Phần 1 của giáo trình Tài chính tiền tệ cung cấp cho học viên những nội dung về: đại cương tài chính và tiền tệ; hệ thống tài chính; ngân sách nhà nước; tài chính doanh nghiệp; tín dụng và lãi suất tín dụng;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
KHOA KINH TẾ
- -
ThS: Lê Xuân Hương
GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ DÙNG CHO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC – KHỐI NGÀNH KINH TẾ
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
QUẢNG NINH - 2014
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Chương 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ 3
A Đại cương về tiền tệ 3
1.1 Bản chất tiền tệ 3
1.2 Các chức năng của tiền tệ 8
1.3 Vai trò của tiền tệ 10
1.4 Giấy bạc ngân hàng Việt Nam 11
1.5 Cung và cầu tiền tệ 13
1.6 Lạm phát 19
B ĐẠI CƯƠNG VỀ TÀI CHÍNH 32
1.7 Tổng quan về tài chính 32
1.8 Hệ thống tài chính 34
Chương 2: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 40
2.1 Những vấn đề cơ bản của ngân sách nhà nước 40
2.2 Thu ngân sách nhà nước 43
2.3 Chi ngân sách nhà nước 50
2.4 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước56 2.5 Năm ngân sách và chu trình ngân sách 57
Chương 3: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 59
3.1 Những vấn đề chung về tài chính doanh nghiệp 59
3.2 Tổ chức tài chính doanh nghiệp 61
3.3 Những nội dung chủ yếu của hoạt động tài chính doanh nghiệp 63
Chương 4: TÍN DỤNG 76
4.1 Tín dụng 76
4.2 Lãi suất tín dụng 84
Chương 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 91
5.1 Ngân hàng trung ương 91
5.2 Chính sách tiền tệ 97
Chương 6: CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN 105
6.1 Những vấn đề chung về tổ chức tài chính trung gian 105
6.2 Các loại hình trung gian tài chính 107
6.3 Những rủi ro chủ yếu trong kinh doanh tài chính, tiền tệ 131
Chương 7: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 137
7.1 Những vấn đề chung về thị trường tài chính 137
7.2 Thị trường tiền tệ 146
7.3 Thị trường vốn 149
7.4 Thị trường chứng khoán 152
Chương 8: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 157
Trang 38.1 Những vấn đề chung về tài chính quốc tế 157
8.2 Các hình thức chủ yếu của tài chính quốc tế 160
8.3 Cán cân thanh toán quốc tế 168
8.4 Thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái 171
8.5 Các tổ chức tài chính quốc tế 178
Tài liệu tham khảo 183
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang dần hoàn thiện những đặc điểm của một nền kinh tế tiền tệ Trong đó, những hoạt động tài chính đóng vai trò kết nối chặt chẽ các chủ thể kinh tế với nhau và qua đó quyết định đến hiệu quả của các chu chuyển kinh tế cũng như của sự phân bổ nguồn lực xã hội Thông qua mối quan hệ này, mỗi sự thay đổi của các điều kiện tài chính của nền kinh tế sẽ dẫn đến những thay đổi tương ứng của các biến số vĩ mô theo những quy luật nhất định với những điều kiện nhất định Việc nắm được bản chất của mối quan hệ này sẽ giúp hiểu được quy luật vận động khách quan của nền kinh tế tiền tệ, để từ đó có những tác động thích hợp trong khi thực hiện những mục tiêu cụ thể Hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc tác động vào các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: lãi suất, tỷ giá hay khối lượng tiền trong lưu thông phụ thuộc vào sự phân tích những quan hệ mang tính quy luật này trong điều kiện cụ thể của Việt Nam
Giáo trình tài chính - tiền tệ hệ thống hóa những kiến thức nền tảng trong lĩnh vực tài chính và tiền tệ, là tài liệu hữu ích cho các sinh viên thuộc khối ngành kinh tế Giáo trình đã cố gắng trình bày một cách khách quan và có hệ thống các khái niệm và bản chất vận động của tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, hoạt động ngân sách nhà nước, hoạt động của ngân hàng trung ương hay các tổ chức tài chính trung gian…
Tác giả đã cố gắng trong quá trình biên soạn theo tinh thần cô đọng, dễ hiểu và cập nhật hệ thống lý luận hiện đại, tuy nhiên khó tránh khỏi thiếu sót, vì vậy mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc nhằm xây dựng một cuốn giáo trình
có chất lượng, đảm bảo tính logic, khoa học cho lần tái bản tới
Tác giả
Trang 6Chương 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ
A ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TỆ
1.1 Bản chất của tiền tệ
1.1.1 Sự ra đời của tiền tệ
Sự phát triển không ngừng các hoạt động kinh tế dưới những hình thức khác nhau là động lực cho sự ra đời và phát triển của hệ thống tiền tệ Quá trình ra đời của tiền tệ có thể chia thành hai giai đoạn: trao đổi trực tiếp và trao đổi gián tiếp
a Trao đổi hàng hóa trực tiếp là quá trình trao đổi diễn ra giữa hàng và hàng
Điều kiện tiên quyết của quá trình trao đổi này là phải có sự trùng hợp kép về nhu cầu giữa người tham gia trao đổi, về thời gian, địa điểm trao đổi cũng như giá trị
sử dụng của hàng hóa có nhu cầu trao đổi Khả năng thực hiện các cuộc trao đổi này là rất ít vì chi phí cơ hội rất cao (chi phí thời gian, chi phí đợi chờ và chi phí tìm kiếm tác nhân thỏa mãn nhu cầu trao đổi…) Tính chất ngẫu nhiên của quá trình trao đổi làm tốn thời gian và nguồn lực của cộng đồng, là cản trở lớn cho sự phát triển sản xuất xã hội Mặt khác, khi năng suất lao động không ngừng tăng cao, việc phân công lao động
xã hội ngày càng mở rộng thì khối lượng sản phẩm tham gia trao đổi ngày càng tăng
về khối lượng, mở rộng về phạm vi và đa dạng hóa về mối quan hệ Để đổi được sản phẩm theo yêu cầu, những người tham gia trao đổi phải thực hiện nhiều cuộc trao đổi trung gian Số lần trao đổi trung gian tỷ lệ thuận với số lượng sản phẩm tham gia trao đổi Hình thức trao đổi trực tiếp còn gây khó khăn cho việc xác định giá trị tương đối của hai loại hàng hóa tham gia trao đổi để hình thành tỷ lệ chuyển đổi cũng như việc xác định tiền lẻ trả lại khi giá trị hai hàng hóa tham gia trao đổi không tương xứng về mặt giá trị Vì thế quá trình trao đổi nhiều khi không được thực hiện trên cơ sở ngang giá Như vậy, hình thức hàng đổi hàng có thể cho phép một người có được loại hàng hóa và dịch vụ mà anh ta không có kỹ thuật hoặc thời gian để tự sản xuất, nhưng chúng cũng gây nhiều phiền hà làm cho hoạt động thương mại - do đó mà hoạt động sản xuất xã hội chậm và không hiệu quả Điều này làm xuất hiện một nhu cầu cấp bách mang tính tự phát là phải có một hình thức trao đổi khác, đỡ tốn kém hơn và thuận lợi hơn thích ứng với quá trình chuyên môn hóa ngày càng trở nên sâu sắc
b Trao đổi gián tiếp thông qua vật môi giới trung gian
Một vật được chấp nhận làm môi giới trung gian trong trao đổi và là phương tiện thanh toán các khoản nợ thì được coi là tiền tệ
Sự xuất hiện vật môi giới trung gian trong trao đổi đã làm cho quá trình trao đổi thuận tiện hơn; yêu cầu phải có sự trùng hợp kép về nhu cầu trở nên không cần thiết Những người có nhu cầu trao đổi hàng hóa chỉ cần đổi hàng hóa của mình ra tiền tệ và
sử dụng chúng để đổi lấy hàng hóa cần thiết Sở dĩ họ có thể làm như vậy vì tiền tệ có đặc tính trước hết là được chấp nhận chung làm phương tiện trao đổi cho cả thế giới hàng hóa Nhờ đó, tiền tệ góp phần tăng nhanh tốc độ trao đổi hàng hóa, tiết kiệm chi phí trao đổi, đẩy mạnh quá trình chuyên môn hóa và hiệu quả sản xuất xã hội Yêu cầu của việc hoàn thiện trao đổi hàng hóa và sự thay đổi của các điều kiện trao đổi là lý do của sự phát triển các hình thái tiền tệ trong lịch sử lưu thông tiền tệ
Trang 71.1.2 Bản chất của tiền tệ
Quốc gia nào cũng có đồng tiền riêng, lịch sử ra đời và phát triển của tiền tệ đã được ghi nhận từ những hoạt động sớm nhất của con người Ở cuối thời kỳ công xã nguyên thủy, chế độ tư hữu xuất hiện, sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền tệ đã xuất hiện, việc trao đổi hàng hóa có thể tiến hành trực tiếp hàng đổi hàng hoặc có thể mua bán thông qua tiền tệ
Nhưng bản chất của tiền là gì?
Tiền có biểu hiện ở rất nhiều thứ khác nhau Đối với hầu hết các dân tộc, tiền là những đồng xu bằng kim loại, những tờ giấy bạc, những tấm thẻ hoặc là những khoản tiết kiệm ở ngân hàng Nhưng đối với một số dân tộc trong quá khứ không xa lắm, tiền là những chuỗi hạt, vỏ ốc, đá, hạt ca cao… vì đó là những vật họ cho là có giá trị Các dân tộc đã từng coi những vật như vậy là tiền bởi vì chúng đều là những phương tiện được thừa nhận và thỏa thuận trong thanh toán
Lịch sử phát triển tiền tệ đã chứng minh rằng tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nền
kinh tế hàng hóa Suy cho cùng, về bản chất, tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hóa dịch vụ và thanh toán các khoản nợ
1.1.3 Sự phát triển các hình thái tiền tệ
a Tiền dưới dạng hàng hóa (hóa tệ)
- Hóa tệ phi kim loại
Vào cuối thời kỳ La Mã cổ đại, các hàng hóa thông thường có tần số trao đổi nhiều nhất được lựa chọn một cách tự phát làm môi giới trung gian trong trao đổi Trong những thời kỳ và ở những địa phương khác nhau, những loại hàng hóa khác nhau được lựa chọn làm phương tiện trao đổi: gạo, vải, muối, gia súc, thuốc lá, dầu oliu, hạt cacao… Tuy nhiên quá trình sử dụng loại tiền hàng hóa này dần bộc lộ những hạn chế:
+ Khó khăn trong việc chia nhỏ để trả lại tiền lẻ;
+ Bị ảnh hưởng mạnh bởi điều kiện tự nhiên;
+ Không thuận tiện trong di chuyển giữa các vùng khác nhau
Vì vậy, hóa tệ phi kim loại dần biến mất và được thay thế bằng hóa tệ kim loại
- Hóa tệ kim loại
Xã hội càng phát triển, yêu cầu sản xuất trao đổi hàng hóa ngày càng cao, việc trao đổi hàng hóa không chỉ diễn ra trong một địa phương, một quốc gia mà đã phát triển giữa những quốc gia với nhau, hình thức hóa tệ phi kim loại ngày càng tỏ ra không thuận tiện trong việc di chuyển Vì vậy, phải tìm một vật ngang giá chung thuận tiện và dễ di chuyển, dễ trao đổi hơn Cùng với sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai - thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp - hình thức tiền tệ chuyển dần sang các kim loại Kim loại dùng làm tiền dưới dạng thỏi (tiền đúc)
Bạc được sử dụng để đúc tiền từ năm 700 trước Công Nguyên bởi người Lydia (ở phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) Các đồng tiền vàng đầu tiên được người Lydia đúc từ vàng trong thời gian giữa năm 640 và 600 trước Công Nguyên, có nhiều kích thước và giá trị khác nhau và được dùng như là một phương tiện thanh toán, để đơn giản hóa việc trả lương cho những người lính đánh thuê Một lượng vàng nhất định
Trang 8được nấu chảy thành đồng tiền và sau đó hình của nhà vua được dập nổi lên trên Các đồng tiền kim loại này đã làm cho hoạt động thương mại dễ dàng hơn rất nhiều vì chúng có ưu điểm là kích thước, trọng lượng và hình dáng không thay đổi và thay vì cân thì có thể đếm được
Cuối thời kỳ này, hình thức tiền tệ đã được cố định ở vàng Bởi vì vàng có nhiều đặc tính ưu việt hơn các hàng hóa khác lúc bấy giờ trong việc thực hiện các chức năng của tiền tệ Đó là:
+ Dễ chia nhỏ, dễ hợp nhất mà không làm ảnh hưởng đến giá trị của vốn có của
nó Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc biểu hiện giá cả và lưu thông hàng hóa trên thị trường bởi lẽ thị trường hàng hóa rất đa dạng và giá cả rất khác nhau
+ Bền vững, không ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên
+ Có giá trị lớn trong một khối lượng nhỏ - dễ di chuyển
+ Tính đồng nhất của vàng rất cao, điều đó rất thuận lợi trong việc đo lường, biểu hiện giá cả của các hàng hóa trong quá trình trao đổi
Đầu tiên các thỏi vàng với các trọng lượng và hình dáng khác nhau được sử dụng làm phương tiện trao đổi Sự bất tiện của nó chính là động lực để hình thành nên các đồng tiền đúc bằng vàng với trọng lượng hình dáng và kích thước thống nhất Lưu thông tiền đúc bằng vàng kéo dài từ 1870 đến 1914 và được coi là thời kỳ lưu thông tiền tệ ổn định nhất góp phần quyết định đến sự phát triển kinh tế và thương mại quốc
tế trong thời kỳ này
Tuy vậy, sự bất lợi của lưu thông tiền vàng dần bộc lộ:
+ Vì tiền vàng nặng nên việc di chuyển vàng với khối lượng lớn trở nên bất tiện, và điều quan trọng là
+ Việc lưu thông tiền vàng không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng tăng lên, vàng trở nên khan hiếm, kích thích mong muốn tích trữ vàng Nhu cầu tích trữ vàng và đẩy các dấu hiệu của nó ra lưu thông ngày càng trở nên phổ biến, đây thực chất là hành vi tự phát đánh dấu sự chấm dứt vai trò tiền tệ của vàng
b Tiền giấy
Phần lớn các loại tiền trước đây đều có giá trị hoặc có thể thỏa mãn nhu cầu giá trị sử dụng nào đó của con người và chính vì thế mà nó được chấp nhận làm phương tiện trao đổi Tuy nhiên, việc sử dụng tiền giấy trong lưu thông đã làm thay đổi hẳn quan niệm về tiền tệ: ”ích lợi của bản thân tiền tệ lại là cái ít quan trọng nhất của nó… Người ta muốn có tiền với danh nghĩa là tiền chứ không phải là hàng hóa, không phải
vì bản thân nó mà vì những thứ mà dùng nó có thể mua được” Hiển nhiên tiền giấy có lợi thế ở chỗ:
- Nhẹ, dễ di chuyển với khối lượng lớn
- Chi phí in ấn, khắc chạm và đảm bảo an toàn rẻ
- Dễ dàng hình thành một kết cấu tiền với các mệnh giá khác nhau thuận tiện cho quá trình trao đổi hàng hóa
Trang 9Tuy nhiên lưu thông tiền giấy rất dễ rơi vào tình trạng bất ổn định vì việc giữ cho tiền giấy khan hiếm trong lưu thông và điều chỉnh cho nó phù hợp với nhu cầu trao đổi hàng hóa là một nghệ thuật phức tạp
c Tiền qua ngân hàng (tiền ghi sổ hay bút tệ)
Sự phát triển của hệ thống thanh toán cùng với vai trò của các ngân hàng cho phép sử dụng séc và các phương tiện thanh toán khác để luân chuyển số dư trên các tài khoản tiền gửi ở ngân hàng phục vụ cho quá trình luân chuyển hàng hóa Việc sử dụng các công cụ này cho phép thực hiện được các giao dịch mà không cần xuất hiện tiền mặt Những lợi thế của việc sử dụng tiền qua ngân hàng thông qua séc là:
- Tiết kiệm chi phí giao dịch vì có nhiều khoản thanh toán có thể bù trừ cho nhau thông qua ngân hàng;
- Tăng cường hiệu quả kinh tế do tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa;
- Séc có thể được viết với bất kỳ lượng tiền nào trong phạm vi số dư tài khoản khiến cho việc thanh toán những món tiền lớn được thực hiện một cách dễ dàng hơn
Tuy vậy việc dùng séc cũng có những hạn chế của nó do cần thời gian để chuyển séc từ nơi này đến nơi khác, hoặc thời gian cần thiết để có thể sử dụng số dư trên tài khoản cho thanh toán séc làm tăng chi phí về thời gian chờ đợi Mặt khác, các chi phí dành cho việc xử lý các chứng từ thanh toán cũng gây nên sự tốn kém đáng kể cho xã hội
d Tiền điện tử
Tiền điện tử là một hệ thống cho phép người sử dụng có thể thanh toán khi mua hàng hoặc sử dụng các dịch vụ nhờ truyền đi các con số từ máy tính này đến máy tính khác
Giống như sêri trên tiền giấy, số sêri của tiền điện tử là duy nhất Mỗi tờ tiền điện tử được phát hành bởi một ngân hàng và được đại diện cho một lượng tiền thật nào đó
Hình thức giao dịch tiền điện tử phổ biến hiện nay là các thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là tấm thẻ do ngân hàng hoặc các công ty tài chính phát hành mà nhờ đó người ta có thể lưu thông những khoản tiền điện tử Thẻ thanh toán có một số dạng sau đây:
- Thẻ rút tiền ATM: Thẻ ATM được dùng để rút tiền hoặc chuyển khoản thông qua máy rút tiền tự động ATM Việc sử dụng thẻ chỉ đơn giản là đẩy thẻ vào máy, nhập mã số, màn hình ATM sẽ chờ lệnh Trong nửa phút, mọi hoạt động chuyển khoản hoặc rút tiền ngay tại máy được hoàn thành
- Thẻ tín dụng: Đó là một tấm thẻ bằng nhựa cứng, hình chữ nhật với kích thước chuẩn là 96 x 54 x 0,76 mm, mặt trước có in các thông tin về tổ chức phát hành thẻ (tên và lôgô), thông tin về người sử dụng thẻ (tên công ty và tên người ủy quyền sử dụng thẻ - nếu là thẻ cho công ty hoặc tên cá nhân, đôi khi cả ảnh – nếu là thẻ cho cá nhân), gồm 2 loại thẻ (thẻ chuẩn và thẻ vàng), số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ…mặt sau
có một dải băng từ trong đó lưu thông tin cần thiết về thẻ và chủ thẻ (số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, mã số định danh pin, mã để kiểm tra giá trị hiệu lực của thẻ) Ngoài ra còn in chữ ký của chủ thẻ ở mặt sau Các tổ chức phát hành thẻ tín dụng đảm bảo rằng
họ sẽ thanh toán tiền mua hàng hóa hay dịch vụ cho người bán thay cho người sử dụng
Trang 10thẻ trong hạn mức tín dụng của thẻ Số tiền đó sẽ được người mua thanh toán lại cho các tổ chức này sau một thời gian nhất định Vì người sử dụng thẻ tín dụng không phải trả tiền ngay lúc mua hàng, nói cách khác là tổ chức phát hành thẻ đã cho họ vay để thanh toán nên thẻ được gọi là thẻ tín dụng Hàng năm người sử dụng thẻ tín dụng sẽ phải trả cho tổ chức phát hành một khoản phí sử dụng, ngoài ra còn phải trả phí thanh toán hộ cho mỗi lần thanh toán thẻ Thẻ tín dụng ngày nay được sử dụng ở các nước phát triển cũng phổ biến như Séc Nó có rất nhiều loại, chỉ riêng ở Mỹ đã có 3000 loại khác nhau lưu hành, phổ biến nhất trên thế giới hiện nay là thẻ Master Card, Visa Card
- Thẻ ghi nợ (Debit Card): Về hình thức thẻ ghi nợ tương tự như thẻ tín dụng Tuy nhiên, khác với thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ không phải công cụ để vay tiền mà để tiêu tiền trong tài khoản Khi thanh toán, người thu tiền sẽ quẹt thẻ qua một máy đọc thẻ, sau đó yêu cầu chủ thẻ ký xác nhận vào hóa đơn bán hàng Sau một số ngày nhất định (thường là hai ngày) tiền sẽ được chuyển từ tài khoản của chủ thẻ sang tài khoản người bán hàng
- Thẻ thông minh (SmartCard): Thẻ thông minh là loại thẻ cao cấp hơn, thực chất thẻ thông minh là dạng thẻ ghi nợ, chỉ khác là trên thẻ còn gắn một bộ phận xử lý (con chíp máy tính) cho phép lưu giữ ngay trên thẻ một lượng tiền kỹ thuật số Tiền này có thể nạp từ tài khoản ở ngân hàng vào thẻ thông minh qua các máy ATM, máy tính cá nhân hoặc các điện thoại có trang bị bộ phận nạp tiền
Các thẻ thông minh cao cấp hơn còn gọi là Super SmartCard còn cho phép ghi lại các giao dịch của người sử dụng thẻ và có màn hình hiển thị, thậm chí cả bàn phím
Các thẻ thông minh còn tiến xa hơn, gần giống với những cái “ví điện tử”, nhờ khả
năng này có thể chuyển tiền trực tiếp từ thẻ thông minh này sang thẻ thông minh khác qua một thiết bị không dây cầm tay Ngoài tính năng dùng làm phương tiện thanh toán,
có thể dùng nó như thẻ gọi điện thoại, thẻ căn cước trong đó lưu trữ các thông tin về người dùng thẻ, thậm chí cả nhóm máu của người đó
1.1.4 Tính chất của tiền tệ
Việc nghiên cứu sự phát triển các hình thái của tiền tệ cho thấy rằng việc một vật nào đó được chấp nhận trong lưu thông với tư cách là tiền tệ không phải vì nó có giá trị mà ngược lại khi được chấp nhận là tiền tệ thì vật đó trở nên có giá trị, đó là khả năng mua của nó Để được chấp nhận là phương tiện trao đổi, một vật nào đó phải thỏa mãn các tính chất sau:
- Tính được chấp nhận: là đặc tính quan trọng nhất của tiền tệ Giờ đây chúng
ta đã biết yếu tố quyết định việc người ta có chấp nhận đồng tiền đó hay không là khả năng đổi ra hàng hóa của nó Dĩ nhiên khi khả năng này không thực hiện được hoặc bị nghi ngờ thì đồng tiền sẽ không được chấp nhận, hình thức trao đổi trực tiếp sẽ xuất hiện
- Tính dễ nhận biết: Để hỗ trợ cho tính chấp nhận thì tiền phải có khả năng dễ
nhận biết Những dấu hiệu và các đặc thù riêng của đồng tiền kim loại và tiền giấy sẽ quyết định khả năng này
- Tính có thể chia nhỏ: Nhằm thực hiện giá trị của các loại hàng hóa với các giá
trị trao đổi khác nhau, thuận tiện trong việc tính toán tiền lẻ trả lại Tính chất này khắc phục được hạn chế của quá trình trao đổi hiện vật
Trang 11- Tính lâu bền: Đảm bảo cho tiền tồn tại được một thời gian thích hợp mà
không bị hư hỏng bởi điều kiện tự nhiên hoặc do quá trình sử dụng, đây chính là nhược điểm của loại tiền bằng hàng hóa thông thường
- Tính dễ vận chuyển: Tiền được sử dụng làm phương tiện trao đổi, có thể ở
những vùng khác nhau, sự cồng kềnh, nặng nề của tiền sẽ cản trở quá trình trao đổi hàng hóa Tính dễ vận chuyển sẽ làm cho quá trình trao đổi trở nên nhanh chóng thuận tiện hơn
- Tính khan hiếm: Để được chấp nhận trong trao đổi, tiền tệ phải có giới hạn về
mặt khối lượng Các loại tiền hàng hóa có giới hạn vì bản thân nó có giá trị và là sản phẩm của lao động, chúng có khả năng cất trữ và tự phát điều tiết khối tiền trong lưu thông và luôn giữ cho nó khan hiếm Tiền giấy có thể khan hiếm bởi Nhà nước thường
sử dụng các chính sách để kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông
- Tính đồng nhất: có nghĩa là bất kỳ đồng tiền nào trong một chế độ tiền tệ đều
phải có thiết kế, kích thước và sức mua như nhau nếu cùng mệnh giá
1.2 Các chức năng của tiền tệ
1.2.1 Đơn vị đo lường giá trị
Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị của hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi Người ta đo giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như người ta đo trọng lượng của một vật bằng kg, đo chiều dài một vật bằng mét Biểu hiện bằng tiền của giá
trị hàng hóa chính là giá cả của hàng hóa đó
Đây là chức năng quan trọng của tiền tệ Khi nền kinh tế có tiền tệ làm môi giới, thì người ta định giá bằng đơn vị tiền tệ cho tất cả các loại hàng hóa đem trao đổi trên thị trường Trên thị trường có bao nhiêu hàng hóa đưa ra trao đổi thì có bấy nhiêu giá cả
Để thấy được vì sao chức năng này quan trọng, chúng ta hãy so sánh quá trình trao đổi hiện vật với trao đổi hàng hóa có tiền làm môi giới trung gian
Các nhà Kinh tế học người Mỹ đã tính toán rằng nếu không có chức năng này của tiền tệ, thì với 3 mặt hàng đưa ra trao đổi chúng ta chỉ cần biết 3 giá, với 10 mặt hàng chúng ta phải tính toán 45 giá để trao đổi, với 100 mặt hàng chúng ta cần biết 4.950 giá, với 1000 mặt hàng thì cần 499.500 giá….(công thức tổng quát tính số cặp khi có N phân tử là N(N-1)/2)
Trang 12thì có 3 giá, có 10 hàng hóa thì có 10 giá, có 1000 hàng hóa trao đổi thì có 1000 giá Vậy là, việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá sẽ thuận lợi rất nhiều cho quá trình trao đổi hàng hóa, giảm được chi phí trong trao đổi do giảm được số giá cần xem xét
Bảng 1-1 Số lượng giá trong một nền kinh tế hiện vật ứng với số lượng giá trong nền kinh tế tiền tệ
1.2.2 Phương tiện trao đổi
Trong nền kinh tế, tiền tệ làm phương tiện trao đổi khi nó được dùng để mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc thanh toán các khoản nợ cả trong và ngoài nước Việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi đã nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, bởi nó đã tiết kiệm được các chi phí quá lớn trong quá trình trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng, các chi phí giao dịch thường rất cao Bởi vì, người mua - người bán phải tìm được đối tượng trùng hợp với mình về nhu cầu trao đổi, thời gian trao đổi, không gian trao đổi và giá trị trao đổi Quá trình trao đổi chỉ được diễn ra khi có đầy đủ những sự trùng hợp đó Tiền tệ làm môi giới trung gian trong trao đổi đã hoàn toàn khắc phục được các hạn chế đó của quá trình trao đổi trực tiếp Người có hàng bán lấy tiền, sau
đó sẽ mua được hàng mà họ cần Bởi vậy, người ta coi tiền như một thứ dầu mỡ bôi trơn, cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, khuyến khích chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội ngày một sâu rộng hơn
` Ví dụ: Một người nông dân muốn bán ngũ cốc và cần dụng cụ lao động, một người thợ thủ công muốn đổi dụng cụ để lấy thịt Giữa hai người này sẽ không bao giờ
có một cuộc trao đổi vì ý định bán của người nông dân không phù hợp với ý định mua của người thợ thủ công Cả hai người có thể phải tìm kiếm rất lâu cho đến khi gặp được một người có ý định giao dịch phù hợp Khi có tiền làm phương tiện trao đổi, quá trình này được đơn giản hoá đi rất nhiều: Người nông dân thứ nhất có thể bán ngũ cốc cho một người thứ ba và dùng tiền thu được để mua dụng cụ của người thợ thủ công Người thợ thủ công có thể dùng tiền thu được mua thịt của một người thứ tư
Việc dùng tiền làm một phương tiện trao đổi giúp đẩy mạnh hiệu quả của nền kinh tế, qua việc loại bỏ được nhiều thời gian dành cho việc đổi chác hàng hoá hay dịch vụ qua nhiều lần trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng
1.2.3 Phương tiện dự trữ giá trị
Tiền tệ làm phương tiện dự trữ giá trị nghĩa là nó chứa giá trị, chứa sức mua hàng hóa trong một thời gian nhất định Theo đó người ta có thể tách thời gian từ lúc
có thu nhập đến lúc tiêu dùng nó Chức năng này là quan trọng vì mọi người đều không muốn chi tiêu hết thu nhập của mình ngay khi nhận nó, mà dự trữ để sử dụng nó trong tương lai
Tất nhiên tiền không phải là nơi duy nhất chứa đựng giá trị, mà các tài sản khác cũng là nơi chứa giá trị như: cổ phiếu, bất động sản….Nhiều trong số những tài sản
Trang 13này có lợi hơn so với tiền xét về mặt chứa giá trị, trong tương lai chúng thường đem lại cho người chủ sở hữu lãi suất cao hơn so với lãi suất mà tiền đem lại Nhưng tiền là tài
sản có “tính lỏng” cao nhất bởi nó là phương tiện trao đổi, không cần phải chuyển đổi
thành bất cứ cái gì khác khi mua hàng hóa hay chi trả tiền dịch vụ, thanh toán các khoản nợ Những tài sản khác đòi hỏi chi phí giao dịch khi cần chuyển sang tiền
Ví dụ như khi ta bán nhà, thường phải trả cho người môi giới một khoản phí môi giới và nếu lại cần tiền mặt ngay để trả cho một nhu cầu khẩn cấp có thể buộc phải bán với giá thấp hơn để bán nhanh ngôi nhà Nhưng nếu ta giữ tiền mặt thì ta sẽ không mất phí môi giới và cũng không phải bán ngôi nhà với giá thấp hơn
Vị thế của tiền cũng là một phạm trù lịch sử, có thể thay đổi theo sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong các giai đoạn khác nhau của xã hội loài người
1.3 Vai trò của tiền tệ
- Tiền tệ là phương tiện để mở rộng và phát triển kinh tế hàng hóa
Nhờ có tiền tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông làm cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa vừa đơn giản, thuận lợi vừa thống nhất và làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông được tiến hành một cách trôi chảy, cũng nhờ có tiền mà người sản xuất kinh doanh mới hạch toán được chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện tích lũy tiền tệ để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
- Tiền tệ là công cụ quản lý vĩ mô
Vai trò này thể hiện trong các mặt sau:
+ Trong quá trình Nhà nước hoạch định chính sách và đề ra các giải pháp kinh
tế, đều phải tính đến khả năng cung ứng của các nguồn tiền tệ cho các chính sách đó
Để việc hoạch định các chính sách thành công, đồng thời trong các trường hợp mất cân đối giữa tiền và hàng trong lưu thông tiền tệ thì Nhà nước phải tính đến khả năng bồi đắp khi bội chi và điều chỉnh khi bị lạm phát và mất giá
+ Tiền tệ còn đóng vai trò hướng dẫn các hoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế hoặc xóa bỏ các hoạt động kinh tế không phù hợp với pháp luật
+ Tiền tệ góp phần điều chỉnh các quan hệ kinh tế, để các quan hệ kinh tế đó thích hợp với những biến động hoặc những thay đổi của môi trường pháp lý, phù hợp với thực tiễn phát triển của quốc gia
- Tiền tệ là công cụ phục vụ cho mục đích của người sở hữu chúng
Tiền tệ không chỉ đơn thuần là một vật mà nó còn biểu hiện quan hệ xã hội Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao độ thì hầu như mọi quan hệ kinh tế - xã hội đều bị tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát
ly khỏi các quan hệ tiền tệ Trong điều kiện đó, tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng để xử lý và giải tỏa mọi ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội, không những trong phạm vi quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn hầu hết mục đích và quyền lợi đối với những người đang nắm giữ tiền tệ Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền còn phát huy sức mạnh của nó Vấn đề ở chỗ là con người sử dụng “thế lực” của đồng tiền như thế nào và phục vụ quyền lợi cho ai mà thôi
Trang 141.4 Giấy bạc ngân hàng Việt Nam
1.4.1 Lịch sử lưu thông tiền tệ ở Việt Nam
a Thời kỳ phong kiến (Từ tháng 9/1858 về trước)
Ở Việt Nam trong thời kỳ bị phong kiến phương Bắc đô hộ đã lưu hành tiền đúc bằng đồng Đến thế kỷ thứ 6, khi Lý Nam Đế lên ngôi, nhà vua đã cho đúc tiền đồng của triều Lý lấy tên là Thiên Đức Thông Bảo Đây là tiền đúc đầu tiên ở Việt Nam Sau đó mỗi khi có một triều đại khác thay thế đều có xuất hiện các loại tiền đúc riêng Đến đời nhà Hồ (1400 – 1407) sau khi lên ngôi Hồ Quý Ly đã cho phát hành tiền giấy cưỡng bức lưu hành để đổi lấy tiền đúc bằng đồng Chính sách này của Hồ Quý Ly nhằm trang trải các chi phí của triều đình, hơn thế nữa nhằm mục đích thu thập kim loại làm vũ khí cho chiến tranh Khi nhà Hồ bị sụp đổ thì tiền giấy cũng không còn
b Thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến (tháng 10/1858 đến tháng 8/1945)
Từ giữa thế kỷ 18 khi Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều loại tiền khác nhau Ngoài tiền đúc bằng đồng kẽm của các triều đại phong kiến đương thời, còn có đồng bạc Mehico Năm 1862 đồng bạc Mehico được chỉ huy quân đội Pháp cho lưu hành chính thức ở Việt Nam, song song với đồng tiền phơrăng Pháp Lúc bấy giờ một đồng bạc Mehico nặng 27 gram ăn 5 quan tiền đồng Việt Nam và bằng 5,35 FRF Năm 1875 ngân hàng Đông Dương thành lập và phát hành tiền Đông Dương Đồng Đông Dương lúc bấy giờ là đồng tiền đúc bằng bạc và tiền giấy ngân hàng Tuy đồng Đông Dương phát hành vào năm 1875 những mãi đến năm 1905 nó mới giữ vị trí chủ yếu trong hệ thống lưu thông tiền tệ Ngày 31/05/1930 tổng thống Pháp ký sắc lệnh chuyển đồng Đông Dương từ chế độ bản vị bạc sang chế độ bản vị vàng và quy định tỷ giá đồng Đông Dương với FRF như sau:
- Tháng 1/1946 phát hành tiền tài chính từ Nam Trung Bộ trở vào
- Tháng 10/1946 phát hành tiền tài chính từ Bắc Trung Bộ trở ra
- Tháng 11/1946 quốc hội khóa I giao cho Bộ Tài Chính phát hành tiền giấy trong phạm vi cả nước
- Tháng 5/1951 thành lập ngân hàng quốc gia Việt Nam (tiền thân của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay) và tiền ngân hàng được chính thức phát hành ở Việt Nam, để thu hồi tiền tài chính với tỷ lệ thu đổi 1đồng ngân hàng = 10 tài chính Đây được coi là cuộc cải cách tiền tệ lần thứ nhất ở Việt Nam Cuộc cải cách đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống tiền tệ Việt Nam, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
- Tháng 2/1959, cải cách tiền tệ lần thứ 2 với nội dung phát hành tiền mới thu đổi tiền cũ với tỷ lệ 1 đồng ngân hàng mới bằng 1.000 đồng ngân hàng cũ
Trang 15Sau hiệp định Gionevo, ở miền Nam còn tồn tại một Chính Phủ Ở đó ngân hàng quốc gia (ngụy) cũng phát hành tiền ngân hàng và lưu thông trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam Đồng tiền Ngụy chính thức bị loại bỏ sau tháng 9/1975
d Thời kỳ thống nhất đất nước
Trải qua nhiều cuộc cải cách tiền tệ vào tháng 9/1975, tháng 5/1978, tháng 9/1985…phát hành tiền mới thu hồi tiền cũ nhằm ổn định hệ thống tiền tệ Việt Nam nhưng do đất nước có chiến tranh, nền kinh tế nghèo nàn và lạc hậu… nên lạm phát
đã xảy ra rất nghiêm trọng
- Tháng 9/1975 phát hành tiền Giải phóng, thu hồi tiền Ngụy với tỷ lệ 1 đồng Giải phóng = 500 đồng tiền Ngụy
- Tháng 5/1978 phát hành tiền ngân hàng để lưu hành thống nhất trong cả nước
Ở miền Bắc tỷ lệ thu đổi là 1/1, ở miền Nam tỷ lệ thu đổi quy định 1 đồng mới = 0,8 đồng Giải phóng
- Tháng 5/1985 phát hành tiền mới thu đổi tiền cũ với nhiều tỷ lệ khác nhau: Tiền mặt đổi theo tỷ lệ 10 đồng cũ đổi 1 đồng mới
Tiền gửi được đổi theo tỷ lệ 1/1
Tiền gửi tiết kiệm có nhiều tỷ lệ 2/1, 3/1, 6/1 và 9/1
Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp quan trọng để kiềm chế và kiểm soát lạm phát, cho đến nay sau nhiều biện pháp – tác động đồng bộ, ở Việt Nam đã hình thành một hệ thống tổ chức lưu thông tiền tệ bước đầu tương đối ổn định
1.4.2 Giấy bạc ngân hàng Việt Nam
Giấy bạc ngân hàng Việt Nam là tiền dấu hiệu, do ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam độc quyền phát hành vào lưu thông
Tiền của Việt Nam gọi là “đồng” Ký hiệu quốc gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là
“VND” Tiền đơn vị của Việt Nam là đồng
Giá trị của mọi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế Việt Nam đều được
đo lường bằng “đồng” và giá cả của nó được biểu hiện bằng số lượng “đồng”
“Tiền ước số” là “hào” và “xu”
1 đ = 10 hào và 1 hào = 10 xu
“Tiền bội số”, có nhiều loại mệnh giá:
+ 50 đ, 100 đ, 200 đ và 500 đ
+ 1.000 đ, 2.000 đ và 5.000 đ
+ 10.000 đ, 20.000 đ và 50.000 đ + 100.000 đ, 200.000đ và 500.000 đ
Cùng lưu thông với giấy bạc ngân hàng, hiện nay các loại tiền mệnh giá 1.000
đ, 2.000 đ và 5.000 đ được phát hành bằng tiền kim loại
Các loại mệnh giá của tiền Việt Nam nêu trên là phù hợp với hệ thống tiền tệ hiện hành Tuy nhiên do giá cả hàng hoá - dịch vụ tăng, cho nên một số loại tiền có
Trang 16mệnh giá thấp, như: hào, xu, 1 đồng, 50 đồng, không còn lưu thông bằng tiền mặt mà chỉ là đơn vị tính
Theo luật pháp CHXHCN Việt Nam, giấy bạc NHVN, có quyền lực lưu thông trên toàn lãnh thổ Việt Nam và được thanh toán không hạn chế với mọi khoản trao đổi hàng hoá dịch vụ Mọi hành vi giả mạo, phá hoại giấy bạc NHVN là vi phạm luật pháp
và sẽ bị xử lý theo pháp luật hiện hành
Trên thị trường Việt Nam, giấy bạc NH Việt Nam là phương tiện thanh toán và
chi trả có “tính lỏng” cao nhất Để cung ứng đầy đủ khối lượng giấy bạc ngân hàng
cho lưu thông, NHNN Việt Nam căn cứ vào tổng mức chu chuyển hàng hoá - dịch vụ
và các nhu cầu khác về tiền, tốc độ lưu thông tiền, tâm lý sử dụng tiền mặt trong dân cư… để lập kế hoạch cung ứng Đồng thời sử dụng công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc và các công cụ khác để điều hoà khối lượng tiền trong lưu thông
Ở Việt Nam hiện nay, tiền mặt được sử dụng phổ biến trong hầu hết các giao dịch của dân cư và một số của doanh nghiệp Vì vậy đã làm cho tỷ trọng giấy bạc NH trong tổng các phương tiện thanh toán là rất lớn Tình trạng này không những làm cho chi phí lưu thông tăng lên, mà còn làm cho các giao dịch kinh tế trở nên không an toàn, khó kiểm soát
Ngoài tiền giấy ở Việt Nam còn được phép sử dụng các phương tiện thanh toán khác như: thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc, thương phiếu…
1.5 Cung và cầu tiền tệ
1.5.1 Cầu tiền tệ
1.5.1.1 Khái niệm mức cầu tiền tệ
Mức cầu tiền tệ là số lượng tiền tệ mà nền kinh tế (cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội…) cần để thoả mãn các nhu cầu chi dùng của mình
Nói các khác, mức cầu tiền tệ là tổng khối lượng tiền tệ cần để đáp ứng nhu cầu trao đổi và nhu cầu tích luỹ giá trị của các chủ thể trong nền kinh tế, trong điều kiện giá cả và các biến số vĩ mô cho trước
1.5.1.2 Các mức cầu tiền tệ
a Mức cầu tiền cho giao dịch
Hoạt động giao dịch của các tác nhân và thể nhân (gọi chung là tác nhân) diễn
ra thường xuyên Mọi giao dịch đều cần phải sử dụng tiền, như: trả công lao động (trả lương), mua nguyên vật liệu, thanh toán nợ, mua vật phẩm tiêu dùng… Các khoản chi này hợp thành tổng cầu tiền cho giao dịch Tiền cần thiết cho giao dịch được các tác nhân giữ lại nhiều hay ít chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
- Giá trị giao dịch
Số lượng, số lần và giá trị giao dịch quyết định đến mức cầu tiền, tức là lượng tiền cần giữ lại của các tác nhân Nếu giá hàng hoá trong kỳ tăng lên hay giảm xuống, thì nhu cầu tiền cho giao dịch cũng thay đổi tương ứng
- Sự không đồng bộ về thời gian giữa thu chi
Nếu thu nhập và chi tiêu của các tác nhân phát sinh đều đặn, thì nhu cầu tiền giữ lại cho giao dịch là ít nhất Nếu có cách quãng về thời gian giữa thu và chi, thì số
Trang 17tiền phải giữ lại nhiều hơn để đảm bảo các khoản chi thường xuyên Sự “lệch pha” về
thời gian thu chi càng lớn thì nhu cầu tiền được giữ lại càng nhiều và ngược lại
- Lãi suất tiền gửi
Lãi suất tiền gửi tác động trực tiếp đến tổng cầu tiền Giữ lại tiền chờ cơ hội mua hoặc thanh toán là mất đi một khoản thu nhập tính theo lãi suất tiền gửi hoặc đầu
tư và thời gian Lãi suất thay đổi sẽ tác động đến tư duy kinh tế của các tác nhân gửi tiền Những tác nhân này sẽ so sánh giữa lợi ích của việc giữ tiền và lợi tức mất đi Họ
sẽ hành động theo hướng lợi ích vượt trội Nhìn chung lợi tức giảm đi thì nhu cầu giữ tiền sẽ tăng và ngược lai
- Tập quán dân tộc và địa phương
Tập quán dân tộc và địa phương được phản ánh khá nét trong nhu cầu tiền Những nơi kinh tế thuận lợi, kiếm tiền không khó khăn, thì tiền được giữ lại nhiều hơn Những điều kiện ấy đã hình thành tập quán thanh toán của vùng, miền và dân tộc Tập quán này sẽ thay đổi theo đời sống kinh tế, nhưng rất chậm chạp
b Mức cầu tiền cho tích luỹ
Ngoài các khoản chi thường xuyên cho giao dịch, các tác nhân còn phải tích luỹ một khoản tiền nhất định cho các nhu cầu đã dự định trước, như: mua sắm tài sản, đầu
tư, chuẩn bị cho kỳ du lịch sắp đến… Giá trị các khoản này chưa đến “độ sử dụng”,
chúng ở trong quỹ các tác nhân dưới dạng tiền nhàn rỗi
Khi lãi suất tiền gửi thấp, thì số tiền dành cho nhu cầu tích luỹ với các mục đích trên sẽ cao Nhu cầu tích luỹ phụ thuộc vào mức thu nhập và mục đích của các tác nhân Thời gian sử dụng tiền càng cấp bách thì đòi hỏi tác nhân tích luỹ càng nhanh Giá trị khoản chi càng lớn thì phải tích luỹ càng nhiều
c Mức cầu tiền cho dự phòng
Khác với nhu cầu tiền giao dịch và tích luỹ khi các khoản chi tiêu đều đã được
dự tính trước, nhu cầu tiền dự phòng là nhằm đáp ứng các khoản chi tiêu không dự tính trước được khi có các nhu cầu đột xuất như ốm đau, bệnh tật, hỏng xe, tai nạn hoặc giá cả tăng bất ngờ…
Để đáp ứng các nhu cầu đột xuất một hộ gia đình hoặc cá nhân nào đó có thể sử dụng một số cách:
- Nắm giữ tiền nhiều hơn dự định chi tiêu và do đó hình thành nên nhu cầu tiền
dự phòng
- Cắt giảm chi tiêu thường xuyên khi nhu cầu đột xuất phát sinh
- Có thể bán các tài sản sẵn có hoặc là đi vay…
Mỗi phương pháp có lợi thế cũng như cái giá phải trả của nó Việc so sánh lợi thế và cái giá phải trả cho các phương pháp này có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu tiền dự phòng
Trang 18trữ Nhu cầu cất trữ của các thể nhân trong nền kinh tế thị trường tuy không lớn nhưng
là hiện thực Cất trữ đã làm giảm khối lượng các phương tiện lưu thông
1.5.2 Cung tiền tệ
1.5.2.1 Khái niệm
Cung tiền tệ là khối lượng tiền tệ được cung cấp cho nền kinh tế, đảm bảo các nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hoá cũng như các nhu cầu chi tiêu trao đổi khác của nền kinh tế - xã hội
1.5.2.2 Các tác nhân tham gia vào quá trình cung ứng tiền
Khối lượng tiền trong lưu thông được cung ứng từ các tác nhân sau:
a Ngân hàng trung ương
Ngân hàng Trung ương giữ độc quyền phát hành và lưu thông giấy bạc ngân hàng, ngân phiếu thanh toán và các phương tiện lưu thông – thanh toán khác, thông qua các nghiệp vụ sau:
a1/ Tái chiết khấu các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi, các chứng từ có giá… của các ngân hàng thương mại và của các tổ chức tín dụng
Tại nghiệp vụ này của Ngân hàng trung ương “mua” các phương tiện như trên
chưa đến hạn thanh toán Như vậy, một khối lượng tiền cung ứng đã được đưa vào lưu thông, thông qua nghiệp vụ này Lãi suất tái chiết khấu quyết định số lượng tiền trả cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng trong mỗi nghiệp vụ tái chiết khấu Trong cả một thời kỳ, lãi suất chiết khấu là yếu tố quyết định khối lượng tiền đưa vào lưu thông Vì vậy lãi suất tái chiết khấu được gọi là lãi suất cơ bản, để từ đó
ấn định các lãi suất khác trong hệ thống ngân hàng Lãi suất tái chiết khấu là một yếu
tố quan trọng trong chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
Quy mô và khối lượng của các nghiệp vụ tái chiết khấu được thực hiện trên cơ
sở các nghiệp vụ chiết khấu Quy trình này diễn ra theo sơ đồ sau:
Hình 1-1 Các nghiệp vụ chiết khấu trong hệ thống ngân hàng
Tại nghiệp vụ (I) - Nghiệp vụ chiết khấu, tiền mà các doanh nghiệp (DN) nhận được từ các ngân hàng thương mại (NHTM) qua nghiệp vụ (2) là một bộ phận tiền trong lưu thông
Tại nghiệp vụ (II) - Nghiệp vụ tái chiết khấu, tiền mà các NHTM nhận được từ NHTW, là tiền mới đưa vào lưu thông Số lượng tiền này góp phần làm tăng thêm khối
NghiÖp vô chiÕt khÊu (I)
(3)
(1)
(4)
(2)
Trang 19lượng tiền trong lưu thông Vì vậy nghiệp vụ (II) được coi là “cửa sổ” cung ứng tiền
Cửa sổ rộng hay hẹp, tức là lãi suất chiết khấu thấp hay cao, sẽ làm cho tiền cung ứng vào lưu thông nhiều hay ít tương ứng
a2/ Tái cầm cố các phương tiện nêu trên
Các phương tiện mà các NHTM và các tổ chức tín dụng mang đến NHTW cầm
cố là các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi, các chứng từ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, trái khoán, công trái, tín phiếu…) chưa đến hạn thanh toán Khác với nghiệp vụ trên - NHTM bán cho NHTW các phương tiện đã nêu, thì ở nghiệp vụ này, các NHTM
sử dụng các phương tiện làm vật đảm bảo để vay NHTW NHTW căn cứ vào tổng giá trị các phương tiện đưa đến cầm cố để phát tiền vay cho các NHTM Tỷ lệ cho vay là bao nhiêu trên tổng giá trị phương tiện cầm cố là do NHTW quyết định tại từng thời điểm Tỷ lệ cho vay này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng tiền đưa vào lưu thông
Nó làm tăng thêm số lượng tiền trong lưu thông
a3/ NHTW ứng tiền cho Ngân sách nhà nước
Nhu cầu chi của NSNN là thường xuyên, nếu thu chưa có hoặc chưa đủ thì NHTW sẽ ứng trước khoản thu này cho NSNN, khi nào NSNN có thu sẽ trả lại NHTW Tại thời điểm ứng trước, khối lượng tiền trong lưu thông đã tăng lên
Trong trường hợp NSNN bội chi, NHTW có thể phải phát hành tiền để bù đắp Nghiệp vụ này sẽ làm tăng thêm số lượng tiền trong lưu thông
Các nghiệp vụ của NHTW được thực hiện thường xuyên, do đó khối lượng tiền trong lưu thông cũng thay đổi thường xuyên
Khi thực hiện các nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cầm cố thương phiếu, các chứng
từ có giá… và ứng tiền cho NSNN, NHTW đã thực hiện “nghiệp vụ chi” Khi đến
hạn thanh toán của thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi… và NSNN có kết dư, NHTW sẽ
thực hiện “nghiệp vụ thu” Nghiệp vụ chi, làm tăng thêm khối lượng tiền trong lưu
thông, còn nghiệp vụ thu thì ngược lại Tổng khối lượng tiền trong lưu thông luôn luôn theo chiều hướng gia tăng
b Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cung tiền
Những tác nhân này về nguyên tắc không có quyền cung ứng tiền vào lưu thông Nhưng trong thực tiễn, chúng lại góp phần tích cực làm gia tăng khối lượng tiền hiện có Những nghiệp vụ làm tăng khối lượng tiền lưu thông của các NHTM và các tổ chức tín dụng là:
b1/ Tổng nghiệp vụ “Có” lớn hơn tổng nghiệp vụ “Nợ” Nghĩa là sử dụng vốn
nhiều hơn số vốn hiện có
Nguồn vốn của các NHTM là một lượng có hạn Nhưng trong thực tiễn, khi thực hiện nghiệp vụ, chúng lại sử dụng số vốn lớn hơn nguồn thực có như:
- Cho khách hàng vay quá nguồn vốn huy động được Các NHTM cho khách hàng vay bằng hình thức chiết khấu, cầm cố các thương phiếu các chứng từ có giá khác, hoặc bằng tín chấp… Tổng hợp lại, tại một thời điểm nào đó, tổng giá trị các khoản cho vay này, có thể vượt quá nguồn vốn hiện có của NHTM Nếu xảy ra hiện
tượng này nghĩa là các NHTM đã “góp phần” làm tăng khối lượng tiền trong lưu
thông
Trang 20- Cho khách hàng chi vượt quá số dư tiền gửi Mỗi khách hàng có thể mở một
số tài khoản tại NHTM để thực hiện giao dịch Nếu được NHTM tín nhiệm, thì một số
nghiệp vụ thanh toán của khách hàng này, có thể được xử lý “trái quy định”, như:
+ Xử lý chứng từ thanh toán đòi tiền khách hàng, bằng cách ghi “Có” trước, ghi “Nợ” sau Thực chất là NHTM đã ứng tiền cho khách hàng để trả cho người bán
Đây cũng là một loại cho vay không đảm bảo của NHTM
+ Cho khách hàng phát hành séc quá số dư tiền gửi trên tài khoản của họ
Những nghiệp vụ như trên được coi là nghiệp vụ tạo tiền của các NHTM Tuỳ theo quy chế quản lý tài chính của mỗi quốc gia và chính sách tiền tệ của NHTW, nghiệp vụ trên có thể bị ngăn cấm hoặc giới hạn phạm vi Nhưng trên thực tế nghiệp
vụ này vẫn được thực hiện và một số lượng tiền mới lại được tăng thêm trong lưu thông Các nghiệp vụ trên tuy được thực hiện bằng hình thức ghi sổ và tiền tồn tại dưới
dạng “bút tệ”, nhưng chúng vẫn phát huy chức năng thực sự của tiền Đồng thời sau
đó chúng có thể chuyển hoá thành những phương tiện chuyển tải giá trị khác nhau
b2/ Các loại kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện có giá trị thanh toán khác, được NHTM phát hành theo quy chế quản lý tài chính
Những phương tiện này có thể thay tiền thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Chúng đã góp phần làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông
c Các tác nhân và các tổ chức phi ngân hàng cung tiền
Các tác nhân này rất đa dạng Mỗi tác nhân có thể phát hành vào lưu thông những phương tiện lưu thông và thanh toán đặc thù, được quy chế tài chính cho phép
- Chính phủ: Phát hành công trái, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị (cấp tính hoặc cấp bang) trái phiếu công trình, trái phiếu kho bạc…
- Các tác nhân mở tài khoản trong hệ thông NHTM, như: Các doanh nghiệp, các tổ chức không kinh doanh, các thể nhân… Các tác nhân này, tuỳ theo mục đích hoạt động, quy chế tài chính có thể cho phép họ phát hành: Cổ phiếu, trái khoán, séc các loại…
Các phương tiện nêu trên làm cho thành phần của tiền trong lưu hông thêm
phong phú Tuy nhiên “tính lỏng” của chúng kém hơn các thành phần khác của tiền
Vì vậy những tác nhân và thể nhân sở hữu chúng luôn luôn tìm cách chuyển hoá
chúng về những phương tiện có “tính lỏng” cao hơn, để từ đó tiếp tục chuyển hoá
thành những phương tiện khác phù hợp Sự chuyển hoá này là thường xuyên Nhưng tại thời điểm chuyển hoá, nó chỉ làm thay đổi các thành phần của tiền, chứ không làm thay đổi tổng khối lượng tiền
Nghiệp vụ cung ứng tiền cho lưu thông rất đa dạng Có nhều tác nhân tham gia vào quá trình này, trong đó NHTW giữ vai trò quan trọng nhất vì:
- NHTW quyết định khối lượng tiền đưa vào lưu thông và khối lượng giấy bạc ngân hàng trong lưu thông qua lãi suất tái chiết khấu
- NHTW quyết định quy mô đầu tư tín dụng của các NHTM bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghĩa là ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng tiền đang lưu thông
- NHTW quyết định việc điều chuyển vốn trong hệ thống NH và do đó tác động đến điều hoà tiền trong nền kinh tế
Trang 211.5.3 Cân đối cung cầu tiền tệ
1.5.3.1 Quan điểm của C.Mác
Ông cho rằng số lượng tiền cần thiết cho lưu thông nhiều hay ít là do số lượng hàng hóa đang lưu thông nhiều hay ít, mức giá cả hàng hóa cao hay thấp và tốc độ lưu thông tiền tệ nhanh hay chậm Hai nhân tố số lượng hàng hóa và mức giá cả gộp lại thành khái niệm tổng giá cả hàng hóa Nhân tố này có quan hệ tỷ lệ thuận với số lượng tiền cần thiết
Trên thực tế số lượng tiền trong lưu thông ít hơn nhiều so với tổng số giá cả hàng hóa bán ra, bởi lẽ mỗi đơn vị tiền tệ trong một thời gian nhất định được luân chuyển nhiều lần từ tay người này sang tay người khác để phục vụ cho lưu thông hàng hóa Như vậy, số vòng lưu thông của một số lượng tiền tệ nhất định trong một thời gian nhất định gọi là tốc độ lưu thông tiền tệ, nhân tố này có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng tiền cần thiết
C.Mác đưa ra một quy luật về số lượng tiền cần thiết trong lưu thông như sau:
Số lượng các phương tiện lưu thông là do tổng số giá trị của hàng hóa lưu thông và do tốc độ trung bình của lưu thông tiền tệ quyết định:
Kc =
Trong đó: Kc : là khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: là tổng giá trị hàng hóa V: là tốc độ lưu thông tiền tệ Nếu gọi KT là lượng tiền thực có trong lưu thông, là lượng tiền mà ta chủ động cung ứng vào lưu thông, thì yêu cầu của quy luật là phải đảm bảo quan hệ cân đối giữa
Kc và KT; những trường hợp vi phạm yêu cầu của quy luật sẽ xảy ra như sau:
KT > Kc dẫn tới thừa tiền
KT < KC dẫn tới thiếu tiền
Cả hai trường hợp đều có ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế - xã hội Vì vậy để đảm bảo tôn trọng quy luật lưu thông tiền tệ, theo quan điểm của C.Mác đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt nhu cầu về tiền trong lưu thông, qua đó đưa tiền vào lưu thông cho phù hợp, như vậy nhu cầu về tiền tệ thực sự đóng vai trò chủ động và nguồn cung tiền tệ thường có tính chất thụ động, nó sẽ tăng, giảm và được chúng ta điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu về tiền tệ
1.5.3.2 Quan điểm của P.A.Samuelson
Mức cầu tiền phụ thuộc vào hai nhân tố:
- Mức cầu giao dịch về phía các doanh nghiệp, từ dân cư cần tiền làm phương tiện giao dịch, mức cầu giao dịch sẽ chịu tác động lớn từ lãi suất, nếu trong điều kiện các tác động khác của điều kiện kinh tế không đổi thì khi lãi suất tăng sẽ làm giảm mức cầu tiền tệ, lãi suất trở thành một công cụ hấp dẫn để giảm lượng tiền trong tay dân cư hoặc trong quỹ của doanh nghiệp
H
V
Trang 22- Ngoài việc giữ tiền để đảm bảo nhu cầu giao dịch người ta còn giữ tiền để tích luỹ nhằm dự phòng cho tương lai Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển ngày nay với khoản tiền tích luỹ được, người ta còn tìm các biện pháp để sinh lợi thông qua đầu tư, vừa phân tán được rủi ro, vừa phát huy được đồng vốn
Trên cơ sở mức cầu về tiền tệ trong từng thời kỳ, Nhà nước sẽ chủ động cung ứng tiền vào lưu thông và vận dụng những công cụ điều tiết vĩ mô để cân đối cung cầu, như: lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay thực hiện nghiệp vụ thị trường mở…
1.5.3.3 Cân đối cung cầu tiền tệ ở Việt Nam hiện nay
Theo các văn bản pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về “Chế độ tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ trong hệ thống ngân hàng” đã nêu rõ nguồn cung ứng tiền tăng thêm mỗi năm sẽ được dựa trên các căn cứ sau:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm: Nghĩa là ở đây chúng ta vẫn thừa nhận mối liên hệ trực tiếp giữa nhu cầu về tiền tệ với khối lượng hàng hoá - dịch vụ trong lưu thông và với mục đích đảm bảo cân đối tiền – hàng, ngân hàng Trung ương sẽ chủ động đưa tiền vào lưu thông phù hợp với nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá
- Chỉ số trượt giá của hàng hoá: Nhân tố này phản ánh tình hình lạm phát làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của đồng tiền
- Mức thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế: Nhân tố này phản ánh khoản bội chi trong quan hệ đối ngoại sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu về ngoại hối trong năm
Việc cung tiền vào trong lưu thông hàng năm sẽ được phát ra theo hai kênh chủ yếu:
- Kênh tín dụng: Ngân hàng Trung ương sẽ đáp ứng nhu cầu tín dụng, nhằm khai thông năng lực thanh toán cho các ngân hàng thương mại qua con đường tái chiết khấu
- Kênh ngân sách: Ngân hàng Trung ương sẽ cho Ngân sách Nhà nước vay Ngoài ra, ngân hàng Trung ương còn có thể phát hành tiền để mua vàng, ngoại
tệ nhằm tăng quỹ dự trữ ngoại hối
Hiện nay, trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ, ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng bước vận dụng linh hoạt các công cụ như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tín dụng…nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ Việc làm này đã đóng góp tích cực trong quá trình kìm giữ và đẩy lùi lạm phát ở nước ta trong thời gian vừa qua
là vật không có giá trị nội tại mà chỉ có giá trị danh nghĩa do Nhà nước quy định vì vậy
nó không thể tự phát điều hoà giữa chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ Do đó, tiền giấy bị mất giá trở thành một hiện tượng phổ biến và thường xuyên
Trang 23- từ đó có thể nói rằng: lạm phát là hiện tượng phổ biến, xảy ra thường xuyên trong các quốc gia thực hiện hệ thống tiền giấy hiện nay
Vậy lạm phát là gì? Cho đến nay, có nhiều quan điểm nhìn nhận và định nghĩa lạm phát rất khác nhau:
Có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng lên liên tục của giá cả, nói cách khác
đó là tình trạng mức giá cả tăng và tăng liên tục Theo quan điểm này thì không kể giá
cả tăng lên do nguyên nhân nào đều là lạm phát
Quan điểm khác cho rằng lạm phát là việc phát hành thừa tiền giấy vượt quá mức bảo đảm bằng vàng, bạc, ngoại tệ… của Quốc gia, vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hoá bị đẩy lên cao Quan điểm này quá coi trọng cơ sở đảm bảo bằng vàng, ngoại tệ cho tiền trong nước và người ta cho rằng để chống lạm phát cần phục hồi lại chế độ tiền giấy chuyển đổi ra vàng theo một mức giá quy định
Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiền và hàng trong nền kinh tế, sự mất cân đối tiền lớn hơn hàng khiến cho giá cả tăng lên ở mọi lúc mọi nơi Để khắc phục tình trạng này, cần dùng mọi biện pháp để thiết lập lại
sự cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế
Việc nhìn nhận lạm phát bằng định nghĩa này hay định nghĩa khác khó đi đến thống nhất theo từng quan điểm riêng biệt Tuy nhiên dù sao lạm phát vẫn thể hiện qua những đặc trưng cơ bản:
- Sự thừa tiền do cung tiền tệ tăng quá mức
- Sự tăng giá cả đồng bộ và liên tục theo sự mất giá của tiền giấy
- Sự phân phối lại qua giá cả
- Sự bất ổn về kinh tế - xã hội
Từ những quan điểm trên Milton Friedman đưa ra một quan điểm về lạm phát
được nhiều nhà kinh tế học đồng ý: Lạm phát là việc đưa quá nhiều tiền vào lưu thông làm cho chúng bị mất giá dẫn đến giá cả hàng hoá tăng lên
b Đo lường lạm phát:
Vì sự thay đổi giá cả các hàng hoá và dịch vụ không đều nhau, có một số mặt hàng giá tăng nhanh, một số khác tăng chậm, thậm chí có mặt hàng giảm giá, nên để
đo lường sự thay đổi mức giá cần tính mức giá bình quân thông qua các chỉ số giá
* Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index)
CPI được sử dụng một cách phổ biến trong việc đánh giá mức lạm phát CPI đo lường mức giá bình quân của một nhóm hàng hoá và dịch vụ cần cho tiêu dùng trong
một giai đoạn Người ta thường chọn một “rổ” hàng tiêu dùng có chia nhóm (ăn uống,
may mặc, đồ dùng gia đình, vật liệu xây dựng, vận tải, y tế, chất đốt…) và xác định mức độ quan trọng của từng nhóm hàng trong tổng chi tiêu để làm cơ sở tính chỉ số giá bình quân Vào đầu kỳ tính CPI (tháng, quý, năm) các số liệu về giá cả hàng hoá, dịch
vụ cần thiết được thu thập Chỉ số CPI sau đó sẽ được tính bằng cách so sánh giá trị
hiện tại và giá trị gốc của “rổ” hàng hoá, dịch vụ được lựa chọn
Giả sử, một “rổ” hàng hoá, dịch vụ chỉ gồm 3 loại: cam, dịch vụ cắt may và
dịch vụ giao thông (xe bus), các số liệu về giá cả năm gốc, giá cả năm hiện tại và số lượng tiêu thụ được thể hiện trên bảng sau:
Trang 24Chỉ số giá năm gốc là 246/246 = 1 hay 100%
Chỉ số giá năm hiện tại là 285/246 = 1,158 hay 115,8%
Ở Việt Nam, CPI được tính cho toàn quốc và cho từng địa phương, chỉ số giá bình quân được thông báo theo tháng, quý và tổng hợp cả năm
Trên cơ sở xác định chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước được tính theo công thức:
Tỷ lệ lạm phát =
Chỉ số CPI mặc dù được tính một cách khoa học, nhưng chưa hoàn toàn chính
xác, vì nó mới chỉ phản ánh giá cả của những hàng hoá trong “rổ” chứ chưa phải là
toàn bộ lượng hàng hoá trên thị trường Mặt khác CPI chỉ phản ánh được sự thay đổi giá bên ngoài còn yếu tố nội tại làm tăng giá như: đầu tư về khoa học công nghệ làm cho mẫu mã hàng hoá đẹp hơn, bền hơn, nhiều công dụng hơn… yếu tố làm tăng giá này trên một sản phẩm mang tên cũ không phải là yếu tố làm tăng lạm phát thì CPI không phản ánh được
* Chỉ số giá sản xuất PPI (Producer Price Index)
PPI được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên do người sản xuất ấn định Chỉ số này rất có ích vì nó được tính chi tiết sát với những thay đổi của thực tế (ở
Mỹ, chỉ số này được tính cho khoảng 3.400 sản phẩm)
sự ảnh hưởng của giá cả lên các cân đối vĩ mô của nền kinh tế quốc dân
c Phân loại lạm phát
Có nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau:
* Xét về mặt định lượng: người ta chia lạm phát thành 3 loại:
Mức giá năm hiện tại - Mức giá năm trước
Mức giá năm trước x 100%
Trang 25- Lạm phát vừa phải: Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng chậm tỷ lệ lạm
phát dưới 10% một năm Đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được, với mức lạm phát này không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thậm chí
nó còn tác động ngược lại làm cho nền kinh tế năng động hơn Vì vậy mà nhiều Chính phủ còn có kế hoạch duy trì lạm phát vừa phải trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình
- Lạm phát phi mã: Tỷ lệ lạm phát ở mức hai hoặc ba con số: 10%, 20%,
100% Ở mức lạm phát hai chữ số thấp (10%, 12% ) nói chung những tác động tiêu cực là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được Nhưng khi tỷ lệ lạm phát ở mức cao hơn, lạm phát trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập vì những tác động tiêu cực của nó là không nhỏ, đe doạ đến sự ổn định của nền kinh tế
- Siêu lạm phát: Là loại lạm phát mà giá cả của tất cả các loại hàng hoá tăng cao
gấp nhiều lần lạm phát phi mã Loại lạm phát này có tốc độ tăng rất nhanh, liên tục và không thể kiềm chế được Loại lạm phát này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội: kinh tế suy sụp nhanh chóng, thu nhập thực tế của người lao động giảm mạnh
* Xét về mặt định tính:
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
Lạm phát cân bằng: Khi nó tăng tương ứng với thu nhập, do vậy lạm phát
không ảnh hưởng đến đời sống của người lao động
Lạm phát không cân bằng: Tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứng với thu nhập
Trên thực tế, lạm phát không cân bằng thường hay xảy ra nhất
- Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường
Lạm phát dự đoán trước: Là lạm phát xảy ra trong một thời gian tương đối dài
với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn, ổn định Do vậy, người ta có thể dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát cho những năm tiếp theo Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình hình lạm phát đó và có sự chuẩn bị để thích nghi với tình trạng lạm phát này
Lạm phát bất thường: Là lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đó chưa hề
xuất hiện Do vậy, về tâm lý, cuộc sống và thói quen của mọi người đều chưa thích nghi được Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc cho nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đương nhiệm
1.6.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát
a Lạm phát do cầu kéo
Đây là nguyên nhân do tổng cầu của xã hội tăng lên vượt quá mức cung ứng hàng hoá của xã hội dẫn đến áp lực làm tăng giá cả Nói cách khác, bất kỳ lý do nào làm cho tổng cầu tăng lên đều dẫn đến lạm phát về mặt ngắn hạn Trong thực tế, Chính phủ có thể kiểm soát loại lạm phát này ở mức độ nhất định, lợi dụng lạm phát cầu kéo nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát cầu kéo, thông thường do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do bội chi ngân sách Nhà nước thường xuyên và kéo dài, ngân hàng Trung ương phải phát hành tiền tạm ứng cho Chính phủ chi tiêu
Trang 26- Do việc kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông của ngân hàng Trung ương không chặt chẽ, làm cho tiền trong lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần thiết (bao gồm cả tiền mặt và tiền ghi sổ): chất lượng tín dụng kém, các ngân hàng thương mại cho vay nhưng không thu hồi được vốn…
- Do yếu tố tâm lý, như ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng về kinh tế, chính trị, quân sự, thiên tai…làm cho tâm lý dân cư bị dao động, mọi người đều có xu hướng
dự trữ hàng hoá cho tương lai, làm cho nhu cầu hàng hoá gia tăng nhanh chóng, giá cả hàng hoá sẽ bị kéo lên
- Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên có thể do mức thu nhập thực tế tăng lên, do lãi suất giảm, do điều kiện vay tiêu dùng thuận lợi…đều có tác dụng đẩy tổng cầu lên và gây áp lực đối với lạm phát
Lạm phát chi phí đẩy có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Vì vậy Chính phủ nên
có những kế hoạch để phòng tránh hoặc có biện pháp để khắc phục hậu quả
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát chi phí đẩy, thông thường do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do trình độ quản lý kinh tế yếu kém, tổ chức lao động không hợp lý làm chi phí ngoài sản xuất tăng cao
- Do tham nhũng cùng các vấn nạn xã hội khác
- Do chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu tăng Sự gia tăng này có thể vì sự khan hiếm trong nước hoặc giá thành nhập khẩu tăng cao
- Do chi phí tiền lương tăng
- Do thuế suất cao hoặc chính sách thuế không hợp lý
- Do trang thiết bị, công nghệ sản xuất lạc hậu làm giá thành sản xuất tăng lên
Lưu ý: trong những trường hợp nhất định, việc phân chia lạm phát do cầu kéo
hoặc do chi phí đẩy chỉ là tương đối, chẳng hạn khi chi phí tiền lương trong một đơn vị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tăng lên sẽ đẩy giá thành sản phẩm tăng, đồng thời cũng làm tăng thu nhập người lao động và làm cho cầu hàng hoá tăng
1.6.3 Tác động của lạm phát
Lạm phát vừa phải tạo nên một sự chênh lệch giá hàng hoá, dịch vụ giữa các
vùng làm cho thương mại năng động hơn Các doanh nghiệp vì thế sẽ gia tăng sản xuất, đẩy mạnh cạnh tranh, đưa ra thị trường nhiều sản phẩm hơn với chất lượng cao hơn Lạm phát vừa phải làm cho nội tệ mất giá nhẹ so với ngoại tệ, đây là lợi thế cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu ngoại hối, khuyến khích sản xuất trong các nước phát triển Lạm phát vừa phải vừa tương đồng với một tỷ lệ thất nghiệp nhất định Đó là yếu tố buộc người lao động muốn có việc làm phải nâng cao trình độ
Trang 27chuyên môn, cạnh tranh chỗ làm việc Như vậy người sử dụng lao động sẽ có cơ hội tuyển chọn được lao động có chất lượng cao hơn Nhìn chung lạm phát vừa phải có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên để duy trì tỷ lệ lạm phát này, đòi hỏi chính phủ phải tổ chức và quản lý kinh tế vĩ mô năng động và hiệu quả
Ngoại trừ lạm phát vừa phải có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh
tế, còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển của nền kinh tế - xã hội
a Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh: Trong điều kiện lạm phát ở mức độ cao,
giá cả nguyên vật liệu, vật tư bị tăng liên tục, điều này làm cho sản xuất gặp khó khăn Quy mô sản xuất không tăng hoặc bị giảm sút do nhu cầu phải bổ sung vốn đầu tư liên tục Cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối vì sẽ có xu hướng phát triển những ngành sản xuất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, còn những ngành sản xuất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm sẽ có xu hướng bị đình đốn, phá sản Vì vậy, trong điều kiện có lạm phát, lĩnh vực thương nghiệp thường phát triển mạnh Bên cạnh đó, việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh không còn chính xác vì thước đo của đồng tiền bị thu hẹp, công tác hạch toán chỉ còn là hình thức
b Trong lĩnh vực thương mại: Người ta từ chối tiền giấy trong vai trò là trung
gian trao đổi đồng thời chuyển sang đầu cơ tích trữ vàng, hàng hoá và đẩy khỏi tay mình những đồng tiền mất giá Điều này càng làm cho lưu thông tiền tệ bị rối loạn Lạm phát xảy ra còn là môi trường tốt để những hiện tượng tiêu cực trong đời sống phát sinh, như đầu cơ, tích trữ gây cung - cầu hàng hoá giả tạo…
c Trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng: Tín dụng cũng bị rơi vào khủng hoảng khi
người dân không an tâm đầu tư trong điều kiện lạm phát gia tăng Lạm phát làm sức mua của đồng tiền bị giảm, lưu thông của tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của thị trường tăng lên một cách đột biến, hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng do nguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh dẫn đến hệ thống tiền tệ bị rối loạn không thể kiểm soát nổi
Trong quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, khi lạm phát tăng cao, người cho vay sẽ là người chịu thiệt và người đi vay sẽ là người được lợi Điều này đã tạo nên sự phân phối thu nhập không bình đẳng giữa người đi vay và người cho vay Hơn thế nữa, nó còn thúc đẩy những người kinh doanh tăng cường thu hút tiền vay để đầu cơ kiếm lời Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao
Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có, dùng tiền của mình vơ vét và thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoá cũng lên cơn sốt cao hơn Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng trở nên khốn khó hơn Họ thậm chí không mua nổi những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, trong khi đó, những kẻ đầu cơ đã vơ vét sạch hàng hoá và trở nên càng giàu có hơn Tình trạng lạm phát như vậy sẽ có thể gây ra những rối loạn trong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo
d Trong lĩnh vực tài chính Nhà nước: Tuy lúc đầu lạm phát mang lại thu nhập
cho NSNN qua cơ chế phân phối lại sản phẩm và thu nhập quốc dân, nhưng do ảnh
Trang 28hưởng nặng nề của lạm phát mà những nguồn thu của NSNN (chủ yếu là thuế) ngày càng bị giảm do sản xuất bị sút kém, do nhiều công ty, xí nghiệp bị phá sản, giải thể…
e Trong lĩnh vực đời sống xã hội: Đại bộ phận tầng lớp dân cư sẽ rất khó khăn
và chật vật do phải chịu áp lực từ sự gia tăng của giá cả Giá trị thực tế của tiền lương giảm sút nghiêm trọng dẫn đến trật tự an toàn xã hội bị phá hoại nặng nề
Tóm lại, hậu quả của lạm phát là rất nặng nề và nghiêm trọng Lạm phát gây hậu quả đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của một nước Lạm phát tạo ra việc phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập trong nền kinh tế qua giá cả đã khiến quá trình phân hoá giàu nghèo nghiêm trọng hơn Lạm phát làm cho một nhóm này thu được lợi lộc lớn còn nhóm khác bị thiệt hại nặng nề Nhưng suy cho cùng, thì gánh nặng của lạm phát lại đè lên vai người lao động
1.6.4 Biện pháp khắc phục lạm phát
a Những biện pháp cấp bách
- Ngừng phát hành tiền vào lưu thông
Đây là biện pháp “đóng băng tiền” Nghĩa là Ngân hàng phát hành tạm thời
không thực hiện các nghiệp vụ đưa thêm tiền vào lưu thông như “tái chiết khấu” “tái
cầm cố”… Đối với chính phủ, số bội chi cũng không được bù đắp bằng nguồn phát
hành, mà phải lấy từ quỹ dự trữ hoặc vay nợ Mục đích của biện pháp này là không cho tiền tắng thêm trong lưu thông Đây là biện pháp cứng rắn và quyết liệt, sự thành công của nó hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự thông minh, khôn khéo và độ cương quyết của chính phủ
- Tăng lãi suất tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm
Biện pháp này có tác dụng “hút” tiền mặt của dân cư và doanh nghiệp vào ngân
hàng thương mại, làm giảm sức ép đối với hàng hoá trên thị trường Để biện pháp này thực sự có hiệu quả, thì ngoài mức lãi suất hấp dẫn, ngân hàng cần có biện pháp xử lý
kỹ thuật tâm lý thích hợp - lãi suất giảm dần, thì tiền sẽ “hút” vào ngân hàng thương
mại nhanh hơn, lạm phát sẽ được khắc phục hiệu quả hơn
- Cắt giảm, hoãn chi những khoản chưa cấp bách từ ngân sách nhà nước
Những khoản chi cho đầu tư phát triển, các khoản chi cho văn hoá, giáo dục… cần được xem xét đảm bảo tiết kiệm Nếu thấy chưa cần thiết thì cắt giảm, hoãn chi
Xử lý tốt biện pháp này sẽ góp phần làm dịu bớt tình trạng lạm phát
- Bán ngoại tệ và vàng để thu bớt tiền mặt đang mất giá từ lưu thông vào ngân hàng
- Giảm thuế nhập khẩu, khuyến khích tự do mậu dịch, nhằm tăng quỹ hàng hoá
tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông, góp phần cân đối tiền hàng
- Vay và xin viện trợ từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu chi tiêu trước mắt của Nhà nước
- Cải cách tiền tệ: Đây là biện pháp tình thế cuối cùng nếu các giải pháp trên không hiệu quả Khi thực hiện giải pháp này, Chính phủ xoá bỏ toàn bộ hay một phần tiền cũ, phát hành tiền mới vào lưu thông, tuy có khôi phục lại tình trạng lưu thông tiền
tệ nhưng Chính phủ “mất nhiều hơn được”, đó là sự giảm lòng tin đối với Chính phủ
và mất uy tín đối với giấy bạc ngân hàng
Trang 29b Những biện pháp ổn định tiền tệ chiến lược
- Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đây là kế hoạch phát triển với tầm nhìn chiến lược trên các lĩnh vực sản xuất dịch vụ và tiêu dùng của xã hội Những lĩnh vực trên không những được phát triển cân đối, mà còn phù hợp với điều kiện của các quốc gia và giao lưu quốc tế Xuất phát từ nguyên lý “lưu thông hàng hoá là tiền đề của lưu thông tiền tệ”, nên nếu quỹ hàng hoá
và dịch vụ được cung cấp với số lượng lớn, phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu
mã, giá cả tương xứng với mức thu nhập… thì đây sẽ là tiền đề vững chắc để ổn định lưu thông tiền tệ Thực tiễn cho thấy những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển là những nước có đồng tiền mạnh Đó là những quốc gia đã kết hợp được một
cách nhuần nhuyễn giữa “kế hoạch và thị trường” trong dài hạn cũng như trong từng
giai đoạn phát triển của nền kinh tế quốc dân
- Xây dựng ngành sản xuất hàng hoá, hoặc dịch vụ “mũi nhọn” của nền kinh tế
quốc dân
Tuỳ thuộc vào lợi thế tự nhiên và xã hội của đất nước để xây dựng những ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ mang tính quốc tế, đồng thời phái có tính cạnh tranh cao Nếu có được những sản phẩm này thì không những ngân sách nhà nước có được nguồn thu ngoại tệ vững chắc mà còn tạo được việc làm ổn định cho một số lượng lao động không nhỏ
- Giảm nhẹ biên chế kiện toàn bộ máy hành chính
Chi cho biên chế cán bộ trong bộ máy hành chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
số chi thường xuyên của ngân sách nhà nước Nếu giảm nhẹ được số này, để chuyển sang chi cho đầu tư phát triển, thì sẽ mang lại hiệu quả thiết thực góp phần ổn định tiền
tệ
Ở Việt Nam hiện nay vấn đề được quan tâm hàng đầu là cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, để chuyển khoản chi lương từ ngân sách nhà nước sang quỹ lương từ sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó phải tinh giảm biên chế hành chính, định mức số công chức, viên chức, nhân viên… cho từng cơ quan, cho từng loại công việc Nhanh chóng có phương án chuyển các đơn vị giáo dục, y tế, văn hoá… sang hoạt động theo
cơ chế sự nghiệp có thu, tự chịu trách nhiệm về tài chính
Nếu thực hiện được những phương án trên thì chắc chắc sẽ góp phần quan trọng vào ổn định tiền tệ
- Kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ các chính sách thu, chi của chính phủ Mục tiêu là không bỏ sót nguồn thu đảm bảo đúng số thu, nuôi dưỡng và tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước Đồng thời tiết kiệm chi có hiệu quả
Bên cạnh đó các chính sách, chế độ thu chi cần được rà soát để loại bỏ, chỉnh sửa, bổ sung… cho phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường
Coi tiết kiệm trong mọi hoạt động kinh tế xã hội là quốc sách
Các sai phạm về thu, chi; quản lý thu chi; về lãng phí của cải, nhân lực, tài chính; về quyết định đầu tư sai… cần được xử lý theo đúng luật pháp
Đây là một giải pháp vừa mang tính vi mô vừa có ý nghĩa vĩ mô, cần có sự kiên quyết của chính phủ thì mới thực hiện được
Trang 30- Lạm phát để chống lạm phát
Đây là biện pháp “không hợp lý” trong “sự hợp lý” của tiến trình phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia Khi đất nước còn nhiều tiềm năng về lao động, đất đai, tài nguyên… và tri thức nhưng chưa được khai thác, chính phủ có thể phát hành tiền để đầu tư mạo hiểm vào một số lĩnh vực khai thác tiềm năng Nếu đầu tư cho những dự
án đúng hướng và khả thi, thì lúc đầu nền kinh tế có thể bị lạm phát, nhưng sau đó hiệu quả mang lại là chắc chắn Nó sẽ góp phần chống lạm phát mang tính chiến lược
1.6.5 Lạm phát ở Việt Nam
Việt Nam đã trải qua thời kỳ lạm phát cao kéo dài với những ảnh hưởng nặng
nề trong suốt thập kỷ 80, được coi như là hậu quả tất yếu của cơ chế quản lý kinh tế thiếu hiệu quả và tình trạng bao cấp tràn lan của thời kỳ chiến tranh Mặc dù lạm phát
đã được kiềm chế ở mức một con số trong những năm 90 nhưng sự bất ổn của nó cùng với tình trạng giảm phát liên tục trong những năm gần đây đang đặt ra nhiều vấn đề cho các nhà làm chính sách Căn cứ vào mức độ, tính chất và nguyên nhân chủ yếu của lạm phát, có thể chia diễn biến lạm phát ở Việt Nam thành ba giai đoạn chủ yếu:
a Giai đoạn 1976-1980
Lạm phát ở Việt Nam là lạm phát “ngầm”, nghĩa là tuy chỉ số giá cả ở thị
trường có tổ chức tăng không nhiều bởi chính sách kiềm chế giá cả nhưng chỉ số này ở thị trường tự do lại tăng khá cao Mặc dù vậy, mức giá cả chung tăng với tốc độ chậm bởi vào thời gian này ở khu vực thị trường có tổ chức chiếm tỷ trọng quyết định trong cung cấp hàng hoá tiêu dùng cho xã hội và phù hợp với thói quen tiêu dùng hạn chế của công chúng trong chiến tranh, hơn nữa Việt Nam vẫn hưởng chế độ viện trợ không hoàn lại dưới hình thức hàng hoá từ các nước trong khối XHCN Điều này làm giảm
sự căng thẳng trong quan hệ cung cầu hàng hoá Tuy vậy, việc phát hành tiền bù đắp thiếu hụt ngân sách liên tục với số lượng ngày càng lớn nhằm bù lỗ, bù giá và thực hiện các dự án phát triển sau chiến tranh đã làm cho mức giá chung thời kỳ 1976-1980 tăng lên tới 2,62 lần trong khi giá trị tổng sản lượng thực tế tăng 5,8%, thu nhập quốc dân sản xuất tăng 1,5%
b Giai đoạn 1980-1988
Đây là thời kỳ lạm phát phi mã với chỉ số giá cả thường xuyên ở mức 3 con số Giá cả ở thị trường có tổ chức và thị trường tự do đều tăng mạnh Trong đó, giá thị trường tự do tăng nhanh hơn kéo theo sự điều chỉnh giá của thị trường có tổ chức Những ảnh hưởng của lạm phát bao trùm trên tất cả các lĩnh vực: sản xuất, tiêu dùng, tài chính tín dụng, đời sống nhân dân và sự ổn định của chế độ chính trị
Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát thời kỳ này là do nhu cầu có khả năng thanh toán tăng lên vượt xa so với khả năng cung ứng hàng hoá của xã hội Nguồn vốn chủ yếu cho các hoạt động kinh tế - xã hội là nguồn vốn ngân sách mà thực chất là vốn phát hành được dùng cho các mục đích bù lỗ, bù giá, cấp phát tín dụng, bù giá hàng nhập khẩu…chủ yếu cho khu vực kinh tế quốc doanh Trong thực tế, đây là khu vực hoạt động kém hiệu quả, các khoản nộp ngân sách thường chỉ chiếm một phần ba đến một phần hai so với vốn nhận được từ ngân sách Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hầu như bất lực trong việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng khi phải thoả mãn nhu cầu của ngân sách và cung ứng vốn thông qua một hệ thống ngân hàng bao cấp Hơn nữa nhu cầu tiêu dùng vốn bị hạn chế trong thời chiến tranh giờ đây bắt đầu tăng lên gây
Trang 31áp lực đối với khối lượng hàng hoá vốn đã không dồi dào lại bị tích trữ lại bởi tâm lý
lo sợ lạm phát của người tiêu dùng
Lạm phát còn xuất phát từ sự thiếu hiệu quả trong kinh doanh do sử dụng lao động và phân bổ các nguồn lực xã hội không hợp lý, không tôn trọng yêu cầu hạch toán kinh tế dẫn đến làm tăng giá thành sản phẩm và suy giảm mức sản lượng thực tế
Lạm phát thời kỳ này tăng liên tục còn do cộng hưởng tác động của tâm lý trông đợi lạm phát của xã hội Hành vi tự bảo hiểm của người tiêu dùng trước những biến động bất thường của lạm phát tạo nên tình trạng đẩy tiền ra lưu thông và tích trữ hàng hoá làm trầm trọng thêm sự mất cân đối tiền – hàng
Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa của tất cả các vấn đề trên là do cơ chế quản lý kinh tế quan liêu, mệnh lệnh dựa trên chế độ công hữu và Nhà nước nắm độc quyền trên tất cả các lĩnh vực Cơ chế này tất yếu dẫn đến một nền kinh tế thiếu hiệu quả do không khuyến khích cạnh tranh, kìm hãm các năng lực sản xuất ngoài quốc doanh, chủ quan trong việc xây dựng cơ cấu kinh tế và sai lầm khi đưa ra các chính sách không phù hợp với sự vận động khách quan của thị trường Mặt khác, lạm phát của Việt Nam còn xuất phát từ những ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh kéo dài nhiều năm, chi phí quốc phòng và các khoản chi phúc lợi giải quyết hậu quả chiến tranh làm trầm trọng thêm tình trạng thâm hụt ngân sách và gia tăng lạm phát
c Giai đoạn từ 1989 đến nay
Lạm phát được kiềm chế thành công từ năm 1989 và giảm tới mức một con số trong suốt thập kỷ 90 Nhưng tỷ lệ lạm phát biến động qua các năm và những biểu hiện của giảm phát gần đây đang gây nên sự bất ổn định cho môi trường kinh tế
Các giải pháp đồng bộ áp dụng trong chiến dịch chống lạm phát vào cuối thập niên 80 đã đem lại một kết quả đáng kể: mức tăng giá bình quân hàng tháng năm 1989
là 2,5% so với 15% năm 1988 Trước hết, các biện pháp hạn chế sự tăng cầu quá mức
đã được áp dụng đem lại kết quả tức thời, bao gồm: hạn chế chi tiêu ngân sách, tăng nguồn thu, giảm bội chi, hạn chế và tiến tới ngừng phát hành bù đắp thiếu hụt ngân sách (từ năm 1992) Chính sách tiền tệ khan hiếm bắt đầu được sử dụng để kiểm soát lượng tiền cung ứng, cùng với sự thay đổi trong quan niệm về tiền tệ cũng như quản lý tiền tệ, hệ thống ngân hàng được cải cách toàn diện theo hướng hiệu quả và chất lượng nhằm tăng cường hiệu lực của chính sách tiền tệ Chính sách lãi suất cao được áp dụng, lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ người gửi tiền nhận được mức lãi suất dương, nó
có tác dụng to lớn trong việc giảm tiêu dùng và giảm mức độ biến động giá thậm chí xuống tới mức âm trong các tháng 5-6-7 năm 1989
Bên cạnh các giải pháp nhằm làm giảm áp lực của tổng cầu, Chính phủ Việt Nam tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nhằm giảm chi phí, tăng năng suất lao động và sử dụng tiết kiệm có hiệu quả nguồn lực xã hội Từ năm 1988, nền kinh tế thực sự bước vào thời kỳ cải cách theo cơ chế thị trường, năng lực sản xuất của xã hội bắt đầu được khai thác và có điều kiện phát huy tác dụng thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần Các chính sách giá cả, tài chính, tín dụng đã được xây dựng phần nào phù hợp với cơ chế thị trường, tạo điều kiện thúc đẩy cạnh tranh và hiệu quả Sự thay đổi căn bản này thực sự đã mở rộng mức sản lượng tiềm năng của xã hội và tạo nên thời kỳ tăng trưởng vững chắc trong những năm sau Việc hạn chế tình trạng đóng cửa nền kinh tế trong giai đoạn này cũng tạo điều kiện thu hút
Trang 32một khối lượng lớn hàng nhập khẩu tiểu ngạch góp phần làm giảm nhẹ áp lực lạm phát
Các giải pháp chiến lược nhằm tạo sự ổn định tiền tệ vững chắc vẫn tiếp tục được hoàn thiện trong suốt thập kỷ 90; tăng cường hiệu lực của chính sách tiền tệ, kết hợp với điều chỉnh hợp lý tỷ giá hối đoái, cải cách chính sách tài khoá, chính sách thuế, thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để…là cơ sở để duy trì mức lạm phát vừa phải trong nhiều năm
Bảng 1-3 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1995-2014
Năm Tỷ lệ lạm phát (%) Tăng trưởng kinh tế (%)
Mục tiêu Thực hiện Mục tiêu Thực hiện
và hiệu quả
Bắt đầu từ năm 1996 nền kinh tế có dấu hiệu của giảm phát, từ cuối quý I giá cả
giảm liên tục và chuyển sang “âm” từ 0,5% đến 0,7% trong bốn tháng tiếp theo
5-6-7-8 năm 1996, chỉ đến quý IV năm 1996 giá cả mới nhích lên chút ít do điều chỉnh mức tăng của tổng phương tiện thanh toán Tình trạng tương tự xảy ra trong các năm 1997
và 1999 Như vậy tỷ lệ lạm phát thấp ở mức một con số trong các năm 1996, 1997,
Trang 331999 không phải là kết quả của sự tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm mà chủ yếu do sức mua chung của xã hội giảm bởi thu nhập giảm Lý
do xuất phát từ mức sản xuất giảm thấp do không tiêu thụ được hàng, sức cạnh tranh của tổng thể nền kinh tế thấp, hàng nội bị chèn ép bởi hàng ngoại Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp thu nhập giảm nhanh mặc dù đã có chính sách trợ giá thu mua Thu nhập giảm còn do thất nghiệp tăng lên đặc biệt do thực hiện cổ phần hoá và sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, lao động dôi thừa trong các khu chế xuất, trong các công
ty liên doanh với nước ngoài…Vì thế các giải pháp kích cầu có lẽ không hiệu quả và nếu có cũng không kéo dài Hiện tượng giảm phát này xuất phát từ chính các yếu tố của quá trình sản xuất xã hội và còn do ảnh hưởng chu kỳ suy giảm toàn cầu nên điều quan trọng là phải tìm được các giải pháp tác động vào sức sản xuất của xã hội, tăng cường khả năng cạnh tranh thông qua chất lượng và khai thác thị trường tiêu thụ từ đó
mà tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập
Từ năm 2004, lạm phát lại tăng cao trở lại Có nhiều quan điểm về nguyên nhân lạm phát trong giai đoạn này Tuy nhiên nguyên nhân gây nên lạm phát không thuần tuý do một loại nguyên nhân nào, ở nước ta vừa lạm phát do cầu kéo vừa lạm phát do chi phí đẩy
- Nguyên nhân lạm phát do cầu kéo:
Do chi dùng của các hộ gia đình tăng: Từ đầu năm 2003 đến nay, qua 6 lần tăng lương đồng loạt trong khối cán bộ công chức Nhà nước hưởng lương từ ngân sách, gây hiệu ứng tăng lương ở lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực kinh tế cổ phần, tư nhân, tác dụng làm tăng quỹ mua của xã hội
Do áp lực tăng trưởng kinh tế cao: Để đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân cho giai đoạn 2001-2010 đạt 7,5%-8%, phấn đấu đạt trên 8%/năm, ngân hàng Nhà nước đã thực hiện nới lỏng tiền tệ, tăng cung tiền kích thích đầu tư
Chi tiêu của Chính phủ: Chính phủ liên tục chi tiêu vượt quá thu ngân sách dẫn đến tình trạng bội chi thường xuyên Năm 2007, thu ngân sách tăng 16,9% trong khi chi ngân sách tăng 20%; năm 2011, thu ngân sách là 595.000 tỷ đồng trong khi chi ngân sách 765.000 tỷ đồng
Các nguyên nhân chủ yếu làm tổng chi tiêu các chủ thể kinh tế tăng nhanh trong thời gian qua:
Thứ nhất: Do thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm làm cho
tổng phương tiện thanh toán tăng cao, gây áp lực trực tiếp đến lạm phát Chính sách này được áp dụng từ sau cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á nhằm phục vụ chính sách kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Chính phủ
Thứ hai: Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nóng cùng với chất lượng tín dụng
hạn chế của hệ thống ngân hàng là nguyên nhân quan trọng tiếp theo gây lạm phát do cầu kéo
Trong các năm 2003-2005, dư nợ tín dụng tăng mạnh với tốc độ tăng 28,41% vào năm 2003, năm 2004 tăng lên 41,65%, năm 2005 tăng 31,7% Điều đáng nói là một phần lớn vốn cho vay được sử dụng để giải quyết nhu cầu tín dụng trung và dài hạn cho các dự án lớn của Nhà nứơc với những hợp đồng tín dụng khổng lồ đã được các doanh nghiệp Nhà nước ký kết vào nửa cuối năm 2004 và đầu năm 2005 Hầu hết
đó là những dự án thuộc lĩnh vực thay thế nhập khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng và năng
Trang 34lượng Khối lượng tiền bơm ra lưu thông qua kênh tín dụng ngân hàng thời kỳ này nhiều, giải ngân cho các công trường đầu tư xây dựng cơ bản là quá lớn
Từ năm 2006 đến nay, dư nợ tín dụng vẫn theo đà tăng trưởng với mức tăng kỷ lục: 46,4% vào năm 2007 Song điều đáng lo ngại là các ngân hàng, đặc biệt các ngân hàng cổ phần tăng dư nợ tín dụng quá cao và sử dụng tỷ lệ lớn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, cho vay kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản Tính đến cuối tháng 4/2008, dư nợ cho vay đối với lĩnh vực bất động sản ước khoảng 135.000 tỷ đồng chiếm 10,8% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng và chiếm trên 60% tổng số vốn đầu tư vào kình doanh bất động sản
Cùng với mức tăng trưởng tín dụng quá nóng là chất lượng tín dụng giảm và tỷ
lệ nợ xấu gia tăng Đây là một trong những lý do quan trọng gây lạm phát cao hiện tại
và cả trong tương lai ở Việt Nam
Thứ ba: Do tỷ lệ bội chi ngân sách quá cao ở mức 5%/GDP liên tục trong nhiều
năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, cùng với sự yếu kém trong kiểm soát chi tiêu đã dẫn tới tình trạng chi đầu tư từ khu vực Nhà nước lớn nhưng hiệu quả thấp Tình trạng thất thoát, lãng phí đang diễn ra trong tất cả các giai đoạn của dự án đầu tư của Chính phủ và theo ước tính mức độ thất thoát, lãng phí là 1 tỷ USD/năm
- Nguyên nhân lạm phát do chi phí đẩy:
Yếu tố thuộc tiền lương: các doanh nghiệp Việt Nam thuộc lĩnh vực Nhà nước,
cổ phần, tư nhân đều chịu sự tác động gián tiếp bởi 6 đợt tăng lương trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuộc thành phần quốc doanh và ngoài quốc doanh Việc trả lương trong lĩnh vực này còn nhiều bất hợp lý, tiền lương mang tính chất phân phối bình quân, chưa thực sự gắn với năng suất lao động và hiệu quả công việc Tiền lương chưa phải là động lực để kích thích tăng năng suất lao động
Các yếu tố ngoài lương: Do cơ cấu hàng xuất - nhập khẩu, trong đó hàng nhập khẩu của Việt Nam phần lớn là những mặt hàng có tốc độ tăng giá cao như sắt, thép, ximăng, các sản phẩm của dầu như: xăng, dầu, hoá chất, phân bón, nhựa…những mặt hàng này có tốc độ tăng giá cao trên thế giới Trên thực tế, những đợt bùng phát tăng giá của thế giới đều ảnh hưởng mạnh đến hệ thống giá cả của Việt Nam
Từ năm 2004 đến nay hệ thống các ngân hàng có nhiều cuộc đua tăng lãi suất trong đó phải kể đến cuộc đua tăng lãi suất vào đầu tháng 6/2008 khi quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 12% lên 14% của ngân hàng Nhà nước có hiệu lực từ 11/6/2008 Lãi suất đầu vào tăng, buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay Chi phí vốn tăng lên làm giá bán sản phẩm của các doanh nghiệp bị đội lên
Hạn hán kéo dài, bão lụt và việc thiếu thực phẩm do dịch cúm gia cầm kéo dài trên diện rộng làm giá của nhóm hàng có quyền số cao nhất (hiện nay vẫn chiếm tới
42,85%) trong “rổ” hàng hoá tiêu dùng dịch vụ đã kéo chỉ số giá chung tăng cao
Những nguyên nhân lạm phát do chi phí đẩy và do cầu kéo ở Việt Nam xảy ra rất phức tạp, có nguyên nhân xảy ra ngoài dự đoán và khả năng kiểm soát của Chính phủ Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, Chính phủ Việt Nam đã đặt nhiệm vụ kiềm chế
sự gia tăng của lạm phát là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu và đưa ra nhiều biện pháp quyết liệt nhằm kiềm chế lạm phát như: thắt chặt chính sách tiền tệ, tiết kiệm chi tiêu Chính phủ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư…
Trang 35B ĐẠI CƯƠNG VỀ TÀI CHÍNH
1.7 Tổng quan về tài chính
1.7.1 Khái niệm tài chính
Lịch sử xã hội loài người cho thấy, vào thời kỳ công xã nguyên thủy tan rã, xã hội bắt đầu có sự phân công lao động, có sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất
và về sản phẩm lao động Theo đó, nền sản xuất hàng hóa ra đời và tiền tệ xuất hiện như một tất yếu khách quan Trong nền kinh tế hàng hóa, việc trao đổi hàng hóa được tiến hành một cách dễ dàng thông qua tiền tệ làm môi giới trung gian Từ đó, người ta
sử dụng tiền tệ với các chức năng phương tiện trao đổi và phương tiện tích lũy để phân phối tổng sản phẩm xã hội, qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế nhằm mục đích tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế xã hội Các quỹ tiền tệ này được tạo lập và sử dụng bởi các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay cá nhân Các quan hệ kinh tế đó đã làm nảy sinh phạm trù tài chính
Lịch sử xã hội loài người còn cho thấy rằng, khi xã hội có sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất thì có sự phân chia giai cấp và xuất hiện phạm trù Nhà nước Nhà nước ra đời với chức năng và quyền lực của mình đã tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng phạm vi hoạt động của tài chính Mặt khác, để duy trì hoạt động của mình, Nhà nước đã tạo lập quỹ ngân sách nhà nước thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị và hình thành lĩnh vực tài chính Nhà nước Như vậy, bên cạnh những tiền đề quyết định làm nảy sinh phạm trù tài chính là sản xuất hàng hóa và tiền tệ, Nhà nước ra đời làm cho hoạt động tài chính ngày càng phát triển hơn
Bản chất của tài chính
Về bản chất, tài chính là tổng thể các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, thông qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế
Để hiểu rõ hơn phạm trù tài chính cần có sự phân biệt tài chính với một số phạm trù kinh tế có liên quan khác
Trước hết cần phân biệt tài chính với tiền tệ Nhìn bề ngoài, tài chính được người
ta cảm nhận như những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội Nhưng tài chính không phải là tiền tệ Tiền tệ về bản chất là vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hóa với các chức năng vốn có của nó: đo lường giá trị hàng hóa, phương tiện trao đổi (gồm phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán) và phương tiện tích lũy giá trị Tài chính là sự vận động tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện tích lũy trong lĩnh vực phân phối nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Phân biệt phạm trù tài chính và phạm trù giá cả Giá cả là một phạm trù kinh tế, liên quan đến phân phối dưới hình thức giá trị Nhưng sự phân phối của giá cả được tiến hành thông qua sự chênh lệch giữa giá trị và giá cả của hàng hóa trong trao đổi Tài chính là phạm trù phân phối phản ánh sự chuyển dịch giá trị thông qua việc tạo lập
và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
Phân biệt phạm trù tài chính và phạm trù tiền lương Tiền lương cũng là phạm trù phân phối Đó là một lượng tiền tệ nhất định được trả cho người lao động theo những nguyên tắc nhất định Tiền lương muốn được thực hiện phải thông qua tài chính, tức là
Trang 36thông qua các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội nhằm hình thành
và sử dụng quỹ tiền lương trong nền kinh tế
Bản chất của tài chính được thể hiện thông qua các quan hệ kinh tế chủ yếu trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị sau đây:
- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư
- Quan hệ kinh tế giữa các tổ chức tài chính trung gian với các cơ quan, tổ chức kinh tế phi tài chính, dân cư
- Quan hệ kinh tế giữa các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư với nhau và các quan
hệ kinh tế trong nội bộ các chủ thể đó
- Quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau trên thế giới…
Thông qua việc phân tích sự khác biệt của các phạm trù nêu trên có thể hiểu bản chất của tài chính là: sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ trong quá trình tạo lập
và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội
Như vậy, tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội
1.7.2 Chức năng của tài chính
a Chức năng phân phối
Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá
trị Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sử dụng vào những mục đích nhất định Phân phối qua tài chính bao hàm cả quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại
Quá trình phân phối lần đầu là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội cho các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và dịch vụ Trong quá trình phân phối lần đầu, giá trị tổng sản phẩm xã hội sẽ hình thành các quỹ tiền tệ sau đây: Quỹ bù đắp những chi phí vật chất đã bỏ ra trong quá trình sản xuất, tiến hành dịch vụ Phần này hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định và khôi phục lại vốn lưu động đã bỏ ra Quỹ tiền tệ này nhằm đảm bảo sản xuất giản đơn của mọi quá trình sản xuất xã hội
Quỹ tích lũy nhằm tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế
Quỹ tiêu dùng, bao gồm tiêu dùng cho cá nhân và cho Nhà nước
Quá trình phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, những quỹ tiền tệ đã được hình thành trong quá trình phân phối lần đầu ra phạm
vi rộng hơn, bao gồm cả lĩnh vực không sản xuất vật chất và dịch vụ
b Chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc tài chính là nói đến khả năng khách quan của phạm trù tài chính Nhờ khả năng đó mà người ta có thể tổ chức kiểm tra quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Khả năng đó được biểu hiện ngay trong quá trình thực hiện chức năng phân phối của tài chính Ở đó, người ta có thể kiểm tra về mục đích, quy mô và hiệu quả của quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Khác với chức năng giám đốc tài chính, công tác kiểm tra tài chính là các hoạt động chủ quan của con người trong việc kiểm tra quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Trang 37Đối tượng giám đốc của tài chính là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế Thông qua giám đốc tài chính để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi thời kỳ Đồng thời qua đó để kiểm tra việc tạo lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, quá trình hạch toán kinh tế, việc chấp hành các đạo luật về tài chính, các chính sách chế độ tài chính của Nhà nước…
1.7.3 Vai trò của tài chính
a Tài chính là công cụ phân phối tổng sản phẩm quốc dân
Tài chính là mạch máu của nền kinh tế vì vậy nó có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và mở đường cho sự phát triển nhanh và bền vững trong nền kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh; là công cụ sắc bén để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Thông qua hệ thống tài chính, Nhà nước huy động các nguồn lực của xã hội, phân phối sử dụng cho nhu cầu phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh của cả nước
Mặt khác tài chính thực hiện phân phối một bộ phận quan trọng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được tạo ra từ hoạt động sản xuất xã hội Do đó hoạt động tài chính phải hướng vào phục vụ sản xuất và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển đồng thời trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường, tài chính được sử dụng như một công cụ phân phối hiệu quả để thích ứng kinh tế, mở đường cho sự phát triển nhanh, vững chắc nền kinh tế xã hội
b Tài chính là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội
Vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô của nền kinh tế xã hội của tài chính được thể hiện trong việc định hướng, khuyến khích, hướng dẫn và điều tiết các quan hệ kinh tế phát triển theo đường lối chính sách, luật pháp của Nhà nước, theo hướng có lợi cho nền kinh tế Vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của tài chính được Nhà nước thể chế hóa bằng hệ thống Luật Tài chính và luật Kinh tế có liên quan như: Luật ngân sách Nhà nước, các sắc luật về thuế, các pháp lệnh, luật ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật các
tổ chức tín dụng, Luật doanh nghiệp…để chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường buộc Nhà nước phải xây dựng bộ Luật tài chính hoàn chỉnh
c Tài chính giữ vai trò kiểm tra, giám đốc bằng đồng tiền đối với mọi hoạt động trong nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vai trò kiểm tra, giám đốc của tài chính càng cần phải phát huy mạnh mẽ để mọi chủ thể trong nền kinh tế sử dụng vốn sản xuất, kinh doanh ngày càng có hiệu quả, sử dụng ngân sách Nhà nước, sử dụng các quỹ công tiết kiệm, tránh tham ô, tham nhũng gây hậu quả xấu cho xã hội
1.8 Hệ thống tài chính
1.8.1 Khái niệm hệ thống tài chính
Trang 38Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng thống nhất với nhau về bản chất, chức năng và
có liên hệ hữu cơ với nhau về sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong các lĩnh vực đó
Hệ thống tài chính của một quốc gia là một thể thống nhất do nhiều mắt khâu tài chính hợp thành Việc xác định chính xác có bao nhiêu mắt khâu tài chính của hệ thống đó lại tùy thuộc vào việc chỉ ra một cách đúng đắn các căn cứ lý thuyết để xác định thế nào là một khâu tài chính Có thể chỉ ra các tiêu thức chủ yếu của một khâu tài chính là:
- Thứ nhất, một khâu tài chính phải là một điểm hội tụ của các nguồn tài chính,
là nơi thực hiện việc “bơm” và “hút” các nguồn tài chính Nói cách khác được coi là
một khâu tài chính nếu ở đó có các quỹ tiền tệ đặc thù được tạo lập và sử dụng Nơi nào không có việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ riêng thì không được coi là một khâu tài chính độc lập, chẳng hạn như lĩnh vực tài chính đối ngoại
- Thứ hai, được coi là một khâu tài chính nếu ở đó các hoạt động tài chính, sự
vận động của các nguồn tài chính, việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ luôn gắn liền với một chủ thể phân phối cụ thể, xác định Các hoạt động tài chính gắn với nhiều chủ thể, sự vận động của các nguồn tài chính ở đó cũng do nhiều chủ thể chi phối đều không được coi là một khâu tài chính độc lập Cũng ví dụ trên, đó là lĩnh vực tài chính đối ngoại
- Thứ ba, được xếp vào cùng một khâu tài chính nếu các hoạt động tài chính có
cùng tính chất, đặc điểm, vai trò, có tính đồng nhất về hình thức các quan hệ tài chính
và tính mục đích của quỹ tiền tệ trong lĩnh vực hoạt động Ví dụ, có nhiều loại hình doanh nghiệp, nhưng tính chất chung của các quỹ tiền tệ ở đây là gắn liền với sản xuất kinh doanh và chi dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh, do đó các hoạt động tài chính ở lĩnh vực này được xếp chung vào một khâu là tài chính doanh nghiệp Có nhiều hình thức bảo hiểm nhưng tính chất chung của các quỹ bảo hiểm là được tạo lập
và sử dụng để bồi thường tổn thất cho các chủ thể tham gia bảo hiểm, do đó các hoạt động tài chính ở lĩnh vực này được xếp vào cùng một khâu là bảo hiểm Có nhiều hình thức tín dụng nhưng tính chất chung của sự vận động của các nguồn tài chính ở đây là
có thời hạn, có hoàn trả và có lợi tức, do đó, các hoạt động tài chính ở lĩnh vực này được xếp chung vào một khâu là tín dụng
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về khâu tài chính như sau: Khâu tài chính là nơi hội tụ của các nguồn tài chính, nơi diễn ra việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể trong lĩnh vực hoạt động Dựa trên các căn cứ đã phân tích kể trên có thể xác định, trong điều kiện hiện nay của nước ta có các khâu tài chính cơ bản sau đây:
+ Tài chính Nhà nước
+ Tài chính doanh nghiệp
+ Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian
+ Tài chính dân cư và tổ chức xã hội
+ Tài chính quốc tế
Trang 39Là các khâu tài chính độc lập, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, gắn với các chủ thể khác nhau và có đặc điểm, vai trò không giống nhau nhưng các khâu tài chính kể trên lại có những sự giống nhau căn bản, đó là có cùng bản chất, chức năng
và có mối liên hệ hữu cơ, ràng buộc với nhau trong quá trình vận động của các nguồn tài chính, trong việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi lĩnh vực, mỗi chủ thể, do
đó chúng lại không thể tách rời nhau và cùng nhau hợp thành hệ thống tài chính thống nhất của mỗi quốc gia Trong điều kiện kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa các khâu tài chính có thể là trực tiếp cũng có thể thông qua thị trường tài chính Trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế, hệ thống tài chính nước ta cũng có những nét tương đồng
và hòa nhập vào hệ thống tài chính quốc tế
Từ sự khái quát hóa kể trên có thể hình dung hệ thống tài chính nước ta hiện nay trong điều kiện nền kinh tế với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
sơ đồ sau:
Hình 1-2 Hệ thống tài chính
1.8.2 Chức năng, nhiệm vụ của các khâu trong hệ thống tài chính
Trong hệ thống tài chính thống nhất, các khâu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng mỗi khâu có những chức năng, nhiệm vụ riêng
Thứ nhất, ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước gắn liền với các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; đồng thời là phương tiện vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền Nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, ngân sách Nhà nước còn có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội…Để thực hiện được các vai trò đó, ngân sách Nhà nước phải có các nguồn vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích hợp Ngân sách Nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên và chi đầu tư cho kinh
tế Việc cấp phát vốn ngân sách Nhà nước cho các mục đích khác nhau này sẽ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn Như vậy hoạt động thu – chi ngân sách Nhà nước đã làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế -
xã hội, các tầng lớp dân cư, Nhà nước với các nhà nước khác, các mối quan hệ kinh tế
Thị trường tài chính
& các tổ chức tài chính trung gian
Tài chính quốc tế
Trang 40giữa một tụ điểm vốn quan trọng: ngân sách Nhà nước với các bộ phận khác của hệ thống tài chính
Thứ hai, tài chính doanh nghiệp
Chính tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính trong nền kinh tế Trong hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp được coi như những tế bào có khả năng tái tạo ra các nguồn tài chính Do vậy nó có tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau, quá trình kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Mỗi quan hệ đều có những nét khác biệt và có những tác động khác nhau đến tài chính doanh nghiệp Chính sự đa dạng này phản ánh mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các bộ phận khác trong hệ thống tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của bộ phận tài chính doanh nghiệp thể hiện ở chỗ: nó bao gồm những quan hệ tài chính vận hành theo cơ chế kinh doanh hướng tới lợi nhuận cao Chính nhờ cơ chế này mà nguồn tài chính được tăng cường và mở rộng không ngừng, đáp ứng tốt nhất nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ ba, tài chính dân cư và tổ chức xã hội
Đây là một tụ điểm vốn quan trọng trong hệ thống tài chính Hoạt động tài chính của các nước có nền kinh tế phát triển và hoạt động tài chính ở nước ta trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng: nếu có những biện pháp thích hợp, chúng ta có thể huy động một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ gia đình để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần to lớn vào việc thực hiện các chính sách về định hướng tích lũy và tiêu dùng của Nhà nước
Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng: tính chất phân tán và đa dạng là đặc điểm nổi bật của tài chính hộ gia đình Nguồn lực tài chính không quy tụ vào những tụ điểm lớn mà phân bố rải rác, không đồng đều trong hàng triệu tế bào nhỏ của nền kinh tế: đó
là các hộ gia đình Nhưng tổng quy mô của nguồn vốn tiềm tàng trong các hộ gia đình rất lớn và cần phải có các biện pháp lưu tâm thích đáng
Tài chính dân cư và tổ chức xã hội có thể có quan hệ thường xuyên hoặc không thường xuyên với tất cả các tụ điểm và các bộ phận trong hệ thống tài chính
Thứ tư, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian
Hoạt động của thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ những người
có vốn sang những người cần vốn thông qua hoạt động tài chính trực tiếp Hoạt động dẫn vốn trực tiếp được thực hiện bằng cách những người cần vốn bán ra thị trường các công cụ nợ, các cổ phiếu hoặc thực hiện các món vay thế chấp Những người có vốn sẽ
sử dụng tiền vốn của mình để mua vào các công cụ nợ hoặc các cổ phiếu đó, như vậy vốn đã được chuyển từ người có vốn sang người cần vốn một cách trực tiếp Với chức năng này, thị trường tài chính có tác dụng thu hút mọi nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển kinh tế, làm nâng cao hiệu quả chung cho toàn bộ nền kinh tế và cải thiện mức sống của người tiêu dùng ngay cả khi khả năng thực tế về tài chính của họ chưa cho phép