1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài kiểm tra kinh tế học vĩ mô

10 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 439 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân biệt các khái niệm nợ công, nợ chính phủ và nợ quốc gia. Nợ công có phải luôn xấu đối với nền kinh tế hay không? Phân tích những nguyên nhân làm nợ công tăng nhanh ở Việt Nam. Câu 2 (6đ): Sử dụng mô hình IS – LM trong nền kinh tế đống để trình bày tác động nagứn hạn của các chính sách sau đến tiêu dùng, đầu tư, lãi suất, tổng cầu và sản lượng: a. Ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu. b. Chính phủ giảm chi tiêu. Trong mỗi trường hợp vẽ đồ thị minh họa.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2022 – 2023

(Phần dành cho sinh viên/ học viên)

Bài thi học phần: Kinh tế học vĩ mô

Mã số đề thi:

Ngày thi: / /2022 Tổng số trang: 09

Số báo danh: 12 Lớp: KIVM28AN7

Họ và tên: ĐỖ THỊ MAI

GV chấm thi 2: …….………

ĐỀ BÀI

Câu 1 (4đ):

Phân biệt các khái niệm nợ công, nợ chính phủ và nợ quốc gia Nợ công có phải luôn xấu đối với nền kinh tế hay không? Phân tích những nguyên nhân làm nợ công tăng nhanh ở Việt Nam

Câu 2 (6đ):

Sử dụng mô hình IS – LM trong nền kinh tế đống để trình bày tác động nagứn hạn của các chính sách sau đến tiêu dùng, đầu tư, lãi suất, tổng cầu và sản lượng:

a Ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu

b Chính phủ giảm chi tiêu

Trong mỗi trường hợp vẽ đồ thị minh họa

BÀI LÀM

Câu 1 (4đ):

- Phân biệt nợ công, nợ quốc gia, nợ chính phủ

Nợ công là nợ của chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương Có thể là nợ nội địa từ

các nhà đầu tư trong nước, có thể là nợ ngoại khi vay mượn từ nước ngoài Thường chính phủ mượn nợ qua các công cụ: phát hành công khố phiếu, các trái phiếu hay các quốc gia nghèo thường vay các ngân hàng phát triển quốc tế hay vùng như VN nợ ADB, WB… Thu nhập của chính phủ là do nguồn thuế nên nợ công là nợ quốc dân, nợ mà người dân đóng thuế phải trả

Nợ quốc gia (nợ công hoặc nợ chính phủ) là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi

cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách Do

đó, nợ chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách luỹ kế tính đến một thời điểm nào đó

Để tính toán quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ dựa trên phần trăm

so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Nợ chính phủ là một phần thuộc Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà

chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ

kế đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

- Các hình thức vay nợ của chính phủ

+ Phát hành trái phiếu chính phủ:

Chính phủ có thể phát hành các trái phiếu chính phiếu để thực hiện việc vay tiền từ các tổ chức,

cá nhân Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được xem là không có rủi ro tín dụng vì chính phủ có thể tăng thuế, thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về

tỷ giá hối đoái

Trang 2

+ Vay trực tiếp:

Chính phủ cũng có thể thực hiện việc vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia… Hình thức này thì thường được chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng bởi vì khi đó, khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao

- Ảnh hưởng của nợ công tới nền kinh tế.

Nợ công không phải luôn xấu, nợ công có tầm ảnh hưởng và chi phối rất lớn đến một nền kinh tế Theo đó chúng mang lại cả lợi ích lẫn tiêu cực.

+ Lợi ích của nợ công:

Bất kỳ một khoản tiền nào cũng mang lại những giá trị của nó và nhà nước chấp nhận vay tiền tức là đã xác định rõ ràng những lợi ích của khoản vay đó đối với sự phát triển của đất nước

Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho nhà nước Nợ công giúp tăng cường nguồn vốn phát triển

cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước Nếu có được chính sách huy động nợ công một cách hợp lý thì nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở

hạ tầng, từ đó giúp gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế

Huy động nợ công sẽ góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhà rỗi trong dân cư Nhà nước vay nợ từ các khoản tiền nhàn rỗi từ bộ phận dân cư trong xã hội sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư

Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và tổ chức tài chính quốc tế Tài trợ quốc tế

là một trong những hoạt động kinh tế, ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương

+ Tác động tiêu cực của nợ công:

Bên cạnh lợi ích lớn mà nợ chính phủ mang lại thì chúng cũng có những tác động không mong muốn đến nền kinh tế của một quốc gia

Nợ công có khả năng trở thành nợ xấu hay không sẽ phụ thuộc vào năng lực quản lý tài chính của một quốc gia kinh tế Trách nhiệm hoàn trả nợ công sẽ gây nên áp lực lớn về chính sách đầu

tư trong nước và chính sách thuế…

Nguồn vay dồi dào nếu không được quản lý một cách chặt chẽ thì rất dễ gây nên nạn tham nhũng, thất thoát lãng phí nguồn tiền Mỗi hoạt động sử dụng nguồn vốn không hiệu quả đều

có thể gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng như nợ chồng nợ hay hiệu ứng domino…

Có thể thấy nợ công đóng vai trò rất quan trọng đối với một nền kinh tế, nhất là những nước đang phát triển, nguồn vay nợ công mang lại nhiều lợi ích thiết thực giúp cho việc tái thiết và xây dựng đất nước nhưng cũng chính là gánh nặng tài chính cho quốc gia Theo đó, người lãnh đạo quốc gia cần phải triển khai nhiều chính sách một cách nghiêm ngặt nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn vốn vay để tránh thất thoát và lãng phí tiền

- Nguyên nhân làm nợ công tăng nhanh ở Việt Nam

Để dẫn đến tình trạng nợ công như hiện nay, có thể thấy một số nguyên nhân chủ yếu:

Thứ nhất: Đầu tư ồ ạt Đường xá, cầu đường được xây dựng và mở rộng, chi phí được lấy từ ngân sách nhà nước Mà ngân sách này là đi vay từ các tổ chức tín dụng trong nước và ngoài nước Theo thống kê, xây dựng đường xá mất khoảng 20 triệu USD/km Trong khi theo tính toán, đường xá sau khi được xây dựng xong và đi vào sử dụng trong 2 năm đã phải tu sửa Tương tự, mới đây Việt Nam bỏ chi phí xây dựng tượng đài một cách phung phí với chi phí lớn Với những chi phí bất hợp lí như vậy, tỷ lệ nợ công của Việt Nam sẽ ngày càng tăng nhanh Ngoài ra, các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ nên Nhà nước còn phải gánh thêm khoản nợ Thực tế hiện nay, có 12 dự án đầu tư không hiệu quả và cần xử lý của Bộ Công Thương Bộ Tài chính báo cáo có 72 dự án đầu tư khác của doanh nghiệp nhà nước không khả thi và có nhiều khả năng thua lỗ Điều này đã làm tăng thêm áp lực về gánh nặng nợ công cho Chính phủ

Thứ hai: Có hiện tượng tham nhũng, thất thoát Lãi phải trả cho cho các khoản đi vay quá lớn, trong khi phần lớn số vốn vay lại không được sử dụng hiệu quả do nhiều lý do như tham nhũng,

Trang 3

thất thoát, chậm tiến độ Điều đó dẫn đến các khoản lãi ngày càng trầm trọng Trong chi tiêu Chính phủ, chi thường xuyên chiếm 71%, chi trả nợ chiếm 24,5%, còn lại 4,5% tổng ngân sách cho đầu tư

Bên cạnh đó, chưa có sự minh bạch trong sử dụng vốn vay Việt Nam có rất nhiều dự án chậm tiến độ so với dự kiến Càng kéo dài, trì trệ thì càng lỗ, trong khi đó thì gánh nặng trả lãi của các khoản vay lại ngày càng tăng Đặt ra câu hỏi là liệu nguồn vốn đã thực sự được đầu tư đúng hướng và các nhà lãnh đạo đã thực sự đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu khi mà có quá nhiều dự

án thua lỗ, chậm trễ, phải thay đổi nhiều nhà thầu mới có thể hoàn thành

Câu 2 (6đ):

Thiết lập đường IS

Thị trường hàng hoá cân bằng khi tồng cầu bằng thu nhập tương ứng với một mức lãi suất cho trước Khi lãi suất thay đổi đường tồng cầu sẽ dịch chuyển và cho một mức thu nhập mới Như vậy, nếu tập hợp những tồ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân bằng cùa thị trường hàng hoá sẽ được một đường gọi à đường IS

Vị trí của đường IS tùy thuộc vào mức chi tiêu của chính phù và thuế Sự tăng lên (hay giảm xuống) của G đẩy đường IS về phía phải so với đường gốc (hay phía trái, hướng tới điểm gốc), vì

nó làm tăng (hay giậm) các khoản dự kiến chuyển thành nhu cầu tại bất kỳ mức lãi suất nào và

do đó, đòi hỏi mức thu nhập cao hơn (hay thấp hơn) để duy tri sự cân bằng giữa các khoản rút

ra dự kiến chuyển thành nhu cầu

• Ở mức lãi suất r tổng chi tiêu là AE1 sản lượng cân bằng là Y1, điểm cân bằng trên thị trường hàng hóa la E1 Từ đó ta xác định được điểm E1’ có toạ độ (r1, Y1)

• Giả sử lãi suất giảm xuống mức r2 khi đó đầu tư tăng thêm một lượng là ΔI, tổng chi tiêu của I, tổng chi tiêu của nền kinh tế tăng lên từ AE1 đến AE2, sản lượng cân bằng là Y2 Ta xác đinh được E2 có toạ độ (r2.Y2) Đường đi qua 2 điểm E0 và E0’ chính là đường IS

Trang 4

• Độ dốc của đường IS sẽ phụ thụộc vào độ nhạỵ cảm của nhu cẩu đầụ tư và nhu cầu tiêu dùng

tự định đối với lãi suất

• Nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng tự định càng bị giảm xuống do lãi suất tăng, khi lãi suất tăng sẽ càng làm giảm mức thu nhập cân bằng

và độ dốc của đường IS càng thoải

• Ngược lại, nếu những thay đổi trong lãi suất

chỉ đưa đến những dịch chuyển nhỏ của đường

tổng cầu, mức thu nhập cân bằng sẽ hầu như

không bị ảnh hưởng gì, và đường IS sẽ rất dốc

Ta có công thức sau:

• d là hệ số phản ánh mức độ nhạy cảm của

đầu tư so với lãi suất i Nếu d tăng thì đương IS

thoải hơn

• Nhìn vào phương trinh cùa đường IS chúng

ta thấy rằng, chính là độ dốc của đường IS

Nếu giá trị của d hoặc m’ càng lớn thi đường IS

càng thoải và nếu chúng càng nhỏ thì đường IS

càng dốc

Như vậy, nếu tỷ suất thuế tăng lên hoặc MPC

giảm xuống đều làm cho giá trị của m’ giảm

xuống và đường IS trờ nên dốc hơn và ngược

lại

• Phân tích độ dốc của đường IS cho chúng ta

biết được mức độ tác động cùa chính sách tài

khóa hoặc chính sách tiền tệ đển thụ nhập, lậi

suất, thất nghiệp, lạm phát trong nến kinh tế

như thế nào

• Như vậy, đường IS là quỹ tích của các kết

hợp giữa mức sản lượng Y và mưc lãi suất r, và

bất ký điem nậo trên đó cũng làm cho thị

trường hàng hoa cân bằng, nhưng nó không

chỉ ra điểm nào trong những kết hợp trên tạo

ra trạng thái cân bằng chung của nền kinh tế

Các điểm nằm ngoài đường IS

Các biện pháp cắt giảm (hay tăng) thuế đẩy đường IS sang phải (hay sang trái) và các điểm nằm ngoài đường IS về bên phải là điểm biểu thị tình trạng dư cung về hàng hóa (các khoản rút ra dự kiến vượt quá các khoản dự kiến chuyển thành nhu cầu), còn các điểm nằm ngoài đường IS về phía trái biểu thị tình trạng dư cầu về hàng hóa (các khoản dự kiến chuyển thành nhu cầu vượt quá các khoàn rút ra dự kiến)

Điểm E3 trên thị trường hàng hóa biểu thị chi tiêu vượt quá thu nhập Đối với thị trường hàng hóa, đây lả hiện tượng thiếu hàng Các điểm nằm phía trên (bên ngoài) đương IS biểu thị tình trạng thừa hàng (dư cung)

Trang 5

Sự trượt dọc và dịch chuyển đường IS

Bất cứ một nhân tố nào làm đường tổng

cầu dịch chuyển cũng sẽ làm dịch chuyển

đường IS

Với một mức lãi suất nhất định, sự gia

tăng niệm lạc quan của các hãng về

những khoản lợi nhuận trong tương lai sẽ

dịch chuyển đường nhu cầu đầu tư đi lên,

làm tăng nhu cầu đầu tư tự định; sự gia

tăng trong ước tính cùa các hộ gia đinh về

thu nhập trong tương lai sẽ dịch chuyển

hàm tiêu dùng lên trên, làm tăng nhu cầu

tự định; hay sự gia tăng trong chi tiêu của

Chính phủ có thể trực tiếp làm tặng cấu

phần của Chính phủ trong nhu cầu tự

định

• Sự gia tăng chi tiêu của chính phủ G1

đến G2, trong điều kiện lãi suất không đổi

r1 Tổng chi tiêu của nền kinh tế tăng lên

từ AE1 đến AE2, thu nhập của nền kinh tế

tăng lên từ Y1 đến Y2 dẫn tới đương IS dịch chuyền từ IS1 đến IS2

Trang 6

• Khi giá trị các khoản chi tiêu tự định (không phu thuộc vào thu nhập) thay đổi sẽ làm cho

đương IS dịch chuyển sang vị trí mới

Thiết lập đường LM

• Giả sử rằng mức cung tiền cố định, với mức thu nhập ở Y1 đuờng cầu tiền là MD (r1, Y1) và

điểm cân bằng của thị trường tiền tệ là E1 với lãi suất cân bằng là r1 từ đó có thể xác định điểm

E1’ của tồ hợp (r1, Y1)

• Khi thu nhập tăng đến Y2, đựờng cầu tiền dịch chuyển lên MD (r2,Y2) với điểm cân bằng E2 có

lãi suất cân bằng r2 Từ đó có thể xác định điểm E2’ của tổ họp (r2,Y2) Đuờng đi qua hai điểm E1’,

E2’ trên đồ thị là đường LM

• Đường LM có độ dốc dương, điều đó chứng tỏ khi thu nhập Y tăng thì lãi suất r tăng và ngược

lại Đường LM phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa thu nhập và lãi suất. 

Khái niệm: Đường LM là đường bao gồm tập hợp tất cà các điểm phản ánh mối quan hệ giũa lãi

suất và thu nhập khi thị trường tiền tệ cân bằng

Thiết lập phương trình đường LM

MS/P là cầu tiền thực tế

♦ MS/P là cầu tiền thực tế

h là độ nhạy càm của cầu tiền với lãi suất; k là độ nhạy cảm của cầu tiền và thu nhập

♦ MS/P là cầu tiền thực tế

Nếu độ nhạy càm của cầu tiền với lãi suất (h) càng lớn thi đường LM càng thoải và ngược lại;

♦ MS/P là cầu tiền thực tế

nếu độ nhạy cảm của cầu tiên và thu nhập (k) càng lớn thi đường LM càng dốc và ngược lại

Phân tích độ dốc của đường LM cho chúng ta biết được mức độ tác đông cùa chính sách tải

♦ MS/P là cầu tiền thực tế

khóa hoặc chính sách tiền tệ đến thu nhập, lãi suất, thất nghiệp, lạm phát trong nền kinh tế như

thế nào. 

d d.m'

d d.m'

d d.m'

Trang 7

Các điểm nằm ngoài đường LM

• Thị trường tiền tệ ban đầu cân bằng tại điềm E1, khi thu nhập tăng, cầu tiền tăng, lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ tăng từ r1 đến r2, chúng ta xây dựng được đường LM Các điểm nằm phía trên đường LM, ví dụ như điểm E3, biểu thị trạng thái dư cung tiền Các điểm nằm phía duới đuờng LM, ví dụ như điểm E4, biểu thị trạng thái dư cầu tiền tệ

r

h

0

Trang 8

Chính sách tài khóa và tiền tệ trong Mô hình IS-LM

Hình 1 minh họa tác động lên mức

thu nhập và việc làm (Y) của chính

sách mở rộng tài khóa (G↑ hay T↓)

Tác động lên Y phụ thuộc vào chính

sách tiền tệ

•Nếu ngân hàng trung ương (CB) giữ

cung tiền không đổi, R tăng, sẽ chèn

lấn đầu tư tư nhân

Nếu ngân hàng trung ương giữ lãi

suất là hằng số, khi đó sẽ phải tăng

MS, dịch chuyển đường LM ra bên

ngoài

Tại “c” chúng ta có tác động kết hợp

của G↑ và MS

Hình 2 cho thấy tác động của một

chính sách mở rộng tiền tệ, làm dịch

chuyển đường LM xuống dưới Lãi

suất lúc đầu rơi xuống “b”, nhưng khi

đó đầu tư tăng và thu nhập tăng cho

đến khi một cân bằng mới được thiết

lập ở “c”

Lưu ý: cả chính sách tiền tệ và tài

khóa đều là những công cụ hiệu quả

để quản lý cầu, nhưng chúng có tác

động rất khác nhau lên cơ cấu nền

kinh tế

LM

L M

IS

L M

IS

I S

R

R

Y

c

b

c

a

b

a

Hình 1

Hình 2

LM

Trang 9

Tác động của giá và xây dựng đường AD

Hình 1 Chúng ta bắt đầu từ cân bằng

ở “a” (Y1, R1) Điều gì xảy ra nếu mức

giá (P) tăng lên?

• Mọi thứ khác không đổi, Khi P↑,

cung tiền thực giảm, hình 1 đẩy lãi

suất tăng lên (R ↑)

• Khi R ↑, đầu tư và có thể tiêu dùng

sẽ giảm (thể hiện bằng chuyển động

hướng lên trên đường IS)

• Khi (I + C)↓ sản lượng thực giảm từ

Y1 xuống Y2

• Tất cả những tác động này phát sinh

từ việc mức giá Y tăng từ P1 lên P2

Hình 2 cho thấy quan hệ giữa mức giá

và tổng mức sản lượng Quan hệ này

giữa giá cả hàng hóa và lượng cầu

hàng hóa chính là đường tổng cầu

(AD)

L M’

𝑌 1

A D

L

M L M’

I S

P

R

Y

a

b

Hình 1

Hình 2

𝑌 2

𝑌 2

1

𝑌 1

1

2

𝐺↑

A D’

IS’

Trang 10

Hình 1

Chúng ta bắt đầu từ cân bằng ở

“a” (Y1, R1) Điều gì xảy ra nếu có

chính sách nới lỏng tiền tệ?

Hình 1

•Một sự gia tăng cung tiền sẽ làm

cho đường LM dịch chuyển ra

ngoài

• Lãi suất giảm và đầu tư cũng

như tiêu dùng tăng, làm di

chuyển hướng xuống dọc đường

IS từ “a” xuống “b”

•Tại điểm cân bằn mới (b) lãi

suất sẽ thấp hơn và thu nhập sẽ

cao hơn

Hình 2

Nới lỏng tiền tệ làm đường AD

dịch chuyển ra ngoài

Hình 2

Ngày đăng: 24/10/2022, 06:45

w