1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

MÔN LỊCH SỰ VIỆT NAM II: Việt Nam thời kỳ đổi mới , hội nhập và phát triển kinh tế từ năm 1986 đến nay ?

15 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 65,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN LỊCH SỰ VIỆT NAM II CHỦ ĐỀ : I.Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong tiến trình lịch sử dân tộc ? II. Việt Nam thời kỳ đổi mới , hội nhập và phát triển kinh tế từ năm 1986 đến nay ? .............................................................

Trang 1

MÔN LỊCH SỰ VIỆT NAM II CHỦ ĐỀ : I.Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong tiến trình lịch sử dân tộc ?

II Việt Nam thời kỳ đổi mới , hội nhập và phát triển kinh tế từ năm

1986 đến nay ?

BÀI LÀM

I Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong tiến trình

lịch sử dân tộc ?

1 Bối cảnh lịch sử

Ngọn lửa Cần Vương kháng chiến cuối cùng ở Vũ Quang do Phan Đình Phùng lãnh đạo cũng đã bị dập tắt( 1896) Dưới chính sách của toàn quyền Paul Doumer là triệt để khai thác nhân lực cùng tài nguyên của xứ thuộc địa này nhằm phục vụ tối đa cho quyền lợi của mẫu quốc, từ 1902 ở Hà Nội người Pháp rầm rộ khánh thành cầu Doumer( cầu Long Biên) Đông Dương bắt đầu mang lại những lợi lộc kinh tế và tài chính cho nước Pháp trong khi tuyệt đại đa số người Việt phải chịu cảnh khốn khổ ngay trên chính quê hương của mình

Trong hoàn cảnh đất nước bi đát như thế Phan Bội Châu Và Phan Châu Trinh là 2 sĩ phu, 2 bậc đại hào kiệt đi hàng đầu trong vận động giành lại độc lập dân tộc đã có những đóng góp không hề nhỏ đối với đất nước

2 Tiểu sử

Phan Bội Châu

- Sinh ngày 26/12/1867 tại làng Đan Nhiễm xã Nam Hòa huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An Ông mất ngày 29/10/1940 Tên thật là Phan Văn San, tự là Hài Thu.Hiệu là Sào Nam

- Cha là Phan Văn Phổ- một nhà nho chân chính rất trọng chữ thánh cần

Mẹ là Nguyễn Thị Nhàn- một nữ sĩ được tiếng là người đức hạnh

- Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách luận ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện Thưở

Trang 2

thiếu thời đã sớm có lòng yêu nước năm 17 tuổi ông đã viết “ Hịch Bình Tây Thu Bắc” đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc bắc Kì khởi nghĩa kháng Pháp Năm 19 tuổi ông cùng bạn Trần Văn Lương lập đội nghĩa quân Cần Vương chống Pháp nhưng không thành

- Ông là nhà Nho nổi tiếng của xứ Nghệ thuộc thế hệ cuối cùng của sĩ phu Cần Vương , được giác ngộ tư tưởng và trở thành người cần đầu một phong trào yêu nước và cách mạng đi đầu trong phong trong dân tộc suốt 20 năm đầu thế kỷ

- Gia cảnh khó khăn ông đi dạy học kiếm sống và học thi nhưng thi suốt 10 năm không đỗ, lại can tội “hoài hiệp văn tự” (mang văn tự trong áo) án ghi “ chung thân bất đắc ứng thi”( suốt đời không được dự thi) Năm 1896 ông vào Huế dạy họcdo mến tài ông nên các quan xin vua Thành Thái xóa án “ chung thân bất đắc ứng thi” Khi được xóa án ông dự khoa thi hương năm Canh Tỷ (1900) ở trường Nghệ và giải Nguyên

- Trong 5 năm sau khi đỗ giải nguyên, ông bôn ba khắp nước Việt nam liên kết với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Đặng Thái Thân để cùng chống Pháp Ông chọn Kì Ngoại Hầu Cường-một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn- làm lãnh tụ phong trào Cần Vương

Phan Châu Trinh

- Sinh ngày 9/9/1872 ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ tam Kì, tỉnh Quảng Nam Ông mất ngày 24/3/1926.Hiệu là Tây Hồ

- Cha là Phan Văn Bình- một viên quan phụ trách việc quân lương Mẹ là

Lê Thị Trung- con gái nhà vọng tộc thông thạo chữ hán,

- Ông là một sĩ phu tư sản hóa ,là một nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị

- Năm 1892 ông bắt đầu đi học ông nổi tiếng học giỏi Năm 1900 ông đỗ cử nhân 1901 đỗ Phó Bảng 1902 ông học trường Hậu Bổ rồi ra làm quan với chức Thừa Biện Hậu Lễ nhưng tâm trạng chán nản cảnh quan trường ô nhục Tại kinh

đô Huế ông giao du với nhiều người có tư tưởng canh tân như Trương Trọng

Trang 3

Huề, Đào Nguyên Phủ, Vũ Trọng hàm Tháng 7/1904 Phan Châu Trinh gặp Phan Bội Châu và 2 người trở thành đôi bạn tâm phúc

3 Những đóng góp của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam

3.1:Phan Bội Châu

 Thức tỉnh hồn nước và lí tưởng mới của Phan Bội Châu

Trong hàng ngũ các sĩ phu yêu nước vào đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu có

lẽ là người đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thức tỉnh hồn nước.Thơ văn Phan Bội Châu có ảnh hưởng sâu sắc đến với người đọc không chỉ với những dòng thơ mang âm điệu khi trầm hùng thiết tha, khi rạo rực sôi nổi, mà cũng vì những gì ông nói lên đều khơi dậy nỗi nhục mất nước và kích động những cảm xúc sâu xa của tình tự dân tộc

“ Than ôi lục tỉnh Nam Kì

Nghìn năm cơ nghiệp còn gì hay không

Mịt mù một dải non song

Hỏi ai, ai có đau lòng chăng ai…”

Do ảnh hưởng của thơ văn Phan Bội Châu mà hàng nghìn thanh niên đã cắt cụt bím tóc,vất hết sách vở văn chương cử tử cùng cái mộng công danh nhục nhã gắn trên đó, lìa bỏ làng mạc, nhà cửa vợ con, rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu, nguy hiểm, khổ sở, để qua Xiêm, qua tàu, qua Nhật để học hỏi và trù tính việc đánh Tây Ngoài ra ảnh hưởng thơ văn của Phan Bội Châu không chỉ giới hạn trong thế hệ trưởng thành đầu thế kỉ XX mà ngay cả trong thời gian đất nước phân kì, bất luận Nam Bắc thơ văn của ông đã khơi dậy lòng yêu nước của không biết bao nhiêu thanh niên

Hơn nữa ông còn đưa ra mẫu lí tưởng mới cho cuộc sống và đã sáng tạo ra được mẫu người lí tưởng cho thời đại Lý tưởng đó là cứu nước Ông cho rằng mục đích tốt đẹp nhất của đời người, lý tưởng tốt đẹp nhất của đời người là làm sao cứu được nước, vì cứu nước cũng tức là cứu mình Lý tưởng ấy thật cao quý nhưng nó lại không chút gì cao xa cả, ai cũng có thể theo được Ông đã nêu lên

Trang 4

mẫu người lý tưởng trong xã hội, đó là người yêu nước, có lòng căm thù giặc, dám xả thân vì đất nước Ví dụ : các nhân vật anh hùng trong tác phẩm "Trùng quang tâm sử"

Ý thức được “ Quốc Dân, Quốc Gia”

So với những người cùng thời Phan Bội Châu sớm ý thức được vận mệnh đất nước và cũng là 1 trong những sĩ phu đầu tiên đối đầu với các vấn đề liên hệ đến Việt nam như một “quốc gia, quốc dân”

Ngay từ hồi chưa xuất dương, ông đã từng đi chu du nhiều nơi trong nước -miền Nam xứ Nghệ (quê Phan) từ Huế vào Nam Ngãi, Bình Phú, rồi Gia Định, cho đến tận vùng Thất Sơn ở Châu Đốc; miền Bắc từ Nam Định, Hà Nội, lên tận rừng Yên Thế của Đề Thám - nhằm tìm cách kết giao đặng mưu đồ việc nước với những người có nghĩa khí, từ sĩ phu tới các "hảo hán" trong giới "lục lâm giang hồ" sống ngoài vòng pháp luật Trong thời kỳ Đông Du (1905-1909), hàng ngày tiếp xúc và lo việc ăn học cho các thành viên từ Nam chí Bắc, ông ý thức sâu sắc về tình trạng thiếu đồng thuận giữa người Việt với nhau do một lý do khá đơn giản: đây là lần đầu tiên các thanh niên này có dịp tiếp xúc, đối thoại và sinh hoạt với nhau Trong Việt nam quốc sử khảo (1908), Phan nêu lên 5 điều khiếm khuyết trong dân trí nước ta: hay nghi kỵ lẫn nhau, coi trọng những điều

xa hoa vô ích (như trong việc hôn nhân, cúng bái, v.v ), biết lợi mình chứ không biết hợp quần, tiếc của riêng mà không nghĩ đến lợi chung, biết thân mình

mà không nghĩ đến việc nước Ý thức "quốc gia quốc dân" trong tư tưởng cũng như hành động của ông phải nói là một sự đề kháng đối với chính sách "chia để trị" của chính quyền đô hộ, khác hẳng với đầu óc địa phương hẹp hòi thường thấy ngay ở các nhân vật tai to mặt lớn trong nước lúc bấy giờ Bình tình mà nói, bệnh chia rẽ, óc địa phương không chỉ do chính sách cai trị của người nước ngoài, bởi lẽ ngay khi người Việt nắm lấy vận mệnh đất nước, vẫn không thấy những biện pháp tích cực nhằm khắc phục tư tưởng cục bộ "ăn cây nào, rào cây ấy" hay tình trạng "phép vua thua lệ làng" Đóng góp của ông trên mặt này ngay

từ hồi đầu thế kỷ đúng là một điểm son đáng trân trọng, cần được ghi nhớ

Trang 5

Đóng góp phần quan trọng vào việc thành lập các đảng hội và sang Nhật cầu viện

- Trong vòng 5 năm sau khi đỗ giải nguyên ông bôn ba khắp nước Việt Nam liên kết với các nhà yêu nước như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Ngô đức Kế để cùng họ chống lại Pháp

Ở Việt Nam , “ Phan Bội Châu là người đầu tiên thành lập đảng theo ý nghĩa của từ này cùng Tháng 5 / 1904 tại Quảng Nam Phan Bội Châu cùng với tăng Bạt Hồ ,Nguyễn Thành ,Đặng Thái Thân …đã tuyên bố thành lập Duy Tân hội ở Quảng Nam để đánh đuổi Pháp, chọn Kỳ Ngoại hầu Cường Để - một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn - làm hội chủ

Duy Tân hội có 3 nhiệm vụ như : Phát triển hội viên , tài chính, chuẩn bị cho bạo động vũ trang và xuất dương cầu viện.Tháng 6 năm 1905, Phan Bội

Châu cùng Đặng Tử Kính mang theo một số sách Việt Nam vong quốc sử về

nước Tháng 8năm 1905 tại Hà Tĩnh, ông và các đồng chí nồng cốt trong Duy Tân hội bàn bạc rồi đưa ra kế hoạch hành động đó là:

Nhanh chóng đưa Kỳ Ngoại hầu Cường Để ra nước ngoài

Lập các hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quần chúng và để có tài chánh cho hội

Chọn một số thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi học ở nước ngoài

- Năm 1905 ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi sang Nhật Bản để gặp gỡ các nhà cách mạng Nhật Bản và Trung Quốc và cầu viện trợ tài chính cho phong trào mà ông thành lập

-Năm 1906 ông đưa Kì Ngoại Hầu Cường Để và một số học sinh người Việt khác sang Nhật Bản

- Để thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam Lại nghe hai nhân vật quan trọng của Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền ở Nhật Bản, là Bá tước Ôi Trọng Tín (Okuma Shigenobu) và Thủ tướng Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai

Trang 6

Tsuyoshi) khuyên là nên cổ động thanh niên ra nước ngoài học tập để sau này về giúp nước

]- Năm 1912 nức nòng vì thành quả của cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911

ở Trung Quốc của Tôn Trung Sơn ông đã cùng 1 số nhà cách mạng Việt Nam lưu vong tại Quảng Châu thành lập 1 tổ chức cách mạng thay thế cho hội Duy Tân Tôn chỉ của tổ chức mới với tên gọi “ Việt nam quang phục hội” là đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước, khôi phục chủ quyền Việt Nam và thành lập Việt Nam cộng hòa dân quốc.Quang phục Hội có một lịch sử đáng chú ý.Quang phục Hội không chỉ là hội đoàn theo nghĩa thông thường mà trên hết thực tế là một "chính phủ lâm thời" (lưu vong), có quy định cả quốc kỳ, quân đội (Việt Nam Quang phục Quân), quân kỳ, và phát hành cả giấy bạc (dưới dạng "quân dụng phiếu") "in bằng điện, tinh xảo như giấy bạc Tàu"

Kho tàng văn học giá trị

Ngoài sự nghiệp cách mạng ông còn viết rất nhiều sách báo và đã được phổ biến sâu rộng trong nhân dân Các nhà nhiên cứu văn học đã từng nhận định “ Trong lịch sử văn học Việt nam không dễ gì có nhiều văn chương có sức lay động quần chúng đứng lên đấu tranh cách mạng lớn lao như văn chương của Phan Bội Châu Ngày nay trong văn chương đó, về tư tưởng và quan niệm có thể điểm này điểm khác không còn phù hợp nhưng trái tim nhiệt huyết của tác giả vẫn còn nguyên giá trị Ông là một trong số những nhà văn lớn của văn học Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XX”

Các tác phẩm như: Việt nam quốc sử khảo, Ngục Trung Thư, việt nam vong quốc sử, hải ngoại huyết thư…

=> Những đóng góp của Phan Bội Châu vào nền độc lập của Việt Nam là 1 đóng góp vô cùng lớn lao Lúc đầu ông hết lòng bôn ba vận động chủ trương kháng Pháp bằng vũ lực với sự giúp đỡ của chính phủ Nhật tuy nhiên cá nhân ông không giải quyết được phương thức thực thi công việc đso nhưng nghĩa khí

và lòng tận tụy của ông biến thành sao bắc đẩu cho các phong trào cách mạng bạo động ở việt nam Ông hô hào nhân dân học hỏi từ các cuộc cách mệnh và

Trang 7

các lãnh tụ Đông Á và cho rằng với sự giúp đỡ của các nước Đông Á đồng văn người Việt có thể giành lại độc lập cho chính mình

3.2: Phan Châu Trinh

Trước hết , ở địa bàn trung tâm là Trung Kỳ từ năm 1906- 1908 Phan Chu Trinh trực tiếp lãnh đạo phong trào Duy Tân và phong trào chống thuế đã lan truyền khắp cả nước

Đã từ lâu, mỗi khi nhắc đến Phan Châu Trinh chúng ta thường gắn tên tuổi của ông với chủ nghĩa cải lương mà ông theo đuổi trong suốt cuộc đời hoạt động của mình

Sự thực, chủ nghĩa cải lương của Phan Châu Trinh là một hiện tượng nổi bật trong xã hội Việt nam vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX Nó chứng tỏ Phan Châu Trinh rất quan tâm đến sự tiến bộ và tương lai của nước nhà Chính

vì vậy mà ông muốn cải tạo xã hội Việt Nam lúc đương thời theo con đường cải lương, nghĩa là dựa vào chính phủ Bảo hộ và nước Đại Pháp văn minh để tiến hành cải cách nhằm đưa xã hội Việt Nam tiến lên phía trước Nhưng chủ trương dựa vào Pháp để thực hành cải lương của ông đã thể hiện một sự nhận thức không đúng về chủ nghĩa tư bản đế quốc và nền văn minh tư bản chủ nghĩa Ông không lý giải được tại sao các nước tư bản tiên tiến gắn với nền dân chủ tự do và văn minh tư bản chủ nghĩa như nước Pháp lại có thể câu kết với những thế lực phong kiến lỗi thời và phản động để nô dịch và áp bức nhân dân thuộc địa Vì thế chủ trương dựa vào Pháp để thực hành cải lương chỉ là ảo tưởng và không thể nào đạt được mục đích

Chủ trương tư tưởng dân chủ

Phan Châu Trinh là nhà sĩ phu đầu tiên hô hào dân quyền ở nước ta Ông chống bạo động, dấy phong trào duy tân "chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh" và chủ trương "tự lực khai hóa" không phải vì ươn hèn sợ hãi, mà bở vì ông thấy dân trí nước ta còn quá thấp Theo ông, trong tình trạng như vậy thì đầu có giành được độc lập "cũng không phải là điều hành phúc cho dân"

Trang 8

Nội dung cơ bản tư tưởng dân chủ của Phan châu Trinh là nâng cao dân quyền, xây dựng thể chế chính trị và hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo cho dân quyền Ông nhấn mạnh “ Theo cái chủ nghĩa dân trị thì từ quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước lòng quốc dân thế nào thì làm thế ấy” trong mấy thập kỉ đầu của thế kỉ này tư tưởng dân quyền của ông như một ánh hào quang rực rỡ bước sang thế kỉ XX đất nước Việt Nam không những cần có độc lập dân tộc mà phải giàu mạnh có dân chủ và văn minh Chính yêu cầu đó đó đã khẳng định vai trò của phong trào duy tân và Phan Châu Trinh.ông đã vạch ra những hủ bại của hệ thống quan lại và đưa ra những yêu cầu cải cách hệ thống quan lại và những quan hệ chính trị lúc đương thời ông làm sang tỏ vấn đề dân quyền về mặt lí thuyết và ra sức cổ vũ tuyên truyền thực hiện dân chủ và dân quyền trong thực tiễn tư tưởng dân chủ và dân quyền của Phan Châu Trinh là một đóng góp to lớn không những cho phong trào đổi mới

và cải cách mà cả cho sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việt nam đầu thế kỉ XX

Các tác phẩm văn học có giá trị

- Văn học: các tác phẩm như:

Đầu Pháp chính phủ thư

Hiện trạng vấn đề

Tây Hồ thi tập

Tuồng Trưng Nữ Vương

Thư thất điều

Với giáo dục:

Ông đã thành lập hàng chục trường dạy chữ Quóc ngữ , chữ Pháp , văn hóa

kỹ thuật , lớn nhất là trường Diên Phong

Phan Chu Trinh đã hô hào đả phá những tục lệ thô lậu và lối học hủ nho nô dịch bằng các phong trào Canh tân văn hóa và Thực học - thực nghiệp Chỉ có mấy năm trời mà khí thế đổi mới đã bừng bừng sôi động, lan truyền khắp nơi từ Trung ra Bắc, vào Nam, khiến chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp hoảng sợ và đàn áp dã man…Một thế kỷ đã trôi qua nhưng tinh thần Khai dân trí

Trang 9

- Chấn dân khí của Phan Chu Trinh vẫn còn sống mãi, và chúng ta vẫn đang tiếp bước người xưa Phan Châu Trinh (1872-1926)

Ông là nhà cách mạng xã hội, có tư tưởng dân chủ đầu tiên, là nhà văn hóa, một nhân cách lớn

Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế

kỷ 20 Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ Có thể xem ông

là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ

Đặc biệt hơn nữa, ông chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động Ông coi dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp, cai trị quy củ có thể quét sạch hủ bại phong kiến

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo ngày hôm nay

=> Nhìn chung, những phát hiện, đóng góp của ông có ý nghĩa tiếp nối chủ nghĩa yêu nước truyền thống, khơi dậy những giá trị tốt đẹp Ông là đại biểu xuất sắc cho tầng lớp tri thức tiến bộ chuyển hướng tư duy dân tộc sang một thời

kỳ mồi một cách chủ động tích cực, xứng đáng là nhà dân chủ tiên khu của Việt Nam đầu thế kỷ XX này

So sánh tư tưởng Phan Bội Châu và PhanChu trinh?

- Xuất phát từ lòng yêu nước để đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc

- Đều đại diện cho phong trào dân tộc dân chủ của tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ đầu thế kỉ XX

- Tạo ra những cuộc vận động cách mạng mới theo con đường dân chủ tư sản

- Thống nhất về chủ trương chiến lược, thống nhất về mục đích cách mạng

là muốn cứu nước, cứu dân, gắn liền dân với nước, gắn cứu nước với duy tân

Trang 10

làm đất nước phát triển theo hương cách mạng tưsản đứnglên conđường chủ nghĩa tư bản

- Được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo quần chúng nhân dân Tuy nhiên

cả hai xu hướng cách mạng này đều chưa xây dựng được những cơ sở vững chắc cho xã hội

- Do hạn chế về tầm nhìn và tư tưởng nên cả hai xu hướng cách mạng này đều bị thất bại

Khác nhau:

Xu hướng bạo động Xu hướng cải cách

Đại

diện

Phan Bội Châu (1967 – 1940) quê ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, sớm có hoài bão cứu nước, cứu dân khỏi ách nô lệ

Phan Châu Trinh(1872–1926) người phủ Tam Kì, tỉnh Quảng Nam, xuất thân trong một gia đình theo nghề võ, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi

Chủ

trương

cứu

nước

Chống Pháp giành độc lập dân tộc, tổ chức vận động nhân dân trong nước và dựa vào sự viện trợ của nước ngoài (cầu viện Nhật Bản), bằng cách bạo lực vũ trang

Dựa vào Pháp chống triều đình phong kiến, tiến hành cải cách duy tân nhằm giành lại tự do dân chủ nhằm nâng cao dân trí, dân quyền ® là điều kiện tiên quyết

để giành độc lập

P.Pháp Bạo động vũ trang Cải cách (ôn hoà)

Mục

tiêu

Giải phóng dân tộc (cứu nước

® cứu dân)

Tiến hành cải cách xã hội (cứu dân ® cứu nước)

Hoạt

động

tiêu

biểu

- Tháng 5 – 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội tại QuảngNam với chủ trương đánh Pháp, giành độc lập ® thành lập chính thể quân chủ lập hiến

- Năm 1906, Phan Châu Trinh cùng một số sĩ phu yêu nước tiến

bộ khởi xướng cuộc vận động Duy tân ở Trung Kì

- Kinh tế: cổ động việc chấn hưng thực nghiệp, lập hộ kinh

Ngày đăng: 25/05/2021, 13:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w