của doanh nghiệp càng cao bấy nhiêu
Hệ thống báo cáo tài chính gồm có:
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thuyết minh các báo cáo tài chính
1.3.1 Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán còn được gọi là bảng cân đối tài sản – là tài liệu
quan trọng đối với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau bên ngoài và bên trong
doanh nghiệp Nội dung bảng cân đối kế toán khái quát tình trạng tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, thường là cuối kỳ sản xuất kinh
doanh Cơ cấu gồm hai phần bằng nhau:
TÀI SẢN = NGUỒN VỐN
1.3.1.1 Tài sản:
Trang 11Trang 5
Tài sản bao gồm hai phần: tài sản lưư động và tài sản cố định
Tài sản lưu động nói chung là tất cả những tiềm lực của doanh nghiệp
được dự kiến sử dụng trong các hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp như:
tiền mặt, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các koản phải thu, hàng tồn kho
Tài sản cố định là đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị …
hiện dùng để tạo ra doanh thu chính cho doanh nghiệp Nhà đầu tư rất quan tâm
vào việc đầu tư bao nhiêu tiền vào tài sản cố định
1.3.1.2 Nguồn vốn:
Nguồn vốn phản ánh nguồn gốc tạo nên tài sản của doanh nghiệp, phần
nguồn vốn gồm:
Nợ phải trả: gồm các khoản tín dụng trả chậm, các khoản vay ngắn hạn
ngân hàng và các khoản vay dài hạn khác
Nguồn vốn chủ sở hữu: phản ánh vốn tự có của doanh nghiệp
Một điểm quan trọng cần quan tâm là các giá trị của bảng cân đối kế toán
do các nguyên tắc kế toán ấn định, được phản ánh theo giá trị sổ sách chứ không
phản ánh theo giá trị thị trường
Mặt hạn chế của bảng cân đối kế toán cũng như các báo cáo tài chính nói
chung làm ảnh hưởng đến việc phân tích tài chính, đó là những dữ liệu mà chúng
cung cấp thuộc về quá khứ trong khi phân tích lại hướng về tương lai
1.3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt đông kinh doanh còn gọi là báo cáo lãi – lỗ, là báo
cáo tài chính tổng hợp về tình hình kết quả hoạt động kinh doanh, phản ánh thu
nhập của hoạt động tài chính và các hoạt động khác qua một thời kỳ kinh doanh
Ngoài ra, theo quy định ở Việt Nam báo cáo thu nhập còn có phần kê khai tình
hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước và tình
hình thực hiện thuế giá trị gia tăng
Nội dung của báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh tình hình lãi lỗ của
một doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định
DOANH THU – CHI PHÍ = LÃI (LỖ)
Báo cáo kết quả kinh doanh tập trung vào chỉ tiêu lợi nhuận, tuy nhiên
một trong những hạn chế của báo cáo kết quả kinh doanh là sẽ lệ thuộc rất nhiều
vào quan điểm kế toán trong quá trình hạch toán chi phí, chi phí khấu hao, phân
bổ chi phí, hạch toán hàng tồn kho…
Một năm hạn chế khác là do nguyên tắc kế toán về ghi nhận doanh thu
quy định: theo đó doanh thu được ghi nhận khi nghiệp vụ mua bán hình thành
trong khi thanh toán tiền hàng có thể xảy ra vào một thời điểm khác Nhược điểm
này dẫn đến sự cần thiết của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
1.3.3 Báo cáo lưu chuyển Tiền Tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ – còn gọi là báo cáo ngân lưu – là báo cáo tài
chính cần thiết không những đối với nhà quản trị trong doanh nghiệp mà là mối
quan tâm của nhiều đối tượng khác có liên quan đến doanh nghiệp
Trang 12Kết quả phân tích ngân lưu giúp doanh nghiệp điều phối lượng tiền mặt
một cách cân đối giữa các lĩnh vực: hoạt động kinh daonh, hoạt động đầu tư và
hoạt động tài chính Nói cách khác báo cáo lưu chuyển tiền tệ chỉ ra lĩnh vực tạo
ra nguồn tiền, lĩnh vực sử dụng tiền, khả năng thanh toán: lượng tiền thừa thiếu
và thời điểm cần sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất, tối thiểu hoá chi phí sử dụng
vốn…
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được tổng hợp từ ba dòng tiền ròng từ ba hoạt
động của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh: hoạt động chính của doanh nghiệp – sản xuất, thương
mại, dịch vụ…
Hoạt động đầu tư: trang bị, thay đổi tài sản cố định, liên doanh hoàn vốn, đầu
tư kinh doanh bất động sản…
Hoạt động tài chính: những hoạt động làm thay đổi cơ cấu tài sản, thay đổi
trong vốn chủ sở hữu, nợ vay, phát hành trái phiếu, phát hành và mua lại cổ
phiếu, trả cổ tức…
Có hai phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ: phương pháp trực tiếp
và phương pháp gián tiếp Giữa hai phương pháp chỉ khác nhau cách tính dòng
ngân lưu từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính vẫn giống nhau ở cả hai
phương pháp
Nội dung từng dòng tiền của báo cáo lưu chuyển tiền tệ như sau:
Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Theo phương pháp trực tiếp:
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là theo dõi và ghi chép từng ngày
và trực tiếp nhũng dòng tiền ra và vào, cuối kỳ tính tổng các khoản thu bằng tiền
(gồm thu từ khách hàng và thu khác) trừ đi tổng các khoản chi bằng tiền cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh (gồm tiền trả cho nhà cung cấp, trả cho cán bộ
công nhân viên, tiền nộp cho Nhà nước và tiền chi cho các khoản thuộc hoạt
động sản xuất kinh doanh
Nhận xét:
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ lập theo trực tiếp là một công cụ rất hữu ích
cho các người quản lý doanh nghiệp trong công tác theo dõi và quản lý tình trạng
tiền tệ của doanh nghiệp
- Nhưng phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một hệ thống kế
toán có hiệu lực, có khả năng và phương pháp tiện theo dõi mọi dòng tiền ra vào
vào
Theo phương pháp gián tiếp:
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là xuất phát từ lợi nhuận thuần:
LỢI NHUẬN = DOANH THU – CHI PHÍ
Thực tế ở các doanh nghiệp, các khoản thu nhập và chi phí phát sinh trong
kỳ không phải tất cả đều bằng tiền và lợi nhuận của doanh nghiệp còn có được từ
các hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải tính toán rồi điều chỉnh các khoản chi
phí, thu nhập không phải bằng tiền và những khoản lợi nhuận có được nhưng
không phải từ hoạt đông sản xuất kinh doanh, đồng thời tính đến sự thay đổi của
Trang 13Trang 7
vốn lưu động có ảnh hưởng trực tiếp đến các dòng tiền thuần từ hoạt động sản
xuất kinh doanh mà chưa phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư:
Xác định các khoản thu và chi phí hoạt động đầu tư vào đơn vị khác, rồi
tính chênh lệch giữa thu và chi
Dòng tiền từ hoạt động tài chính:
Các khoản thu và chi từ hoạt động tài chính trong kỳ rồi tính chênh lệch
giữa tổng thu và tổng chi bằng tiền từ hoạt động tài chính trong kỳ
1.3.4 Thuyết minh các báo cáo tài chính:
Thuyết minh các báo cáo tài chính là báo cáo được trình bày bằng lời văn
nhằm giải thích thêm chi tiết của những nội dung thay đổi về tài sản, nguồn vốn
mà các dữ liệu bằng số trong các báo cáo tài chính không thể hiện rõ được như:
Đặc điểm doanh nghiệp: giới thiệu tóm tắt doanh nghiệp
Tình hình khách quan trong kỳ kinh doanh tác động đến hoạt động của doanh
nghiệp
Hình thức kế toán đã và đang áp dụng
Phương pháp phân bổ chi phí, đặc điểm khấu hao, tỷ giá hối đoái được dùng
hạch toán trong kỳ kinh doanh
Sư thay đổi trong đầu tư tài sản cố định
Tình hình thu nhập của cán bộ công nhân viên
Tình hình khác
1.4 PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VỀ TÀI CHÍNH:
Có rất nhiều chỉ tiêu để phân tích tình hình tài chính, nếu không muốn nói
là vô tận: trong đó có những chỉ tiêu quen thuộc đặc trưng và cả những chỉ tiêu
doanh nghiệp tự đặt ra nhằm mục đích phục vụ các yêu cầu cụ thể khác nhau
Mặt khác, sẽ không có kết quả cụ thể nào của các chỉ tiêu là khuôn mẫu cho mọi
thời kỳ, hoặc cho tất cả các doanh nghiệp
Trong mục này để dễ dàng theo dõi và ghi nhớ các chỉ tiêu có cùng mục
tiêu và hướng nghiên cứu sẽ được chọn lọc và sắp xếp – chỉ là một cách tương
đối theo từng nhóm, từng loại chỉ tiêu theo nội dung khác nhau, cụ thể là:
1.4.1 Phân tích chỉ tiêu thanh toán:
Phân tích khả năng thanh toán là phân tích về tình hình công nợ: các
khoản phải thu và tình hình thu nợ, các khoản phải trả và khả năng chi trả Đây là
nhóm chỉ tiêu được sự quan tâm của các nhà quản trị, chủ sở hữu và các nhà cho
vay
1.4.1.1 Phân tích các khoản phải thu, phải trả:
Tình hình công nợ phản ánh công hệ chiếm dụng trong thanh toán, khi
nguồn bù đắp cho tài sản dự trữ bị thiếu, doanh nghiệp đi chiếm dụng ngược lại,
khi nguồn bù đắp cho tài sản dư thừa doanh nghiệp bị chiếm dụng Nếu phần vốn
đi chiếm dụng lớn hơn phần vốn bị chiếm dụng thì doanh nghiệp có thêm phần
vốn đưa vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh Ngược lại doanh nghiệp sẽ giảm
bớt vốn
Trang 141.4.1.2 Khả năng thanh toán tổng quát:
Để có cơ sở đánh giá tình hình thanh toán của Công ty hiện tại và trong
thời gian tới, ta cần xem xét khả năng thanh toán của Công ty đối với tổng nợ
thông qua hệ số thanh toán tổng quát
Công thức:
1.4.1.3 Hệ số thanh toán nhanh:
Tỷ số thanh toán nhanh cho biết khả năng thanh toán thực sự của Công ty
và được tính toán dựa trên các tài sản lưu động có thể chuyển đổi nhanh chóng
thành tiền mặt để đáp ứng những nhu cầu thanh toán cần thiết
Công thức:
1.4.1.4 Hệ số vòng quay các khoản phải thu:
Hệ số vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các
khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp:
Công thức:
1.4.2 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn:
Tình hình hoạt động của doanh nghiệp có chiều hướng tốt hay không, thể
hiện qua tốc độ luân chuyển của tài sản, tiền vốn trong quá trình hoạt động Một
doanh nghiệp có tốc độ luân chuyển vốn cao thể hiện tình hình sử dụng vốn có
hiệu quả và ngược lại Chính vì vậy, chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn sẽ giúp
cho ta xem xét doanh nghiệp đã khai thác các nguồn lực vào hoạt động sản xuất
kinh doanh như thế nào Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, sau
đây chúng ta lần lượt phân tích các chỉ tiêu:
1.4.2.1 Hệ số vòng quay hàng tồn kho:
Nhu cầu vốn luân chuyển của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng của độ dài
thời gian của hàng hoá trong kho Điều này có thể được tính bằng cách tính hệ số
quay vòng của hàng hoá tồn kho, là số lần mà hàng hoá tồn kho được bán trong
kỳ kế toán
Công thức:
Tài sản lưu động - Hàng tồn kho
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Doanh thu thuần
Hệ Số vòng quay các khoản thu =
Số dư BQ các khoản phải thu
u
Tổng tài sản
Hệ số thanh toán tổng quát =
Nợ phải trả
Trang 15Trang 9
1.4.2.2 Hệ số vòng quay tài sản:
Hệ số vòng quay tổng tài sản là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của tài sản
đầu tư thể hiện qua doanh thu sinh ra từ tài sản đó Qua chỉ tiêu này ta có thể
đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của Công ty
Công thức:
1.4.3 Phân tích hiệu quả sinh lời:
Để đánh giá tổng quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh, người ta thường
sử dụng chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận của
doanh nghiệp
Lợi nhuận là kết quả của hàng loạt chính sách và quyết định của công ty
Các tỷ số tài chính đã được đề cập ở trên cho thấy phương thức mà công ty được
điều hành nhưng các tỷ số vê lợi nhuận mới cho thấy đáp số sau cùng về hiệu
năng của việc quản trị doanh nghiệp
Trước khi đầu tư vào một công ty, các nhà đầu tư thường quan tâm đến
các tỷ số về doanh lợi nhằm xác định lợi tức ròng của công ty thay đổi như thế
nào qua quá trình hoạt động kinh doanh Vì thế, lợi nhuận ròng của công ty có ý
nghĩa rất quan trọng đối với nhà đầu tư
1.4.3.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh tính hiệu quả của qúa trình hoạt
động kinh doanh thu tiêu thụ sản phẩm mang lại Nó cho biết cứ một đồng doanh
thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Công thức:
1.4.3.2 Tỷ xuất sinh lời của tài sản:
Hệ số suất sinh lời của tài sản phản ánh tính hiệu quả trong việc sắp xếp,
phân bổ và quản lý tài sản, thể hiện trình độ quản lý của doanh nghiệp
Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = x 100%
Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế
Suất sinh lời của tài sản = x 100%
Tổng tài sản
Trang 161.4.3.3 Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn tự có của công ty, hay nói
chính xác hơn là đo lường mức doanh lợi trên mức đầu tư của chủ sở hữu
Những nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu này vì họ quan tâm đến
khả năng thu được lợi nhuận so với vốn do họ bỏ ra đầu tư
Công thức:
1.4.4 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động kinh doanh:
Một công ty không thể được coi là hoạt động tốt theo đúng nghĩa của nó
nếu thu nhập của công ty chủ yếu là do các hoạt động khác, không phải là do
hoạt động kinh doanh chính của công ty mang lại Vì thế việc phân tích kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh chính mà trọng tâm là lợi nhuận là vấn đề hết sức
cần thiết và quan trọng
1.4.4.1 Giá vốn hàng bán và lãi gộp trong doanh thu:
Chỉ tiêu giá vốn hàng bán và lãi gộp trong doanh thu phản ánh mối quan
hệ của giá vốn hàng bán và lãi gộp trong doanh thu từ đó giúp cho nhà quản trị
xác định chính sách giá cả hợp lý để nâng cao lợi nhuận
Công thức:
1.4.4.2 Chi phí bán hàng và lợi nhuận gộp trong doanh thu:
Chi phí bán hàng và lợi nhuận gộp trong doanh thu thể hiện mối quan hệ
giữa chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp với lãi gộp trong doanh thu, cho
phép dự kiến biến động của chi phí, là khía cạnh quan trọng giúp doanh nghiệp
nghiên cứu quá trình hoạt động với chiến lược kinh doanh
Công thức:
1.4.5 Nhóm chỉ tiêu cơ cấu tài chính:
Cơ cấu tài chính là khái niệm dùng để chỉ tỷ trọng của nguồn vốn vay
chiếm trong tổng số nguồn vốn của công ty Cơ cấu tài chính là chỉ tiêu cực kỳ
Lợi nhuận sau thuế
Suất sinh lời của vốn CSH = x 100%
Trang 17Trang 11
quan trọng, là đòn bẩy sức mạnh đối với lợi nhuận của công ty Qua hệ số cơ cấu
tài chính, các nhà quản trị thấy được rủi ro về tài chính của công ty và là một
trong những căn cứ từ đó dẫn đến quyết định mở rộng hay thu hẹp đầu tư của
mình
1.4.5.1 Tỷ suất nợ và tỷ suất tự tài trợ:
Tỷ suất nợ phản ánh tỷ lệ của vốn vay trong tổng số vốn của công ty, còn
tỷ suất tự tài trợ phản ánh tỷ lệ vốn tự có ( nguồn chủ sở hữu ) của công ty trong
tổng nguồn vốn Tổng hai chỉ tiêu này là 100% vì nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
là hai yếu tố cấu thành nên nguồn vốn
Công thức:
Công thức:
1.4.5.2 Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu:
Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu là tỷ số so sánh giữa nợ vay và vốn chủ
sở hữu, nó cho biết cơ cấu tài chính của công ty một cách rõ ràng nhất
Công thức:
1.4.5.3 Tỷ suất nợ ngắn hạn trên TS lưu động:
Tỷ suất này cho biết trong tài sản lưu động hiện có của công ty thì phần
vay mượn chiếm tỷ trọng là bao nhiêu Nếu tỷ xuất này có chiều hướng tăng thì
rủi ro tài chính càng tăng Đây là chỉ tiêu cần xem xét bởi vì nợ ngắn hạn của
công ty chiếm 99% tổng các khoản phải trả
Trang 18Thông qua phân tích các tỷ số tài chính, chúng ta có thể đánh giá khá
chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại Đồng thời
các tỷ số tài chính chì ra mối quan hệ giữa các khoản mục trong báo cáo tài chính
và chúng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh các khoản mục đó của
doanh nghiệp qua các thời kỳ và so sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành
1.5 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CÁC TỶ SỐ TÀI CHÍNH:
Các tỷ số tài chính sẽ cung cấp nhiều thông tin hơn khi chúng ta so sánh
các chỉ tiêu liên quan Ta đánh giá các tỷ số tài chính theo phương pháp sau:
1.5.1 Phân tích theo xu hướng:
Nhận xét xu hướng biến động qua thời gian là một biện pháp quan trọng
để đánh giá các tỷ số đang trở nên xấu đi hay đang phát triển theo chiều hướng
tốt đẹp Có thể so sánh với năm trước đó hoặc theo dõi sự biến động qua nhiều
năm Kết quả sự so sánh sẽ cho thấy sự phát triển tài chính của doanh nghiệp
Đây là thông tin rất cần thiết cho cả nhà quản trị cũng như các nhà đầu tư
1.5.2 Phân tích liên hoàn các tỷ số tài chính:
Các tỷ số tài chính được trình bày ở dạng phân số Điều đó có nghĩa là
mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm đều tuỳ vào hai nhân tố là mẫu số hay tử số
của tỷ số đó Mặt khác các tỷ số còn ảnh hưởng lẫn nhau
Nợ ngắn hạn
Tỷ suất nợ ngắn hạn trên TSLĐ = x 100%
Tài sản lưu động
Trang 19Trang 13
CHƯƠNG II
CƠ SỞ THỰC TẾ VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
MAY PHÚC YÊN
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
2.1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY MAY
PHÚC YÊN
Công ty “TNHH may Phúc Yên” ban đầu chỉ còn là một cơ sở sản xuất nhỏ
được thành lập từ năm 1987, cơ sở chuyên may gia công lại quần áo may sẵn cho
các đơn vị xuất nhập khẩu với thị trường các nước, chủ yếu là Liên Xô (cũ) và
Cộng Hoà Liên Bang Đức, Nam Triều Tiên …
Đến năm 1992 do đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của thị trường may
mặc cùng với sự thay đổi lớn về cơ chế, sự ra đời của luật đầu tư, vì vậy cơ sơ
xin thành lập “Công ty TNHH May Phúc Yên” và đã được ký chấp nhận vào
tháng 4 năm 1993 mang tên:
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MAY PHÚC YÊN
Danh hiệu: Phúc Yên Gammet LTD.CO
Được Nhà nước cấp giấy phép thành lập số: 161/GĐ UB ngày 13/2/1991
của UBND Thành Phố Hồ Chí Minh, với số vốn điều lệ ban đầu là 570,000,000
đồng
Trụ sở chính của Công ty được đặt tại số: 434 Phạm Văn Hai - F5 - Q.TB
trụ sở sản xuất:
Phân xưởng II: số 2/11 Hương Lộ 11 - F5 - Q.TB
Phân xưởng III: số 28/7B Cách Mạng Tháng 8 - phường 15 - Quận TB
Website: http://www.Phucyen.com
Email: phucyen@hcm.vnn.cn
Khách hàng chủ yếu của Công ty là: DOJIN Corportion (Korea) và
PAXON Corportion (Geramany), ngoài ra Công ty còn nhận thêm một số đơn đặt
hàng của đơn vị khác
Chức năng chính của Công ty là sản xuất gia công các mặt hàng cao cấp
bằng nguyên vật liệu như: Jacket, chemise và quần áo thể thao…
Sau một thời gian hoạt động, với sự cố gắng không ngừng của các thành
viên ban đầu và tinh thần trách nhiệm cao của bộ phận quản lý, Công ty đã khắc
phục được nhiều khó khăn và đạt được những kết quả rất khả quan nâng cao số
vốn ban đầu từ 570.000.000đ lên đến 3.570.000.000 đồng Hiện nay Công ty
Phúc Yên là một Công ty may gia công hàng dệt may cao cấp xuất khẩu có uy tín
Trang 20với tổng số vốn hiện có lên đến 19.806.828.520 đ (mười chín tỷ tám trăm lẻ sáu
triệu tám trăm hai mươi tám ngàn năm trăm hai mươi đồng chẵn)
CÔNG TY PHÚC YÊN đã ký được nhiều hợp đồng gia công với nước
ngoài, chủ yếu là Nam Triều Tiên (Công ty DOJIN) và Nhật Bản và đã hoàn
thành nhiều hợp đồng đạt chất lượng cao được sự tín nhiệm trong và ngoài nước
Đây là sự nổ lực rất lớn lao của đội ngu’ tập thể quản lý và công nhân
Công ty với tốc độ phát triển ngày càng cao, sự cạnh tranh của các xí nghiệp may
khác, mà thị trường may mặc luôn có sức hút mảnh liệt đối với các xí nghiệp
may nói chung và đối với Công Ty May Phúc Yên nói riêng
2.1.2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TY:
2.1.2.1 Mục tiêu:
Thông qua hợp đồng xuất nhập khẩu trực tiếp để đẩy mạnh hàng xuất
nhập khẩu trong nước, chủ yếu là các sản phẩm của ngành thêu may đáp ứng yếu
cầu về số lượng Chủng loại và số lượng các mặt hàng do các đơn vị trong nước
sản xuất phù hợp với thị trường trong và ngoài nước, tăng nguồn thu ngoại tệ,
góp phần phát triển kinh tế đất nước
Nhập máy móc, phụ tùng, nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất thêu may
trong nứơc
2.1.2.2 Nhiệm vụ:
Tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu:
* Trực tiếp xuất khẩu thiết bị máy móc, nguyên phụ liệu cho ngành thêu may
* Tiêu thụ hàng hoá xuất nhập khẩu cho các đơn vị có nhu cầu xuất nhập khẩu
2.1.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC KINH DOANH VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức kinh doanh:
Do thị trường may gia công xuất khẩu trong những năm gần đây phát triển
mạnh nên ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh, thêm vào đó thị trường những
năm gần đây không được ổn định, dẫn đến việc thu hẹp sản xuất của Công ty
ngưng hoạt động phân xưởng III Do đó Công ty đang có xu hướng cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng xuất và sản lượng, mở rộng sản xuất Từ đó có thể cho thấy
lực lượng lao đông trong năm tới có thể tăng lên rất nhiều
Tại phân xưởng II:
Lao động trực tiếp: 776
Lao động gián tiếp: 72
Phân xưởng may gồm có 776 công nhân, gồm có các khâu may, đóng nút
kiểm hoá, lao động phụ… hầu hết công nhân của Công ty đều là nữ, tuổi trung
bình của công nhân là khoảng 18 – 30, ở độ tuổi này do có sức khoẻ nên công
việc làm đạt chất lượng và năng xuất tối cao
Về sản xuất, Công ty tổ chức ở phân xưởng II như sau:
Công nhân làm việc từ 7h30 đên 16h30 đựoc nghĩ trưa 1h, đôi khi nếu
hàng không làm kịp thì tăng giờ làm việc, nhưng do sự tự nguyện của công nhân
Trang 21Trang 15
không ép buộc.Phương pháp này sẽ giải tỏa kịp thời những đơn đặt hàng của
khách hàng, có tiến độ nhanh đồng thời tăng năng lực sản xuất máy móc thiết bị
Công ty chủ yếu sản xuất và may gia công các mặt hàng cao cấp bằng
nguyên liệu như: Jacket, chemise và sản phẩm phụ khác như: quần short, giày,
jean, thun pullover, polo shirt đạt chất lượng cao và được tín nhiệm của khách
hàng trong và ngoài nước
Ngoài ra Công ty còn có chức năng mua bán phục vụ sản xuất hàng tiêu
dùng, vật liệu xây dựng, hàng trang trí nội thất
Do chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp, cho nên hàng năm Công ty có
nhận thêm uỷ thác xuất nhập khẩu cho các đơn vị có nhu cầu 3% trị giá hàng
Tổ chức sản xuất được biểu diễn theo sơ đồ sau:
2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Với bộ máy quản lý đơn giản, gọn nhẹ điển hình cho các doanh nghiệp tư
nhân, nhưng với đội ngũ lãnh đạo nhân viên giỏi, trình độ chuyên môn cao, luôn
hoàn thành tốt những yêu cầu của Công ty Được tổ chức theo sơ đồ sau:
và kinh doanh và thực hiện kế hoạch của Công ty, Giám đốc chịu trách nhiệm
quản lý và uỷ quyền cho các trưởng phòng một số công việc nhất định
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
GIÁM ĐỐC
P.KẾ TOÁN P KỸ THUẬT P.KẾ HOẠCH P XNK
Trang 22 Phòng kế toán: tổng kết việc thu chi tài chính, báo cáo kịp thời chính xác,
quyết toán và kiểm tra thường xuyên hoạt động kế toán của các bộ phận, nhằm
theo dõi tình hình kinh doanh qua quản lý tiền, hàng của Công ty Tổ chức việc
thanh toán kế toán bằng tiền, hàng được nhanh chóng
đốc xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm và xây dựng kho dài hạn định hướng
phát triển sản xuất, nắm vững thông tin hàng ngày về tình hình sản xuất, tiến độ
hoạt động cho mỗi hoạt động được ký kết
khẩu của Công ty, nghiên cứu thị trường lập phương án giao dịch công việc có
liên quan đến sản xuất
điện, các công việc có liên quan đến sản xuất, xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật,
làm mẫu, may mẫu nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới về khoa học kỹ
thuật trong sản xuất, tính toán các mức khấu hao trong sản xuất để nâng cao năng
xuất
công quần áo trong phạm vi trong và ngoài nước theo hợp đồng đã ký kết
- Quy trình công nghệ:
Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm được diễn ra liên tục từ khi xuất
nguyên vật liệu sản xuất, cho đến khi sản phẩm hoàn thành, đóng gói và xuất
giao cho khách hàng Mặc dù Công ty sản xuất nhiều mã hàng (mỗi mã là một
sản phẩm) theo sự hướng dẫn của khách hàng (chuyên gia), song do tính chất của
ngành may nên quy trình chế tạo sản phẩm thường không đổi Vì vậy quá trình
gia công mặt hàng ở Công ty may Phúc Yên được tiến hành thông qua các bước
sau:
Sơ đồ 1: Quy trình công nghệ
- Từ kho nguyên liệu xuất cho tổ may mẫu để tạo các mẫu may
Trang 23Trang 17
- Tổ may mẫu có nhiệm vụ tư vấn kỹ thuật, tư vấn cho các chuyền may chốt
đối với các mã hàng khách hàng tuy là quá trình sản xuất vẫn không thay đổi
nhưng quy trình may đều khác nhau, phòng kỹ thuật có nhiệm vụ lập quy trình
may và bảng định mức công việc cho công nhân đối với từng mã hàng
- Công đoạn cắt bán thành phẩm: tổ cắt nhận được sơ đồ tác nghiệp nguyên
vật liệu ở kho, đo chiều dài sơ đồ đánh dấu trên bàn cắt trải vải theo số lớp đã
quy định và cắt Cắt xong phối hợp theo cơ vóc, màu vải đúng theo chi tiết của
sản phẩm (nếu các sản phẩm có các chi tiết keo dựng thì tiến hành ép keo), sau
đó cột thành từng bó và chuyển sang công đoạn may
- Công đoạn may: tổ may sau khi nhận bán thành phẩm ở tổ cắt, sẻ tiến
hành phối hàng qua chuyền theo bốn cụm:
Cụm 1: làm dấu, cắt gọn, ủi chi tiết
Cụm 2: may cắt chi tiết đồ cắt
Cụm 3: lắp ráp các chi tiết với nhau
Cụm 4: hoàn thiện phần còn lại, rồi sau đó tiến hành thùa khuy, đính nút,
cắt chỉ kiểm hoá
- Công đoạn ủi đóng goi: sản phẩm sau khi kiểm hoá, đánh giá đúng tiêu
chuẩn chất lượng sẽ được chuyển sang công đoạn ủi, vào bao, đóng gói theo tỷ
lệ, cỡ vóc, màu sắc mà packing list quy định đóng gói xong đem nhập kho chờ
xuất
- Dây chuyền sản xuất công ty:
Hiện nay dây chuyền sản xuất của Công ty may Phúc Yên được xây dựng
để sản xuất theo dây chuyền sản xuất của Nam Triều Tiên, bao gồm chính
chuyền
Ưu điểm: tăng năng xuất, giảm chi phí
Với 800 máy nhập từ Nhật và hàng năm có bổ xung thêm
Quá trình sản xuất may gia công các mặt hàng xuất nhập khẩu tại Công ty
may Phúc Yên qua các công đoạn sau:
Sơ đồ 2: Dây chuyền sản xuất
Trang 242.1.4 TỔ CHỨC KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY MAY PHÚC YÊN
2.1.4.1 Tổ chức kế toán tại Công ty:
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức bán tập trung với cơ
cấu tổ chức qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức kế toán tại Công Ty
KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN VÀ THANH TOÁN CÔNG
NỢ
KẾ TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ, TÍNH GIÁ THÀNH
KẾ TOÁN TỔNG HỢP VÀ KIỂM TRA
KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG
Trang 25Trang 19
Có chức năng giúp Giám đốc đơn vị tổ chức, chỉ đạo thực hiện toàn bộ
công tác kế toán thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế của đơn vị Vào
mỗi cuối kỳ, kế toán trưởng tập hợp tất cả các chứng từ của các kế toán viên
(thường sử dụng hình thức chứng từ ghi sổ) để lập báo cáo kế toán thống kê,
quyết toán lãi lỗ
Kế toán tổng hợp và kiểm tra:
Có nhiệm vụ khoá sổ và tính giá thành toàn bộ, xác định kết quả và phân
phối kết quả kinh doanh Lập bảng cân đối tài khoản, lập bảng cân đối kế toán,
quyết toán thuế và lập báo cáo tài chính, phân tích kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh
Các kế toán viên:
Có nhiệm vụ theo dõi và ghi sổ những nghiệp vụ riêng của từng bộ phận
thật chính xác để cuối kỳ báo cáo cho kế toán trưởng và chuyển các chứng từ cho
các kế toán liên quan
Kế toán vật tư:
Kế toán vật tư có nhiệm vụ viết phiếu xuất nhập kho (khi nhận được đủ các
giấy tờ liên quan), thanh lý hợp đồng gia công Cuối tháng phải lập bảng kê
nguyên phụ liệu ngoài định mức để trừ vào lương và chuyển cho kế toán tiền
luơng
Kế toán thành phẩm:
Triển khai việc giữ, ghi chép thẻ giao nhận giữa các bộ phận Vào thẻ kho
thành phẩm từ đó lập bảng cân đối thành phẩm Viết phiếu nhập thành phẩm của
hàng gia công, uỷ thác hàng thêu khi có đầy đủ các giấy tờ liên quan Cuối tháng
tính lương phải báo cáo:
+ Bảng kê sản lượng tính lương
+ Bảng kê sản phẩm mất phải trừ tiền
+ Bảng kê hàng tái chế
+ Bảng cân đối thành phẩm
+ Bảng kê thành phẩm nhập kho và sản phẩm dở dang cuối kỳ
Kế toán vốn bằng tiền:
Vào sổ sách kế toán các tài khoản quỹ tiền mặt, theo dõi thu chi, thanh lý
hợp đồng uỷ thác, lập báo cáo thống kê, quý, giao dịch với ngân hàng quản lý
chứng từ xuất, hợp đồng tín dụng, các khoản thanh toán hợp đồng gia công cho
khách hàng Vào sổ tiền vay, theo dõi thanh toán công nợ
Kế toán tiền lương:
Có chức năng tổ chức tính toán và xác định tiền lương phải trả, tính
BHXH theo đúng chế độ, chính sách nhà nước Hướng dẫn, kiểm tra các bộ phận
liên quan thực hiện công tác cung cấp thông tin để tính lương, tính thưởng, quản
lý BHXH như: chấm công, kê khai khối lượng sản phẩm, công nợ, các khoản tiền
phạt …
Nhiệm vụ của kế toán tiền lương là dựa vào bảng chấm công, tính lương
thời gian, lập bảng lương cố định, đối với lương sản phẩm, khi tính lương phải
hội đủ các báo cáo sau:
Trang 26+ Bảng kê sản lượng tính lương của kế toán thành phẩm
+ Bảng kê vật tư xuất ngoài định mức kế toán thành phẩm
+ Bảng duyệt của Giám đốc
+ Bảng định mức tiền công của từng bộ phận (Bảng quy trình công nghệ)
+ Biên bản thanh lý của các đơn vị gia công ngoài
+ Bảng tính BHXH
+ Phiếu báo đốc công
+ Bảng cân đối công đoạn của chuyền
Tại Công ty, vì số lượng công nhân thay đổi thường xuyên và một công
nhân có thể may nhiều mã hàng và mỗi mã hàng có thể may nhiều công đoạn nên
việc quản lý và tính lương của kế toán tiền lương tương đối khó Hơn nữa, kế
toán tiền lương phải tính lương cho hai bộ phận:
* Bộ phận quản lý doanh nghiệp được tính lương gián tiếp (lương theo
thời gian)
* Bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất tính lương theo sản phẩm với giá
quy định của từng mã hàng mà trong kỳ công ty nhận gia công
Kế toán tài sản cố định:
Kế toán tài sản cố định có nhiệm vụ theo dõi tài sản máy móc, thiết bị sử
dụng trong sản xuất và trong văn phòng, trong Công ty, có nhiệm vụ phản ánh
kịp thời tăng giảm của tài sản cố định
Đồng thời kế toán phải xem xét lựa chọn phương pháp tính khấu hao tài
sản cố định theo đúng chế độ, quy định hiện hành
MAY PHÚC YÊN
2.2.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
MAY PHÚC YÊN:
Phân tích kết quả tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp một
cách tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doangh có hiệu quả hay
không hiệu quả Kết quả phân tích này cho phép các nhà quản lý, chủ doanh
nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và dự đoán
được khả năng phát triển hay có xu hướng suy thoái của doanh nghiệp
2.2.1.1 Phân tích tình hình vốn và nguồn vốn:
(Nguồn: Bảng phân tích tài chính của Công ty ở phần phụ lục)
Tổng số vốn cuối năm 2003 là 60.054.197.140 đồng so với cuối năm 2002
là 53.281.973.953 đồng, điều này chứng tỏ rằng quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty đã được mở rộng
Tài sản cố định và đầu tư ngắn hạn: tính cuối năm 2003 khoản này đã tăng lên so
với năm 2002 mộ lượng tuyệt đối là 7.026.030.059 đồng trong đó chủ yếu là sự
tăng lên của hàng tồn kho