1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VĂN 11

42 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 355,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH (Trích Thượng kinh kí sự) Lê Hữu Trác I TÌM HIỂU CHUNG 1 Tác giả Lê Hữu Trác (1724 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông Quê làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dươn.

Trang 1

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH

(Trích Thượng kinh kí sự) Lê Hữu Trác

I.TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả:

- Lê Hữu Trác (1724-1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông

- Quê: làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (Hưng Yên)

- Là một danh y, nhà văn, nhà thơ lớn nửa cuối thế kỉ XVIII

- Là tác giả của bộ sách y học nổi tiếng Hải Thượng y tông tâm lĩnh (66 quyển).

2 Tác phẩm:

a Tập“Thượng kinh kí sự”:

- Tập kí sự bằng chữ Hán hoàn thành năm 1783, xếp ở cuối bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”

- Nội dung:

+ Khắc họa quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa, uy quyền của nhà vua

+ Thái độ coi thường danh lợi -> nhân cách

b Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”:

- Trích từ “Thượng kinh kí sự” ghi lại việc Lê Hữu Trác tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa đểbắt mạch, kê đơn cho thế tử Trịnh Cán

- Trình tự kể: thời gian + không gian -> đặc trưng của thể kí

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1 Sự cao sang, quyền uy cùng cuộc sống hưởng thụ cực điểm của nhà chúa

a Quang cảnh trong phủ chúa: xa hoa, lộng lẫy

- Đường vào phủ:

+ Phải qua nhiều lần cửa, những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp

+ Mỗi cửa đều có vệ sĩ canh giữ cẩn thận, ai ra vào phải có thẻ -> nghiêm nhặt

- Cảnh trí khác lạ : Đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa

thoang thoảng mùi hương ," những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ "

- Công trình : " Đại đường", "Quyển bồng", "gác tía", "phòng trà" (phòng thuốc)

- Đồ dùng trong phủ: "kiệu","đồ nghi trượng sơn son thếp vàng ", "sập thếp vàng"

- Nội cung của thế tử phải qua 5, 6 lần trướng gấm, có phòng thắp nến, hương hoa ngào ngạt

nhưng ở trong “tối om”

-> Nhận xét, đánh giá:

- Chốn thâm nghiêm, kín cổng

- Chốn xa hoa, lộng lẫy độc nhất

- Cuộc sống hưởng lạc

- Không khí ngột ngạt, tù đọng ( hương, hơi người)

b Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa: khuôn phép, quy củ

- Sinh hoạt theo quy củ

- Guồng máy phục vụ đông đảo (Quan truyền chỉ, thị vệ, quân sĩ 7-8 người)

- Lời lẽ đều phải kính cẩn, lễ phép

- > Đánh giá:

- Nghi lễ khuôn phép -> được quy định bởi chúa -> chế độ quân chủ chuyên chế

2 Thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ của nhân vật “tôi”

* Tâm trạng của tác giả khi đối diện với cuộc sống xa hoa:

- Miêu tả chi tiết, cụ thể (quang cảnh, cung cách), thẳng thắn, trực tiếp phơi bày cuộc sống.

- Cách quan sát, nhận xét, đánh giá " khác hẳn người thường ", " nhân gian chưa từng thấy", " lần đầu tiên"

-> Thái độ không đồng tình, mỉa mai với cuộc sống nơi phủ chúa

->Thờ ơ với danh lợi, sự xa hoa

* Tâm trạng của tác giả khi chữa bệnh:

- Lập luận chuẩn đoán: " màn che trướng phủ" -> nội tạng yếu đi, nguyên khí đã hao mòn -> hiểu

rõ căn bệnh

- Lập luận chữa trị:

Trang 2

+ Lương y -> bị danh lợi ràng buộc

+ Làm tròn trách nhiệm -> không bị danh lợi ràng buộc >< trái lương y

-> Lòng trung thành -> Lương y: chữa thẳng, chữa thật

=> Vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Lê Hữu Trác:

- Lê Hữu Trác là người thầy thuốc giỏi, già dặn kinh nghiệm, có y đức cao, có bản lĩnh, có chínhkiến, không màng lợi danh, yêu thích cuộc sống tự do, thanh đạm, giản dị

- Một bậc trung thần có nhân cách cao quý và thanh khiết

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật:

- Quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực; miêu tả cụ thể, sống động; chọn được những chi tiết “đắt”,

gây ấn tượng mạnh

- Lối kể hấp dẫn, chân thực, hài hước

- Kết hợp thơ ca và văn xuôi làm tăng chất trữ tình, bộc lộ thái độ châm biếm, phê phán kín đáo

- Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm.

- Hồ Xuân Hương là một thiên tài kì nữ nhưng cuộc đời nhiều bất hạnh

- Thơ của bà là thơ của người phụ nữ viết về người phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chấtvăn học dân gian (đề tài, cảm hứng nghệ thuật, hình tượng, ngôn ngữ)

2 Tác phẩm: “Tự tình” (II)

- Xuất xứ: chùm thơ Tự tình gồm 3 bài.

- Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật

- Nhan đề: “Tự tình” là tự bộc lộ tâm tình

1 Hai câu đề: Nỗi buồn tủi, cô đơn trong đêm khuya

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”

- Bối cảnh thời gian:

+ “đêm khuya” -> thời gian nhân vật trữ tình còn thao thức để đối diện với chính mình, để đàmtâm, để suy xét, nhìn kĩ cõi lòng mình để mà tự vấn, để mà trả lời

+ Động từ “dồn” diễn tả nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trống canh, gợi bước đi rất vội vã gấp gápcủa thời gian, sự rối bời trong tâm trạng nhân vật trữ tình: lo lắng bất an, rơi vào trạng thái hoảnghốt trước sự chảy trôi lạnh lùng vô thủy, vô chung của thời gian

+ Bối cảnh không gian: từ láy “văng vẳng” -> Bút pháp lấy động tả tĩnh gợi không gian mênhmông, tuyệt đối tĩnh vắng -> hình ảnh con người nhỏ bé cô đơn, lạc lỏng, trơ trọi

“Trơ cái hồng nhan với nước non”

- Nhịp thơ phá cách 1/3/3

- Đảo ngữ (Đảo vị ngữ lên chủ ngữ, đảo động từ lên trước, danh từ đặt sau)

-> Nhấn mạnh từ " trơ " ( trơ trọi, trơ lì) diễn tả nỗi đau và bản lĩnh của Hồ Xuân Hương

- Đối lập “cái hồng nhan” – “nước non”

+ “cái hồng nhan” -> người phụ nữ nhỏ bé, cô đơn yếu đuối

+“nước non” -> là cuộc đời rộng lớn, nhiều ngang trái bất công ( Xã hội phong kiến)

→ nhấn mạnh sự đơn độc, bẽ bàng, cũng là sự thách thức trước cuộc đời rộng lớn

- Kết hợp từ độc đáo "cái" với "hồng" nhan -> rẻ rúng, coi thường giá trị của người phụ nữ

-> Bi kịch đáng thương của người phụ nữ

Đằng sau sự cô đơn, xót xa là bản lĩnh cứng cỏi của tác giả.

2 Hai câu thực: Lí giải nỗi buồn tủi, cô đơn về duyên phận

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh”

Trang 3

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Câu 3:

Cụm từ đối lập “say lại tỉnh" + Từ "lại" (lặp lại, quay lại) trạng thái ban đầu -> Vòng luẩn quẩn,

bế tắc mà Xuân Hương bị cuốn vào: say lại quên, tỉnh lại nhớ, thấm thía hơn bi kịch của đời mình -> Dù đã cố tìm quên bằng men rượu nhưng cuối cùng vẫn tìm lại một Xuân Hương tỉnh táo,không quên được trạng thái u uẩn đau buồn, không thoát ra nổi, rơi vào bế tắc, thất vọng

Câu 4:

- Vầng trăng khuyết, xế -> phi lôgic (Thông thường trăng khuyết -> tròn đầy -> xế bóng)

-> Hình ảnh tượng trưng:

+ Vầng trăng cuộc đời đã bóng xế, đã đi qua năm tháng tươi đẹp nhất của tuổi trẻ

+ Vầng trăng hạnh phúc – "khuyết chưa tròn"

-> Khối đau lớn trong tâm sự của Hồ Xuân Hương: Tuổi xuân trôi qua, tình duyên vẫn còn haokhuyết, dang dở, chưa một lần viên mãn, tròn đầy

3 Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, vượt lên số phận

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

->Tác dụng của nghệ thuật đảo từ: Làm nổi bật sự vùng vẫy, bứt phá của thiên nhiên qua cảm nhận

của người mang nỗi niềm phẫn uất:

+ Mạnh mẽ, táo bạo, căng đầy sức sống

+ Muốn cựa quậy, muốn phản kháng thoát sự dồn nén

-> Ẩn dụ cho tâm trạng phẫn uất, sức sống mãnh liệt, bản lĩnh không cam chịu, muốn được giải tỏakhỏi thực tại bức bối,tẻ nhạt,vô vị, như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương

Nét độc đáo trong cách dùng từ, khẳng định rõ cá tính mạnh mẽ, quyết liệt của HXH, niềm khát

khao mãnh liệt được vươn tới với hạnh phúc lứa đôi xứng đáng

4 Hai câu kết: Tâm trạng chán chường, buồn tủi mà cháy bỏng khát vọng hạnh phúc

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”

“Mảnh tình san sẻ tí con con”

Câu 7:

- Ngán: chán ngán, ngán ngẫm

-"xuân": mùa xuân của tự nhiên, vũ trụ.

- Hai từ: "lại" (1) : Thêm lần nữa "lại" (2): trở lại

-> Mùa xuân của tự nhiên>< tuổi xuân con người

=> Sự trở lại của mùa xuân tự nhiên vĩnh cửu tươi đẹp tràn sự sống > < với sự ra đi của tuổi xuânđời người về với già nua héo tàn, bệnh tật, không còn cơ hội kiếm tìm tận hưởng hạnh phúc lứađôi

Câu 8:

Từ láy biểu cảm + phép tăng tiến: mảnh tình - san sẻ - tí - con con

+ Tình cảm ngày càng nhỏ bé: chỉ có một mảnh tình phải chia sớt cho nhiều người nên chỉ còn “tí con con”

+ Sự thiệt thòi và nỗi đau buồn càng nhiều hơn, nghịch cảnh càng éo le, đau đớn xót xa hơn

Nỗi lòng, bi kịch và khát vọng hạnh phúc lứa đôi cháy bỏng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công

Trang 4

CÂU CÁ MÙA THU

(THU ĐIẾU) NGUYỄN KHUYẾN

I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả: (1835-1909)

- Hiệu: Quế Sơn, quê ở Hà Nam

-Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo

- Đỗ đầu cả 3 kì thi Tam nguyên Yên Đổ, nhưng chỉ làm quan hơn 10 năm

- Là nhà nho tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân nhưng bất lực trướcthời cuộc; được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam

- Sự nghiệp sáng tác

+ Hơn 800 bài thơ cả chữ Hán và chữ Nôm

+ Nội dung thơ: Tình yêu quê hương, gia đình , bạn bè; phản ánh cuộc sống người dân; châm biếm,

đả kích thực dân, tầng lớp thống trị

-> Ưu dân , ái quốc

2 Tác phẩm Câu cá mùa thu (Thu điếu)

-Đề tài: mùa thu

- Hoàn cảnh sáng tác: Có thể được sáng tác khi Nguyễn Khuyến đã về quê ở ẩn

- Xuất xứ: thuộc chùm thơ thu gồm 3 bài của Nguyễn Khuyến

- Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật viết bằng chữ Nôm

- Nhan đề và bố cục: Câu cá mùa thu -> giải sầu, thú vui

II ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1 Hai câu đề: Giới thiệu mùa thu với cái nhìn cận cảnh

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

Từ láy, tính từ, vần “eo”, số từ → gợi tả:

- Cảnh thu với hai hình ảnh vừa đối lập vừa cân đối hài hòa: ao thu nhỏ, thuyền câu bé tẻo teo, dáng người như thu lại

- Không khí được gợi lên từ sự dịu nhẹ thanh sơ của cảnh vật:

+ Ao thu với trạng thái “lạnh lẽo”, cái lạnh của cảnh vật lan tỏa đến cái lạnh trong tâm hồn; nước

“trong veo” như có thể nhìn thấy đáy → một ao thu vừa lạnh, vừa trong, vừa tĩnh

+ Thuyền câu cô đơn “một chiếc”, bé càng bé hơn qua cụm tính từ “bé tẻo teo” như cũng gợi sự

cô đơn, nhỏ bé của con người

Sự vật tương xứng, hài hòa; tâm hồn thi sĩ rung động trước cảnh đẹp mùa thu.

2 Hai câu thực: Tiếp tục nét vẽ mùa thu với những hình ảnh đặc trưng

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

- Tính từ “biếc”, “vàng”, phép đối “Sóng biếc” – “lá vàng”: điểm xuyết trên nền ao thu và sóng

xanh biếc là chiếc lá vàng đặc trưng tạo bức tranh thu thanh nhã, hài hòa về màu sắc

- Lấy động tả tĩnh, trạng từ chính xác “tí”,“vèo”, phép đối “hơi gợn tí” – “khẽ đưa vèo” → khắc

họa vẻ đẹp mùa thu với sóng biếc gợn thành hình, lá vàng rơi thành tiếng → đường nét chuyểnđộng rất khẽ, rất nhẹ, không đủ tạo âm thanh

Cảnh thu càng tĩnh lặng qua sự quan sát tinh tế, tâm hồn yêu thiên nhiên

3 Hai câu luận: Không gian mở rộng theo chiều cao, chiều sâu với hình ảnh bầu trời và ngõ trúc

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Từ láy “lơ lửng”, tính từ “xanh ngắt”, “vắng teo”, phép đối giữa hai câu thơ

- Tạo không gian độc đáo với: bầu trời trong xanh, cao thăm thẳm; mây chuyển động nhẹ nhàng

- Tác giả lại hướng mắt về hình ảnh của làng quê: “ngõ trúc quanh co”, đường làng quanh co thânthuộc với bóng tre trùm mát rượi

Trang 5

- Đó là nét đặc trưng của cảnh thu làng quê Bắc Bộ: thanh, cao, trong, nhẹ; chuyển động rất khẽ,không gian tĩnh lặng, vắng tiếng, vắng người

Bức tranh thiên nhiên mùa thu đẹp nhưng buồn, gợi nỗi lòng, tâm sự của nhà thơ

4 Hai câu kết: Điểm nhìn mùa thu quay về cận cảnh

Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

- Hình ảnh ông câu “tựa gối buông cần”: tư thế bất động, trầm ngâm, suy tư Câu cá nhưng chủ

yếu đón nhận cảnh thu vào cõi lòng

- Từ “đâu” đa nghĩa, bút pháp lấy động gợi tĩnh, động từ “đớp động” tạo sự độc đáo:

+ Âm thanh nhỏ bé của tiếng cá đớp mồi càng tăng sự tĩnh lặng của không gian

+ Người đi câu như sực tỉnh, trở về với thực tại, với tâm trạng u hoài trước thời thế

Tâm hồn yêu thiên nhiên, tấm lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc.

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật:

- Bút pháp thủy mặc Đường thi, “thi trung hữu họa”.

- Vận dụng tài tình nghệ thuật đối

2 Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp của bức tranh mùa thu; tình yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng thời thế của tác giả

THƯƠNG VỢ Trần Tế Xương

I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả Trần Tế Xương (1870- 1907)

a Cuộc đời và con người

-Tên thường gọi là Tú Xương quê làng Vị Hoàng, tỉnh Nam Định,

- Thời đại:

+ Ông sinh ra và lớn lên trong buổi thực dân xâm lược

+ Hán học suy tàn

-> Càng thấm thía nỗi nhục của nhà trí thức nô lệ

- Cuộc đời gắn liền với bi kịch thi cử:

+ 17 tuổi bắt đầu đi thi

+ Năm 1894: Tú tài Thủ Thiêm -> Lấy thơm

+ Năm 1907 từ giã cõi đời

- Con người: học giỏi, thông minh, cá tính ( >< Quy tắc)

+ Thơ trào phúng: đả kích, châm biếm

+ Thơ trữ tình: Nỗi u hoài, tâm sự của một nhà trí thức không gặp thời.

-> Thể hiện tâm huyết với dân, với nước, với đời

- Đề tài: Người vợ -> Bà Tú

2 Văn bản Thương vợ

a Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật

b Đề tài: Người vợ (Bà Tú) – người phụ nữ chịu nhiều gian truân và vất vả trong cuộc đời thực

c Bố cục: Đề, thực, luận, kết

II ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN

1 Nỗi vất vả, gian truân và đức tính cao đẹp của bà Tú qua nỗi lòng thương vợ của ông Tú

a Hai câu đề: giới thiệu khái quát thời gian, không gian và công việc làm ăn của bà Tú

Trang 6

" Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng"

Câu 1: giới thiệu công việc

- Công việc: buôn bán ( bán hàng rong) -> sự bấp bênh

- Thời gian"Quanh năm" : tuần hoàn, liên tục, ngày nối ngày, tháng tiếp tháng

- Không gian "mom sông" phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông chênh vênh, nguy hiểm ->

địa điểm làm việc gợi ra sự nguy hiểm, bấp bênh, không ổn định của công việc

=> Công việc của bà Tú, vất vả, bấp bênh, tiềm ẩn nguy hiểm

Câu 2: trách nhiệm của bà Tú

- " nuôi đủ":

+ Không có ai giúp đỡ

+ nuôi trọn vẹn

+ vừa đủ, không có khoản thừa, không thiếu - Cách diễn đạt: " năm con với một chồng"

 Năm con + một chồng: gánh nặng tăng lên

 Một chồng = Năm con ( đối xứng) -> gánh nặng một chồng bằng gánh nặng năm con

 Một chồng đứng xuống cuối hàng và bị tách ra: TX tự trào mình là kẻ tầm thường, vô tích sự,

là kẻ ăn theo năm con

 Gánh nặng gia đình trên vai bà Tú càng nặng nề hơn

Đánh giá:

- Bà Tú là người vất vả, đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con

- Lòng vị tha cao quý của bà Tú và sự tri ân của nhà thơ đối với vợ

b Hai câu thực: Cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú

" Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông"

Cẩu 3:

- "thân cò"-> Hình ảnh sáng tạo, ẩn dụ cho người phụ nữ bất hạnh, nhỏ bé, tội nghiệp

"thân" gợi ra số phận, thân phận bất hạnh

-> Ân dụ cho bà Tú

- Đảo ngữ , từ láy gợi hình "lặn lội" chỉ sự vất vả

- "khi quãng vắng": gợi cả thời gian và không gian -> vất vả trong thời gian, không gian heo hút,

rợn ngợp, chứa đầy âu lo, nguy hiểm

-> Hình ảnh bà Tú trở nên đáng thương, nhỏ bé

Câu 4:

- Đảo ngữ, từ láy gợi thanh "eo sèo" -> đông đúc, chen lấn

- "buổi đò đông" gợi ra không gian chợ đông đúc

-> bươn chải trong cảnh chen chúc làm ăn, vật lộn với cuộc sống chứa đầy sự bất trắc

 Nghệ thuật

+ Đối bổ sung: Lặn lội- khi quãng vắng

Eo sèo- buổi đò đông

+ Đối ý: cô đơn nhỏ bé >< không gian đông đúc của xã hội

+ Đối cú pháp: đảo ngữ

" lặn lội" > < "eo sèo", "thân cò" > < "mặt nước", "khi quãng vắng" > < "buổi đò đông" -> Nhấnmạnh thân phận, tô đậm nỗi vất vả, gian truân của bà Tú: Đã vất vả, đơn chiếc, lại phải bươn chảitrong cảnh chen chúc làm ăn

 Tú Xương đã nhận thức, cảm thông, chia sẻ với nỗi đau thân phận của vợ mình

c Hai câu luận : Đức hi sinh của bà Tú

" Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công."

Câu 5:

- "Một duyên hai nợ" -> duyên có một mà nợ đến hai

"âu đành phận: cam chịu số phận, lặng lẽ chấp nhận vất vả vì chồng con.

Câu 6:

Trang 7

- Thành ngữ "năm nắng mười mưa":

+ Từ chỉ số lượng (năm, mười) -> gấp đôi

+ "nắng, mưa": hình ảnh ẩn dụ cho khó khăn, vất vả

-> Tăng tiến: Nỗi vất vả gian truân của bà Tú

- Nghệ thuật đối:

"Một duyên hai nợ" (số phận) >< "năm nắng mười mưa" (vất vả gian truân)

"âu đành phận" (chấp nhận) >< "dám quản công" (không kể công)

=> Bà Tú là người chịu thương chịu khó, có lòng vị tha cao cả, giàu đức hi sinh, hết lòng vì chồngcon một cách âm thầm và nhẫn nại và cam chịu, không một lời phàn nàn

Tiểu kết: Qua bức chân dung bà Tú điển hình cho người phụ nữ Việt Nam hiền thục, tảo tần, vất

vả, đảm đang, chịu thương, chịu khó và giàu đức hi sinh vì chồng con, Tú Xương bày tỏ tấm lòng yêu thương, qúy trọng, cảm phục và biết ơn sâu sắc vì sự quên mình của vợ

2 Tâm sự và nhân cách của ông Tú

d Hai câu kết : Mượn lời vợ để tự trách mình

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.

 Ông Tú chửi thói đời bạc bẽo " cha mẹ thói đời"  Ý nghĩa xã hội sâu sắc

 Lễ giáo phong kiến luật lệ hà khắc, bất công với phụ nữ -> sinh ra những người chồng vô dụng

 Bi kịch của chế độ thi cử thời thực dân nửa phong kiến

-> Nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ  Ông Tú chửi bản thân mình, nhận lỗi chân thành:

tự nhận khuyết điểm ít quan tâm, thiếu trách nhiệm với vợ, không chia sẻ được gánh nặng gia đình

cùng vợ " ăn ở bạc" " Có hờ hửng như không"

-> Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng

=> Nỗi đau đời, tấm chân tình, nỗi lòng thương vợ khôn tả của ông Tú -> Một nhân cách đẹp đángtrân trọng trong xã hội xưa

+ Học giỏi, giàu chí khí, tài hoa, văn võ toàn tài

+ Giàu lòng yêu nước, thương dân

- Cuộc đời:

+ Xuất thân trong một gia đình nhà Nho

+ Thuở nhỏ: sống trong nghèo khó -> điều kiện để Nguyễn Công Trứ tiếp xúc với thể hát nói.+ Con đường làm quan thăng trầm tạo nên cá tính ngạo nghễ

Trang 8

- Một thể thơ tự do, phóng khoáng.

- Cách thức: Hát có thêm tiếng đếm, phách, trống -> ca trù

b Hoàn cảnh sáng tác: Sau năm 1848, là năm ông cáo quan về hưu.

c Bố cục ba phần

- 6 câu đầu: Ngất ngưởng ở chốn quan trường

- 12 câu tiếp: Ngất ngưởng ở chốn hành lạc.

- Câu cuối: Ngất ngưởng ở chốn triều chung

II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:

1 Nhan đề " Ngất ngưởng ":

- Nghĩa gốc: Miêu tả tư thế con người, sự vật nghiêng ngả, không vững nhưng không đổ.

-Nghĩa hàm ẩn: Thái độ sống ngất ngưởng

+ Thái độ đề cao bản thân: sống khác người, xem mình ở vị trí cao hơn người khác

 Thái độ khinh đời, ngạo thế : sống thoải mái, tự do, phóng khoáng

 Thái độ thách thức, trêu ngươi, khiến cho mọi người xung quanh cảm thấy khó chịu

-> Đặt vào hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ: Thái độ sống vượt khỏi cái tầm thường, cái thói của xãhội

2 Đọc hiểu bài thơ:

a Ngất ngưởng ở chốn quan trường ( 6 câu đầu )

- 2 câu thơ đầu: Quan niệm về cuộc sống, công danh

" Vũ trụ nội mạc phi phận sự" ( Mọi việc trong trời đất đều là phận sự của ta)

Từ Hán Việt -> không khí trang trọng

-> Tuyên ngôn nhập thế

-> Phẩm chất của một nhà nho -> đấng nam nhi

Tự đề cao vai trò của mình trong cõi trời đất

" Ông Hi văn tài bộ đã vào lồng"

Hi Văn -> Tác giả -> Khẳng định cái tôi

-> Việc nhập thế làm quan là một sự trói buộc, nhưng đó là điều kiện, phương tiện để ông thực

hiện hoài bão vì dân vì nước và tài năng của mình

- 4 câu sau: Ý thức về " cái tôi" tài năng hơn người.

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng Đốc Đông,

… .

Có khi về phủ doãn Thừa Thiên."

- Từ Hán Việt mang màu sắc trang trọng

- Điệp ngữ "khi", liệt kê "Thủ khoa", "Tham tán", "Tổng Đốc Đông"

-> Khẳng định tài năng trên nhiều lĩnh vực:

+ Khoe tài: giỏi văn chương (Thủ khoa) và tài dùng binh (thao lược)  văn võ song toàn

+ Khoe danh vị, chức tước:

" bình Tây cờ đại tướng": Tướng

" về phủ Doãn Thừa Thiên": Văn

-> Cá tính phóng túng, không chịu yên vị

- Giọng thơ: khoe khoang, phô trương, tự đại -> Nhận thức về "cái tôi tài năng"

-> " Cái tôi " được đẩy lên mức cao nhất

 Khoe khoang chỉ là cái vỏ để Nguyễn Công Trứ giấu bên trong một cái tôi ý thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm, tài năng và danh vị của mình

3 Ngất ngưởng ở chốn hành lạc ( 12 câu tiếp)

" Đô môn giải tổ chi niên"

 Nhắc lại một sự kiện quan trọng trong cuộc đời (về ở ẩn), điều kiện để ông thực hiện lối sống

ngất ngưởng.

- Những hành động ngất ngưởng:

+ "Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Trái khoáy -> Khinh thường với miệng lưỡi thế gian

"Kìa núi nọ phao phao mây trắng"

Trang 9

 Thưởng thức cảnh đẹp, ngao du sơn thủy

" Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi"

 Cười mình là tay kiếm cung (một ông tướng có quyền sinh quyền sát)  dạng từ bi: dáng vẻ tuhành, trái hẳn với trước

"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì"

 Dẫn các cô gái trẻ lên chơi chùa, đi hát ả đào

 Một cá tính nghệ sĩ: sống phúng túng tự do, sống theo cách của mình, nhanh chóng thích nghihoàn cảnh

- Quan niệm về sự đời:

" Được mất dương dương người thái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong."

 Được- mất vẫn vui như người thái thượng

 Khen- chê cứ vui phơi phới như đi trong gió xuân ấm áp

 Nghệ thuật tương hỗ -> Thái độ bình thản, ung dung, tự tại không đoái hoài trước những thăngtrầm trong cuộc sống, trước thế thái nhân tình

- Sự hành lạc, thú hưởng lạc:

" Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không phật, không tiên, không vướng tục."

Liệt kê , điệp ngữ " khi "

" ca", " tửu", "cắc", "tùng": ẩn dụ -> Thú vui

Sống tự do, phóng túng, tận hưởng mọi thú vui nhưng không vướng bụi trần.

Một nhân cách, một bản lĩnh ngất ngưởng: sống không giống ai, không nhập tục cũng không thoát tục.

- Khẳng định tài năng, sự nghiệp:

"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung."

 Ý thức về bản lĩnh, tài năng và phẩm chất bản thân cái tôi ngất ngưởng đáng trân trọng

4 Ngất ngưởng ở chốn triều chung

" Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"

Câu cảm thán -> Khẳng định thái độ sống " ngất ngưởng": Ông là một đại thần trong triều, không

có ai sống ngất ngưởng như ông, bằng ông là ông

+ Nêu bật sự khác biệt của mình so với đám quan lại khác: cống hiến, nhiệt huyết

+ Thể hiện ý thức vượt ra khỏi quan niệm “đạo đức” của nhà Nho

+ Thể hiện tấm lòng sắt son, trước sau như một đối với dân, với nước

BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT

(Cao Bá Quát)

I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả: (1809?-1855)

Trang 10

- Tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên; quê ở Bắc Ninh.

- Là nhà thơ có tài năng, bản lĩnh, nổi tiếng văn hay chữ tốt, có uy tín lớn trong giớ trí thức đươngthời “Thánh Quát”

- Là người có khí phách hiên nngang, tư tưởng lớn, ôm ấp hoài bão lớn, mong muốn sống có íchcho đời

2 Tác phẩm:

- Hoàn cảnh sáng tác: trong những lần đi thi Hội qua các tỉnh miền Trung

- Thể loại: hành (ca hành) – thơ cổ thể, không gò bó về luật, không hạn chế về số câu, gieo vầnlinh hoạt

II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

1 Tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể: (4 câu đầu)

- “Bãi cát lại bãi cát dài”

Điệp từ “bãi cát”, phụ từ “lại”, tính từ “dài”

+ Tả thực hình ảnh bãi cát dài, mênh mông, nối tiếp nhau →thiên nhiên miền Trung đẹp nhưng dữdội, khắc nghiệt

+ Gợi con đường xa xôi, bất tận, mờ mịt → tâm trạng chán ngán của người đi

- “Đi một bước như lùi một bước

Mặt trời đã lặn chưa dừng được

Lữ khách trên đường nước mắt rơi”.

Cách so sánh, điệp từ “một bước” →gợi tả hình ảnh người đi trên cát:

+ Bước chân khó nhọc, như bị kéo lùi

+ Mặt trời đã lặn mà vẫn còn phải đi, nước mắt rơi lã chã →tâm trạng đau khổ, buồn bã

Vừa tả thực vừa tượng trưng cho con đường công danh mờ mịt, nhọc nhằn của tác giả.

2 Tiếng thở than, oán trách (9 câu tiếp)

- “Không học được tiên ông phép ngủ

Trèo non lội suối giận khôn vơi!”

Điển tích, câu cảm thán→ nhấn mạnh:

+ Tâm trạng chán nản, giận bản thân vì đã tự mình hành hạ thân xác theo đuổi công danh

+ Ước muốn trở thành ông tiên có phép ngủ kĩ

- “Xưa nay phường danh lợi

Tất tả trên đường đời

Đầu gió hơi men thơm quán rượu

Người say vô số tỉnh bao người?”

Cụm từ “phường danh lợi”,từ láy “tất tả”, đối lập “người say vô số” - “tỉnh bao người”; câu hỏi

tu từ → nhằm khẳng định:

+ Sự cám dỗ của danh lợi như thứ rượu ngon quyến rũ người đời →Kẻ say danh lợi luôn phải tất

tả, nhọc nhằn đổ xô vào mà khó thoát ra

+ Thái độ tác giả:

* Chán ghét, khinh bỉ phường danh lợi, tự tách mình ra khỏi sự cám dỗ của lợi danh

* Câu hỏi như trách móc, giận dữ, thức tỉnh người đời và cũng tự hỏi bản thân; nhận ra tính chất

vô nghĩa của lối học khoa cử, con đường danh lợi tầm thường đương thời

- “Bãi cát dài bãi cát dài ơi!

Tính sao đây đường bằng mờ mịt

Đường ghê sợ còn nhiều đâu ít?”

+ Điệp ngữ, câu cảm thán →tiếng thở than trước con đường gian nan

+ Câu hỏi tu từ →băn khoăn tự hỏi mình nên đi tiếp hay dừng lại, nếu đi tiếp thì“đường bằng mờ mịt”, “đường ghê sợ còn nhiều” → không biết phải đi như thế nào.

Mâu thuẫn giữa lí tưởng cao đẹp và thực tế cuộc đời đen tối.

3 Tiếng kêu bi phẫn, bế tắc, tuyệt vọng (Bốn câu cuối):

- “Hãy nghe ta hát khúc đường cùng

Phía Bắc núi Bắc, núi muôn trùng

Phía Nam núi Nam, sóng dào dạt”

Trang 11

+ Điệp từ, đối, hình ảnh “con đường cùng” được tả thực: con đường không lối thoát → biểu tượngcho đường đời, đường công bế tắc của kẻ sĩ.

+ Câu cầu khiến → nỗi tuyệt vọng bế tắc, người đi chỉ có thể hát lên khúc bi ca của mình

- “Anh đứng làm chi trên bãi cát?”

+ Câu hỏi tu từ → nghi ngờ cả sự tồn tại và hành động của mình sao còn đứng trên con đường bếtắc đó

+ Tư thế dừng lại bốn phía mà hỏi vọng trời cao, tự hỏi chính lòng mình thể hiện mâu thuẫn lớnđang đè nặng tâm trí nhà thơ

Khao khát thay đổi cuộc sống, mong tìm một lối đi mới.

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật:

- Sử dụng thể thơ cổ thể, hình ảnh có tính biểu tượng

- Thủ pháp đối lập, sáng tạo trong việc dùng điển tích

- Tự: Mạnh Trạch, hiệu: Trọng Phủ, Hối Trai

- Quê cha ở Thừa Thiên; quê mẹ ở Gia Định

- Xuất thân trong gia đình nhà nho

+ Nam kì mất, ông ở lại Ba Tri (Bến Tre), giặc Pháp mua chuộc nhưng khước từ tất cả

Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng về ý chí và nghị lực sống, lòng hiếu thảo, yêu nước thương dân, tinh thần bất khuất trước kẻ thù

II Sự nghiệp thơ văn.

1 Những tác phẩm chính:

* Hai giai đoạn sáng tác:

- Trước khi Pháp xâm lược: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ-Hà Mậu.

→ Mục đích truyền bá đạo lý làm người.

- Sau khi Pháp xâm lược: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định

→ Mục đích chống Pháp

* Quan niệm sáng tác:

“ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng giam bút chẳng tà”

Dùng văn chương để chiến đấu cho đạo đức, chính nghĩa, cho độc lập tự do của dân tộc

2 Nội dung thơ văn:

- Lí tưởng đạo đức nhân nghĩa:

+ Truyền bá đạo lí làm người

+ Đề cao tinh thần nhân nghĩa, những người sống nhân hậu, thủy chung, nhân cách ngay thẳng,dám đấu tranh để chiến thắng các thế lực bạo tàn

- Lòng yêu nước, thương dân:

+ Ghi lại chân thực một thời đau thương của đất nước

+ Khích lệ lòng căm thù giặc, ý chí cứu nước của dân ta

Trang 12

+ Biểu dương những anh hùng nghĩa sĩ đã chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc, kiên trung bất khuất trước

kẻ thù

+ Tố cáo tội ác của giặc, lên án những kẻ làm tay sai cho giặc

3 Nghệ thuật thơ văn:

Bài văn tế viết theo yêu cầu của Đỗ Quang là tuần phủ Gia Định đọc tại lễ truy điệu các nghĩa sĩ

đã hi sinh trong trận tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc đêm 16-2-1861

2 Thể loại:

-Văn tế: thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương người đã mất

- Bố cục có 4 đoạn: lung khởi, thích thực, ai vãn, kết

-Văn tế có thể được viết theo nhiều thể khác nhau Bài văn tế này viết theo thể phú Đường luật, cóvần, có đối

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1 Hoàn cảnh xuất thân và việc tự nguyện ra trận đánh giặc của người nghĩa sĩ:

a Quan niệm về lẽ sống - chết trong bối cảnh bão táp của thời đại (C 1,2)

- Đối lập “Súng giặc đất rền” - “lòng dân trời tỏ” → hoàn cảnh đất nước lâm nguy, giặc ngoại

xâm tàn bạo càng thấy rõ lòng yêu nước rạng ngời của nhân dân ta

Đối lập, so sánh “Mười năm một trận …như mõ” → quan niệm làm ruộng, sống bình thường

-đánh giặc, chết vì nghĩa lớn là cái chết phi thường, tiếng thơm còn mãi

Lẽ sống đúng đắn, cao đẹp của người nghĩa sĩ

b Xuất thân từ nông dân (c3-5):

- Cuộc sống: “Cui cút làm ăn , toan lo nghèo khó”; “Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làngbộ”

→ vất vả, nghèo khó, thầm lặng

- Công việc: “Việc cuốc vốn quen làm”; “chưa quen cung ngựa nhung”; “Tập khiên chưa từng ngó” (liệt kê, điệp từ, đối lập) → quen việc nặng nhọc nghề nông, hoàn toàn xa lạ với binh

đao, chiến trận

→ Trong cuộc sống đời thường, nghĩa sĩ là nông dân hiền lành, chất phác.

c Sự tự nguyện ra trận đánh giặc: (câu 6-9):

- Chuyển biến về thái độ khi giặc xâm lược:

+ Nghe tin giặc tới, người nông dân “phập phồng ”, “trông tin quan như trời hạn trông mưa” →

từ láy, so sánh → thấp thỏm, lo lắng, trông chờ mòn mỏi tin của triều đình

+ Giặc đã hiện diện, họ “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ” → so sánh, cách nói mộc mạc → sự căm ghét rồi căm thù giặc tột độ.

- Chuyển biến về nhận thức:

+ “Một mối … bán chó” → từ Hán Việt, thành ngữ → ý thức về độc lập chủ quyền tổ quốc, thề

không đội trời chung với giặc – lũ lừa dối, bịp bợm

+ “Nào đợi ai đòi ai bắt… dốc ra tay bộ hổ” → phép đối, ẩn dụ → tự nguyện chiến đấu chống

giặc với quyết tâm cao

Tất cả xuất phát từ lòng yêu nước, ý thức dân tộc và căm thù giặc sâu sắc của người nông dân.

2 Tinh thần xả thân của những người dân chân đất và chí khí của những anh hùng thời đại: (câu 10-15)

- Lí do ra trận: “Vốn chẳng phải mến nghĩa làm quân chiêu mộ” →lòng yêu nước, mến nghĩa,

thiếu lực lượng chính quy

- Điều kiện chiến đấu: (câu 11,12, 13)

+ Binh thư, võ nghệ: không đợi rèn luyện

+ Trang phục: manh áo vải

Trang 13

+ Vũ khí: ngọn tầm vông, hỏa mai bằng rơm con cúi, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay

→ Trang bị thiếu thốn, thô sơ nhưng rất nôn nóng đánh giặc, bằng quyết tâm cao

- Chiến đấu anh dũng, lập nhiều chiến công: (c13,14,15)

+ Động từ mạnh, dứt khoát: đốt, chém, đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào…; so sánh “Coi giặc cũng như không liều mình như chẳng có” → Hành động quyết liệt, dũng cảm.

+ Phép đối, nhịp điệu nhanh, dồn dập, sôi nổi →Trận đánh ác liệt với thế vũ bão phi thường, làmcho giặc hồn kinh phách lạc

Bức tranh công đồn có một không hai trong lịch sử VH trung đại khắc họa bức tượng đài kì vĩ về người nông dân Nam Bộ đánh Tây

3 Nỗi đau đớn tiếc thương trước sự hi sinh của những nghĩa sĩ (câu 16-28)

- Nhân dân khóc thương người ngã xuống:

+ Khi sự nghiệp còn dang dở: “đâu biết xác phàm vội bỏ”, “nào hay da ngựa bọc thây”

+ Thiên nhiên bi thương: “Đoái sông lụy nhỏ”, “Chùa Tông Thạnh nước đổ.”

+ Cảm phục và tự hào trước sự hi sinh cao cả, tinh thần “thà chết vinh hơn sống nhục”: “Thà thác

Tiếng khóc bi tráng của tác giả không chỉ gợi nỗi đau thương mà còn khích lệ lòng căm thù giặc

và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ.

4 Ý nghĩa của cái chết bất tử (hai câu cuối):

-“Sống đánh….thờ vua”: ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.

- Trở lại hiện thực, khóc thương và ca ngợi tấm lòng thiên dân của nghĩa sĩ, cảm thương nhân dânđang phải khổ đau; thắp nén hương thơm tưởng nhớ ngưới vừa khuất

III.TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật

- Đậm chất trữ tình

- Thủ pháp tương phản và cấu trúc của thể văn biền ngẫu

- Ngôn ngữ vừa trang trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ

2.Ý nghĩa văn bản

-Ca ngợi vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nghĩa sĩ nông dân

- Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân có mặt ở vị trí trung tâm và hiện ra với tất

cả vẻ đẹp vốn có

HAI ĐỨA TRẺ Thạch Lam

I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả:

- Thạch Lam (1910- 1942) là một cây bút truyện ngắn xuất sắc trong nhóm Tự lực văn đoàn

- Là người đôn hậu, rất tinh tế

- Thành công nổi bật ở truyện ngắn, thường viết về những truyện không có chuyện

- Ông chủ yếu đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ,mỗi truyện của ông như một bài thơ trữ tình Tác phẩm của Thạch Lam thấm đượm tình cảmthương yêu, giọng văn gợi cảm, nhẹ nhàng, văn phong trong sáng, giản dị

- Tác phẩm chính: Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc…

2 Truyện ngắn “Hai đứa trẻ”:

Xuất xứ: Thuộc tập truyện ngắn Nắng trong vườn - 1938 Là một trong những tác phẩm tiêu biểu

cho phong cách truyện ngắn Thạch Lam

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN:

1 Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn, chợ tàn:

a Bức tranh thiên nhiên:

- Cảm giác: “một chiều êm ả như ru”.

Trang 14

→ Cảnh đẹp bình dị, yên ả nhưng đượm buồn, hắt hiu.

- Âm thanh: Tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu văng vẳng, tiếng muỗi vo ve, tiếng chõng cũ

nát

- Hình ảnh, màu sắc: phương tây đỏ rực như lửa cháy, mây ánh hồng như hòn than sắp tàn, dãy tre

làng đen lại…

b Bức tranh sinh hoạt:

* Cảnh chợ tàn: cảm nhận bằng thính giác, thị giác, khướu giác:

- Âm thanh: "Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất" "

- Hình ảnh: "Một vài người họ còn đứng nói chuyện với nhau ít câu nữa"-> tiêu diều, thưa thớt

- Mấy đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom … đi lại … “nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre”, những

gì còn sót lại -> Hình ảnh tội nghiệp

- Mùi vị:

+ Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc tưởng là mùi

riêng của đất, của quê hương

* Những kiếp người tàn tạ:

- Mấy đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom … đi lại … “nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre”, những

gì còn sót lại

- Mẹ con chị Tí:

+ Mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước ra bán, chả kiếm được bao nhiêu

nhưng “ngày nào cũng dọn hàng từ chập tối đến đêm” → vất vả.

+ Con chị Tí thì "loay hoay nhóm lửa để nấu nồi nước chè" -> tuổi thơ không được học hành, vui

chơi mà phải theo mẹ để mưu sinh

- Bà cụ Thi: hơi điên, nghiện rượu, xuất hiện với tràng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng →

kiếp sống tàn tạ

- Hai chị em Liên: trông cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, tối nào cũng tính tiền hàng, “ngồi trên chiếc

chõng tre dưới gốc cây bàng” → kinh tế khó khăn.

- Mẹ của Liên, An: "bận làm gạo" là người lao động chính của gia đình, trụ cột gia đình vào lúc

thầy Liên thất nghiệp

c Bức tranh tâm hồn của nhân vật Liên:

* Sự tinh tế, nhạy cảm trước sự chuyển biến của thiên nhiên trong thời khắc ngày tàn:

- Sự cảm nhận của Liên về mùi riêng của đất quê trong cái phiên chợ tàn " mùi âm ẩm bốc lên của quê hương này" -> tình yêu dành cho phố huyện.

- "Trong cửa hàng hơi tối ngây thơ của chị" “thấy lòng buồn man mác” trước cái thời khắc của

ngày tàn

Nghệ thuật miêu tả tinh tế, vừa gợi cái buồn cho buổi chiều quê vừa gợi nỗi buồn trong tâm hồn con người.

* Nhân hậu, yêu thương:

- Liên trông thấy động lòng thương những đứa trẻ lam lũ, tội nghiệp nhưng “cũng không có tiền để cho chúng nó”.

- Ân cần quan tâm, yêu thương, ái ngại, xót xa cho gia cảnh của mẹ con chị Tí "Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?"

- Ánh mắt ái ngại nhìn theo đầy thương cảm, đầy xót xa dành cho bà cụ Thi

2 Phố huyện lúc đêm xuống:

a Khung cảnh thiên nhiên

Cảnh chìm dần vào bóng tối, có sự tương phản với ánh sáng

- Bóng tối:

+ Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối

+ Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông … sẫm đen hơn nữa

+ “Tất cả phố xá trong huyện đều thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí”

+ Trống cầm canh … chìm ngay vào bóng tối

+ Tiếng vang động…bóng tối

+ Đêm ở trong phố tịch mịch và đầy bóng tối

Trang 15

 Bóng tối mênh mông ngập đầy không gian, gợi lên sự ám ảnh sâu xa về hiện thực đời sống tốităm, quẩn quanh, ảm đạm, hiu hắt.

- Ánh sáng:

+ Khe sáng từ các cửa hàng còn thức

+ Quầng sáng từ ngọn đèn con của chị Tí

+ Ngọn đèn con của Liên vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa

+ Chấm lửa nhỏ từ bếp lửa của bác Siêu

+ Ngôi sao lấp lánh xa xôi

→ Ý nghĩa biểu tượng của ánh sáng và bóng tối:

+ Ánh sáng tượng trưng cho những kiếp người nhỏ bé, mong manh nơi phố huyện: chị em Liên,

mẹ Liên, những đứa trẻ con nhà nghèo, bà cụ Thi

+ Những kiếp người, kiếp đời đáng thương ấy đang bị nuốt chửng bởi bóng tối

+ Bóng tối biểu tượng cho màn đêm mênh mông của xã hội cũ

+ Ánh sáng gợi niềm hi vọng le lói của những con người nghèo khổ nơi phố huyện

 Cảnh phố huyện như một bức tranh xã hội thu nhỏ của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng

-> Mức thu nhập chỏng hàng chị Tí không đáng bao nhiêu

- Gia đình bác xẩm : ngồi trên manh chiếu, kiếm sống bằng tiếng hát, tiếng đàn nhưng không có

+ "Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa" -> Liên đã từng rất sợ bóng tối nhưng mà

ở trong bóng tối đến một lúc Liên quen với bóng tối, Liên không sợ nữa -> cam chịu và tội nghiệp

- "Những người về muộn từ từ đi trong đêm" -> ai cũng mang nỗi niềm về gánh nặng mưu sinh đè

nặng trên vai mà chưa tìm được con đường giải thoát

Những kiếp người nghèo khổ, lam lũ, sống vật vờ trước Cách mạng tháng Tám.

* Ước mơ đổi đời:

- Họ đang mong đợi “ Chừng ấy người một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”.

-> Ước mơ của họ chỉ là nỗi khắc khoải, mơ hồ, chập chờn và vu vơ, mờ mịt quá, không rõ ràng.Tuy nhiên, họ vẫn biết ước mơ Đây là ước mơ đáng trân trọng

* Bức tranh tâm hồn của nhân vật Liên: Hai điểm sáng:

- Những rung động tinh tế trước cuộc sống xung quanh:

+ Thích thú ngắm bầu trời đêm với ngàn sao lấp lánh và ngàn sao ấy tưởng tượng ra dòng sông

Ngân Hà, tưởng tượng ra hai con vịt đi theo chân ông Thần Nông -> Đó là cả thế giới cổ tích thời

xa xưa của cô bé , đó là thế giới tuổi thơ trong trẻo, hồn nhiên, thế giới của thần tiên bây giờ về vàsống lại nguyên vẹn

Trang 16

+ Liên cảm nhận thấy nguồn sáng của con đom đóm lập lòe, nguồn sáng khác nhau: khe sáng, hộtsáng, quầng sáng, vùng sáng -> tinh tế, nhạy cảm nhận ra sự khác biệt của những nguồn sángphát ra từ nhiều nguồn khác nhau,

+ Liên còn cảm nhận thấy được cả loài hoa bàng rụng xuống vai khe khẽ -> sự rung động, nhạycảm

- Xót xa cho hiện tại, buồn bã yên lặng dõi theo những cảnh nhọc nhằn, những kiếp người tàn tạ;cảm nhận sâu sắc về cuộc sống tù đọng trong bóng tối của họ

- Ước mơ đổi đời:

Trong thế giới phố huyện tối tăm quá, mờ mịt và bế tắc, Liên khao khát hướng tới ánh sáng,mong muốn cuộc đời sáng tươi:

+ Liên luôn đi tìm tất cả nguồn sáng của bếp lửa, của đom đóm, của sao trời để làm sao đẩy, xuatan bóng tối đang đặc quánh lại

+ Liên tìm đến nguồn sáng thứ hai gắn với kí ức về Hà Nội rực rỡ ánh sáng trong hoài niệm quákhứ

+ Liên tìm đến nguồn sáng thứ ba rực rỡ và hiện hữu, có thể thỏa mãn thèm khát của Liên và em

đó là ánh sáng của chuyến tàu từ Hà Nội về

=> Tấm lòng nhân đạo của Thạch Lam:

- Đằng sau bức tranh phố huyện, cuộc sống con người, ta thấy được tâm hồn của nhân vật Liên

- Xót thương cho những kiếp người lầm than, cơ cực, sống lặng lẽ, đơn điệu ở phố huyện

- Sự trân trọng ước mơ thay đổi của Liên và người dân nơi phố huyện

- Thể hiện ước mơ kín đáo làm thay đổi cuộc sống cho những người dân phố huyện trong hoàncảnh xã hội đương thời

3 Phố huyện lúc chuyến tàu đêm đến đi qua :

* Hình ảnh chuyến tàu đêm khi đến:

Được miêu tả từ xa đến gần, từ gần đến xa, bằng nhiều giác quan, bằng hồi ức và hiện tại, quatâm trạng chờ đợi của chị em Liên

- Đèn ghi đã ra, ngọn lửa xanh biếc sát mặt đất như ma trơi -> báo hiệu có một chuyến tàu sắp đến

và dừng lại ở sân ga

- Dần xuất hiện với âm thanh, ánh sáng:

+ Tiếng còi trong gió xa xôi, tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi -> Nghe thấy rất rõ tiếng còi

xe lửa đang reo lên rất rộn rã, lòng đầy náo nức

+ Một làn khói bừng sáng trắng lên, tiếng hành khách ồn ào khe khẽ

+ Tiếng còi rít lên, tàu rầm rộ đi tới, các toa đèn sáng trưng, những toa hạng trên sang trọng, lố nhốnhững người…

-> đứng để nhìn tàu say đắm, vẫn chưa thỏa mãn hết niềm khao khát

* Hình ảnh chuyến tàu đêm đi qua

- "Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt, nhìn theo cáichấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre"

-> tiếc nuối nhìn theo mãi cho đến dấu hiệu cuối cùng

- "Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mông vàyên lặng" -> đêm tối hiện diện khắp nơi, bao bọc xung quanh, đạc quánh hơn

- " Cả phố huyện chỉ còn đêm khuya, trống cầm canh và tiếng chó cắn"-> yên lặng, ảo não kháchẳn với âm thanh náo nhiệt, rộn rã khi tàu đến

- " Từ phía ga, bóng đèn lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc và bác Siêu đãgánh hàng đi vào làng, còn vợ chồng bác Xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ" -> đông đúc,sang trọng giờ tiêu điều, thưa thớt

-" Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm trong phố tịch mịch và đầy bóng tối" ->giấc ngủ chìm trong nỗi buồn, chìm trong bóng tối

b Ý nghĩa của chuyến tàu đêm

- Là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang, rực rỡ ánh sáng; hoàn toàn đốilập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện

- Hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, của những kí ức tuổi thơ êm đềm

Trang 17

- Là khát vọng vươn ra ánh sáng, vượt qua cuộc sống tù túng, quẩn quanh, không cam chịu cuộcsống tầm thường, nhạt nhẽo đang vây quanh.

b.Tâm trạng của Liên:

- Dù buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn cố thức đợi tàu vì muốn nhìn “sự hoạt động cuối cùng củađêm khuya”

- Hân hoan, hạnh phúc khi tàu đến; nuối tiếc bâng khuâng khi tàu đi qua: “nhìn theo cái chấm nhỏcủa chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre”

- Ý thức hơn về cuộc sống hèn mọn, tù túng của mình: “thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôikhông biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”

 Qua tâm trạng của Liên, tác giả muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán, sống quẩnquanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn Đó là giá trị nhân bản của tác phẩm

 Đừng để cuộc sống chìm trong cái “ao đời phẳng lặng”(Xuân Diệu) Con người phải sống cho

ra sống, phải không ngừng khao khát và xây dựng cuộc sống có ý nghĩa

 Những ai phải sống trong một cuộc sống tối tăm, mòn mỏi, tù túng, hãy cố vươn ra ánh sáng,hướng tới một cuộc sống tươi sáng

 Giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm

III Tổng kết

1 Nghệ thuật:

- Cốt truyện đơn giản; nổi bật là dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh

mơ hồ trong tâm hồn nhân vật

- Bút pháp tương phản, đối lập

- Miêu tả những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người

- Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng

- Giọng thủ thỉ đấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng

2 Ý nghĩa văn bản:

Niềm xót thương của tác giả đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn quanh, tăm tối ở phốhuyện nghèo trước Cách mạng; sự trân trọng ước mong đổi đời tuy còn mơ hồ, bé nhỏ, mà tha thiếtcủa họ (giá trị hiện thực, nhân đạo)

họ hướng đến ngày mai, vượt thoát khỏi hoàn cảnh sống hiện tại của mình

- Vẻ đẹp của nhân vật Liên

+ Tinh tế cảm nhận cuộc sống xung quanh mình: bóng tối ngập dần trong mắt chị -> tinh tế nhạy cảm trước sự biến chuyển tinh vi của thế giới xung quanh

+ Tấm lòng nhân hậ, yêu thương

Kể về gia cảnh của từng người

Thơm thảo với bà cụ Thi, ái ngại, cảm thông

Thương những đứ trẻ con nhà nghèo

Khao khát đổi thay: chủ động đi tìm sự tươi sáng giữa bóng tối đặc quánh nơi phố huyện: Liênluôn đi tìm tất cả nguồn sáng của bếp lửa, của đom đóm, của sao trời để làm sao đẩy, xua tan bóngtối đang đặc quánh lại Liên tìm đến nguồn sáng thứ hai gắn với kí ức về Hà Nội rực rỡ ánh sángtrong hoài niệm quá khứ Liên tìm đến nguồn sáng thứ ba rực rỡ và hiện hữu, có thể thỏa mãnthèm khát của Liên và em đó là ánh sáng của chuyến tàu từ Hà Nội về

Trang 18

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ ( Nguyễn Tuân)

I TÌM HIỂU CHUNG:

1 Tác giả (1910-1987)

- Quê: Hà Nội, sống nhiều ở miền Trung

- Sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn.

- Con người: Tuy thuộc xu hướng lãng mạn nhưng có ý thức dân tộc cao; yêu cái đẹp và là mộtnghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo

- Sáng tác ở nhiều thể loại nhưng đặc biệt thành công ở thể bút kí, tùy bút

- Tác phẩm chính (SGK)

2 Tác phẩm

- Lúc đầu truyện có tên “Dòng chữ cuối cùng” in năm 1938 trên tạp chí Tao Đàn.

- Sau đó in trong tập truyện “Vang bóng một thời”(1940) – “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan)

II ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:

1 Tình huống truyện độc đáo:

Đó là cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu giữa Huấn Cao và quản ngục

- Trên bình diện xã hội, họ đối lập với nhau:

+ Huấn Cao: “cầm đầu bọn phản nghịch” chống lại triều đình, sắp bị chết chém.

+ Quản ngục: đại diện cho giai cấp thống trị đương thời

- Trên bình diện nghệ thuật: họ đều có tâm hồn nghệ sĩ, là tri âm, tri kỉ của nhau

-> Tác giả đặt những nhân vật này vào tình thế đối địch giữa tử tù và quản ngục

→ làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao, làm sáng tỏ tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” củaquản ngục, thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm

2 Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao:

a Huấn Cao mang cốt cách của một nghệ sĩ tài hoa, tài năng viết chữ đẹp, được miêu tả gián

tiếp qua lời bàn luận và thái độ của nhân vật quản ngục và thầy thơ lại

-Tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”, nổi tiếng cả một vùng rộng lớn mọi người đều biết ngưỡng

mộ đó là hiện tượng đặc biệt, giỏi, phi phàm, xuất chúng “ Cả vùng Tĩnh Sơn ta vẫn khen cái tài ” -> Tài không nhiều người có được, hi hữu.

- “Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm” " là những nét vuông tươi tắn nó nói lên những cái tung hoành của một đời người" -> Tài năng không chỉ quý giá ở nét chữ mà còn thể hiện nhân cách cao

khiết phi thường của Huấn Cao, mỗi nét bút là sự tập trung cao độ, kết tụ tinh hoa và tâm huyếtcủa người nghệ sĩ , mỗi nét chữ còn là sự hiện hình của những khát khao thầm kín mà mãnh liệtchất chứa trong sâu thẳm tâm hồn, nhân cách của người viết

-“Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời”, lo lắng, ân hận sợ không xin được chữ  Chữ của Huấn Cao đã trở thành niềm khao khát suốt cả đời của quản ngục“ Biết đọc vỡ nghĩa sĩ thánh hiền ”

- Và để có được mơ ước ấy, quản ngục đã bất chấp nguy hiểm để xin chữ , dám coi thường quyền

lợi của một quản ngục và cả sự an nguy đến sinh mệnh của mình: quan sát với cặp mắt hiền lành, ánh nhìn kiêng nể biệt nhỡn đối với Huấn Cao, hành động biết đãi, coi trọng, xuống tận phòng giam, quan tâm, chăm sóc -> Nể trọng: Quý cái đẹp, trọng cái tài, thái độ viên quản ngục đối với

Huấn Cao -> Không phải tài bình thường mà đạt đến mức độ phi thường, siêu phàm

Ca ngợi tài viết chữ đẹp của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã khơi dậy nét đẹp văn hóa cổ truyền ( nghệ thuật thư pháp ) của cha ông một thời bị mai một.

b Huấn Cao là người có khí phách của một trang anh hùng nghĩa liệt:

* Tinh thần nghĩa hiệp:

- Ông đi theo tiếng gọi của tự do đứng về phía nhân dân, cầm đầu một cuộc đại phản , có chí lớnchống lại triều đình phong kiến thối nát

Trang 19

- Dám chấp nhận hậu quả, khi bị bắt, ông nhận hết việc mình làm.

* Tư thế đàng hoàng, hiên ngang, bất khuất: Coi thường chốn lao tù, Huấn Cao thản nhiên

trước sự đày đọa của tù ngục: lạnh lùng chúc mũi gông đang đè lên cổ mình và năm người đồng

chí của mình, "dỗ gông trừ rệp" xuống thềm đá tảng trại giam trước mặt ngục quan,“đánh thuỳnh một cái” bất chấp những lời đe dọa của bọn lính áp giải -> Đó không chỉ là hành động ngang nhiên, coi thường bọn lính mà còn là hành động biểu thị tự do, khiến cho mọi uy quyền của nhà tù trở nên vô nghĩa Cũng từ đó, Huấn Cao sừng sững đi cho đến hết sinh mệnh của mình trong thiên truyện.

* Bản lĩnh cứng cỏi không sợ quyền uy, không sợ cái chết.

- Huấn Cao tỏ ra khinh bạc khi quản ngục khép nép hỏi ông Huấn " ngài có cần gì nữa xin cho biết Tôi sẽ cố gắng chu tất" Ông trả lời: “ Ngươi hỏi ta muốn gì, ta chỉ muốn nhà ngươi đừng đặt chân vào đây” -> thái độ bất mãn, căm ghét, quản ngục trong mắt Huấn Cao chỉ thuộc hệ thống

những kẻ tiểu lại giữ tù, nhà tù xưa nay chỉ tồn tại sự lừa lọc, xấu, ác, kẻ giữ tù toàn bọn tiểu nhânđộc ác, xấu xa, ác độc

- Bản thân Huấn Cao cũng luôn ý thức về khí phách hiên ngang, cứng cỏi, bất khuất của mình:

“Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này” Đó là khí

phách cứng cỏi, hiên ngang của một người mà ngay cả trong hoàn cảnh bị trói buộc tù túng vẫnkhông bao giờ cúi đầu trước sức mạnh của quyền uy, của cái chết

- Điều kì lạ là quản ngục lại “xin lĩnh ý”, lễ phép lui ra và từ đó không bao giờ đặt chân vào buồng

giam Huấn Cao nữa Hóa ra, Huấn Cao mới là người làm chủ chốn ngục tù

- Huấn Cao tiếp nhận biệt đãi, Huấn Cao chưa hiểu lý do, Huấn Cao không quan tâm vì bọn cai tù

là độc ác, âm mưu “thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm” -> Cao hơn bạo lực tăm tối nhà tù -> Không sợ hãi âm mưu.

- Khi nghe tin mình sắp vào kinh chịu án, Huấn Cao mỉm cười, xác định trước kết quả tất yếu,thanh thản vì thực hiện lý tưởng cao đẹp của đời vì dân, cuộc sống, không nuối tiếc, vẫn bình thảncho chữ

- Đặc biệt khi thấu hiểu Quản ngục là " một tấm lòng trong thiên hạ", Huấn cao bằng lòng cho chữ trong tư thế " một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên mảnh lụa trắng tinh căng trên mảnh ván" -> Thể hiện ý chí gang thép , cường quyền và bạo lực không làm

cho Huấn Cao nao núng tinh thần, vẫn giữ được cái phong thái ung dung của người nghệ sĩ trongcảnh cho chữ

Huấn Cao là hiện thân sinh động của bậc đại trượng phu với phương châm sống " Bần cư bất năng di, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất" ( nghèo khó không làm đổi thay chí hướng, giàu có không làm cho trở nên hư hỏng, cường quyền không thể khuất phục)

c Đáng quý nhất ở Huấn Cao là vẻ đẹp trong sáng của người có thiên lương

Bên cạnh một con người ngạo nghễ, hiên ngang còn có một tấm lòng biết trân trọng giá trị conngười

- Không vì quyền lực, vàng bạc mà cho chữ: “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ ông ít chịu cho chữ "

+ “Khoảnh” -> phần kiêu ngạo về tài năng của mình, ý thức rõ về tài năng, món quà đặc biệt mà

thượng đế chí công ban tặng cho Huấn Cao, mà người đời không phải ai cũng có dược món đồ này

+ “ Ít chịu cho chữ” -> Viết chữ không khó khăn gì, tôn trọng tài năng của mình, tôn trọng món

quà mà thượng đế đã trao tặng cho mình, dành tặng cho những tấm lòng trong thiên hạ, tặng cho bangười bạn thân

Coi trọng giá trị của tài năng, sử dụng tài năng giống như món quà chỉ để dành tặng đền đáp tấm lòng thiên hạ.

- Có khí phách, khí chất, quan điểm cao quý, vàng ngọc không thể mua chuộc được những dòng

chữ ấy, quyền thế không bao giờ khiến Huấn Cao cúi đầu cho chữ “Ta nhất sinh không vì vàng

ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ” “ Nhất sinh” -> Cả một đời, tâm nguyện lời

thề mà Huấn Cao nghiêm túc thực hiện không vì vàng ngọc, không vì quyền thế -> Nhân cách nhàNho, con người cao quý

- Tưởng quản ngục là kẻ tầm thường, làm nghề thất đức, Huấn Cao không hề giấu diếm sự khinh

miệt, thái độ coi thường của mình Nhưng khi biết được sở nguyện cao quý của kẻ " liên tài", cảm

Trang 20

được "tấm lòng biệt nhỡn liên tài ", Huấn Cao không những vui vẻ cho chữ mà còn xúc động thốt

lên những lời hối hận chân thành: " Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ." Câu

nói cho thấy quan niệm nhân sinh và phẩm chất, tâm hồn cao đẹp của Huấn Cao, sống là phải xứngđáng với những tấm lòng

-> Quan điểm sống: Sống ở đời phụ lòng người là điều không thể tha thứ, còn giây phút nào cuối đời thì không cho phép phụ lòng người, biết sửa sai, bằng mọi giá đền đáp tấm lòng trong thiên hạ -> Biểu hiện thiên lương cao quý.

- Huấn Cao đã dặn dò, nhắn nhủ những lời tâm huyết tới viên quản ngục " Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi " -> Ông khuyên thầy quản ngục nên lời khỏi chốn dơ bẩn, về quê để sống một cuộc đời

thanh sạch, có vậy thú chơi chữ mới có thể ngời sáng vẹn toàn giá trị Lời khuyên cho thấy một

quan niệm sâu sắc của nhà văn: cái đẹp không thể chung sống chung với tội lỗi; cái thiêng liêng, thánh thiện không thể tồn tại trong một môi trường dung tục, tầm thường.

=> Cái tâm của một con người trọng nghĩa khinh lợi

d Sự tỏa sáng ba vẻ đẹp trong cảnh cho chữ: Ba vẻ đẹp của Huấn Cao kết tinh trong cảnh cho

chữ - một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”:

* Hoàn cảnh cho chữ đặc biệt:

- Thời gian lúc nửa đêm

- Không gian sáng tạo cái đẹp là nhà tù - nơi tội ác đang ngự trị, có sự đối lập:

+ Ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu; tấm lụa trắng, chữ đẹp, mực tốt và thơm

+ Buồng giam tối tăm, chật hẹp, dơ bẩn “tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi những phân chuột, phân gián”

* Nghệ sĩ cho chữ - kẻ xin chữ đặc biệt, trật tự nhà tù bị đảo lộn:

- Người cho chữ là tử tù, sắp bị chết chém

+ “Cổ đeo gông, chân vướng xiềng”, tư thế oai phong đậm tô nét chữ, chủ động ban phát cái đẹp

+ Răn dạy quản ngục: thay chốn ở, thoát khỏi nghề này để giữ thiên lương, thưởng thức chữ đẹp:-> Cảm hóa một con người lầm lạc

-> Quan niêm về cái đẹp: cái đẹp có thể sản sinh từ nơi tội ác ngự trị nhưng không thể tồn tại cùngcái ác Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi giữ được thiên lương

- Người xin chữ là quản ngục có quyền thế:

+ Tư thế khúm núm, bị động

+ Vái lạy, cảm động, bái lĩnh lời răn dạy của Huấn Cao

 Bức tranh lãng mạn - cảnh cho chữ càng làm nổi bật vẻ đẹp toàn diện của nhân vật Huấn Cao Ở

đó, cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người đã chiến thắng, tỏa sáng:

* Vẻ đẹp của tài hoa: Không còn đồn đại, đang hiện hình, nét chữ vuông tươi tắn, hoài bão tung

hoành của một đời người  Minh họa cho bức tranh thư pháp hoàn hảo Lý tưởng của nam nhi thời xưa gói trọn trong nét chữ của Huấn Cao.

* Vẻ đẹp của khí phách: Huấn Cao mỉm cười, lặng người khi nghe thầy thơ lại thông báo, bộ

dạng của Huấn Cao khiến người khác dễ hiểu lầm, Huấn Cao không sợ hãi mà ông thương choviên quản ngục, ái ngại cho viên quản ngục tâm tốt thẳng thắn mà phải ăn đời ở kiếp Cảnh tượngcho chữ đã tráo đổi vị trí cho nhau, thái độ quyền uy, ung dung đỡ viên quản ngục đứng lên

* Vẻ đẹp của thiên lương: Huấn Cao nhận lời cho chữ viên quản ngục, nhận ra tấm lòng trong

thiên hạ, hiểu được tấm lòng của viên quản ngục, dành nét chữ cuối cùng cho viên quản ngục.Huấn Cao đỡ viên quản ngục đứng lên đĩnh đạc đưa ra lời khuyên chí tình, xuất phát từ chỗ HuấnCao ái ngại tình cảnh của viên quản ngục, cảm hóa thiên lương của viên quản ngục

Qua hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân khẳng định cái đẹp là bất diệt, cái tài và cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời; thể hiện sự trân trọng những giá trị tinh thần của dân tộc

2 Nhân vật viên quản ngục:

Hoàn cảnh sống trong đề lao – nơi mà người ta “sống bằng tàn nhẫn và lừa lọc” nhưng lại có tâm hồn cao đẹp.

Trang 21

- Có sở thích cao quý, biết say mê, trân trọng cái đẹp:

+ Thích treo câu đối – thú chơi tao nhã

+ Ước mơ có chữ của Huấn Cao treo trong nhà “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời”.

+ Trân trọng từng chữ khi được Huấn Cao cho “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ”.

- Trân trọng, cảm phục người có tài năng, nhân cách, “biệt nhỡn liên tài”:

+ Nhìn Huấn Cao bằng cặp mắt hiền lành.

+ Kiêng nể, biệt đãi, nhún nhường trước Huấn Cao (đoạn đối thoại), khi bị khinh bạc ông khôngthù hằn mà càng biệt đãi Huấn Cao

+ Bái phục, nhận ra cái sai khi được Huấn Cao khuyên bảo: “Ngục quan cảm động, vái người tù

… xin bái lĩnh”

- Sống giữa bùn nhơ mà không vẩn đục, luôn hướng về cái đẹp, cái “thiên lương”, đáng gọi là

“tấm lòng trong thiên hạ”, “một thanh âm trong trẻo…bồ”, tri kỉ của bậc tài hoa, nghĩa khí.

Trong mỗi con người đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài Cái đẹp chân chính trong bất

kì hoàn cảnh nào cũng giữ được phẩm chất, nhân cách.

- Xây dựng thành công nhân vật Huấn Cao – con người hội tụ nhiều vẻ đẹp

- Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại

- Vũ Trọng Phụng (1912- 1939) xuất thân trong một gia đình nghèo, quê ở Hưng Yên

- Là nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng tháng Tám, phê phán mạnh mẽ xã hội đươngthời

- Ông có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn xuôi hiện đại Việt Nam ở phóng sự, tiểuthuyết, truyện ngắn

- Tác phẩm của ông toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội đương thời, tiêu biểu như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Giông tố, Số đỏ ….

+ Nghệ thuật: Bút pháp trào phúng, châm biếm sác sảo ( Tiếng cười những điều trái tự nhiên)

- Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”:

+ Xuất xứ: trích chương XV của tiểu thuyết “Số đỏ” (1936).

+ Miêu tả đám tang cụ cố tổ cùng niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1 Tình huống trào phúng và ý nghĩa nhan đề:

Ngày đăng: 25/10/2022, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w