1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VĂN 12 KHII

164 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 420,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO ÁN DẠY THÊM HỌC KÌ II GIÁO ÁN DẠY THÊM HỌC KÌ II MÔN NGỮ VĂN 12 TIẾT 60 65 CHỦ ĐỀ TÔ HOÀI TÁC PHẨM “VỢ CHỒNG A PHỦ” I MỤC TIÊU BÀI HỌC 1 Kiến thức Giúp học sinh hiểu được Nỗi thống khổ của người.

Trang 1

TIẾT 60-65: CHỦ ĐỀ: TÔ HOÀI

- TÁC PHẨM “VỢ CHỒNG A PHỦ”-

I MỤC TIÊU BÀI HỌC:

1.Kiến thức: Giúp học sinh hiểu được:

- Nỗi thống khổ của người dân miền núi Tây Bắc dưới ánh sáng thống trị của phongkiến và thực dân Vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng mãnh liệt và quá trình vùnglên tự giải phóng của đồng bào vùng cao

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, chân thực; miêu tả và phân tích tâm línhân vật sắc sảo, tinh tế; lối kể chuyện hấp dẫn ngôn ngữ mang phong vị và màu sắcdân tộc, giàu tính tạo hình và đầy chất thơ

2 Kĩ năng

- Củng cố, nâng cao các kĩ năng tóm tắt tác phẩm và phân tích nhân vật trong tácphẩm tự sự

3 Thái độ, tư tưởng

Giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu thương, trân trọng số phận con người

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

- Sgk, tài liệu tham khảo, vở ghi

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết, tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP

PHẦN I: KIẾN THỨC CHUNG:

Trang 2

I: TÁC GIẢ TÔ HOÀI

- Ông là nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong nền văn học Việt Namhiện đại bằng con đường tự học

- Viết theo xu hướng hiện thực thiên về diễn tả sự thật của đời thường Ông hấp dẫnngười đọc ở lối trần thuật của một người từng trải, hóm hỉnh, đôi lúc tinh quáinhững luôn sinh động nhờ vốn từ vựng giàu có, phần lớn là bình dân và thông tụcnhưng nhờ phép sử dụng đắc địa và tài ba, đầy ma lực và mang sức lay chuyển tâm

- Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn

và Cứu đất cứu mường) in trong tập Truyện Tây Bắc

- Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952.Đây là chuyến đi thực tế dài tám tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu số từ khu

du kích trên núi cao đến những bản làng mới giải phóng của nhà văn

- Vợ chồng A Phủ gồm có hai phần, phần đầu viết về cuộc đời của Mị và A Phủ ởHồng Ngài, phần sau viết về cuộc sống nên vợ nên chồng, tham gia cách mạng của

Mị và A Phủ ở Phiềng Sa Đoạn trích là phần đầu của truyện ngắn

2 Tóm tắt

- Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi trai gái người Mèo là Mị và A Phủ Mị là một côgái trẻ, đẹp Cô bị bắt làm vợ A Sử - con trai thống lý Pá Tra để trừ một món nợtruyền kiếp của gia đình Lúc đầu, suốt mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc, Mịđịnh ăn lá ngón tự tử nhưng vì thương cha nên Mị không thể chết Mị đành sống tiếpnhững ngày tủi cực trong nhà thống lí Mị làm việc quần quật khổ hơn trâu ngựa vàlúc nào cũng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Mùa xuân đến, khi nghe tiếngsáo gọi bạn tình thiết tha Mị nhớ lại mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi nhưng A Sử bắtgặp và trói đứng Mị trong buồng tối

- A Phủ là một chàng trai nghèo mồ côi, khoẻ mạnh, lao động giỏi Vì đánh lại A Sửnên bị bắt, bị đánh đập, phạt vạ rồi trở thành đầy tớ không công cho nhà thống lí.Một lần, do để hổ vồ mất một con bò khi đi chăn bò ngoài bìa rừng nên A Phủ đã bịthống lí trói đứng ở góc nhà Lúc đầu, nhìn cảnh tượng ấy, Mị thản nhiên nhưng rồilòng thương người cùng sự đồng cảm trỗi dậy, Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ rồi theo

A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài…

3 Nhân vật Mị

a Hình ảnh Mị trong đoạn văn mở đầu truyện

Trang 3

- Một cô gái âm thầm, lẻ loi, sống như gắn vào những vật vô tri, vô giác: “Ai ở xa về,

có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợigai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”

- Một cô con dâu nhà thống lý quyền thế, giàu sang “nhiều nương, nhiều bạc, nhiềuthuốc phiện” nhất làng nhưng lúc nào cũng “cúi mặt”, “buồn rười rượi”

(Hình ảnh của Mị hoàn toàn tương phản với cái gia đình mà Mị đang ở Sự tươngphản ấy báo hiệu một cuộc đời không bằng phẳng, một số phận nhiều uẩn khúc vàmột bi kịch của cõi nhân thế nơi miền núi cao Tây Bắc

b Cuộc đời, số phận, tính cách của nhân vật Mị

* Trước hết, Mị là cô gái có ngoại hình đẹp và nhiều phẩm chất tốt, đáng lẽ có thể sống một cuộc sống hạnh phúc:

- Một cô gái trẻ đẹp và có tài thổi sáo

- Một cô gái chăm làm, sẵn sàng lao động, không quản ngại khó khăn

- Một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không ham giàu sang phú quý

- Một người con hiếu thảo

- Có thể khẳng định, Mị là một hình tượng đẹp về người thiếu nữ Tây Bắc Ở Mị, toátlên cái đẹp vừa tự nhiên, giản dị vừa phóng khoáng, thẳm sâu như thiên nhiên núirừng miền Tây Tổ quốc Tuy nhiên, trái với những gì Mị đáng được hưởng, bi kịch

đã đến với Mị một cách phũ phàng bởi cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục

* Cô Mị với kiếp “con dâu gạt nợ” ở nhà thống lý Pá Tra:

- “Con dâu gạt nợ”:

+ Bề ngoài là con dâu vì Mị là vợ A Sử, nhưng bên trong Mị chỉ là một thứ gán nợ,

bắt nợ để bù đắp cho khoản tiền mà bố mẹ Mị đã vay của nhà thống lý Pá Tra nhưngchưa trả được Điều đau đớn trong thân phận của Mị là ở chỗ: nếu chỉ là con nợ thaycho bố mẹ thì Mị hoàn toàn có thể hi vọng vào một ngày nào đó sẽ được giải thoátsau khi món nợ đã được thanh toán (bằng tiền, bằng vật chất hoặc công lao động).Nhưng Mị lại là con dâu, bị cướp về và “cúng trình ma” ở nhà thống lý Linh hồn Mị

đã bị con “ma” ấy “cai quản” Đến hết đời, dù món nợ đã được trả, Mị cũng sẽ khôngbao giờ được giải thoát, được trở về với cuộc sống tự do Đây chính là bi kịch trongcuộc đời Mị

- Đời “con dâu gạt nợ” của Mị ở nhà thống lý là một quãng đời thê thảm, tủi cực, sống mà như đã chết Ở đó:

+ Mị dường như đã bị tê liệt cả lòng yêu đời, yêu sống lẫn tinh thần phản kháng.+ Mị chỉ là một công cụ lao động

+ Thân phận của Mị không bằng con trâu, con ngựa trong nhà

+ Mị âm thầm như một cái bóng

+ Mị như một tù nhân của chốn địa ngục trần gian, đã mất tri giác về cuộc sống

- Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiếnmiền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót: dưới ách thống trị của cường quyền bạolực và thần quyền hủ tục, người dân lao động miền núi Tây Bắc bị chà đạp một cáchtàn nhẫn về tinh thần đến mức tê liệt cảm giác về sự sống, mất dần ý niệm về cuộc đời,

từ những con người có lòng ham sống mãnh liệt trở thành những người sống mà như

Trang 4

đã chết, tẻ nhạt và vô thức như những đồ vật trong nhà Một sự hủy diệt ý thức sốngcủa con người thật đáng sợ !

* Sức sống tiềm tàng mãnh liệt (đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài)

- Những tác động của ngoại cảnh:

+ Trước hết là khung cảnh mùa xuân

+ Tiếp đó là “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” – tiếng sáo gọi bạn tình “vọng” vào tâmhồn Mị “thiết tha bổi hổi”

+ Bữa cơm Tết cúng ma đón năm mới rộn rã “chiêng đánh ầm ĩ” và bữa rượu tiếpngay bữa cơm bên bếp lửa

+ Những biểu hiện của ngoại cảnh ấy không thể không tác động đến Mị, nhất là tiếngsáo Bởi vì ngày trước Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đitheo Mị Tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo rủ bạn đi chơi” chính là tiếng ca của hạnhphúc, là biểu tượng của tình yêu đôi lứa Nó đã xuyên qua hàng rào lạnh giá bênngoài để “vọng” vào miền sâu thẳm trong tâm hồn Mị, đánh thức cái sức sống vẫnđược bảo lưu đâu đó trong cõi lòng người thiếu nữ Tây Bắc này

- Diễn biến tâm lý, hành động:

+ Đầu tiên, Mị “ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”

+ Trong không khí của một đêm tình mùa xuân, trong cái nồng nàn của bữa rượungày Tết, “Mị cũng uống rượu”

+ Mị “thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết

ngày trước” Mị cảm thấy mình “trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi”.

+ Mị cảm thấy rõ hơn bao giờ hết cái vô nghĩa lý của cuộc sống thực tại:“Nếu có

nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”

+ “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo” Tiếng sáo như hối thúc Mị “quấn lại

tóc”, “với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” để “đi chơi” Những biến động

mạnh mẽ trong tâm hồn Mị đã chuyển hóa thành hành động thực tế và hành động nàydẫn đến những hành động tiếp theo không thể ngăn được

+ Rõ ràng, cái khát vọng sống, niềm khát khao hạnh phúc vẫn được bảo lưu ở đâu đótrong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị Nó giống như hòn than vẫn đang âm ỉ cháy dướilớp tro tàn nguội lạnh và chỉ cần một ngọn gió thổi tới là nó có thể bùng cháy một cáchmãnh liệt Những tác động của ngoại cảnh là không nhỏ nhưng cái sức mạnh tiềm ẩn,không thể nào dập tắt của con người mới là điều mấu chốt quyết định sức sống của Mị,của mỗi cá nhân

* Sức phản kháng táo bạo (hành động cởi dây trói cho A Phủ)

- Dù bị dập vùi một cách tàn nhẫn nhưng không vì thế mà lòng ham sống và khátkhao hạnh phúc trong Mị bị triệt tiêu Trái lại, trong những hoàn cảnh đặc biệt nó cònbừng dậy một cách mạnh mẽ và chuyển hóa thành sức phản kháng táo bạo Có thểthấy rõ điều đó qua diễn biến tâm lí và hành động của Mị trong đêm cô cứu A Phủ rồicùng anh bỏ trốn khỏi Hồng Ngài:

+ Ban đầu, trước cảnh tượng A Phủ bị trói, Mị hoàn toàn dửng dưng

+ Nhưng sau đó, khi chứng kiến dòng nước mắt chảy xuống gò má đã xạm đen lạicủa A Phủ, Mị đã đồng cảm, thương mình và thương người

Trang 5

+ Thương mình, thương người, Mị càng nhận rõ tội ác của cha con thống lí.

+ Dù trong lòng vẫn có những sợ hãi nhưng Mị đã cứu A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốnkhỏi Hồng Ngài

+ Đây là hệ quả tất yếu sau những gì đã diễn ra ở Mị Từ đêm tình mùa xuân ở HồngNgài đến đêm cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và tự giải thoát khỏinhững “gông xiềng” của cả cường quyền bạo lực và thần quyền lạc hậu Đó cũng là

sự khẳng định ý nghĩa của cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của người dânlao động Tây Bắc

3 Nhân vật A Phủ

a Số phận éo le

- Sớm mồ côi cha mẹ (cha mẹ chết trong một trận dịch đậu mùa)

- Nghèo, không lấy nổi vợ vì phép làng và tục lệ cưới xin ngặt nghèo

b Cá tính mạnh mẽ, một hình ảnh đẹp về người lao động miền núi Tây Bắc

- Có ý chí và nghị lực sống, A Phủ đã vượt qua mọi cơ cực để trở thành chàng traiMông khỏe mạnh, tháo vát, trở thành niềm mơ ước của nhiều cô gái trong bản

- Gan góc từ bé, ham lao động, A Phủ không quản ngại những công việc nặng nhọc,khó khăn, nguy hiểm

- Không sợ cường quyền, sẵn sàng trừng trị kẻ xấu

- Ham sống, yêu tự do, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt

c Một nạn nhân của giai cấp thống trị phong kiến miền núi tàn bạo

- Chỉ vì đánh con quan mà bị phạt rất nặng, bị làng “bắt vạ”, trở thành một kiểu “nôlệ” trong nhà thống lí Pá Tra

- Chỉ vì lỡ để hổ bắt mất một con bò mà bị cha con thống lí bắt trói, hành hạ dã man,

có thể phải trả giá bằng cả tính mạng

(Nhân vật A Phủ vừa là bằng chứng sống vềtội ác của giai cấp thống trị miền núi TâyBắc vừa là một hình ảnh đẹp, tiêu biểu của người dân lao động ở một vùng núi caonước ta

4 Giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm

a Giá trị hiện thực

- Truyện miêu tả chân thực số phận nô lệ cực khổ của người dân lao động nghèo TâyBắc dưới ách thống trị của bọn cường quyền phong kiến miền núi (dẫn chứng Mị, APhủ)

- Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp phong kiến thống trị ở miền núi (dẫnchứng cha con thống lí Pá Tra)

- Truyện đã tái hiện một cách sống động vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và phongtục, tập quán của người dân miền núi Tây Bắc (cảnh mùa xuân, cảnh xử kiện A Phủ)

b Giá trị nhân đạo

- Truyện thể hiện lòng yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ củangười lao động nghèo miền núi (dẫn chứng nhân vật Mị, A Phủ)

- Phê phán quyết liệt những thế lực chà đạp con người (cường quyền và thần quyền)

- Truyện khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọnghạnh phúc cháy bỏng của con người Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến mức nào,

Trang 6

con người cũng không mất đi khát vọng sống tự do và hạnh phúc (Dẫn chứng nhânvật Mị- trong đêm tình mùa xuân, cởi trói A Phủ)

- Thông qua câu chuyện, nhà văn đã chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nóiriêng, những số phận khổ đau nói chung con đường tự giải thoát khỏi những bấtcông, con đường làm chủ vận mệnh của mình (dẫn chứng hành động cởi trói cho APhủ, cùng A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài)

5 Đặc sắc nghệ thuật

a Nghệ thuật kể chuyện

- Cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên mà ấn tượng Cách dẫn dắt tình tiếtkhéo làm cho mạch truyện phát triển và vận động liên tục, biến đổi hấp dẫn màkhông rối, không trùng lặp

- Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc và sáng tạo, lối văn giàu tính tạo hìnhthấm đẫm chất thơ

b Nghệ thuật miêu tả tâm lý và phát triển tính cách nhân vật

- Nhà văn ít tả hành động mà chủ yếu khắc họa tâm tư, nhiều khi mới chỉ là các ýnghĩ chập chờn trong tiềm thức nhân vật

Tác phẩm đặt ra vấn đề số phận con người những con người dưới đáy xã hội

-những con người bị tước đoạt hết tài sản, bị bóc lột sức lao động và bị xúc phạmnặng nề về nhân phẩm

- Truyện có giá trị nhân đạo sâu sắc : Phát hiện và ngợi ca sức sống tiềm tàng mãnh

liệt của con người Giá trị nhân đạo của “Vợ chồng A Phủ” gắn liền với đường lối

cách mạng và chính sách dân tộc của Đảng : Giải phóng cho những người lao động bị

áp bức bóc lột, đem đến cho họ một cuộc sống tốt đẹp hơn

- Qua hai nhân vật M và A Phủ, tác phẩm cho thấy : Xã hội phong kiến miền núi dù

có tàn bạo đến đâu cũng không giam hãm được khát vọng sống của con người PHẦN II: LUYỆN ĐỀ

ĐỀ SỐ 1:

Phân tích giá trị hiện thực được nhà văn Tô Hoài thể hiện trong đoạn trích sau:

Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi Bây giờ thì

Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái

Trang 7

tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm

mà thôi Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn

bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.

Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.

sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc.

- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích ở phần đầu truyện: Lần lần, mấy năm qua,

mấy năm sau…bao giờ chết thì thôi thể hiện thành công giá trị hiện thực về cuộc đời

người dân miền núi Tây Bắc trong sáng tác của Tô Hoài

b Thân bài

*Khái quát chung:

- Hoàn cảnh sáng tác:Truyện ngắn “VCAP” là tác phẩm đặc sắc trong tập Truyện Tây Bắc (1953)

- Về nhân vật Mị: là cô gái người Mông trẻ trung, hồn nhiên, xinh đẹp, tài hoa Nhưng vì món nợ truyền kiếp, bị bắt làm con dâu nhà thống lí Pá Tra

* Phân tích giá trị hiện thực được nhà văn Tô Hoài thể hiện:

Trang 8

+Mị vốn là một cô gái người Mèo có đủ khả năng và điều kiện hưởng một cuộc sốnghạnh phúc, có một tương lai tươi sáng Mị xinh đẹp, tài năng, hiếu thảo, yêu laođộng, có lòng tự trọng…

+ Khi Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống Lí Pá Tra, lúc đầu Mị xuất hiện ýthức phản kháng từ yếu ớt “đêm nào cũng khóc” đến mạnh mẽ “ăn lá ngón tự tử”nhưng sau đó, khi bố mất, khi đã quen với mọi thứ, Mị chấp nhận số phận bi kịch củamình

+ Ý thức phản kháng mất đi, Mị chấp nhận số phận của mình, sống một cách dật dờ,

tàn lụi: Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi.

+Mị được so sánh theo thủ pháp “vật hóa”: so sánh ngang bằng (Mị tưởng mình cũng

là con trâu, mình cũng là con ngựa ; Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.) và so sánh không ngang bằng (Con ngựa, con trâu làm còn

có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.) nhằm tập trung phản ánh hai nội dung: nhận thức

của Mị về nỗi khổ, sự đọa đày về thân xác (Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình

cũng là con ngựa ; Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.) và

sự tê liệt về ý thức, tinh thần (Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi

trong xó cửa.) Từ đó, tác giả làm nổi bật dòng tâm tư, nhận thức của nhân vật về

cuộc đời, số phận nô lệ buồn đau, cực nhục của Mị, sự đọa đày cả về thể xác lẫn tinhthần đối với Mị

+ Mị còn được nhà văn khắc họa bằng những hành động liên tiếp nhau, lặp đi lặp lại

(lên núi hái thuốc phiện, giặt đay, xe đay, bẻ bắp, hái củi, bung ngô, tước đay).Cách

khắc họa nhân vật của Tô Hoài gây ấn tượng về một con người bị tê liệt về xúc cảm,hành động như một cỗ máy đã được lập trình sẵn, chỉ như đang tồn tại một cách vôthức mà không hề sống với bất kì một trạng thái cảm xúc sống động nào

+ Hình ảnh ẩn dụ: căn buồng Mị ở “kín mít, chỉ có một cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay,

lúc nào nhìn ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng” là

biểu tượng ám gợi về địa ngục trần gian, tù túng, ngột ngạt, nơi cầm tù tuổi thanhxuân của con người, biến Mị từ một cô gái trẻ trung phơi phới thành một con người

vô cảm, cam chịu.Đó không gian phi nhân tính

+ Tận cùng của sự cam chịu : “Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy

mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.” Mị phải chịu đựng cả nỗi đau về thể xác và

tinh thần

- Mặt khác, giá trị hiện thực của đoạn trích còn thể hiện ở sức tố cáo tội ác của bọnthực dân phong kiến miền núi Tây Bắc

+ Chúng lợi dụng cường quyền và thần quyền để áp bức, bóc lột người dân miền núi

Mị là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi do chúng đặt ra

+ Chúng biến trần gian thành địa ngục, chà đạp lên hạnh phúc, tình yêu của conngười Không những đày đọa thể xác của Mị, chúng còn làm tê liệt ý thức phảnkháng, sống trong sự cam chịu, chấp nhận kiếp đời làm dâu gạt nợ, nô lệ đầy tủi nhục

b Nghệ thuật:

Trang 9

hân vật Mị được phác tả bằng vài nét chân dung gây ám ảnh, có sự kết hợp giữagiọng trần thuật của nhà văn với dòng tâm tư của nhân vật, khiến người đọc có cảmgiác người viết đã nhập sâu vào trong dòng ý nghĩ, tâm tư của nhân vật để diễn tả suynghĩ, tâm trạng của nhân vật; nhiều biện

* Đánh giá

- Qua giá trị hiện thực trong đoạn trích, tác giả lên án, vạch trần bộ mặt tàn bạo, độc

ác của kẻ thù giai cấp; cảm thông, đồng cảm, thương yêu với số phận đau thương củangười dân Tây Bắc Đó là thái độ và tấm lòng đáng trân quý của nhà văn cách mạngtrong văn học 1945-1975

- Giá trị hiện thực trong đoạn trích góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật truyện

ngắn của Tô Hoài

c Kết bài:

Giá trị hiện thực của “Vợ chồng A Phủ” là hiện thực cuộc sống của những ngườidân Tây Bắc, cần cù, chăm chỉ, chân phương nhưng bất hạnh, khổ cực Hình tượngnhân vật Mị trong tác phẩm và đặc biệt qua đoạn văn trên, tác giả đã khái quát toàn

bộ không gian xã hội thực dân nửa phong kiến nơi vùng cao, đồng thời lên án mạnh

mẽ, phơi bày bộ mặt tàn bạo và các thế lực đen tối đã tồn tại và chèn ép con ngườiđến bước đường cùng Qua tác phẩm, Tô Hoài cũng gửi gắm sự nâng niu, trân trọngđến nhân vật của mình hay chính là những người dân vùng núi phía Bắc, tìm kiếm sựlay động trong lòng độc giả khi chứng kiến những khó khăn, gian khổ mà nhân vậtphải trải qua

-“Lúc ấy trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng

Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”…”

Cảm nhận tâm trạng của nhân vật Mị qua hai đoạn văn trên, từ đó nhận xét về sức sống tiềm tàng của nhân vật này.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

1 Mở bài

– Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại

Trang 10

– “Vợ chồng A Phủ”trích trong tập “Truyện Tây Bắc” Tác phẩm phản ánh bức tranh

bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của bọn phong kiến,thực dân và là bài ca về phẩm chất, vẻ đẹp, về sức sống mãnh liệt của người laođộng

- Hai đoạn văn trên đã cho người đọc thấy rõ điều này

2 Thân bài:

a Khái quát chung:

- Hoàn cảnh sáng tác:

- Giới thiệu nhân vật Mị

+ Mị là cô gái xinh đẹp, có tài thổi sáo, có nhiều chàng trai theo đuổi Vì món nợtruyền kiếp, Mị đã bị bắt về cúng ma và làm con dâu gạt nợ nhà thống lí, trở thành nô

lệ, dần dần tê liệt về tinh thần

+ Thế nhưng với phẩm chất tốt đẹp của người lao động, sức sống cứ tiềm tàng, âm ỉrồi bùng cháy mãnh liệt khiến Mị có thể trỗi dậy giải thoát cho A Phủ và cho chínhmình

b Phân tích hai đoạn văn

* Đoạn văn thứ nhất:

*.1 Hoàn cảnh: Sau khi uống rượu, lắng nghe tiếng sáo trong không khí mùa xuân

đang về, tâm trạng Mị có sự thay đổi Từ kiếp sống nô lệ, cam chịu, tâm hồn Mị đã

có sự hồi sinh Mị muốn đi chơi và sửa soạn để đi chơi

*.2 Tâm trạng Mị:

– Bây giờ Mị cũng không nói Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ vào đĩa đèn cho sáng”

+Sống trong thân phận làm dâu gạt nợ, tinh thần Mị tưởng như đã bị tê liệt hoàn

toàn Nhưng khi đêm tình mùa xuân đến đã đánh thức khát khao trong Mị sống

lại Bây giờ Mị không nói, nhưng tâm hồn Mị đã hồi sinh và ý thức được cuộc sống

vô nghĩa ở hiện tại

+ Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ vào đĩa đèn cho sáng Hành động ấy

cho thấy Mị đang muốn thắp sáng lại căn phòng cũng là thắp sáng cho tâm hồn vàcuộc đời đầy đau khổ, tăm tối của mình

– Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo

+ Tiếng sáo là biểu tượng cho tình yêu, Hạnh phúc, khát vọng tuổi trẻ và là biểutượng cho cuộc sống tự do

+ Tiếng sáo từ ngoại cảnh trở thành tiếng sáo trong tâm tưởng, vẫn rập rờn trong đầu

Mị như thúc giục Mị đi theo tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc

– Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi Mị quấn lại tóc, Mị với lấy cái váy hoa vắt

ở phía trong vách.

+ Những khát khao ấy cho thấy Mị đã thực sự sống lại với quá khứ tươi đẹp ngàytrước Trong những đêm tình mùa xuân, Mị đã từng hẹn hò đi chơi với người yêu qua

âm thanh tiếng sáo

+ Mị dường như quên đi sự có mặt của A Sử Những câu văn ngắn, nhịp điệu nhanh,nêu ra ước muốn và các hành động liên tiếp của Mị thể hiện sự thôi thúc như một sựchuẩn bị tất yếu cho một sự trỗi dậy mạnh mẽ hơn

Trang 11

– Nghệ thuật: Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý tinh tế.

* Đoạn văn thứ hai

*.1 Hoàn cảnh:

– Sau đêm tình mùa xuân, Mị càng trở nên vô hồn, vô cảm Trong những đêm làmbạn với bếp lửa, Mị đã bắt gặp A Phủ bị trói đứng

– Ban đầu Mị thản nhiên, lạnh lùng nhưng khi nhìn thấy một dòng nước mắt lấp lánh

bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ, từ thương cho mình Mị thương cho

A Phủ

– Mị quyết định cắt dây cởi trói và chết thay cho A Phủ

*.2.Tâm trạng của Mị

-“Lúc ấy trong nhà tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng

Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại…

+Nếu Mị là thân phận con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở không công Chỉ vì để hổ ăn

mất một con bò mà A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng Sự gặp gỡ của Mị và A Phủ là

sự gặp gỡ của những con người cùng cảnh ngộ

+ Nhà văn đã tạo ra thời điểm thuận lợi cho sự trỗi dậy của Mị Đó là lúc trong nhà

“tối bưng” với không gian yên tĩnh, vắng vẻ

– Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây.

+ Đây là hành động táo bạo, là sự phản kháng tất yếu của một con người đã bị ápbức, bóc lột tàn nhẫn

+ Hành động thể hiện sự đồng cảm, tình yêu thương của những con người cùng cảnhngộ Tình yêu thương giữa những con người cùng khổ đã tạo nên sức mạnh để Mịvượt qua nỗi sợ hãi trước cường quyền giải thoát cho A Phủ

+ Hành động này cũng là kết quả tất yếu của quá trình hồi sinh trong hồn Mị, thểhiện cho một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt

+ Thể hiện ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Tô Hoài

– Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”…”

+ Mị ý thức được việc làm của mình, cô hốt hoảng bởi lo cho A Phủ và chính mình.Chính Mị cũng không thể nghĩ mình lại có thể làm được như vậy

+ Dẫu đã vượt qua sự sợ hãi cường quyền nhưng Mị vẫn bị ám ảnh bởi thế lực thần

quyền Mị luôn cho rằng, đã bị cúng ma rồi thì “chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây

– Khác:

+ Nếu đoạn văn thứ nhất thể hiện sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân với khát vọng vượt thoát khỏi hiện thực, khao khát tự do, được hưởng tình yêu và hạnh phúc thì đoạn văn thứ hai lại tập trung thể hiện sự chuyển biến

Trang 12

mạnh mẽ trong tư tưởng và hành động của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ với vẻ

đẹp đầy nội lực, lòng dũng cảm và sự quyết đoán của nhân vật

+ Nếu khát vọng đó ở trong đoạn 1 mới chỉ dừng lại ở những diễn biến trong tâm trạng, ở sự hồi sinh trong tâm hồn nhưng rồi nhanh chóng bị dập tắt bởi nghịch cảnh Còn sức sống tiềm tàng của Mị ở đoạn văn thứ hai đã chuyển hóa thành hành động cụ thể, cắt dây cởi trói cho A Phủ và sau đó là tự giải thoát cho cuộc đời mình.

* Về nghệ thuật:

– Bút pháp miêu tả tâm lí sắc sảo, tinh tế

– Cách dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên

– Giọng trần thuật của tác giả hòa vào những độc thoại nội tâm của nhân vật tạo nênngôn ngữ nửa trực tiếp đặc sắc

– Ngôn ngữ kể truyện tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi

Thường khi đến gà gáy Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại thức sưởi lửa suốt đêm.Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống Mấy đêm nay như thế Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa Có đêm A Sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A

Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp.Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.

Trang 13

Lúc ấy đã khuya Trong nhà ngủ yên thì Mị trở dậy thổi lửa Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại Nhìn thấy tình cảnh như thế, M ị chợt nhớ lại đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết,nó bắt mình chết cũng thôi,nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này Chúng nó thật độc ác Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết A Phủ … Mị phảng phất nghĩ như vậy.

(TríchVợ chồng A Phủ– Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 13)

Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét tình cảm của nhà văn Tô Hoài đối với nhân dân Tây Bắc.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:

1.Mở bài:

– Tô Hoài là nhà văn nổi tiếng trên văn đàn từ trước năm 1945 Trong kháng chiếnchống Pháp, ông chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thànhquả quan trọng trong sáng tác văn học, nhất là về đề tài miền núi Một trong những

thành công của Tô Hoài khi viết về đề tài này là truyện “Vợ chồng A Phủ”;

– Nêu vấn đề cần nghị luận: nhân vật Mị trong đoạn trích Những đêm mùa đông

(…)Mị phảng phất nghĩ như vậy thể hiệnnhững nét mới mẻ về người nông dân sau

cách mạng trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài

2.Thân bài:

a Khái quát về tác phẩm

– Truyện Vợ chồng A Phủ in trong tập Truyện Tây Bắc, là kết quả của chuyến Tô

Hoài đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952), đánh dấu độ chín của phongcách nghệ thuật Tô Hoài Tác phẩm viết về cuộc sống tăm tối và khát vọng sốngmãnh liệt của người dân miền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến Mị lànhân vật chính, là linh hồn của tác phẩm

– Vị trí, nội dung đoạn trích: thuộc phần cuối trong phần 1 của truyện Vợ chồng A

Phủ , kể về diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm đông cứu A

Phủ

b Cảm nhận nội dung, nghệ thuật đoạn trích:

Trang 14

b.1 Về nội dung:

* Hoàn cảnh Mị gặp A Phủ:

-Giới thiệu sơ lược về Mị: một cô gái xinh đẹp, tài năng, hiếu thảo Vì món nợ truyềnkiếp của gia đình và sự tàn ác của bọn chúa đất miền núi Tây Bắc mà Mị trở thànhnạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi Mị là con dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra.Trong đêm tình mùa xuân, nhờ tác động bởi ngoại cảnh, men rượu, tiếng sáo, Mị cósức sống tiềm tàng, khao khát hạnh phúc, tình yêu;

– Giới thiệu sơ lược về A Phủ: một thanh niên có thân phận như Mị, cũng phải ở nhàthống lí Pá Tra để gạt nợ Do để mất bò mà bị trói đêm này sang đêm khác, ngày nàysang ngày kia

– Hai con người đau khổ không hẹn mà gặp nhau tại nhà thống lí Pá Tra trong đêmđông nơi núi cao lạnh lẽo

* Diễn biến tâm lí và hành động của Mị

– Mị có thói quen thức sưởi lửa suốt đêm-đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn

+Nếu không có bếp lửa kia thì Mị đến chết héo Mỗi đêm, Mị dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần: Từ chỉ thời gian mỗi đêm, không biết bao nhiêu lần: gợi thói quen lặp đi lặp lại như một bản năng, ăn vào vô thức Đó là bản

năng tìm tới hơi ấm, ánh sáng.Mị chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa: điệp từ “chỉ” diễn

tả nét nghĩa tồn tại ít ỏi Trong văn hóa nhân loại, ngọn lửa thường là vật biểu trưngcho ánh sáng, sự sống Ở đây, ngọn lửa ngầm ẩn sự hiện hữu tuy tối thiểu nhưng daidẳng của sức sống trong Mị

+A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước: Từ vẫn tiếp tục nhấn mạnh niềm khát sống bền bỉ Hình tượng ngọn lửa là

nguồn sáng- nguồn ấm-nguồn sống duy nhất đồng thời tiềm sâu sức sống dai dẳng,bền bỉ, bất chấp của Mị

-Lúc đầu, Mị có trạng thái thản nhiên đáng sợ Sau sự nổi loạn ở đêm tình mùa

xuân không thành, Mị đã bị cường quyền, thần quyền nhà thống lý Pá tra vùi dập,chà đạp, để bị rơi vào trạng thái tê liệt còn đáng sợ hơn cả trước đây Điều đó thể hiện

trong cách Mị nhìn A Phủ bị trói đứng Mị trơ lì tê liệt đến mức vẫn thản nhiên thổi

lửa, hơ tay Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi Ba chữ cũng thế thôi tách riêng thành một nhịp, lời văn nửa trực tiếp đã tái hiện chính xác thái độ lạnh

lùng của nhân vật Nghĩa là cô không chỉ khước từ quyền sống của chính mình màcòn không quan tâm đến cả sự sống của đồng loại Tuy có lúc A Sử đi chơi đêm về,ngứa tay ngứa chân, “đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp”, nhưng đêm sau Mị vẫn gan

lì, lặng lẽ phản kháng, tiếp tục ra sưởi lửa như đêm trước Bởi lẽ ngọn lửa đã là người

Trang 15

bạn, là cứu cánh của Mị – “Mị chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa” Đó là thái độ thảnnhiên đáng sợ vì không có tình đồng loại Vì sao? Lí giải vấn đề này, ta thấy có banguyên nhân.Một là, cảnh người bị trói đến chết không phải là hiếm hoi ở nhà thốnglí.Hai là, cuộc sống bao năm làm con rùa lùi lũi trong xó cửa đã tạo cho Mị một sức ì,một quán tính cam chịu, nhẫn nhục quá lớn Ba là, Mị đã chịu đựng quá nhiều đaukhổ về thể xác lẫn tinh thần nên cô đã trở nên chai sần vô cảm, khả năng cảm thông,chia sẻ với cảnh ngộ khốn cùng của người khác ở Mị gần như bị tê liệt Mị chẳngkhác gì “tảng đá”.

–Những dòng nước mắt của A Phủ làm Mị có nhu cầu được hi sinh: Nguyên nhân

quan trọng nhất đã tác động đến tâm lý của Mị để từ sự chai sạn vô cảm đã sống dậynhững cảm xúc mãnh liệt, đã bừng dậy khát vọng tự do đó chính là dòng nước mắtcủa A Phủ Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen của A Phủ đãtác động mạnh đến tâm lý của Mị, đưa cô từ cõi quên trở về với cõi nhớ Mị nhớ lạiđêm năm trước mình cũng bị A Sử trói đứng như vậy, nước mắt chảy xuống màkhông thể lau đi được Chính việc sống lại những kí ức đó đã khiến Mị nhận thấy sựđồng cảm, đồng cảnh giữa mình và A Phủ, để từ lòng thương mình, cô đã thươngngười và cuối cùng là hành động cứu người

Tô Hoài đã khéo léo dùng cách trần thuật nửa trực tiếp để cho người đọc thấy rõ cảmxúc của Mị: Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết Dạng thức cảm thán đã chothấy Mị không còn thờ ơ, vô cảm với đồng loại mà trong tâm hồn cô đã dấy lên mộttình thương yêu mãnh liệt Tâm lí này cho thấy phẩm chất nhân hậu tiềm ẩn trongtâm hồn người phụ nữ cùng khổ

- Cùng với lòng thương người, Mị đã nhận ra bản chất tàn ác, vô nhân đạo của cha con nhà thống lý: chúng nó thật độc ác Từ chỗ cúi đầu chấp nhận tất cả những

đau đớn đọa đày ở nhà thống lý đến chỗ cảm nhận được điều này là một bước tiếntrong nhận thức và tình cảm của nhân vật Mị đã thể hiện thái độ phản kháng, khôngcòn chấp nhận sự áp chế của thần quyền và cường quyền nữa

- Mị nhận thấy sự khác biệt giữa mình và A Phủ Vì tin là mình đã bị ma nhà

thống lý Pá Tra nhận mặt nên cô ý thức được sự ràng buộc của đời mình, chỉ còn biếtđợi ngày rũ xương ở đây thôi Còn với A Phủ, Mị nhận rõ sự bất công: Người kiaviệc gì mà phải chết ? Ý thức rõ được hậu quả khi một ngày kia A Phủ trốn được rồithì mình sẽ bị trói và chết bên cái cọc ấy nhưng Mị không thấy sợ Dù không nói ramột cách rõ ràng nhưng những suy nghĩ của Mị đã cho thấy cô chấp nhận cái chết vềphía mình để tìm cách cho A Phủ được sống Đến đây có thể thấy lòng thương người

đã lớn tới mức Mị quên đi sự sống của bản thân đế đối lấy sự sống cho ngườikhác.Tâm lý này đã ánh lên vẻ đẹp cao thượng vị tha trong tâm hồn Mị

* Đánh giá ý nghĩa:

Trang 16

+Qua diễn biến tâm lí của nhân vật Mị, nhà văn Tô Hoài muốn khẳng định: bạo lực không thể đè bẹp, hủy diệt khát vọng sống, khát vọng tự do, hạnh phúc Chỉ có

điều là để có được sự sống, tự do, hạnh phúc, con người đã phải trải qua nhiều tủinhục, đắng cay

+Tái hiện nhân vật Mị trong thế cùng A Phủ đối đầu với bọn lang đạo, địa chủ miền

núi Tây Bắc, Tô Hoài đã lên án giai cấp thống trị bất nhân được thực dân Pháp bảo trợ đã chà đạp lên quyến sống, quyền hạnh phúc của những người dân lương thiện miền núi Tây Bắc Đồng thời, Tô Hoài cũng đã đồng cảm, xót thương

sâu sắc trước những nỗi đau tê buốt, xé lòng; đặc biệt là ngợi ca những phẩm chất tốtđẹp, sức sống diệu kì của những kiếp nông nô lầm than, tủi nhục – trong mọi cảnhngộ, họ luôn luôn tìm cách vươn lên bằng khát vọng tự do, hạnh phúc, bằng sứcmạnh yêu thương và sự dẫn đường chỉ lối của cách mạng sau này

b.2 Về nghệ thuật:

– Khả năng miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc, đi sâu khai thác diễn biến tâm trạng củanhân vật;

-Ngôn từ độc đáo, giàu ý nghĩa, giọng văn đầy chất thơ;

-Cách miêu tả rất cụ thể, thủ pháp tăng tiến; nhịp văn thúc bách, nhanh, gấp; lời vănnửa trực tiếp…

c Nhận xét tình cảm của nhà văn Tô Hoài đối với nhân dân Tây Bắc:

– Đồng cảm với nỗi khổ đau mà con người phải gánh chịu (đồng cảm với thân phậnlàm dâu gạt nợ của Mị khi nhớ lại bị A Sử chà đạp; nỗi đau của A Phủ khi bị trói vàocây cọc để thế mạng con hổ)

– Phát hiện ra tinh thần phản kháng của con người bị áp bức (từ vô cảm, Mị đã đồngcảm với người đồng cảnh ngộ; từ suy nghĩ đúng sẽ có hành động đúng)

-Tấm lòng nhà văn dành cho đồng bào miền núi thật sâu nặng, nghĩa tình, xét đến

cùng đó chính là tấm lòng nhân đạo của người nghệ sĩ dành cho đất và người Tây Bắc.

3.Kết bài

– Kết luận về nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp của nhân vật Mị qua đoạn trích;

– Nêu cảm nghĩ về tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

Trang 17

- Ghi nhớ nội dung bài học:

+ Nắm được tác giả- tác phẩm- phong cách.

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Học bài cũ

- Chuẩn bị bài: CHỦ ĐỀ: LUYỆN ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

V RÚT KINH NGHIỆM

Trang 18

Ngày soạn:

Ngày dạy:

TIẾT 66-87: LUYỆN ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

I MỤC TIÊU BÀI HỌC:

1 Kiến thức : Qua bài học giúp HS:

- Nắm được cách đọc- hiểu văn bản VH 1945-1975

- Có thể đọc- hiểu được những văn bản văn học trong và ngoài chương trình

2 Kĩ năng:

- Đọc- hiểu các văn bản

3 Tư duy, thái độ :

- Chủ động, tự tin khi tiếp cận các văn bản văn học

II CHUẨN BỊ

2 Kĩ năng

- Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

- Luyện kỹ năng giải đề theo yêu cầu

3 Thái độ, tư tưởng

- Biết trân trọng, yêu thương và cảm phục những con người bình thường mà giàulòng nhân hậu, vô cùng dũng cảm đã đem máu xương để giữ gìn, bảo vệ đất nước

Trang 19

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

- Sgk, tài liệu tham khảo, vở ghi

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết, tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: LUYỆN ĐỀ

ĐỀ SỐ 1: Hãy phân tích vẻ đẹp dòng sông Hương trong đoạn trích từ bút kí “Ai

đã đặt tên cho dòng sông” từ góc nhìn văn hoá, lịch sử và nhận xét về cái tôi trữ

tình mà tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biểu hiện.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

a Mở bài:

- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tác giả, tác phẩm, vấn đê nghị luận

b Thân bài :

Phân tích vẻ đẹp sông Hương từ góc nhìn văn hoá, lịch sử

* Sông Hương từ góc nhìn văn hoá

- Tác giả đã khảo cứu dòng thi ca riêng về sông Hương để nhận thấy vẻ đẹp của

dòng sông không lặp lại mình trong cảm nhận của từng thi sĩ

- Trong âm nhạc, sông Hương là cội nguồn làm nên sức cuốn hút của âm nhạc cổđiển Huế, của kiệt tác Truyện Kiều

- Sông Hương có thể sánh cùng sông Nile, sông Hằng, sông Hoàng Hà – cái nôi hìnhthành những nền văn hóa lớn trên thế giới – với những phong tục, nếp sống riêng:Đèn hoa đăng tháng bảy, xóm chài ven sông

Trang 20

- Rất tinh tế, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lí giải màu tím quyến rũ trong trang phục

của những cô dâu Huế ngày xưa: ấy chính là màu sương khói trên sông Hương.Đó làtấm hoan huyền ảo tự nhiên, khiến dòng sông thêm mơ mộng Sông Hương quả là

người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ xở với sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ.

* Sông Hương từ góc nhìn lịch sử

- Sông Hương đã sống qua những thời kì vinh quang gắn với trang sử hào hùng củadân tộc: Là dòng sông biên thuỳ thời các vua Hùng, là dòng Linh Giang chứng kiếnnhững cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân bảo vệ biên giới phía Nam qua nhiều thế kỉtrung đại, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng áo vả NguyễnHuệ thế kỷ XVIII, ghi dấu những trang sử bi tráng, đẫm máu thời chống Pháp, chứngkiến cuộc tái sinh màu nhiệm và những chiến công hiển hách của dân tộc SôngHương thật xứng đáng là bản anh hùng ca kì vĩ, vì tiềm tàng trong chiều sâu lịch sửmột sức mạnh quật cường của dân tộc

- Hào hùng, oanh liệt đấu tranh chống quân thù nhưng trong đời thường, sông Hươnglại rất đỗi bình dị Cùng với người dân xứ Huế, khi Tổ quốc lâm nguy, sông Hươngsẵn sàng hiến mình để lập nên những chiến công, ồi sau đó lặng lẽ trở về với đờithường là một người con gái dịu dàng của đất nước

-> Với vốn tri thức phong phú, lối viết tài hoa, giàu cảm xúc nhà văn đã mang đến những khám phá mới mẻ về chiều sâu và giá trị văn hoá và ý nghĩa lịch sử của sông Hương đối với xứ Huế.

* Cái tôi trữ tình của tác giả:

- Tác giả đã thể hiện một cái tôi phong phú, độc đáo: rất tài hoa, nghệ sĩ , rất uyênbác, nặng lòng với quê hương xứ sở

đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn

đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng

Trang 21

nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió , cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm lược qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ đòi lật ngửa bụng thuyền ra Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ

lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như ô tô sang số ấn ga cho nhanh

để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực

(Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2005, tr186,và 191)

Anh chị hãy phân tích hình tượng Sông Đà trong đoạn trích trên, từ đó nhận xét phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân trong tùy bút Người lái đò Sông Đà

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

a Mở bài :

- Giới thiệu một số nét tiêu biểu về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

- Khái quát nội dung của đoạn văn: Vẻ đẹp của Sông Đà hùng vĩ, dữ dội

b Thân bài

* Khái quát chung Giới thiệu khái quát về tác phẩm, về sông Đà.

* Phân tích đoạn văn : Vẻ đẹp hình tượng Sông Đà

* 1 Vách đá

- Đá dựng vách thành, và những bức thành vách đá chẹt Sông Đà như một cái yết hầu

- Độ hẹp của Sông Đà được thể hiện qua các biện pháp tu từ so sánh và những liêntưởng, tưởng tượng Mặt sông lúc ấy đúng ngọ mới có mặt trời Con hổ con nai có thểvọt từ bờ bên này sang bờ bên kia Đang mùa hè cũng thấy lạnh

→ Bờ Sông Đà hùng vĩ, hiểm trở

*.2 Ghềnh Hát Loóng

- Nhân hóa con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ thuê: dữ dằn, gắt gao, tàn bạo

- Điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc (nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió) được hỗ trợbởi những thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương,dồn dập như vừa xô đẩy, vừa hợp sức của sóng, gió và đá khiến cho cả ghềnh sôngnhư sôi lên, cuộn chảy dữ dằn, tạo nên một mối đe dọa thực sự đối với bất kì ngườilái đò nào “quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”

- Hút nước còn nguy hiểm: Tác giả liên tưởng đến quãng đường mượn cạp ra ngoài

bờ vực giúp người đọc hình dung cảm giác hãi hùng khi phải đi thuyền qua nhữnghút nước đó

*.4 Nghệ thuật:

Trang 22

- Hình tượng Sông Đà được khắc họa bằng một số biện pháp nghệ thuật: nhân hóa, sosánh, liên tưởng tưởng tượng,

- Hệ thống từ vựng phong phú, giàu có, vận dụng kiến thức của cá lĩnh vực khác đểmiêu tả con Sông Đà

- Sử dụng nhiều câu văn dài nhịp nhàng, uyển chuyển

 Con Sông Đà với tính cách hung bạo tạo nên cá tính độc đáo khác biệt trong vănchương

* Đánh giá, nhận xét về đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân

- Qua tùy bút thể hiện vốn tri thức uyên bác của Nguyễn Tuân phô diễn trên trangviết Nhà văn đã vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực như: Điện ảnh, giao thông,thể thao

-Nguyễn Tuân luôn quan sát, khám phá và diễn tả sự vật ở góc độ thẩm mĩ và đượcsoi rọi dưới ánh sáng của nghệ thuật; quan sát, khám phá con người nghiêng vềphương diện tài hoa nghệ sĩ

- Tô đậm cái phi thường gây cảm giác mãnh liệt dữ dội Tấm lòng yêu thiên nhiên,yêu Tổ quốc qua những trang văn Vận dụng thể tùy bút linh hoạt, sáng tạo

[…] Tôi có bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà, không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình kia lại chính là cái con sông hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội

vạ với người lái đò Sông Đà Cũng không ai nghĩ rằng đó là con sông của câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thuỷ Tinh “Núi cao sông hãy còn dài - Năm năm báo oán đời đời đánh ghen” Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ sông núi, thì mỗi lúc ngồi tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi

đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một nguời bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về Chưa

hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta

Trang 23

ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản

đồ lai chữ

Con Sông Đà gợi cảm Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng loé lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người

cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.[…].

(Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, SGK Ngữ văn 12, tập một, NXB

Giáo dục Việt Nam, 2019, trang 190,191)

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

a Mở bài :

- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, bài tùy bút Người lái đò Sông Đà,

hình tượng Sông Đà trong đoạn trích

b Thân bài:

* Khái quát chung:

* Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn:

- Từ điểm nhìn trên cao, Sông Đà có vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại, yêu kiều

+ Dòng chảy của Sông Đà uốn lượn như “cái dây thừng ngoằn ngoèo”.

+ Sông Đà thướt tha, duyên dáng, đầy nữ tính như mái tóc người thiếu nữ Tây Bắc:

Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân….

+ Sông Đà có sự thay đổi kì diệu màu nước theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng:

Mùa xuân – “dòng xanh ngọc bích”; mùa thu – “nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ”

- Từ điểm nhìn gần hơn – điểm nhìn của một người đi rừng lâu ngày bất ngờ

gặp lại con sông, Sông Đà gợi cảm, Sông Đà “như một cố nhân”.

+ Sông Đà lung linh, thơ mộng, mang đậm vẻ đẹp Đường Thi

+ Sông Đà gợi niềm vui, đem lại cảm giác “đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân”

cho con người

- Hình tượng Sông Đà được cảm nhận bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu chất thơ; câu

văn nhịp nhàng; hình ảnh bay bổng, lãng mạn; sử dụng thành công biện pháp tu từ sosánh…tạo những liên tưởng độc đáo thú vị, làm nổi bật vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình củadòng sông

* Bình luận ngắn gọn nét độc đáo trong cách miêu tả sông Đà nói riêng, thiên nhiên Tây Bắc nói chung của nhà văn Nguyễn Tuân.

Trang 24

- Nhà văn nhìn Sông Đà không chỉ là một dòng sông tự nhiên, vô tri vô giác mà còn

là một sinh thể có sự sống, có tâm hồn, tình cảm Với Nguyễn Tuân, sông Đà nóiriêng, thiên nhiên Tây Bắc nói chung cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song củatạo hóa Vẻ đẹp của Sông Đà hòa quyện vào vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc nên càngtrở nên đặc biệt …

- Cách miêu tả độc đáo này cho thấy Nguyễn Tuân có sự gắn bó sâu nặng, tình yêumến tha thiết đối với thiên nhiên Tây Bắc, với quê hương đất nước, đồng thời chothấy được ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm của ông

c Kết bài:

- Khẳng định giá trị đoạn trích, tác phẩm

- Liên hệ mở rộng

ĐỀ SỐ 4:

Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn Nếu không có bếp lửa sưởi kia

thì Mị cũng đến chết héo Mỗi đêm, Mị dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần Thường khi đến gà gáy, Mị dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu, các chị

em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, a Phủ lại mở mắt Ngọn lửa bùng lên, cùng lúc ấy Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng Mới biết nó còn sống Mấy đêm nay như thế Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay nếu A Phủ là cái xác chết đứng chết đấy, cũng thế thôi Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, Mị chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa Có đêm

A Sử chợt về thấy Mị ngồi đấy, A Sử ngứa tay đánh Mị ngã xuống cửa bếp Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước Lúc ấy đã khuya Trong nhà ngủ yên Mị trở dậy thổi lửa, ngọn lửa bập bùng sáng lên Mị trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hóm má đã xám đen Thấy tình cảnh thế, Mị chợt nhớ đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết Nó bắt mình chết cũng thôi Nó đã bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước ở cái nhà này Chúng nó thật độc ác Chỉ đêm mai là người ta chết, chết đau, chết đối, chết rét, phải chết Ta là thân phận đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì mà phải chết A Phủ

Mị phảng phất nghĩ như vậy Ðám than đã vạc hẳn lửa Mị không thổi cũng không đứng lên Mị nhớ lại đời mình Mị tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng trốn được rồi, lúc đó bố con thống lý sẽ đổ là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy Mị chết trên cái cọc ấy Nghĩ thế, nhưng làm sao Mị cũng không thấy sợ Trong nhà tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt Nhưng Mị tưởng như A Phủ biết có người bước lại Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây A Phủ thở phè từng hơi như rắn thở, không biết mê hay tỉnh Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng Mị chỉ thì thào được một tiếng "Ði đi " rồi Mị nghẹn lại A Phủ khuỵu xuống không bước nổi Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vung lên, chạy Mị đứng lặng trong bóng tối.Trời tối lắm Mị vẫn băng đi Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy xuống tới lưng dốc Mị thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

- A Phủ cho

Trang 25

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại vừa thở vừa nói:

- Ở đây chết mất,

A Phủ chợt hiểu.

Hai người đỡ nhau lao xuống dốc núi.

(Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục)

Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về giá trị nhân đạo được nhà văn Tô Hoài gửi gắm qua đoạn trích.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

a Mở bài

- Tác giả:

+ Tô Hoài là nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học Việt Nam

hiện đại Có quan niệm nghệ thuật "vị nhân sinh" độc đáo.

- Tác phẩm:

+ Tác phẩm viết về cuộc sống tăm tối và khát vọng sống mãnh liệt của người dânmiền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến

- Vấn đề nghị luận ( trích đoạn): Mị là nhân vật chính, là linh hồn của tác phẩm

Giới thiệu hình tượng nhân vật Mị và diễn biến tâm trạng, hành động Mị trong đêmđông cởi trói cho A Phủ Từ đó, thấy được giá trị nhân đạo lớn lao được nhà văn TôHoài gửi gắm qua đoạn trích

b Thân bài:

* Khái quát chung về tác phẩm: Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, nhân vật Mị

*Hoàn cảnh và tâm trạng Mị trước đêm cởi trói A Phủ:

- Cuộc sống làm dâu gạt nợ trong nhà thống lý Pá Tra của Mị vẫn tiếp diễn.Thời gianđọa đày biến cô trở thành người câm lặng trước mọi sự Những gì diễn ra chungquanh không khiến Mị quan tâm

- Những đêm tình mùa xuân về trên bản Mèo Hồng Ngài, khiến tâm hồn vốn đã chaisạn của Mị dần dần được đánh thức, nhưng ngay khi sức sống tiềm tàng của Mị hồisinh cũng là lúc sức sống ấy một lần nữa bị A Sử dập tắt

- Đêm mùa đông đến, lúc đầu Mị thổi lửa hơ tay, tâm hồn Mị như tê dại trước mọichuyện, kể cả lúc ra sưởi lửa, bị A Sử đánh ngã xuống bếp, hôm sau Mị vẫn thảnnhiên ra sưởi lửa như đêm trước

- Song, trong lòng, không phải chuyện gì Mị cũng bình thản Mị rất sợ những đêmmùa đông trên núi cao dài và buồn

- Khi trong nhà đã ngủ yên, Mị tìm đến bếp lửa Đối với Mị, nếu không có bếp lửa

ấy, cô sẽ chết héo

* Tâm trạng và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ:

- Ban đầu, trước cảnh A Phủ bị trói, Mị hoàn toàn dửng dưng, vô cảm: Cô "thản

nhiên thổi lửa hơ tay" Phản ứng này của Mị cũng là điều hiển nhiên vì cảnh tróingười đến chết như thế ở nhà thống lí là chuyện bình thường Vả lại, có lẽ "ở lâutrong cái khổ Mị cũng quen khổ rồi" nên cái khổ của người khác cũng thế thôi

- Sau từ vô cảm đến đồng cảm:

Trang 26

Những đêm trước nhìn thấy cảnh A Phủ bị trói đứng, Mị hoàn toàn dửng dưng, vôcảm Đêm ấy, dòng nước mắt của A Phủ đã đánh thức và làm hồi sinh lòng thươngngười trong Mị (gợi cho Mị nhớ về quá khứ đau đớn của mình, Mị thấy thương xótcho người cùng cảnh ngộ).

- Thương mình, thương người:

Mị nhận ra sự độc ác và bất công của cha con thống lí "Chúng nó thật độc ác Cơchừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết" Từ cảnhngộ của mình và những người đàn bà bị hành hạ ngày trước, đến cảnh đau đớn và bấtlực của A Phủ trước mắt, Mị nhận thấy chúng nó thật độc ác, thấy người kia việc gì

mà phải chết

- Hành động cứu người: "Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt Nhưng Mị

tưởng như A Phủ biết có người bước lại Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây" Cuối cùng, sức mạnh của tình thương cùng với niềm khát khao tự do trỗi dậy

đã khiến Mị vượt qua nỗi sợ hãi để quyết định một hành động táo bạo: Cắt dây tróicứu A Phủ

- Hành động cứ người cũng là tự giải thoát cuộc đời mình: đối mặt với hiểm nguy

Mị cũng hốt hoảng…; lòng ham sống mãnh liệt đã thúc giục Mị chạy theo A Phủ:

"Mị đứng lặng trong bóng tối Trời tối lắm Mị vẫn băng đi Mị đuổi kịp A Phủ Mị

thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

- A Phủ cho

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại vừa thở vừa nói:

- Ở đây chết mất "

 Hành động này là hệ quả tất yếu sau những gì diễn ra ở Mị Từ đêm tình mùa

xuân ở Hồng Ngài đến đêm cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và tự giải thoát mình khỏi những gông xiềng của cả cường quyền bạo lực và thần quyền

lạc hậu Đó cũng là sự khẳng định ý nghĩa của cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của người dân lao động Tây Bắc.

* Ý nghĩa việc miêu tả tâm trạng và hành động của Mị:

-Tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn; cách miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tàitình, hợp lí đã tạo nên sự thay đổi số phận nhân vật một cách thuyết phục

- Thể hiện giá trị nhân đạo: phát hiện và miêu tả sức sống mãnh liệt, khát vọng tự docủa người lao động bị áp bức trong xã hội cũ

* Giá trị nhân đạo được nhà văn Tô Hoài gửi gắm qua đoạn trích:

- Tố cáo tội ác của cường quyền và thần quyền ở vùng núi cao Tây Bắc những nămtrước cách mạng đã bóc lột cả về thể chất và tâm hồn người lao động

- Trân trọng khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng tự do của người lao động vùng cao

- Nhà văn tin tưởng vào khát vọng ham sống mãnh liệt của con người sẽ giúp họ cóniềm tin và sức mạnh vượt qua nỗi sợ hãi cá nhân để hướng đến cuộc sống tốt đẹphơn Họ sẽ được đổi đời khi cách mạng đến

* Nhận xét, đánh giá đặc sắc nghệ thuật:

- Tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn

- Miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật tài tình

- Xây dựng nhân vật sinh động, có cá tính

Trang 27

- Ngôn ngữ sinh động, sáng tạo, giàu tính tạo hình.

- Nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn

c Kết bài:

- Qua tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ, chúng ta thấy được cả sức sốngtiềm tàng ở một người phụ nữ bị đọa đày vả về thể xác lẫn tinh thần, tưởng chừngnhư mất đi hết đời sống tâm hồn Phải yêu thương và có một niềm tin mãnh liệt vàocon người nhà văn mới có được cái nhìn nhân đạo như vậy

- Tô Hoài đã miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị rất tự nhiên, hợp lý và chânthực Không thấy diễn biến tâm trạng của nhân vật sẽ không hiểu được hành độngcủa nhân vật đó Hành động cuối cùng của Mị – cởi trói cho A Phủ – có vẻ bất ngờnhưng lại hợp với quy luật tâm lý con người, quy luật của cuộc sống Nhà văn khôngchỉ đem đến cho bạn đọc những nhân vật biết hành động mà quan trọng hơn là vì sao

có hành động ấy Tô Hoài đã rất thành công khi xây dựng một nhân vật có sức sốngbên trong mãnh liệt đằng sau khuôn mặt vô hồn, vô cảm của Mị Bởi vậy, có người

đã xem đây là “một nhân vật thành công bậc nhất trong văn xuôi cách mạng đươngđại Việt Nam

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học:

+ Nắm được tác giả- tác phẩm- phong cách.

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Học bài cũ

- Chuẩn bị bài: CHỦ ĐỀ: KIM LÂN

V RÚT KINH NGHIỆM

Trang 28

TIẾT 88-93: CHỦ ĐỀ: KIM LÂN

- TÁC PHẨM “VỢ NHẶT”-

I MỤC TIÊU BÀI HỌC:

1.Kiến thức: Giúp học sinh hiểu được:

- Hiểu được tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủngkhiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra

Trang 29

-Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật: sáng tạo tình huống, gợi không khí,miêu tả tâm lí,dựng đối thoại.

2 Kĩ năng

- Đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

- Luyện đề NLVH theo yêu cầu

3 Thái độ, tư tưởng

- Trân trọng niềm khát khao hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống vàtình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những người lao động nghèo khổ ngay trên

bờ vực thẳm của cái chết

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

- Sgk, tài liệu tham khảo, vở ghi

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết, tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP

PHẦN I: KIẾN THỨC CHUNG:

I VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ- TÁC PHẨM

1 Tác giả

- Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài

- Quê quán: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Trang 30

- Phong cách nghệ thuật: Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, ông thườngviết về nông thôn và những người nông dân của làng quê Việt Nam

- Sự nghiệp văn học:

+ Năm 1944, Kim Lân tham gia hội văn hóa cứu quốc, sau đó tiếp tục hoạt độngvăn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóngphim)

+ Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệthuật

- Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí(tập truyện ngắn 1962)

2 Tác phẩm “Vợ nhặt”

a Hoàn cảnh sáng tác

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân được in trong tập Con chó xấu

xí (1962) Ban đầu có tên là Xóm ngụ cư nhưng do bị thất lạc bản thảo nên sau khihòa bình lập lại (1954), tác giả đã dựa vào cốt truyện cũ để viết lại truyện ngắn này Truyện tái hiện lại bức tranh nạn đói năm 1945 ảm đạm, thê lương và đói nghèo

đã đèo bòng thêm một miệng ăn giữa nạn đói khủng khiếp Trước việc con trai lấy

vợ, bà cụ Tứ ban đầu rất ngạc nhiên, khi hiểu ra câu chuyện, bà vừa xót xa vừa mừngtủi và chấp nhận cô vợ nhặt là dâu con trong nhà Sáng hôm sau, Tràng hạnh phúcnhư vừa ở giấc mơ đi ra Anh nhận thấy sự đổi thay quang quẻ của ngôi nhà dưới bàntay của mẹ và vợ Tràng cảm động, cảm thấy gắn bó với ngôi nhà và thấy mình nênngười Trong bữa sáng đón nàng dâu mới, cả nhà Tràng ăn uống rất đầm ấm, cô vợ radáng là người phụ nữ hiền thảo chứ không chao chát, chỏng lỏn như hai lần đầu gặp

gỡ Bà cụ Tứ không chỉ nói toàn chuyện vui, chuyện làm ăn mà còn vui vẻ bưng lênnồi "chè khoán" Nhưng cả ba người đều im lặng hờn tủi ngay khi gợt miếng đầu tiên

Trang 31

vào miệng bởi "chè khoán" thực ra là nồi cám chát xít Giữa lúc ấy, người con dâunghe thấy tiếng trống thúc thuế bèn kể chuyện người đói ở Thái Nguyên, Bắc Giangvùng dậy phá kho thóc Nhật Câu chuyện ấy làm hiện lên trong đầu Tràng hình ảnhđoàn người đói đi trên đê Sộp và lá cờ đỏ bay phấp phới.

c Ý nghĩa nhan đề:

- Nhan đề gợi tình huống éo le, kích thích trí tò mò người đọc Thông thường, người

ta có thể nhặt thứ này, thứ khác, chứ không ai “nhặt” “vợ” Bởi dựng vợ gả chồng làviệc lớn, thiêng liêng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của ngườiViệt, không thể qua quýt, coi như trò đùa

- “Vợ nhặt” là điều trái khoáy, oái ăm, bất thường, vô lí Song thực ra nó lại rất có lí

Vì đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ thật Chỉ một vài câu bông đùa của Tràng mà

có người đã theo về làm vợ Điều này đã thực sự khiến một việc nghiêm túc, thiêngliêng trở thành trò đùa và ngược lại, điều tưởng như đùa ấy lại chính là sự thực Từđây, bản thân nhan đề tự nó đã gợi ra cảnh ngộ éo le, sự rẻ rúng của giá trị con người.Chuyện Tràng nhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục củangười nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945

III Kiến thức cơ bản

1.Tình huống truyện

- Tình huống truyện : Anh Tràng vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư thế mà lấyđược vợ ngay giữa lúc đói khát, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mongmanh

- Tình huống lạ, độc đáo : người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo !Thời buổi đói khát này, người như Tràng nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ !Chẳng phải thế mà việc Tràng có vợ đã tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên với tất cả mọingười trong xóm ngụ cư, với bà cụ Tứ, thậm chí đã có những thời điểm chính Tràngcũng chẳng thể nào tin được vào điều đó

- Tình huống truyện không chỉ tạo ra một hoàn cảnh “có vấn đề” cho câu chuyện màcòn nén trong đó ý đồ nghệ thuật của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnh giá trịhiện thực và nhân đạo của tác phẩm

2 Nhân vật Tràng

* Tràng là người dân lao động nghèo, “nhặt” được vợ trong thời buổi đói khát:

- Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu

Trang 32

- Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổn nhổnnhững búi cỏ dại.

-> Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ

- Tuy nhiên, giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên “nhặt”được vợ.Cuộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóng vánhchỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi “nên vợ, nên chồng”:

+ Lần gặp thứ nhất : Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi cho đỡ mệt

“Muốn….” Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa Tràngthích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắntình tứ đến như thế

+ Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thị khácquá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt Khi nhận ra rồi, trong lờiđáp “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc Trong bốicảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳm của cái chếthành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng là một người khátốt bụng và cởi mở Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đem đến cho Trànghạnh phúc, Tràng nói đùa với thị “Này … rồi cùng về”, nhưng thị đã theo Tràng vềthật Khi quyết định “đèo bòng” Tràng cảm thấy “chợn” nhưng “chậc kệ”

* Niềm hạnh phúc khi có vợ:

- Tràng khi đưa vợ về qua xóm ngụ cư : tâm trạng của anh hôm nay phớn phở, cườitủm tỉm, hai con mắt thì sáng lên lấp lánh, trước ánh mắt nhìn đầy tò mò và ngạcnhiên của người dân trong xóm, trước những lời xì xào bàn tán của người dân trongxóm, Tràng rất hãnh diện, rất đắc ý, mặt cứ vênh lên như thể chứng tỏ với mọi người-Tràng đã có vợ

- Tràng khi đưa vợ về đến nhà : Hành động: xăm xăm nhấc tấm phên rách ra và câunói “Không có người đàn bà nhà cửa ra thế đấy” ta hiểu rằng có vợ rồi người đàn ông

ăn nói cục cằn kia bỗng văn hóa hẳn lên Ánh mắt của anh đã để ý đến cô vợ nhặt vàthắc mắc với lòng mình “Quái, sao nó lại buồn thế nhỉ?” Tràng sốt ruột mong ngóng

mẹ về để còn ra mắt cô vợ nhặt.Khi mẹ về, sau lời giới thiệu, Tràng cũng hồi hộp, lolắng đợi chờ câu trả lời của mẹ, và chỉ khi người mẹ nói “Các con phải duyên phảikiếp với nhau u cũng mừng lòng” Tràng mới thở đánh phào một cái

Có thể nói, Kim Lân đã rất chú ý miêu tả diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi có vợ

Có rất nhiều lần Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng để nhấn mạnh đến niềm khátkhao hạnh phúc, khát khao mái ấm gia đình để thách thức với cái đói đang tung lướibủa vây

Trang 33

- Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau:

+ Tràng thấy mình như bước ra từ một giấc mơ, trong người “êm ái lửng lơ”

+ Trước mặt anh mọi thứ đều thay đổi: nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quéttước sạch sẽ; mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt ở góc nhà đã thấy đem ra sânhong; hai cái ang nước vẫn để khô cong duới gốc cây ổi giờ đã kín nước đầy ăm ắp

Rõ ràng những cảnh tượng rất đỗi bình thường ấy cũng đã làm cho anh cảm động,hạnh phúc với anh thật giản dị

+ Từ buổi sáng đó, anh mới thấy mình nên người Anh nghĩ đến tương lai, đến sựsinh sôi nảy nở của hạnh phúc để rồi vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng.+ Và người vợ nhặt của Tràng hôm nay cũng khác lắm - đó là một người đàn bà hiềnhậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa

+ Tràng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một giađình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng.Một nguồn vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nênngười, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” Nguồn vui ấy nhưtia nắng, như ánh bình minh đem sinh khí đến cho cuộc sống vốn đang ngập tràn sựchết chóc của cái đói tung lưới bủa vây

+ Và trong bữa cơm đầu tiên, bữa cơm của 3 con người đang khốn khổ vì cái đói,tràn ngập sự đầm ấm, hoà hợp

- Hình ảnh khép lại tác phẩm trong óc Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đói

đi trên đê Sộp, gợi cho người đọc nghĩ về Việt Minh, về Cách mạng tháng Tám vĩđại, về sự vùng dậy của những người dân khốn khổ, đập tan xiềng xích, giành lạicơm áo, giành lại sự sống cho bản thân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc Vì thế,kết thúc của tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt, gieo mộthạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, gia đình anh và tất cả bạn đọc chúngta

- Khi chưa theo Tràng về làm vợ cái đói đã để lại “dấu tích” ghê gớm trên dáng hình và tính cách của chị:

Trang 34

+ Lần gặp thứ nhất: có vẻ táo tợn, ăn nói mạnh mẽ “Có khối cơm trắng mấy giò mà

ăn đấy! “Này nhà tôi ơi! Nói thật hay nói khoác đấy”

+ Lần gặp thứ 2: chân dung của thị khiến Tràng không nhận ra, gầy (dẫn chứng)…

Thị cong cớn trong lời nói, vô duyên trong hành động “sà xuống đánh… cắm đầu ănmột chặp bốn bát bánh đúc… ăn xong cầm đôi đũa quệt ngang miệng, thở: Hà ngon!

Về chị thấy hụt tiền thì bỏ bố” Tuy nhiên, ẩn đằng những lời nói và hành động ấy làkhát vọng về hạnh phúc và sự sống

-> Kim Lân không có ý chê bai người vợ nhặt kia, dù thực tế cũng có những người phụ nữ không đẹp Điều mà nhà văn muốn nhấn mạnh ở đây là: sức hủy hoại khủng khiếp của cái đói đối với hình hài và tính cách của con người Vì đói

mà thị cố tạo ra cái vẻ cong cớn, chao chát, chỏng lỏn như là để thách thức với sốphận Vì đói mà thị quên đi cả sĩ diện của mình, quên đi cả lòng tự trọng theo khôngmột người đàn ông về làm vợ trong khi chẳng biết tí gì về anh ta Vì đói mà thị đánhliều nhắm mắt đưa chân, đánh liều với hạnh phúc cả đời mình Thị thật đáng thương.Nhưng đằng sau sự liều lĩnh ấy của thị, người đọc hiểu rằng, thị là người có ý thứcbám lấy sự sống mãnh liệt

- Miêu tả nhân vật thị, Kim Lân không chú trọng nhiều đến diễn biến tâm trạng bên trong mà Kim Lân chú ý nhiều đến hành động:

+ Thị bước sau Tràng chừng 3-4 bước, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che đi nửamặt, mặt cúi xuống, chân nọ bước díu cả vào chân kia Thị đã ý thức được về bảnthân, cái dáng cúi mặt kia phải chăng đó là sự tủi phận

+ Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dàichấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng

+ Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đángthương

- Tuy nhiên, ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái ấm gia đình thực sự Thị đã trở thành một con người hoàn toàn khác khi là một

người vợ trong gia đình Hạnh phúc đã làm cho thị thay đổi từ một người phụ nữcong cớn, đanh đá bỗng trở thành một người đàn bà hiền hậu đúng mực, mái ấm giađình đã đủ sức mạnh làm thay đổi một con người

- Hình tượng chị vợ nhặt thể hiện rất rõ tư tưởng nhân đạo của Kim Lân

+ Một mặt nhà văn đã lên án tội ác dã man của phát xít Nhật và TDP Nạn đói dochúng gây ra đã cướp đi mọi giá trị của con người, và biến người con gái như mộtthứ đồ rẻ rúng có thể nhặt được

Trang 35

+ Mặt khác vợ Tràng đã nói lên một sự thật ở đời đó là trong đói khổ, hoạn nạn, kềbên cái chết nhưng con người vẫn khát khao được sống, vẫn sống ngay khi cả cuộcđời không thể chịu được nữa Những con người nghèo khổ vẫn thương yêu đùm bọc,

và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử thách khắc nghiệt

- Ngạc nhiên và bất ngờ là tâm trạng đầu tiên ở người mẹ nghèo khi lật đật theo con từ ngõ vào nhà Từ trước đến giờ có bao giờ Tràng mong ngóng mẹ về đến thế

đâu, nhất định là phải chuyện gì quan trọng, khác thường Chân bước theo con nhưnglòng bà đang phấp phỏng Rồi “đứng sững lại” khi bà nhìn thấy một người phụ nữđứng ở đầu giường con trai bà , mà lại chào bà bằng u Ngạc nhiên đã làm cho bà lãokhông còn tin vào cảm giác của bà nữa, tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn đi thìphải Nhưng thực sự mắt bà không nhoèn, và tai bà cũng không đến mức điếc lác nhưchị vợ nhặt nghĩ ban đầu Bà chưa thể tin, không thể tin rằng con mình lại có ngườitheo và lại chưa bao giờ hình dung nhận dâu trong một tình cảnh trớ trêu, tội nghiệpđến thế

- Bà lão cúi đầu nín lặng, đằng sau cái cúi đầu nín lặng ấy là dòng cảm xúc tuôn trào, là cơn bão lòng đang cuộn xoáy với tình thương con vô bờ bến Bây giờ thì bà

không chỉ biết sự việc “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ” như lời Tràngthưa gửi mà bà còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho sốkiếp của con trai mình Bà tủi thân, tủi phận, bà so sánh người ta với mình “người tadựng vợ gả chồng cho con những lúc nhà ăn lên làm nổi, còn mình thì…” Bà lãochua chát, tự trách bản thân mình, càng thương con bao nhiêu bà lại càng tủi phậnbấy nhiêu Bà lão đã khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi của người già dưới ngòibút nhạy cảm của Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc biết bao thương xót, tủi buồn

- Bà đã chấp nhận nàng dâu không phải chỉ bằng tình mẫu tử mà lớn hơn đó là tình người, là sự cảm thông với chị vợ nhặt từ cái nhìn của người cùng giới, cùng là

phụ nữ Câu nói đầu tiên mà bà cụ Tứ dành cho chị vợ nhặt “Ừ thôi các con phảiduyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, lời nói của bà như trút đi biết baogánh nặng tâm trạng đang đè nặng trong Tràng, lời nói ấy như một sự chiêu tuyết chogiá trị của cô vợ nhặt Câu nói ấy của bà làm cuộc hôn nhân của Tràng và thị khôngcòn là chuyện nhặt nhau ở đường và chợ nữa mà là duyên phận Cách nói giản dị màchan chứa tình người quả thực đã làm ấm lòng những số phận tội nghiệp Thị vàTràng dường như cũng sẽ ấm lòng hơn khi kinh nghiệm của một người mẹ từng trải

Trang 36

nói “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Bà động viên an ủi con trai và con dâu cùng nhaubước qua khó khăn đói khổ trước mắt mà lòng đầy thương xót.

- Nhưng sau những lời động viên ấy ta lại thấy Kim Lân để nhân vật bà cụ Tứ quay về với chính cuộc đời mình để mà lo lắng cho hạnh phúc thực tại của hai con Điều mà bà lo không phải là “sự hợp nhau hay không hợp nhau” giữa hai người

mà điều mà người mẹ ấy lo lắng đó là, cái đói đang đe dọa hạnh phúc của con bà.Trong bóng tối, bà nghĩ về cuộc đời dài dằng dặc của đời mình, cuộc đời của nhữngngười thân để mà thấu hiểu, thương xót rồi “nghẹn lời” chỉ có dòng nước mắt chảyxuống ròng ròng

- Hạnh phúc mới của con làm bà cụ Tứ được vui lây, bà động viên an ủi các con, nghĩ về một tương lai tươi sáng phía trước:

+ Khuôn mặt của bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, bà xăm xắn quét dọn,giẫy những búi cỏ dại nham nhở trong vườn, thu dọn nhà cửa cho quang quẻ với hyvọng đời sẽ có cơ khấm khá

+ Trong bữa ăn đầu tiên, mâm cơm ngày đói sao thảm hại: chỉ có một lùm rau chuốithái rối, một đãi muối, một niêu cháo lõng bõng toàn nước và món chính là chèkhoán - cháo cám nhưng không khí gia đình thật ấm áp, tình chồng vợ, tình mẹ con-những nguồn động lực lớn lao ấy giúp họ tăng thêm sức mạnh để vượt qua thực tại

+ Bà cụ Tứ toàn nói chuyện của tương lai, toàn chuyện vui, chuyện sung sướng vềsau Bà lão bàn với con tính chuyện nuôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có đàn gà cho

mà xem Câu chuyện của bà lão bất giác làm cho ta nhớ lại bài ca dao miền mười cái trứng Cũng giống như tất cả những người bình dân xưa, bà lão đang gieovào lòng các con bà niềm lạc quan, niềm tin và hi vọng Từ đàn gà mà có tất cả Khátvọng sống bật lên ngay cả trong hoàn cảnh khốn cùng nhất “chớ than phận khó ai ơi-Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”

Trung Song niềm vui của bà cụ Tứ cũng thật tội nghiệp Miếng cháo cám đắng chát và

tiếng trống thúc thuế dồn dập vội vã đưa bà cụ Tứ trở về với thực tại với tiếng nóixen lẫn cả hơi thở dài trong lo lắng: “Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóngthuế Giời đất này không chắc đã sống được qua được đâu các con ạ”! Và bà lạikhóc, tình thương con lại hiện hình qua những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn rơi

 Với sự thấu hiểu, với sự đồng cảm, Kim Lân đã dựng lên hình ảnh bà cụ Tứ người mẹ thương con, nhân hậu, bao dung Trong hoàn cảnh đói nghèo, bà vẫn dang rộng cánh tay đón nhận người con dâu mặc dù trong lòng còn nhiều xót

-xa, tủi cực, vẫn gieo vào lòng các con ngọn lửa sống trong hoàn cảnh tối tăm của

xã hội lúc bấy giờ

4 Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

Trang 37

a Giá trị hiện thực:

- Truyện đã dựng lại một cách chân thực những ngày tháng bi thảm trong lịch

sử dân tộc, đó là khoảng thời gian diễn ra nạn đói năm 1945 :

+ Cái chết đeo bám, bủa vây khắp mọi nơi

+ Dòng thác người đói vật vờ như những bóng ma

+ Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào

+ Âm thanh của tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết

+ Xóm ngụ cư, với những khuôn mặt hốc hác, u tối

+ Cái đói hiện lên trong từng nếp nhà rúm ró, xẹo xệch, rách nát

+ Cái đói hiện hình trên khuôn mặt của chị vợ nhặt

+ Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại

- Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhận đã gây ra nạnđói năm 1945

- Tuy nhiên, còn có một hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: hiện thực mang tính xu thế, đó là tấm lòng của người dân khi đến với cách mạng.

b Giá trị nhân đạo

- Thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ

- Lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủngkhiếp

- Trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người laođộng nghèo

- Dự báo cho những người nghèo khổ con đường đấu tranh để đổi đời, vươn tớitương lai tươi sáng

5 Nghệ thuật

- Xây dựng tình huống truyện độc đáo

- Lối trần thuật tự nhiên, hấp dẫn làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cáchnhân vật

Trang 38

- Tạo không khí và dựng thoại rất hấp dẫn, ấn tượng.

- Nhân vật được khắc hoạ sinh động đặc biệt là ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật tinhtế

- Ngôn ngữ : Bình dị, đời thường nhưng có chắt lọc kỹ lưỡng, có sức gợi và đậm chấtBắc Bộ

6 Chủ đề

- Qua truyện “Vợ nhặt”, Kim Lân muốn khẳng định : trong những hoàn cảnh khókhăn nhất, ngay cả khi cái chết liền kề, những người dân lao động nghèo khổ, lươngthiện vẫn yêu thương, đùm bọc lấy nhau, vẫn khát khao mái ấm hạnh phúc gia đình

và hy vọng vào một cuộc sống mới tốt đẹp hơn

- Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí, là truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân,

miêu tả tình trạng thê thảm của họ trong nạn đói năm 1945, nhưng cũng ngợi ca bảnchất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ

b Thân bài

* Ý nghĩa nhan đề: “vợ nhặt” nhặt được vợ, thể hiện sự rẻ rúng của thân phận con

người và phản ánh tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói

* Tình huống truyện

- Tình huống: Tràng – một người dân ngụ cư xấu xí bỗng dưng lại có vợ mà lại lànhặt được, theo về không

Trang 39

- Đây là một tình huống độc đáo, bất ngờ: với chính Tràng (hoàn cảnh của Tràngkhó mà lấy được vợ nhưng nghiễm nhiên có vợ theo không về, tự ngờ ngờ mình đã

có vợ ư), với những người xung quanh (thắc mắc bàn tán), với bà cụ Tứ

- Tình huống éo le: hoàn cảnh gia đình và xã hội (khung cảnh nạn đói) không chophép Tràng lấy vợ, cả hai vợ chồng đều là những người cùng cực, khó có thể trởthành chỗ dựa cho nhau

* Nhân vật Tràng

- Hoàn cảnh gia đình: dân ngụ cư bị khinh bỉ, cha mất sớm, mẹ già, nhà ở tồi tàn,cuộc sống bấp bênh, , bản thân: xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bênquai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về,

*.1 Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ

- Lần gặp 1: lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không cótình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình

- Lần gặp 2:

+ Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả

gì Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng

+ Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòngthêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ” Đây không phải quyết định của kẻbồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc,thương yêu người cùng cảnh ngộ

+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ: diễn tả sự nghiêm túc, chu đáo củaTràng trước quyết định lấy vợ

Trang 40

+ Khi bà cụ Tứ về: thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là

“phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thởphào, ngực nhẹ hẳn đi

*.4 Sáng hôm sau khi tỉnh dậy:

+ Tràng nhận thấy sự thay đổi kì lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần

áo, ), Tràng nhận ra vai trì và vị trí của người đan bà trong gia đình Cũng thấymình trưởng thành hơn

+ Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bayphấp phới Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới

- Nhận xét: Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đỏi theo chiều hướng tốtđẹp Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói

Ngày đăng: 25/10/2022, 10:34

w