ĐẶT VẤN ĐỀ Tự nhiên và Xã hội là môn học quan trọng ở tiểu học với mục tiêu nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức ban đầu và thiết thực về một số sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội tiêu
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 6
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRƯƠNG CÔNG ĐỊNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HỘI THI GIÁO VIÊN GIỎI CẤP QUẬN
Tên người viết sáng kiến : Lê Công Đức
Đơn vị công tác : Trường tiểu học Trương Công Định.
Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy
môn Tự nhiên và Xã hội - Lớp 3”
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Tự nhiên và Xã hội là môn học quan trọng ở tiểu học với mục tiêu nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức ban đầu và thiết thực về một số sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội tiêu biểu trong môi trường sống và mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên, đời sống, sản xuất; hình thành ở các em những kĩ năng như: quan sát, mô tả, thảo luận, phân tích, so sánh, đánh giá… đồng thời giúp các em có thể vận dụng các tri thức đã học vào thực tiễn
Qua nhiều năm giảng dạy, tôi luôn quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm mục đích thu hút hứng thú say mê học tập, óc sáng tạo của học sinh để nâng
cao hiệu quả tiết dạy với đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy
môn Tự nhiên và Xã hội - Lớp 3”
Trang 2II/ THỰC TRẠNG
1 Thuận lợi:
Phòng giáo dục và Ban giám hiệu luôn tạo mọi điều kiện để hỗ trợ cho giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, để các em đến trường với tâm trạng “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”
Cơ sở vật chất:
+ Phòng học sáng sủa, thoáng mát, sạch sẽ, đèn quạt được trang bị đầy đủ
+ Đồ dùng dạy học được đáp ứng kịp thời để phục vụ việc giảng dạy
+ Lớp học được trang trí đẹp và thường xuyên thay đổi các tranh ảnh để học sinh luôn cảm thấy thích thú với những điều mới lạ
Giáo viên:
+ Có kinh nghiệm, yêu nghề mến trẻ
+ Tích cực học hỏi, đổi mới phương pháp dạy học
+ Trường có phương tiện CNTT phục vụ cho việc thiết kế bài giảng điện tử
+ Phòng giáo dục thường xuyên tổ chức các hội thảo, chuyên đề để giáo viên có điều kiện giao lưu học hỏi lẫn nhau
+ Luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu và khối tổ chuyên môn
Phụ huynh - học sinh:
+ Phần lớn phụ huynh hỗ trợ giáo viên kiểm tra và nhắc nhở học sinh việc chuẩn
bị bài ở nhà của các em
+ Đa số học sinh ngoan, chăm chỉ và có ý thức tự giác trong học tập
2 Khó khăn:
Ở tiểu học hầu hết các môn học đều do giáo viên chủ nhiệm lớp giảng dạy Hàng ngày các em tiếp xúc trực tiếp với một giáo viên Nếu giáo viên không nắm được
Trang 3các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để thay đổi cách dạy của mình trong từng bài hay từng tiết học thì rất dễ gây ra nhàm chán, hiệu quả không cao
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, nhiều khi các em học do bố, mẹ, thầy cô ép buộc Học để được khen ngợi, để được điểm cao,… Các em chịu rất nhiều áp lực về học tập từ phía gia đình đến giáo viên chủ nhiệm Cha mẹ không muốn con thua sút bạn bè, thầy cô không muốn các em học kém
Bên cạnh đó, học sinh lại ít có thời gian vui chơi, giải trí Vì vậy dẫn đến tình trạng các em thường có biểu hiện chán học, thụ động, lơ là trong giờ học, có khi các em…sợ học
III/ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA SÁNG KIẾN:
3 Thời gian áp dụng
Áp dụng từ ngày: 8/2021 – 5 /2022
4 Đối tượng áp dụng sáng kiến
Trường tiểu học Trương Công Định; Quận 6- Thành phố Hồ Chí Minh
3.Nội dung
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy để giúp học sinh say mê, hứng thú học môn
Tự nhiên và Xã hội, nên đã vận dụng các biện pháp sau vào việc giảng dạy
IV/ CÁC GIẢI PHÁP:
1/ Sử dụng phương pháp tranh luận:
Tranh luận là phương pháp dạy hỏi khi giáo viên tổ chức cho học sinh bàn luận
và tranh cãi một vấn đề mà có ít nhất là hai quan điểm trái ngược nhau Học sinh ở cùng một nhóm (cùng một quan điểm) thảo luận, phân tích để đưa ra những lí lẽ cho ý kiến của mình, hoặc là đối đáp với câu hỏi bổ sung của nhóm đối lập Kết quả cuối cùng là sự điều khiển khéo léo của giáo viên, nhóm nào bảo vệ được ý kiến của mình
và thuyết phục được nhóm đối lập sẽ thắng cuộc, hoặc có kết quả dung hòa giữa hai
Trang 4nhóm Việc tranh luận về một vấn đề từ các quan điểm trái ngược nhau sẽ kích thích cao độ tính tích cực động não suy nghỉ để tìm ra những lí lẽ, ví dụ xác đáng để minh chứng cho quan điểm của mình Như vậy, việc sử dụng phương pháp tranh luận có thể phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức và là một yêu cầu quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay
Ngoài ra, phương pháp tranh luận còn tạo cơ hội và khuyến khích học sinh suy nghĩ và lắng nghe ý kiến đa dạng, tổng hợp về một vấn đề học tập Từ đó có thể hình thành ở học sinh kĩ năng phân tích khách quan nhìn nhận và suy nghĩ từ nhiều khía cạnh tiền đề quan trọng cho việc hình thành học sinh năng lực tư duy tích hợp Đây là cách tư duy hoàn toàn đối lập với cách tư duy áp đặt phiếm diện, là cách tư duy cần thiết cho con người sống trong xã hội hiện đại Cách tư duy này cũng là cơ sở quan trọng cho việc rèn ở học sinh ý thức tôn trọng và bình tĩnh đối xử với những ý kiến khác-một trong các năng lực hợp tác hết sức cần thiết cho con người sống trong thời
kì mở cửa và hội nhập Hơn nữa, khi học sinh có cơ hội nói ra những suy nghĩ của minh, được lắng nghe và tôn trọng ý kiến phát biểu, lớp học sẽ trở thành môi trường thân thiện- nơi các em sẽ được tự do và bình đẳng trong học tập
Cách tiến hành phương pháp tranh luận:
Tùy từng nội dung bài học, tùy đặc điểm nhận thức của học sinh và cũng tùy theo kĩ năng sư phạm của giáo viên có thể tiến hành tranh luận theo các bước khác nhau Dưới đây là các bước tổ chức tranh luận thường sử dụng:
Bước 1: Chọn đề tài tranh luận Đề tài tranh luận phải là vấn đề mang tính tranh
cãi, có ít nhất 2 quan điểm trái ngược nhau
Bước 2: Xác định các quan điểm GV hỏi xem có bao nhiêu HS đồng ý, bao
nhiêu HS không đồng ý và bao nhiêu em còn phân vân không biết chọn bên nào Nếu đề tài tranh luận không phải là vấn đề gây tranh cãi, không ít nhất 2 quan điểm trái ngược nhau thì việc tranh luận không thể được tiến hành
Trang 5 Bước 3: Chia HS thành các nhóm: đồng ý phản đối hoặc đồng ý phản đối phân
vân tùy theo kết quả lựa chọn quan điểm với đề tài đã nêu Bố trí cho các nhóm ngồi riêng biệt để GV có thể nhớ rõ HS nào thuộc nhóm nào để tiện điều khiển cuộc tranh luận Có thể chia bảng thành 2,3 khu vực tùy theo số quan điểm Mỗi
HS 1 nam châm có ghi tên của mình Trên bảng GV cũng chia thành các ô quan điểm để HS lên gắn nam châm của mình vào ô quan điểm tương ứng Trong quá trình tranh luận khi thay đổi quan điểm HS lên bảng di chuyển nam châm của mình
Bước 4: Tiến hành tranh luận: GV điều khiển tranh luận, yêu cầu từng bên phát
biểu ý kiến và bên đối lập biện hộ cho ý kiến của mình, nên yêu cầu bên có ý kiến sai phát biểu trước Vừa điều khiển HS tranh luận, GV vừa ghi tóm tắt các ý kiến của HS vào các cột quan điểm tương ứng để HS dễ theo dõi và tổng hợp được các
ý kiến của từng quan điểm Tuy nhiên, cần lưu ý HS khi tranh luận phải phát biểu
từ tốn, tôn trọng ý kiến của nhóm đối lập không được cãi nhau Phương pháp tranh luận đạt được hiệu quả cao, trong quá trình tranh luận nhiều HS dần dần thay đổi suy nghĩ của minh theo hướng quan điểm đúng
Bước 5: Đánh giá tổng kết GV đánh giá bên có quan điểm đúng, bên có quan
điểm chưa đúng, hoặc ý kiến đúng là quan điểm dung hòa giữa 2 nhóm, bổ sung thêm đề tổng kết tranh luận
* Tôi đã áp dụng phương pháp này vào việc giảng dạy Bài 32: LÀNG QUÊ VÀ ĐÔ THỊ
2/ Sử dụng các cách tiếp cận Giải quyết vấn đề (GQVĐ):
Trong quá trình giảng dạy môn học này, GV cần phải tạo ra môi trường học tập khoa học, thân thiện; phải hướng HS tới việc chủ động phát hiện các vấn đề và tìm kiếm giải pháp để giải quyết các vấn đề đó Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp hiện đại
Trang 6 Các tiếp cận GQVĐ trong dạy học : Dạy học phát hiện và GQVĐ theo 4 cách tiếp cận
GV nêu vấn đề, HS ý thức được và có nhu cầu GQVĐ, GV chủ động thông báo cách GQVĐ cho HS quan sát và làm theo, cuối cùng GV cùng với HS đánh giá và rút ra kết luận (kiến thức mới của bài học) Đây là mức thấp nhất của kiểu dạy học phát hiện và GQVĐ, còn được gọi là thuyết trình nêu vấn đề hay trình bày nêu vấn đề
GV đặt vấn đề, HS ý thức được vấn đề và có nhu cầu giải quyết GV và HS cùng GQVĐ dựa trên một hệ thống các câu hỏi gợi mở GV và HS cùng đánh giá và rút
ra kết luận Ở cách tiếp cận này, mức độ và cơ hội tham gia GQVĐ của HS đã được nâng lên một bậc so với tiếp cận 1 Tiếp cận này còn được gọi là vấn đáp nêu vấn đề
GV đặt vấn đề, HS ý thức được vấn đề, có nhu cầu GQVĐ , nảy sinh tình huống
có vấn đề HS lập kế hoạch và lựa chọn giải pháp HS chủ động, độc lập giải quyết tình huống có vấn đề GV và HS cùng kết luận
GV xây dựng tình huống dạy học, qua đó giúp HS phát hiện ra vấn đề HS xác định vấn đề, nảy sinh tình huống có vấn đề, thu thập thông tin, đề ra các giả thuyết, lập kế hoạch, tự giác thực hiện kế hoạch giải quyết tình huống có vấn đề Chủ động điều chỉnh kế hoạch nếu cần thiết và giải thích được kết quả thu được Việc đánh giá và kết luận có sự tham gia của cả GV và HS Đây là cách tiếp cận duy nhất mà HS độc lập, tự giác và tích cực tham gia vào tất cả các khâu của quá trình GQVD
Bốn cách tiếp cận này có thể xuất hiện đồng thời hoặc không đồng thời trong các giờ học tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung dạy học, trình độ nhận thức của HS, năng lực sư phạm của GV Dù sử dụng tiếp cận nào, GV luôn là người giữ vai trò tổ chức
và điều khiển quá trình dạy học, còn HS luôn là người được tạo cơ hội tối đa trong việc chủ động, tự giác, tìm kiếm tri thức mới
Trang 7 Qui trình xây dựng và phát hiện tình huống có vấn đề trong môn TN-XH:
Gồm 4 bước sau:
Xác định mục tiêu bài dạy
Phân tích nội dung bài dạy xác định mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức trong bài cũng như mối quan hệ giữa các nội dung đó với các kiến thức có liên quan ở các bài học trước
Xây dựng nguồn tư liệu (tìm kiếm thông tin liên quan đến bài học)
Xác định khả năng có thể xây dựng tình huống có vấn đề và thể hiện thành vấn đề học tập
* Tôi đã vận dụng phương pháp này vào việc giảng dạy Bài 52: CÁ
Các giờ học có sử dụng các tiếp cận GQVĐ và kết quả cho thấy những giờ học
đó rất sôi nổi, HS hứng thú tham gia xây dựng bài, thể hiện vốn kinh nghiệm cá nhân rất phong phú, bất ngờ Đặc biệt, trong giờ học, GV đã tạo ra được môi trường học tập rất thoải mái, nhiều HS nêu được các câu hỏi lí thú cũng như có cơ hội bày tỏ ý kiến riêng, do đó các em rất hào hứng tìm hiểu bài học trước khi tới lớp
Việc sử dụng các cách tiếp cận GQVĐ trong dạy học là một hướng đi khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn TN-XH lớp 3 nói riêng và các môn học khác ở tiểu học nói chung Ngoài việc nâng cao chất lượng dạy và học, các cách tiếp cận GQVĐ còn làm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS tiểu học, giúp các em thêm hứng thú, tự tin ham mê tìm tòi và khám phá nguồn kiến thức phong phú về Tự nhiên và Xã hội ở xung quanh các em Đó là những kĩ năng vô cùng cần thiết của mỗi
HS trong một xã hội hiện đại
3/ Sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội:
Câu đố là một thể loại quan trọng trong nền văn học dân gian Việt Nam Là một phương tiện nhận thức đặc biệt tinh tế và linh hoạt, câu đố đã đem lại cho nhân dân Việt Nam những phút vui vẻ, yêu đời, có tác dụng kích thích óc suy xét, bồi dưỡng tri
Trang 8thức về thế giới Có thể nói, câu đố là bài học thưởng thức về các sự vật, hiện tượng trong lao động, đời sống được trình bày theo phương pháp trực quan và mô tả một cách sinh động, do đó dễ nhớ và gây được nhiều hứng thú
Đối với trẻ thơ, nhất là lứa tuổi HS tiểu học, câu đố càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng và nâng cao trí tuệ cho các em Hầu hết HS tiểu học rất thích thú khi được đọc, được nghe những câu đố Do đó, câu đố rất phù hợp với sự phát triển trí tuệ của thiếu nhi, thỏa mãn óc tò mò, lòng khao khát hiểu biết của các
em, giúp các em dần dần chiếm lĩnh được kho tàng kinh nghiệm, kho tàng tri thức của nhân loại một cách tự giác và tích cực
Câu đố không được đi vào trong chương trình giảng dạy nhưng GV có thể liên
hệ, sử dụng câu đố như một phương tiện dạy học đắc lực cho giờ dạy của mình, nhất
là những bài học có chủ đề tự nhiên (động vật thực vật, các hiện tương tự nhiên) nhằm thu hút sự hứng thú của HS và phát huy tác dụng của câu đố, từ đó nâng cao được hiệu quả của giờ dạy
Khi đưa câu đố vào trong một tiết dạy môn TN-XH GV có thể sử dụng câu đố ở phần “Giới thiệu bài mới” để thu hút sự chú ý, kích thích hứng thú học tập của HS Đặc biệt, GV có thể sử dụng câu đố trong trò chơi học tập ở cuối tiết dạy để kiểm tra, củng cố kiến thức sẽ nội dung bài học của HS Hoạt động vui chơi bằng câu đố sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của HS, giúp các em dần dần hình thành khả năng phân tích, phát hiện và cảm nhận về thế giới xung quanh, tích lũy thêm những hiểu biết mới
và làm sâu sắc thêm những kiến thức đã có cho bản thân GV có thể tổ chức cho HS thi “Đố vui” theo chủ đề của bài học, dưới hình thức “Đội này hỏi – Đội kia trả lời” hoặc một cá nhân hỏi để các cá nhân khác trong tập thể cùng suy nghĩ và trả lời, xem
ai là người biết được nhiều câu đố nhất, có câu đố hay nhất, đội nào giải được nhiều câu đố hơn, Khi tổ chức thi, GV cần chuẩn bị nhiều câu đố có tính chất vui nhộn, ngộ nghĩnh về chủ đề đố vui đó, để tạo cho không khí cuộc thi thêm sôi nổi hào hứng
GV không những phải có lòng say mê, óc sáng tạo, có kiến thức, hiểu biết về câu đố
Trang 9mà còn phải có tâm hồn tươi trẻ, biết nhập vai khi cần thiết để cùng các em giải quyết tốt các tình huống bất ngờ nảy sinh trong quá trình vui chơi
VD: Dạy bài "Quả" (TN-XH 3), GV có thể đưa ra câu đố về các loại quả để sử dụng
trong trò chơi học tập ở cuối tiết dạy:
Nước sông không đến
Nước biển không vào
Làm sao có nước?
(Là: quả dừa)
Quả gì năm mũi, năm khe
Quả gì nứt nẻ như đe thợ rèn
Quả gì kẻ ước người ao
Quả gì sáng tò như sao trên trời?
(Là quả khế, quá mãng cầu, quả mơ, quả mai)
Trái gì bay mùi muốn nôn
Khi ăn thơm phức tiếng đồn khắp nơi?
(Là: Trái sầu riêng)
Khi dạy những bài TN-XH 3, có chủ đề về động vật thì GV có thể sử dụng những câu đố về con vật liên quan đến nội dung bài học đó
VD: Dạy về con trâu:
Con gì nhỏ hơn con voi Lớn hơn con ngựa mà coi hiện lành Thói quen tắm gội ao sình
Mưa mừng, nắng giận bẩm sinh khác thường?
(Là: Con trâu) Dạy về con tôm:
Dao cắm ở trên đầu Mình lại ngắn hơn rầu
Trang 10Đến khi cho vào lửa Toàn thân lại đỏ au?
(Là: Con tôm) Câu đố đã được HS tiểu học đón nhận một cách thích thú, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được ở các em Do đó, việc phát huy vai trò, hiệu quả giáo dục của câu đố là một vấn đề quan trọng, đòi hỏi GV khi sử dụng câu đố vào trong tiết dạy các môn TN-XH phải sử dụng một cách linh hoạt hình thức dạy học tích cực
“Học mà chơi-chơi mà học" nhằm nâng cao hứng thú và chất lượng học tập cho HS Bên cạnh đó, GV phải hiểu biết về câu đố, có những định hướng đúngvề nội dung nhận thức và giá trị giáo dục của câu đố, biết sử dụng câu đố đúng lúc và đúng chỗ
Có như vậy, câu đố chắc chắn sẽ trở thành một phương tiện nhận thức hữu hiệu mang lại hiệu quả cao cho giờ học
4.1 Trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là một trong những phương pháp dạy học được sử dụng dạy học môn TN-XH ở Tiểu học Trò chơi học tập là trò chơi có gắn với hoạt động học tập của HS Trong các tiết học môn TN-XH việc tổ chức cho HS chơi vào bất cứ phần nào của bài học đều rất quan trọng, vì trò chơi làm thay đổi hình thức học tập; làm không khí lớn học được thoải mái dễ chịu hơn Quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn làm cho HS thấy vui, nhanh nhẹn, cởi mở hơn HS tiếp thu tự giác, tích cực hơn và được củng cố, hệ thống hóa kiến thức
B Cách tiến hành:
Trước khi chơi, GV cần nếu rõ tên trò chơi, cách chơi, thời gian chơi và luật chơi
GV có thể cho HS chơi thử (nếu cần) sau đó chơi thật Khi trò chơi kết thúc, GV cần nhận xét kết quả của trò chơi (có thể “thưởng" hoặc “phạt” người thắng hoặc người thua), nhận xét thái độ của người tham dự và rút kinh nghiệm GV cần hỏi xem HS đã học được những gì qua trò chơi hoặc tổng kết lại những gì đã học được qua trò chơi