1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl dinh kim chi 2015 628 1

155 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) kết hợp GIS đánh giá và dự báo chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre
Tác giả Đinh Kim Chi
Người hướng dẫn Thầy Ts. Đặng Quốc Dũng, Thầy Ts. Phạm Anh Đức
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Môi Trường và Bảo vệ Môi trường
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 8,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU (14)
    • 1.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI (14)
    • 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (15)
      • 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu (0)
      • 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN (16)
      • 1.5.1 Ý nghĩa khoa học (16)
      • 1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn (16)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN (17)
    • 2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN (17)
      • 2.1.1 Vị trí địa lý (17)
      • 2.1.2 Khí hậu (18)
      • 2.1.3 Thủy văn (19)
      • 2.1.4 Tình hình xâm nhập mặn (22)
    • 2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI (22)
      • 2.2.1 Hiện trạng kinh tế (22)
      • 2.2.2 Dân số (23)
    • 2.3 CÁC VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT (24)
      • 2.3.1 Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt (24)
      • 2.3.2 Dự báo và quy hoạch phát triển liên quan đến môi trường nước đến năm (34)
      • 3.3.1 Lấy mẫu, đo và phân tích tại hiện trường (40)
      • 3.3.2 Bảo quản và vận chuyển mẫu (41)
      • 3.3.3 Phương pháp phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm (41)
      • 3.4.1 Phương pháp tính toán WQI (42)
      • 3.4.2 Phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường (48)
      • 3.5.1 Tổng Quan GIS (50)
      • 3.5.2 Phương pháp nội suy (51)
      • 3.5.3 Phương pháp hồi quy tuyến tính (52)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (36)
    • 4.2.1 Chất lượng nước thượng nguồn (59)
    • 4.2.2 Chất lượng nước trên các nhánh sông, kênh rạch chính (64)
    • 4.2.3 Chất lượng nước mặt chảy qua các khu vực nội thị (72)
    • 4.2.4 Chất lượng nước kênh rạch nội đồng (83)
    • 4.5.1 Xây dựng hàm hồi quy tuyến tính dự báo xu thế ô nhiễm theo WQI (95)
    • 4.5.2 Xây dựng dữ liệu dự báo cho đến năm 2020 (100)

Nội dung

Trong nhưng năm gần đây, sông rạch tỉnh tỉnh Bến Tre đang ngày càng diễn biến phức tạp, vấn đề ô nhiễm nước từ các hoạt động sinh hoạt và công nghiệp, nông nghiệp đang được xả trực tiếp

TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành của vùng ĐBSCL, có diện tích tự nhiên 2.356,85 km² Nằm thuộc khu vực tam giác châu hệ thống sông Tiền, tỉnh được hợp thành bởi 3 cù lao (cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa) trên 4 nhánh sông lớn là sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cổ Chiên.

Về tọa độ địa lý, tỉnh Bến Tre nằm trong giới hạn:

- Từ 9 o 48’ đến 10 o 20’ vĩ độ Bắc

- Từ 105 o 57’ đến 106 o 48’ kinh độ Đông

Về ranh giới địa lý tỉnh Bến Tre:

- Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền

- Phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên

- Phía Đông giáp biển Đông

(Nguồn: Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bến Tre đến năm 2020) Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre

Vị trí nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ôn hòa với nền nhiệt trung bình cao và ổn định, ít phân hóa theo không gian Nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng 28°C, trong đó các tháng 1, 2 và 12 có mức nhiệt độ thấp nhất là 24,1°C, còn nhiệt độ cao nhất đạt khoảng 29,0°C vào tháng 4.

Lượng mưa phân bố thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 - 11 và mùa nắng từ tháng 12 - 4 Lượng mưa trung bình thấp (1.210 - 1.500 mm/năm)

2.1.2.3 Độ ẩm Độ ẩm tương đối khá cao, trung bình 76 - 86 %, trong đó các huyện ven biển có độ ẩm tương đối 83 - 91 %; độ ẩm phân hóa mạnh theo mùa với chênh lệch giữa tháng ẩm nhất và tháng khô nhất khoảng 15%

Có thể chia địa hình Bến Tre thành 3 vùng: Vùng địa hình thấp (5 mg/L) Tuy nhiên, tại các điểm NM-04 (xã Phú Túc), NM-05 (xã Phú Đức) và NM-06 (xã Cầu Phú Long) chất lượng nước tại các vị trí này không đạt chuẩn.

Hình 4.16: Hiện trạng hàm lượng DO tại các sông, kênh rạch chính

NM-03 NM-04 NM-05 NM-06 NM-07 NM-08 NM-09 NM-10 NM-11 NM-12 NM-13 NM-14 NM-15 NM-16 NM-17 NM-18 m g /l

Theo kết quả phân tích, đa số các điểm quan trắc có giá trị BOD5 ở tháng 11 thấp hơn so với thời điểm tháng 4 Tuy nhiên, phần lớn các điểm quan trắc vẫn nằm trong giới hạn cho phép của BOD5, ngoại trừ một số điểm: Vàm An Hóa (7 mg/L), Xã Châu Bình (8 mg/L), Vàm Ông Hổ (9 mg/L) và Cống đập Ba Lai (8 mg/L).

Hình 4.17: Hiện trạng hàm lượng BOD 5 tại các sông, kênh rạch chính

Nguồn nước đang bị ô nhiễm do chất hữu cơ từ sức ép của dân cư và hoạt động của ngành công nghiệp, nông nghiệp Lượng nước thải sinh hoạt thải ra nguồn tiếp nhận khoảng 61.641 m3/ngày; nước thải tại KCN Giao Long khoảng 1.200 m3/ngày đêm và KCN An Hiệp khoảng 1.651,3 m3/ngày đêm; tổng lượng nước thải phát sinh trong chăn nuôi heo ước tính khoảng 21.578,1 m3/ngày đêm Các con sông chính lại trở thành nguồn tiếp nhận toàn bộ lượng nước thải chưa được xử lý.

Hình 4.18: Cống nước thải của thành phố Bến Tre ra sông Hàm Luông (trái), Cống nước thải của thị trấn Ba Tri ra sông Hàm Luông (phải)

NM-03 NM-04 NM-05 NM-06 NM-07 NM-08 NM-09 NM-10 NM-11 NM-12 NM-13 NM-14 NM-15 NM-16 NM-17 NM-18 m g /l

COD đo được trong nước thải tại đa số điểm quan trắc dao động từ 6–17 mg/L, phần lớn nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 (6 mg/L), trừ các điểm quan trắc Vàm An Hóa – Xã Giao Hòa, huyện Châu Thành (NM-07); Ngã 3 An Hóa – Xã An Hóa, huyện Châu Thành (NM-08); Xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm (NM-11); Vàm Ông Hổ – Bình Đại (NM-14) Đa số hàm lượng COD mùa khô tháng 4 cao hơn mùa mưa tháng 11, do mùa mưa có sự pha loãng chất ô nhiễm.

Hình 4.19: Hiện trạng hàm lượng COD tại các sông, kênh rạch chính

Lý giải ô nhiễm COD cho thấy nước thải sinh hoạt và nước thải từ sản xuất chứa các chất ô nhiễm có hàm lượng hữu cơ cao chưa được xử lý hiệu quả, khiến nước thải sau xử lý vẫn vượt ngưỡng cho phép về COD và các chỉ tiêu hữu cơ Thực trạng này được quan sát rõ tại các khu công nghiệp (KCN) và cụm công nghiệp (CCN) của tỉnh Bến Tre Trung tâm Kỹ thuật Môi trường đã tiến hành lấy mẫu và phân tích chất lượng nước thải tại các điểm quan trắc trên địa bàn nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm và hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải.

NM-03 NM-04 NM-05 NM-06 NM-07 NM-08 NM-09 NM-10 NM-11 NM-12 NM-13 NM-14 NM-15 NM-16 NM-17 NM-18 m g /l

Bảng 4.1: Kết quả phân tích chất lượng nước thải KCN/CCN tỉnh Bến Tre

Nước thải sau hệ thống xử lý KCN Giao Long giáp sông Tiền

Nước thải NMXS thức ăn gia súc

CP Group - KCN An Hiệp giáp sông Hàm Luông pH - 7,83 6,98 6 - 9

(Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường - CEE, năm 2013)

Giá trị COD trong nước thải sau xử lý tại 2 KCN Giao Long và An Hiệp vượt quy chuẩn cho phép theo QCVN 40:2011/BTNMT (loại A) từ 1 – 1.3 lần

Hình 4.20: Giá trị COD trong nước thải KCN/CCN của tỉnh Bến Tre

Vị trí QCVN 40:2011/BTNMT (A) mg/l

Qua kết quả phân tích và so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT, cột A2 cho thấy đa số các điểm quan trắc có giá trị amoni nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép, trừ tại một số điểm quan trắc ở xã Châu Bình, xã Phú Túc và xã Phú Đức.

Các điểm quan trắc được nêu gồm 05), Vàm Đồn (NM-10) và Cống đập Ba Lai (NM-17); trong đó, giá trị amoni của điểm quan trắc tại xã Châu Bình là cao nhất và vượt quy chuẩn cho phép 5,9 lần.

Hình 4.21: Hiện trạng hàm lượng N-NH 4 + tại các sông, kênh rạch chính

Phân tích và so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT cho thấy tại cột A2 đa số điểm quan trắc có giá trị phosphat nằm trong giới hạn cho phép Nguyên nhân là lưu lượng nước đổ về lớn gây pha loãng nên mức độ ô nhiễm phosphat ở khu vực này được đánh giá ở mức thấp.

Hình 4.22: Hiện trạng hàm lượng PO 4 3- tại các sông, kênh rạch chính của tỉnh

NM-03 NM-04 NM-05 NM-06 NM-07 NM-08 NM-09 NM-10 NM-11 NM-12 NM-13 NM-14 NM-15 NM-16 NM-17 NM-18 m g /l

NM-03 NM-04 NM-05 NM-06 NM-07 NM-08 NM-09 NM-10 NM-11 NM-12 NM-13 NM-14 NM-15 NM-16 NM-17 NM-18 m g /l

Theo kết quả phân tích, giá trị Coliform trong mùa khô tháng 4 tại nhiều điểm quan trắc tăng so với mùa mưa tháng 11, đặc biệt ở xã Tân Phú-Châu Thành (NM-06), Vàm An Hóa – Châu Thành (NM-07), Ngã 3 An Hóa – Châu Thành (NM-08), Vàm Đồn (NM-10) và Vàm Ông Hồ-Bình Đại (NM-14) So với QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 (5000 MPN/100 ml), hầu hết các điểm quan trắc vượt giới hạn cho phép, trừ Phú Đức, Bến Trại và chợ Bang Tra.

Hình 4.23: Hiện trạng hàm lượng tổng Coliform tại các sông, kênh rạch chính

Trong những năm gần đây, xu hướng nuôi tôm, cá lồng bè dọc tập trung ven sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên đang trở nên phổ biến

Bảng 4.2: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản qua các năm Đơn vị: ha

Diện tích nuôi thủy sản nước mặn - lợ 23.877 37.149 35.503 36.154 35.127 36.329

Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt 5.376 5.161 5.485 5.710 6.062 7.368

Tổng diện tích nuôi thủy sản 29.253 42.310 40.988 41.864 41.189 43.697

(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Bến Tre năm 2013)

NM-03 NM-04 NM-05 NM-06 NM-07 NM-08 NM-09 NM-10 NM-11 NM-12 NM-13 NM-14 NM-15 NM-16 NM-17 NM-18

Tháng 04/2014, Quy chuẩn Việt Nam QCVN 08:2008/BTNMT (A2) quy định khu vực nuôi trồng thủy sản nước mặn - lợ chủ yếu phát triển tại 3 huyện ven biển Thạnh Phú, Bình Đại và Ba Tri; khu vực nuôi thủy sản nước ngọt tập trung chủ yếu dọc ven sông Tiền và sông Ba Lai.

Hàm Luông, Cổ Chiên thuộc 2 huyện Châu Thành và Chợ Lách

Chất lượng nước mặt chảy qua các khu vực nội thị

Phân tích cho thấy giá trị pH tại các điểm quan trắc đầu mùa mưa năm 2014 phần lớn cao hơn so với cùng kỳ năm 2013, ngoại trừ các điểm rạch Bình Nguyên và xã An Thạnh Tất cả các giá trị pH tại các điểm quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 (6-8.5).

Hình 4.24: Hiện trạng giá trị pH trong nước chảy qua các khu vực nội thị

4.2.3.2 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)

Kết quả phân tích được trình bày tại Hình 4.25 cho thấy giá trị TSS tại các điểm quan trắc dao động từ 52 đến 185 mg/l và đều vượt giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT, cột A2 (30 mg/l) Đáng chú ý, tại điểm quan trắc tháng 11 năm 2013 trên sông Thạnh Phú (NM-36) giá trị TSS vượt giới hạn cao nhất lên tới 6,17 lần; Cầu Bà Mụ - phường Phú Khương vượt giới hạn 5,3 lần.

Hình 4.25: Hiện trạng hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước chảy qua các khu vực nội thị

Qua kết quả khảo sát, phân tích chất lượng nước mặt chảy qua các khu vực nội thị

Ở Tp Bến Tre và các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Chợ Lách, Mỏ Cày, Thạnh Phú và Châu Thành, hoạt động sinh hoạt, sản xuất và nông nghiệp thải nước thải xuống các kênh, rạch, kết hợp với hàm lượng phù sa có sẵn trong nước làm ảnh hưởng đến chất lượng nước Đợt quan trắc tháng 4 năm 2014 cho thấy giá trị chất rắn lơ lửng (SS) thấp hơn mùa khô năm trước; nguyên nhân được cho là do sự phát triển của trung tâm kinh tế - thương mại tỉnh và việc nâng cấp bê tông hóa hệ thống giao thông khiến nước mưa chảy tràn vào cống thoát nước mang theo ít chất rắn lơ lửng hơn.

Hình 4.26: Nước sông tại TT.Mỏ Cày (trái), Nước sông tại TT.Ba Tri (phải)

Giá trị DO ở hầu hết các điểm quan trắc được thể hiện trong Hình 4.27 đều thấp hơn ngưỡng cho phép theo QCVN 08:2008 cột A2 (>5 mg/L) Trong năm 2013, DO vào mùa khô thấp hơn so với mùa mưa, điển hình tại các điểm NM-25 Cầu Bà Mụ và NM-33 trên sông thị trấn Giồng Trôm Điều này cho thấy nước tại khu vực nội thị có hiện tượng ô nhiễm cục bộ do sự tập trung dân cư và hoạt động sản xuất, khiến nồng độ oxi hòa tan giảm.

Hình 4.27: Hiện trạng hàm lượng DO trong nước chảy qua các khu vực nội thị

Theo kết quả phân tích, đa số giá trị BOD5 của các điểm quan trắc vượt quá giới hạn cho phép của QCVN 08:2008 cột A2 (6 mg/l) Ngoại trừ một số điểm: Cầu Cá Lóc - phường 8 (NM-22), Sông thị trấn Mỏ Cày (NM-28), Xã Đa Phước Hội (NM-).

29), Xã Thành Thới A (NM-31) Nguyên nhân được xác định chủ yếu là do ảnh hưởng bởi chất thải sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt

Hình 4.28: Hiện trạng hàm lượng BOD 5 trong nước chảy qua các khu vực nội thị

Hiện nay, ô nhiễm tại các khu vực nội thị, nơi tập trung dân cư đông đúc như chợ và trung tâm thương mại, đang trở thành vấn đề nhức nhối trên địa bàn tỉnh Nước thải sinh hoạt đặc trưng bởi hàm lượng chất hữu cơ rất cao, khoảng 50–55%, đồng thời chứa nhiều vi sinh vật, trong đó có những vi sinh vật gây bệnh Ngoài ra, nước thải còn chứa nhiều vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ, đóng vai trò quan trọng trong các quá trình chuyển hóa chất ô nhiễm trong nước Trong nước thải đô thị, vi khuẩn gây bệnh có thể phát triển mạnh; tổng số Coliform dao động từ 10^6 đến 10^9 MPN/100 ml, và Fecal Coliform ở mức đáng kể.

Nước thải từ các khu chợ địa phương được thải trực tiếp vào hệ thống cống thoát nước chung và đổ ra các kênh rạch, sông ngòi mà chưa qua bất kỳ hệ thống thu gom và xử lý trước đó Với tải lượng chất ô nhiễm thải ra các dòng sông mỗi ngày theo bảng tính toán, khả năng ô nhiễm lưu vực sông là rất lớn.

Kết quả phân tích chất lượng nước thải đô thị tỉnh Bến Tre của Trung tâm Kỹ thuật Môi trường như sau:

Bảng 4.3: Kết quả phân tích chất lượng nước thải đô thị tỉnh Bến Tre

KDC thành phố Bến Tre

TT Mỏ Cày Nam pH - 7,42 7,08 7,07 7,06 5 - 9

(Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường - CEE, năm 2013)

Hình 4.29: Cống xả nước thải đô thị ven sông thành phố ến Tre (trái), Cống xả nước thải thị trấn Giồng Trôm (phải)

Phân tích từ Hình 4.30 cho thấy mức độ ô nhiễm vào mùa khô thường cao hơn mùa mưa Nguyên nhân chính là lưu lượng nước giảm dẫn đến giảm khả năng pha loãng và hạn chế khả năng tự làm sạch của hệ thống nước Do đó, chất lượng nước vào mùa khô dễ bị ô nhiễm gia tăng vì nước chảy chậm và các cơ chế làm sạch tự nhiên hoạt động kém hiệu quả.

Ví dụ như: Cầu Sân Bay – Xã Sơn Đông, tp Bến Tre mùa khô dao động 21 - 23mg/l (NM-19), Cầu Bình Nguyên, Phường 6 - tp Bến Tre (NM-25), Sông thị trấn

Ba Tri - huyện Ba Tri (NM-35),… vượt quy chuẩn cho phép QCVN 08:2008 cột A2 (15mg/l) từ 1,17 - 3,33 lần

Hình 4.30: Hiện trạng hàm lượng COD trong nước chảy qua các khu vực nội thị

Trong khu vực nội thị thành phố Bến Tre và các thị trấn huyện, hệ thống hồ ao, kênh rạch và các sông nhỏ là nơi tiếp nhận và vận chuyển nước thải từ sinh hoạt hàng ngày, hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, cũng như từ các hoạt động chôn lấp rác không hợp vệ sinh, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nước tiếp nhận Để đánh giá thực trạng môi trường nước thải tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bến Tre, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường đã tiến hành lấy mẫu nước tại các điểm được xác định trên khu vực khảo sát nhằm phân tích chất lượng nguồn nước và đề xuất các biện pháp quản lý nước thải thích ứng.

Bảng 4.4: Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại các làng nghề tỉnh Bến Tre

Sản xuất kẹo dừa Thanh Long, số 601A, ấp

Bánh tráng Mỹ Lồng, hộ Nguyễn Thị Thê, khu 2, xã

Nước thải sau trạm xử lý của Công ty TNHH Minh Châu pH - 11,47 6,53 8,15 6 - 9

Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường - CEE, năm 2013 Đây là một trong những làng nghề đặc trưng của tỉnh với nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất của Công ty TNHH Minh Châu thấp hơn hẳn so với mức tiêu chuẩn cho phép và so với nước thải của các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực, cho thấy mức độ kiểm soát ô nhiễm và quản lý môi trường được áp dụng hiệu quả tại đơn vị này.

Hiện còn hai cơ sở của công ty đã được đầu tư và xây dựng hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh, trong khi hai cơ sở sản xuất còn lại vẫn xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường tiếp nhận Sự khác biệt này cho thấy tính chất độc hại của nguồn thải ở từng cơ sở và các tác động tiêu cực có thể xảy ra khi nước thải được xả trực tiếp mà không qua xử lý Việc áp dụng hệ thống xử lý nước thải ở hai cơ sở giúp giảm thiểu sự ô nhiễm và làm rõ mức độ nguy hại của các nguồn thải công nghiệp, đồng thời làm căn cứ cho các biện pháp giám sát và cải thiện chất thải trong tương lai.

Hình 4.31: Hoạt động tại cơ sở sản xuất thạch dừa, kẹo dừa xã Sơn Đông

Hình 4.32: ãi chôn lấp Phú Hưng – 1 trong 5 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số

64/2003/QĐ-TTG 4.2.3.4 Hàm lượng dinh dưỡng

So với quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột A2, đa số giá trị amoni của các điểm quan trắc vượt giới hạn cho phép, trừ các điểm cầu Cá Lóc (NM-22), kênh Chợ Lách (NM-27) và sông Bình Thắng (NM-34) Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2013, giá trị amoni ở các điểm quan trắc đã giảm ở phần lớn các điểm, ngoại trừ sông thị trấn Ba Tri (NM-35) và sông thị trấn Thạnh Phú (NM-36).

Hình 4.33: Hiện trạng hàm lượng N-NH 4 + trong nước chảy qua các khu vực nội thị

Nước thải sinh hoạt và sản xuất có hàm lượng hữu cơ cao; nếu lượng nước thải này tiếp tục không được xử lý và vẫn xả thẳng ra môi trường trong tương lai, sẽ gây ảnh hưởng mạnh đến chất lượng nước của các kênh rạch lân cận Ô nhiễm hữu cơ làm giảm oxy hòa tan, gia tăng mùi khó chịu và nguy cơ phát triển vi khuẩn, từ đó tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái nước.

Hình 4.34: Chất thải tại công ty Chế biến bột cá Việt Tiến, Bình Thắng, ình Đại

Hình 4.35: Cống nước thải Chợ đầu mối nông thủy sản

Phosphat (PO4^3−) được đo ở hai điểm quan trắc và hầu như thấp hơn giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 (0,2 mg/L), ngoại lệ tại điểm NM-25 trên cầu Bà Mụ với mức tăng 3,55 lần; thời điểm lấy mẫu trùng với hoạt động xả thải chất ô nhiễm vào sông khiến hàm lượng phosphat tăng đột biến, cần kiểm soát nguồn thải để ngăn ngừa hiện tượng phú dưỡng và bảo vệ chất lượng nước.

Hình 4.36: Hiện trạng hàm lượng PO 4 3- trong nước chảy qua các khu vực nội thị

Theo QCVN 08:2008/BTNMT, cột A2, hầu hết các điểm quan trắc nội thị TP Bến Tre cho thấy Coliform vượt quy chuẩn cho phép (5000 MPN/100 ml) Cụ thể, Cầu Sân Bay vượt 5,4 lần (NM-19) và Cầu Cái Cá - phường 5 vượt 5 lần (NM-21) Tuy nhiên, mức ô nhiễm hữu cơ và Coliform đang có xu hướng giảm nhờ tỉnh thực hiện chính sách di dời các cơ sở sản xuất từ khu vực nội thị ra vùng ven, từ đó làm giảm mức độ ô nhiễm.

Hình 4.37: Hiện trạng hàm lượng tổng Coliformtrong nước chảy qua các khu vực nội thị

Chất lượng nước kênh rạch nội đồng

Ở khu vực nội đồng, hệ thống kênh rạch đóng vai trò thiết essential không chỉ cung cấp nước cho tưới tiêu mà còn phục vụ nước sinh hoạt cho người dân nông thôn, đặc biệt là các hộ nghèo Theo kết quả khảo sát và phân tích chất lượng nước mặt tại các nhánh kênh rạch nội đồng thuộc TP Bến Tre và các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Chợ Lách, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Châu Thành, chất lượng nước đang có dấu hiệu thay đổi Những nhánh kênh rạch này cho thấy sự biến đổi chất lượng ở khu vực nội đồng, đòi hỏi theo dõi liên tục và áp dụng các biện pháp quản lý nước phù hợp để đảm bảo nguồn nước cho sinh hoạt và tưới tiêu Việc cập nhật thông tin và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường nước trong các kênh rạch nội đồng sẽ hỗ trợ cộng đồng nông thôn duy trì nguồn nước an toàn.

Kết quả phân tích Hình 4.38 cho thấy tất cả các điểm quan trắc trên kênh nội đồng có pH nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT (cột A2) Nhìn chung, giá trị pH có xu hướng tăng và đạt cao nhất vào tháng 4/2014; giữa hai mùa, pH dao động từ 6.7 đến 7.9.

Hình 4.38: Hiện trạng giá trị pH trong nước tại kênh nội đồng

4.2.4.2 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)

Các điểm quan trắc cho thấy giá trị vượt ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT, cột A2 tại nhiều vị trí Trong đó, Xã Tân Thủy - Ba Tri ghi nhận mức 186 mg/l, cao nhất và gấp 6,2 lần ngưỡng cho phép Mùa mưa năm 2013 (tháng 11) có mức vượt cao hơn mùa khô năm 2013 (tháng 4) và năm 2014 (tháng 4) Đáng chú ý là ở xã Bình Phú – TP Bến Tre (NM-44), Chợ Lách (NM-46) và Châu Hưng – Bình Đại, hàm lượng TSS có xu hướng giảm, trong khi ở các điểm còn lại vẫn tăng lên, với mức cao nhất tại Xã Tân Thủy – Ba Tri.

NM-44 NM-45 NM-46 NM-47 NM-48 NM-49 NM-50 NM-51 pH

Tri (NM-49) là một trong những cảng cá lớn của tỉnh, mật độ ghe thuyền lưu thông tại đây cao

Hình 4.39: Hiện trạng hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước tại kênh nội đồng 4.2.4.3 Ô nhiễm hữu cơ

Hàm lượng DO mùa mưa cao hơn mùa khô cùng kỳ, dao động từ 3 - 8.5mg/l, đa phần đều thấp hơn ngưỡng giới hạn quy chuẩn QCVN 08:2008 cột A2 là >5mg/l

DO có xu hướng tăng điển hình như vị trí Ba Tri (NM-49), Thạnh Phú (NM-51)

Hình 4.40: Hiện trạng hàm lượng DO trong nước tại kênh nội đồng

NM-44 NM-45 NM-46 NM-47 NM-48 NM-49 NM-50 NM-51 m g /l

NM-44 NM-45 NM-46 NM-47 NM-48 NM-49 NM-50 NM-51 m g /l

Kết quả phân tích thông số BOD5 tại các điểm quan trắc cho thấy đa số vượt giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT, cột A2 (6 mg/L) Ngoại trừ hai điểm quan trắc Xã Bình Phú (NM-44/4 mg/L) và Xã Quới Điền (NM-51/3 mg/L), các vị trí còn lại đều vượt ngưỡng ô nhiễm Giá trị ô nhiễm mùa khô cao hơn mùa mưa do không có sự pha loãng.

Hình 4.41: Hiện trạng hàm lượng BOD 5 trong nước tại kênh nội đồng

Ở vùng nông thôn, đời sống còn nhiều khó khăn, sinh hoạt và chăn nuôi thải trực tiếp xuống kênh rạch nội đồng Toàn tỉnh có khoảng 71% hộ gia đình sử dụng hố xí không hợp vệ sinh, trong khi phần lớn người dân vẫn duy trì các thói quen cũ; số hộ gia đình sử dụng cầu cá chiếm 53,39% Các số liệu này được trích từ báo cáo tổng kết dự án tổng quan cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006-2013.

Chăn nuôi thải chất thải chưa qua xử lý ra môi trường, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người dân và ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm tại các ao mương, kênh rạch trong nội đồng cũng như ở các khu vực nông thôn.

NM-44 NM-45 NM-46 NM-47 NM-48 NM-49 NM-50 NM-51 m g /l

Bảng 4.6: Đặc tính nước thải điển hình ở một số cơ sở chăn nuôi heo

TT Chỉ tiêu Chăn nuôi heo

Không xử lý Sau xử lý

(Nguồn: Điều tra, đánh giá nguồn ô nhiễm tại Bến Tre, năm 2013)

Hình 4.42: Chất thải nuôi heo chưa qua xử lý

Hình 4.43: Mô hình cầu tiêu ao cá ở xã Bảo Thạnh 4.2.4.4 Hàm lượng dinh dưỡng

Phân tích cho thấy nguồn nước kênh rạch nội đồng tại các điểm quan trắc đều bị ô nhiễm N-NH4+ So với QCVN 08:2008/BTNMT cột A2, đa số các điểm quan trắc vào mùa mưa có giá trị amoni vượt ngưỡng cho phép, ngoại trừ hai vị trí Lương Quới - Giồng Trôm (NM-48) và Quới Điền - Thạnh Phú (NM-51) Kết quả cho thấy với lưu lượng nước lớn vào mùa mưa vẫn không làm sạch được chất ô nhiễm hữu cơ; nước xả từ đồng ruộng thường mang theo dư lượng phân bón lớn (lân, NPK, ) Với nồng độ amoni như vậy, nguy cơ phú dưỡng hóa của kênh rạch nội đồng là rất cao.

Hình 4.44: Hiện trạng hàm lượng N-NH 4 + trong nước tại kênh nội đồng

Phân tích cho thấy nguồn nước kênh rạch nội đồng tại các điểm quan trắc nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2008/BTNMT cột A2, ngoại trừ hai điểm NM-49 ở xã Tân Thủy (0.74 mg/l) và NM-51 ở xã Quới Điền (0.46 mg/l) vượt chuẩn Điểm lấy mẫu gần khu vực vừa bón phân cho cây trồng cho thấy nguồn nước thải tháng 4 năm 2013 nhiễm phosphate từ phân bón và thuốc tăng trưởng cây trồng Với mức phosphat như trên, khả năng phú dưỡng hóa kênh rạch nội đồng là rất cao.

Hình 4.45: Hiện trạng hàm lượng PO 4 3- trong nước tại kênh nội đồng

NM-44 NM-45 NM-46 NM-47 NM-48 NM-49 NM-50 NM-51 m g /l

NM-44 NM-45 NM-46 NM-47 NM-48 NM-49 NM-50 NM-51 m g /l

Theo kết quả phân tích, giá trị thông số Coliform ở các điểm quan trắc vượt giới hạn cho phép theo QCVN 08:2008/BTNMT, cột A2 Do nước kênh rạch nội đồng được sử dụng làm nguồn nước sinh hoạt và ăn uống nên vấn đề vi sinh cần được quan tâm nhiều hơn để bảo đảm sức khỏe người dân Việc tiếp nhận nguồn chất thải từ sinh hoạt và chăn nuôi không qua xử lý ra môi trường đã ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân, gây ô nhiễm môi trường xung quanh.

Hình 4.46: Hiện trạng hàm lượng tổng Coliform trong nước tại kênh nội đồng

Trong những năm gần đây, chất lượng nước tại các nhánh kênh rạch đã có sự biến đổi đáng chú ý Hàm lượng chất ô nhiễm gia tăng và một số thông số đã vượt ngưỡng giới hạn cho phép Riêng hàm lượng chất hữu cơ BOD5, COD và Coliform còn thấp ở phần lớn khu vực, ngoại trừ một số vị trí có giá trị COD cao vượt ngưỡng cho phép.

Chất lượng nước kênh rạch nội đồng vào mùa mưa năm 2014 đa số có hàm lượng Coliform thấp hơn so với cùng kỳ năm 2013

Vì đây là nguồn nước sinh hoạt chính cho người dân, ô nhiễm vi sinh trong nước cần được quan tâm và kiểm soát nhiều hơn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng Chất lượng nước sạch có vai trò thiết yếu đối với sức khỏe người dân và đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ, biện pháp xử lý nước hiệu quả cũng như các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm vi sinh Do đó cần tăng cường kiểm tra chất lượng nước, cải thiện hệ thống cấp nước và nâng cao nhận thức của người dân về an toàn nước uống để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn.

NM-44 NM-45 NM-46 NM-47 NM-48 NM-49 NM-50 NM-51

4.3 ĐÁNH GIÁ CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC (WQI)

Kết quả tính toánh WQI cho sông, rạch tỉnh Bến Tre được trình bày trong Bảng 4.7

Bảng 4.7: Kết quả WQI tại 44 vị trí quan trắc

Kết quả WQI Vị trí thu mẫu

Các nhánh sông, rạch chính của Tỉnh

Kết quả WQI Vị trí thu mẫu

Các Thị trấn và Thành phố Bến Tre

37 NM-44 8 52 72 kênh rạch nội đồng

Kết quả WQI Vị trí thu mẫu

WQI Mức đánh giá chất lượng nước Màu

91 - 100 Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt Xanh nước biển

76 - 90 Sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử lý phù hợp Xanh lá cây

51 - 75 Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác Vàng

26 - 50 Sử dụng cho giao thông thủy và các mục đích tương đương khác Da cam

0 - 25 Nước ô nhiễm nặng, cần các biện pháp xử lý trong tương lai Đỏ

Thông tin chỉ số WQI được thể hiện trên bản đồ nhằm đánh giá chất lượng môi trường nước tại 44 điểm quan trắc nước mặt trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tạo cái nhìn tổng quan về chất lượng nước mặt trong khu vực Việc trình bày dữ liệu WQI tại các điểm này giúp nhận diện mức độ ô nhiễm và xu hướng biến động chất lượng nước, hỗ trợ các phân tích môi trường và quyết định quản lý nước của tỉnh.

Hình 4.47: Bản đồ hiện trạng chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre theo phương pháp tính toán WQI (quan trắc lần 1 tháng 4 năm 2013)

Hình 4.48: Bản đồ chỉ số chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre theo phương pháp tính toán WQI (quan trắc lần 2 tháng 11 năm 2013)

Hình 4.49: Bản đồ chỉ số chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre theo phương pháp tính toán WQI (quan trắc lần 1 tháng 4 năm 2014)

Bản đồ chất lượng nước mặt theo WQI cho thấy các vị trí ít bị ô nhiễm nằm ở thượng nguồn của tỉnh; ô nhiễm nặng tập trung tại các khu vực nội thị thành phố Bến Tre, thị trấn Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú và xã Bình Thắng – huyện Bình Đại Tình hình ô nhiễm tại các điểm này có xu hướng gia tăng theo không gian và thời gian Mức độ ô nhiễm vào mùa khô (tháng 4) thường cao hơn mùa mưa (tháng 11) do lưu lượng nước giảm, khả năng pha loãng và tự làm sạch giảm, khiến sông, rạch nội thị Thành phố ô nhiễm tăng rõ rệt.

4.4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC MẶT TRÊN CÁC SÔNG VÀ RẠCH CỦA TỈNH BẾN TRE

Từ kết quả tính toán chỉ số WQI năm 2013 – 2014 cho thấy được khả năng sử dụng nguồn nước mặt của Tỉnh như sau:

Hình 4.50: Hiện trạng chất lượng nước mặt qua chỉ số WQI

Hiện trạng chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Bến Tre mùa khô (tháng 4 năm 2013 và 2014) nhìn chung cho thấy chất lượng kém hơn so với mùa mưa (tháng 11 năm 2013) Mùa mưa năm 2014 chịu ảnh hưởng ô nhiễm ở mức cao, với 36% mẫu nước ô nhiễm nặng và 57% mẫu có chất lượng thấp Trong đó, 11% mẫu được dùng cho mục đích giao thông thủy và các mục đích tương đương khác, 46% mẫu có thể sử dụng cho tưới tiêu và các mục đích tương đương khác; 7% mẫu có thể dùng làm cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử lý phù hợp.

Theo kết quả đánh giá các thông số và chỉ số WQI ở mục 4.2/4.3 của luận văn có thể phân vùng chất lượng nước cho tỉnh Bến Tre như sau:

Ở thượng nguồn sông Hàm Luông (đoạn chảy qua xã Tân Phú) và thượng nguồn sông Cổ Chiên (đoạn chảy qua xã Phú Phụng) có chỉ số WQI khá cao, cho thấy chất lượng nước tốt và được phân vùng lấy nước cấp cho sinh hoạt.

Xây dựng hàm hồi quy tuyến tính dự báo xu thế ô nhiễm theo WQI

Hàm dự báo ô nhiễm chắc chắn sẽ là một hàm đa biến và phi tuyến, các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề ô nhiễm sẽ gồm:

- Các yếu tố tự nhiên (nhiệt độ, độ ẩm, hướng gió, tốc độ gió, lượng mưa,…) Đặt biệt, Bến Tre chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thực tế ô nhiễm nước mặt Thêm vào đó, khí hậu tỉnh Bến Tre được phân thành hai mùa (mùa mưa và mùa khô), khí hậu theo mùa cũng ảnh hưởng khác nhau tới thực tế ô nhiễm

- Các yếu tố kinh tế - xã hội (tốc độ tăng dân số, đô thị hóa, chính sách của chính phủ, ý thức chấp hành luật môi trường của các tổ chức, cá nhân…) cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thực trạng ô nhiễm tại từng thời điểm

Xây dựng hàm diễn biến ô nhiễm nước mặt là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi xem xét đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng Trong khuôn khổ luận văn, chỉ xem xét dự báo ô nhiễm nước mặt mà không tính tới các yếu tố ảnh hưởng khác; điều này khiến các dự báo không chính xác và quá lí tưởng Trên thực tế, số liệu ô nhiễm tại bất kỳ thời điểm nào khi được so sánh với các dự báo của luận văn có thể chênh lệch rất nhiều do những lý do đã nêu.

Xét diễn biến chất lượng nước mặt từ năm 2005 đến 2013 cho thấy nhiều biến động và thay đổi đột ngột, khiến một số mẫu dữ liệu có tương quan tuyến tính không cao, nhưng chỉ số chất lượng nước WQI trên biểu đồ vẫn thể hiện xu hướng ô nhiễm Trong 44 mẫu của luận văn, sẽ chọn những mẫu có tương quan tuyến tính mạnh và loại bỏ các mẫu có tương quan yếu để xây dựng dữ liệu phục vụ mô hình dự báo chất lượng nước.

Kết quả hồi quy tuyến tính được trình bày trong Bảng 4.8 Đợt tháng 4:

Chọn 28 mẫu tương quan mạnh và lọc ra 16 mẫu tương quan yếu là NM-08, 09, 11,

Chọn 24 mẫu tương quan mạnh và lọc ra 20 tương quan yếu là NM-02, 05, 06, 07,

Bảng 4.8: Hàm hồi quy tuyến tính

Hàm hồi quy p Hàm hồi quy p

Để kiểm định độ tin cậy của hàm hồi quy, luận văn xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính từ năm 2005 đến 2013 và sau đó nội suy được WQI cho tháng 4 năm 2014, kết quả đã được tính toán Từ đó có thể so sánh giữa WQI được nội suy và từ hàm hồi quy tuyến tính trong Bảng 4.9 Sự chênh lệch giữa hai giá trị không lớn cho thấy hàm hồi quy của các mẫu có độ tin cậy cao.

Bảng 4.9: So sánh kết quả WQI tháng 4 năm 2014 dự báo theo hàm hồi quy và tính toán

2 14 14 15 42 15 15 60 16 16 14 14 14 14 51 Ghi chú: 1- Hàm hồi quy tuyến tính

Quá trình kiểm định mẫu cho thấy dữ liệu giữa WQI tính toán và hàm hồi quy có sự tương quan chặt chẽ, mức chênh lệch không đáng kể, chứng minh hàm hồi quy là đáng tin cậy để dự báo Kết quả này cho thấy mô hình hồi quy có độ tin cậy cao và có thể được sử dụng như một công cụ dự báo ô nhiễm nước mặt Nếu không áp dụng các biện pháp khắc phục và giảm thiểu trong tương lai, mức độ ô nhiễm nước mặt dự báo sẽ tăng nhanh Mô hình dự báo được đề xuất phù hợp với thực tế tình trạng gia tăng ô nhiễm tại các tỉnh hiện nay, mang lại góc nhìn thực tế cho công tác quản lý nước và bảo vệ môi trường.

Phân tích hai bản đồ trong Hình 4.51 cho thấy sự tương quan giữa vị trí và mức độ ô nhiễm, với các khu vực có mức ô nhiễm cao tập trung ở những điểm nóng Bản đồ dự báo ô nhiễm bằng hàm hồi quy lại thấp hơn so với kết quả tính toán thực tế Vì vậy, các điểm ô nhiễm cần được xử lý kịp thời để giảm thiểu tác động đến sức khỏe và môi trường, đồng thời cần xem xét hiệu chỉnh mô hình dự báo để cải thiện độ chính xác của dự báo ô nhiễm trong tương lai.

Hình 4.51: Dự báo chất lượng nước tháng 4 năm 2014 theo mô hình hồi quy tuyến tính (trái) và phương pháp tính toán WQI (phải)

Xây dựng dữ liệu dự báo cho đến năm 2020

Các số liệu dự báo cho các năm 2014 tới 2020 được tính toán từ mô hình hồi quy tuyến tính của các mẫu như trên được trình bày Bảng 4.10; 4.11

Bảng 4.10: Dự báo WQI 28 vị trí quan trắc lần 1 tháng 4

Bảng 4.11: Dự báo WQI 24 vị trí quan trắc lần 2 tháng 11

4.5.3 Thành lập bản đồ thể hiện mức độ ô nhiễm nước mặt từ năm 2014 đến năm 2020

Các dữ liệu chỉ số WQI được nhập vào GIS, tiến hành nội suy dữ liệu, từ đó kết quả được thể hiện thành bản đồ:

4.2.3.1 Dự báo chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre tháng 4 từ năm 2015-2020

Hình 4.52: Dự báo chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre tháng 4 năm 2015-2020

Nhận xét: Kết quả dự báo cho thấy xu hướng ô nhiễm các nội thị thành phố Bến

Ở Tre, Bình Đại và thị trấn Ba Tri (tỉnh Bến Tre), dự báo trong thời gian tới mỗi ngày các kênh mương và sông ngòi sẽ tiếp nhận một khối lượng nước thải đáng kể từ các tác động tiêu cực của phát triển KT-XH Vào mùa khô, đặc biệt tháng 4, nước thải chưa được xử lý sẽ hòa vào dòng chảy ở các sông và kênh rạch giảm xuống, khiến nhịp độ dòng chảy yếu đi và khả năng tự làm sạch suy giảm, làm cho hàm lượng ô nhiễm tăng cao.

Bảng 4.12: Dự đoán lượng nước thải phát sinh của tỉnh Bến Tre năm 2015-2020

Dự đoán lượng nước thải phát sinh

Nước thải hoạt động du lịch 139 233

(Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường – CEE, 2013)

Việc so sánh bản đồ dự báo tháng 4 năm 2020 với bản đồ quy hoạch hệ thống công nghiệp của tỉnh cho thấy một phần nguyên nhân gây ô nhiễm nước mặt Các khu công nghiệp ở Châu Thành (KCN An Hiệp, Giao Hòa), Bình Đại (KCN Phú Thuận), Mỏ Cày Nam (KCN Thành Thới), Mỏ Cày Bắc (KCN Thanh Tân) và Giồng Trôm (KCN Phước Long) tạo áp lực lớn lên nguồn nước Khu vực bị ô nhiễm nặng nhất nằm ở nội thị thành phố, cạnh KCN/CCN, nội đồng và các sông kênh rạch, là nơi tiếp nhận nước thải đô thị, nước thải công nghiệp và nước thải từ sản xuất nông nghiệp Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là cần có biện pháp bảo vệ tài nguyên nước mặt để giảm ô nhiễm hiện tại và quản lý chất lượng nước mặt trong tương lai.

Hình 4.53 trình bày đối chiếu dự báo chất lượng nước năm 2020 với bản đồ quy hoạch hệ thống công nghiệp tỉnh 2020, nhằm làm rõ mức độ phù hợp giữa dự báo chất lượng nước và định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh Phần 4.2.3.2 tập trung vào dự báo chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre vào tháng 11 từ năm 2015 đến 2020, cung cấp cái nhìn tổng quát về xu hướng biến đổi chất lượng nước mặt qua các năm và thời điểm quan trọng, từ đó hỗ trợ quản lý nguồn nước và lập kế hoạch sử dụng nước cho hoạt động công nghiệp trong tỉnh.

Hình 4.59g Hình 4.54: Dự báo chất lượng nước mặt tỉnh Bến Tre tháng 11 năm 2014-2020

Những nhận xét cho đến năm 2020 cho thấy chất lượng nước ở các thủy vực hạ lưu tỉnh Bến Tre có xu hướng ô nhiễm tăng lên do áp lực phát triển kinh tế - xã hội Nguyên nhân chủ yếu là sự lan truyền ô nhiễm từ các khu vực phía trên sông xuống hạ nguồn trong mùa mưa Một số vị trí chịu ô nhiễm nặng so với các năm trước gồm Bình Đại, Giồng Trôm, thị trấn Châu Thành và Ba Tri So với quan trắc tháng 4 – mùa khô, tình trạng ô nhiễm được ghi nhận thấp hơn vào mùa mưa tháng 11.

Dự báo chất lượng nước cho thấy nếu công tác xử lý và bảo vệ môi trường tại các khu vực này không được quan tâm và thực hiện đầy đủ, chất lượng nước ở các lưu vực sẽ diễn biến đúng như kịch bản dự báo, đồng thời có nguy cơ suy giảm nguồn nước và tăng ô nhiễm Để hạn chế tác động này, cần tăng cường quản lý môi trường, cải thiện xử lý nước thải và giám sát chất lượng nước lưu vực một cách nhất quán, nhằm duy trì chất lượng nước ở mức an toàn và bền vững theo các dự báo đã đề cập.

Dựa trên tải lượng các thành phần chất thải được trình bày tại Bảng 4.13 và Bảng 4.14, nguồn đóng góp này được xem là nguyên nhân gây ô nhiễm chất hữu cơ cho môi trường nước trong tương lai.

Bảng 4.13: Tải lượng ô nhiễm sinh ra từ nước thải sinh hoạt khu vực đô thị tỉnh Bến Tre năm 2020

STT Chất ô nhiễm Hệ số ô nhiễm

Tải lƣợng ô nhiễm (kg/ngày)

1 Chất rắn lơ lửng (SS) 70 – 145 27.566 - 57.100

(Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường – CEE, 2013)

Bảng 4.14: Ước tính tải lượng trung bình các chất ô nhiễm trong nước thải tại các

KCN/CCN tỉnh Bến Tre đến năm 2020

STT Thông số Nồng độ trung bình

Tải lƣợng các chất ô nhiễm

(Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường, 2013) ĐÁNH GIÁ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả thực hiện góp phần đánh giá hiện trạng và dự báo chất lượng nước cho tỉnh, cung cấp dữ liệu đáng tin cậy để theo dõi xu hướng và nhận diện các vị trí ô nhiễm, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước và môi trường Nhờ đó, các cơ quan chức năng có căn cứ để kiểm soát ô nhiễm, đề xuất và triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả kịp thời và hiệu quả.

Qua dự báo, luận văn đối chiếu với bản đồ quy hoạch cấp nước đến năm 2020 để đánh giá khả năng sử dụng nguồn nước trong tương lai

Hình 4.55: So sánh bản đồ dự báo chất lượng nước mặt với quy hoạch cấp nước năm 2020

Nhận xét ban đầu từ bản đồ đánh giá cho thấy quy hoạch cấp nước tập trung nguồn nước ở thượng nguồn và các trạm bơm đẩy nước về các nhà máy xử lý tại Châu Thành, Cù Lao Minh và Sơn Đông Tuy nhiên, một số khu vực như Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm và thị trấn Châu Thành được cho là không khả thi về quy hoạch cấp nước, vì vậy cần ưu tiên bảo vệ nguồn nước tại những khu vực này để hạn chế ô nhiễm trong tương lai.

Hiện nay, hầu hết các công trình cấp nước mới được đầu tư tập trung tại khu vực đô thị và trung tâm xã, khiến nguồn nước phục vụ cộng đồng chưa được phân bổ đồng đều Nguồn nước sử dụng được tổng hợp từ nước sông, nước ngầm và nước mưa; tuy nhiên, đầu tư và quản lý chưa đủ để đảm bảo cấp nước sạch - ngọt đạt chuẩn và cấp nước đúng tiến độ cho người dân Do đó, khả năng đáp ứng nhu cầu nước sạch - ngọt theo tiêu chuẩn chất lượng và thời gian vẫn còn thấp.

Những tập quán sinh hoạt và hoạt động sản xuất của người dân đã làm tăng nồng độ chất gây ô nhiễm trong nguồn nước, gây khó khăn cho cấp nước sinh hoạt Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm mặn sâu trên các sông, kênh lớn và ô nhiễm nguồn nước mặt đang làm cho việc cấp nước sạch trở nên khó khăn và phức tạp hơn, đặc biệt ở vùng nông thôn.

Dựa vào kịch bản nước biển dâng cho đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2020 mức nước biển dâng 12 cm trình bày ở Hình 4.56

(Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Bến Tre, 2012) Hình 4.56: Vùng dễ bị tổn thương nhất theo ngành – Kịch bản nước dâng 12 cm

Chợ Lách chịu ảnh hưởng nhiều nhất với tỷ lệ diện tích ngập cao do phần lớn diện tích mặt nước của huyện; Thạnh Phú có diện tích lớn nhất và nằm tiếp giáp với sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên cùng có bờ biển nên tỷ lệ ngập ở đây cũng khá cao; Bình Đại có diện tích khá lớn nhưng tỷ lệ ngập lại ở mức thấp, và những đặc điểm này là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt của tỉnh.

Qua phân tích kết quả quan trắc, khảo sát thực địa và đánh giá chỉ số chất lượng nước mặt (WQI) ở tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2005–2013 và dự báo 2014–2020 theo WQI, chất lượng nước mặt các nhánh sông có xu hướng khá xấu, với điểm nóng nằm tại khu vực nội thị và gần KCN/CCN, và chất lượng giảm dần từ thượng lưu đến hạ lưu Nguyên nhân chính làm cho WQI thấp là hàm lượng Coliform, TSS và độ đục cao, do đó cần có biện pháp quản lý hiệu quả trong thời gian tới Kết quả này góp phần theo dõi và dự báo các diễn biến về chất lượng môi trường một cách chính xác, làm căn cứ cho các nhà quản lý đề ra các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện chất lượng nước mặt tại tỉnh Bến Tre.

Do hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, luận văn hiện ở giai đoạn khảo sát ban đầu về tình hình xả thải nước thải vào sông, rạch tỉnh Bến Tre Đánh giá đúng chất lượng nước thải không chỉ phụ thuộc vào đo đạc tại địa phương mà còn phải tính đến sự lan truyền ô nhiễm từ thượng nguồn của các huyện lân cận đổ về địa phận sông rạch của tỉnh Điều này đòi hỏi có đầy đủ chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước trên diện rộng và các mô hình thủy lực – lan truyền chất trong mạng lưới sông rạch phức tạp Đây là trở ngại lớn trong quá trình thực hiện luận văn do số liệu đo đạc về các tuyến sông thuộc tỉnh Bến Tre còn rất ít.

Trong thời gian tới, việc xây dựng một cơ sở dữ liệu nền cho chất lượng nước mặt (CLN nước mặt) cần tập trung tại các vị trí trên sông rạch nơi tiếp giáp với các huyện xung quanh để có cơ sở đánh giá mức độ ảnh hưởng ô nhiễm tại các khu vực tiếp giáp, từ đó đề xuất biện pháp xử lý hoặc hợp tác với các địa phương có trách nhiệm liên đới cùng nhau đề ra biện pháp khắc phục, khống chế ô nhiễm theo cấp độ quản lý tổng hợp lưu vực sông Đặc trưng của Bến Tre cũng như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cần xây dựng chỉ số WQI riêng cho Bến Tre để phù hợp với thực tế chất lượng nước tại đây, do hàm lượng phù sa tương đối lớn nên hàm lượng TSS và độ đục cũng rất cao, khi đó chỉ số WQI sẽ không phản ánh được mức độ ô nhiễm nước sông; nước sông Bến Tre bị ảnh hưởng bởi chế độ xâm nhập mặn nên cần mở rộng phạm vi đánh giá.

WQI không chỉ cho nguồn nước cấp cho sinh hoạt hay tưới tiêu mà còn bảo vệ đòi sống thủy sinh

Đề xuất bổ sung tần suất quan trắc lên 4 lần mỗi năm để đảm bảo dữ liệu nền đầy đủ và tin cậy, đồng thời nâng cao chất lượng dự báo môi trường bằng cách cung cấp thông tin kịp thời và chính xác Việc tăng tần suất quan trắc giúp thu thập dữ liệu liên tục, giảm thiểu khoảng trống thông tin và tối ưu hóa quá trình phân tích, từ đó cải thiện khả năng dự báo và giám sát biến đổi môi trường.

Ngày đăng: 30/10/2022, 00:02

w