1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Buổi thảo luận thứ tư: BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

21 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 452,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ 1: Đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Câu 1: Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trả lời: Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi về chế định liên quan đến tài sản dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ có 1 điều luật (Điều 295) còn Bộ luật Dân sự năm 2005 có tới 3 điều luật (Điều 320, 321, 322) quy định về tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Việc quy định ở Bộ luật Dân sự năm 2005 là theo hướng liệt kê, do vậy nó chỉ là sự lặp đi lặp lại các loại tài sản đã được quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự này. Chính vì thế sẽ dẫn đến tình trạng quy định không đầy đủ và thiếu sót. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khắc phục được nhược điểm trên: Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về “Vật” dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự: “1. Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch”1 .

Trang 1

Buổi thảo luận thứ tư:

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ VẤN ĐỀ 1: Đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Câu 1: Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Trả lời:

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi về chế định liên quan đến tài sản dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự so với Bộ luật Dân sự năm 2005 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ có 1 điều luật (Điều 295) còn Bộ luật Dân sự năm 2005 có tới 3 điều luật (Điều 320, 321, 322) quy định về tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự Việc quy định ở Bộ luật Dân sự năm 2005 là theo hướng liệt kê, do vậy nó chỉ là sự lặp đi lặp lại các loại tài sản đã được quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự này Chính vì thế sẽ dẫn đến tình trạng quy định không đầy đủ và thiếu sót Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khắc phục được nhược điểm trên:

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về “Vật” dùng để đảm bảo thực hiện

nghĩa vụ dân sự: “1 Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu

của bên bảo đảm và được phép giao dịch”1

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về tài sản đảm bảo: “1 Tài sản bảo

đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu”2

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ đi quy định “được phép giao dịch” và chỉ quy

định “trừ trường hợp cầm giữ, bảo lưu tài sản” Việc bỏ đi quy định trên không phải

là cho phép sử dụng tài sản không được phép giao dịch dùng làm tài sản đảm bảo mà

là ở các quy định chung đã có hướng giải quyết Trong báo cáo Tổng hợp của Bộ tư pháp về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo “về nguyên tắc, tài sản được đem vào giao dịch phải phù hợp với qui định của pháp luật, nguyên tắc này được áp dụng chung chung cho tất cả các loại giao dịch, trong đó có giao dịch bảo đảm”

Cũng theo Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về “Vật” dùng để đảm bảo thực

hiện nghĩa vụ dân sự: “2 Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện

có hoặc được hình thành trong tương lai Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”3

1 Khoản 1 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2

Khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3 Khoản 2 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 2

Còn Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quy định về tài sản đảm bảo: “3 Tài sản bảo

đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai”4

Theo đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 có liệt kê ra các loại tài sản hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa

vụ cụ thể được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết Bộ luật Dân sự năm

2015 đã bỏ đi phần quy định này, tại khoản 3 Điều 295 đã không nêu rõ thế nào là tài sản hiện có hay tài sản được hình thành trong tương lai Việc thay đổi như vậy tránh được sự khó hiểu và rườm rà vì đã có quy định trong phần Tài sản thuộc những vấn đề chung của Bộ luật Dân sự (Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015)

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định thêm giá trị của tài sản đảm bảo tại

khoản 4, Điều 295: “Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn

giá trị nghĩa vụ được bảo đảm” Quy định này tránh được thực tế là đôi khi có người

yêu cầu giá trị tài sản đảm bảo bắt buộc phải lớn hơn nghĩa vụ được đảm bảo

Câu 2: Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?

Trả lời:

Theo Bản án số 208/2010/DS-PT có nêu: “Vào ngày 14/09/2007, bà Bùi Thị

Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo có thế chấp cho ông Minh một giấy sử dụng sạp đơn D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000đ.” hoặc “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác nhận có thể chấp một giấy tờ sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000đ cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh”5

Câu 3: Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?

Trả lời:

Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản

Căn cứ theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 (hoặc Điều 163 Bộ luật

Dân sự năm 2005) về tài sản: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền

tài sản”

Và theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định Số

11/2012/NĐ-CP: “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín

phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.”6

Giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận cho bà Khen có quyền sử dụng sạp ở chợ Tân Hương, chứ cái sạp đó không thuộc quyền sở hữu của bà Khen, bà chỉ được quyền sử dụng chứ không có đặc quyền nào khác đối với sạp, cái sạp đó không phải là tài sản

4 Khoản 3 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

5

Bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

6 Khoản 9 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP

Trang 3

của bà nên giấy chứng nhận sạp không nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá tại khoản 9 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP và cũng không phải là vật, tiền, quyền tài sản Do vậy giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản

Câu 4: Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của Tòa án cho câu trả lời?

Trả lời:

Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự không được Tòa án chấp nhận

Theo Bản án số 208/2010/DS-PT có nêu: “Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên

và cầm cố, nhưng giấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý

để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh”7

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa

án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ

Trả lời:

Hướng giải quyết của Tòa và cơ sở pháp lý: Giấy đăng kí sử dụng sạp không phải

là giấy chứng nhận quyền sở hữu (Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2005)

Việc thế chấp tài sản là dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và không giao cho bên nhận thế chấp (Điều 342 Bộ luật Dân

sự năm 2005) Trong thực tiễn việc xác định các loại giấy tờ liên quan tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký mô tô xe máy, giấy chứng nhận sạp… có

là tài sản hay không đang có rất nhiều quan điểm khác nhau

+ Thứ nhất: xuất phát từ luận điểm về những đặc điểm của tài sản: “Tài sản bao

giấy tờ này không hội đủ những đặc điểm của tài sản nên không được xem là một loại tài sản Quan điểm này cũng phù hợp với cách giải quyết trên đây của tòa và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao

+ Thứ hai: xuất phát từ những chế định về kiện đòi tài sản và thực tiễn cho thấy,

các loại giấy tờ này có một ý nghĩa rất quan trọng Nếu không xem đây là tài sản thì sẽ không có chủ sở hữu tài sản và nếu một chủ thể nào đó để chủ thể khác chiếm hữu các loại giấy tờ này sẽ không thể yêu cầu lấy lại theo chế định kiện đòi tài sản Việc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các chủ thể

Giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận cho bà Khen có quyền sử dụng sạp ở chợ Tân Hương, chứ cái sạp đó không thuộc quyền sở hữu của bà Khen, bà chỉ được quyền sử

7

Bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

8 Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 4

dụng chứ không có đặc quyền nào khác đối với sạp, cái sạp đó không phải là tài sản của bà, nên giấy chứng nhận không đủ giá trị để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về “Vật” dùng để đảm bảo thực hiện

nghĩa vụ dân sự: “1 Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu

của bên bảo đảm và được phép giao dịch”9

Vậy, Tòa án xử lý như trên là hợp lý Khi tài sản được sử dụng để đảm bảo thì tài sản này phải thuộc sở hữu của bên đảm bảo (vì việc xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện

hiếm trường hợp người bảo đảm không là chủ sở hữu của tài sản và Tòa án đã vô hiệu hóa giao dịch bảo đảm

Câu 6: Trên cơ sở so sánh pháp luật, suy nghĩ của anh/chị về khả năng cho phép dùng giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa vụ

Trả lời:

Theo Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì chỉ có phương pháp thế chấp mới có khả năng dùng giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa vụ vì các biện pháp khác đều yêu cầu bên giao tài sản phải đảm bảo cho bên nhận tài sản và đối tượng bảo đảm của các biện pháp còn lại là các tài sản hữu hình (tiền, giấy tờ có giá, vật)

Theo nhóm, việc cho phép dùng giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa

vụ dân sự cần được áp dụng thêm với biện pháp cầm giữ tài sản Vì cầm giữ giấy tờ liên quan đến tài sản mà giấy tờ đó có tính quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền

sở hữu và quyền sử dụng của chủ tài sản Thì việc cầm giữ giấy từ này đã làm hạn chế các quyền của bên vi phạm và từ đó gây áp lực buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với bên cầm giữ Như vậy, mục đích cuối cùng của cầm giữ đã thực hiện được

Ngoài ra sử dụng giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa vụ cũng giống như sử dụng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự chỉ được áp dụng khi tài sản đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên có nghĩa vụ, có như vậy thì lợi ích của bên có quyền mới được đảm bảo

Câu 7: Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất đê cầm cố?

Trả lời:

9 Khoản 1 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

10

Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng

Đức - Hội Luật gia Việt nam 2017 (xuất bản lần thứ ba), Bản án số 112-114

Trang 5

“Vào ngày 30/8/1995 (âm lịch), ông Ổn, bà Xanh và ông Rành đã xác lập giao dịch “thục đất làm ruộng” (BL31) Theo thỏa thuận này thì ông Ổn, bà Xanh là người

có tài sản là quyền sử dụng đất hợp pháp, ông Rành có tài sản là 30 chỉ vàng 24k để sử dụng, hai thỏa thuận nếu quá 03 năm ông Ổn, bà Xanh không chuộc lại đất cũng bằng vàng trên thì ông Rành có quyền canh tác ruộng đất này vĩnh viễn Với giao dịch trên cho thấy, mặc dù pháp luật dân sự không quy định cụ thể cho người sử dụng đất có quyền cầm cố quyền sử dụng đất nhưng xét về bản chất của giao dịch này thấy rằng giữa các bên đương sự đã thực hiện một giao dịch cầm cố tài sản cho nhau”

Câu 8: Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời?

Trả lời:

Theo Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau

đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”11 Bởi vậy, “với quy định này, tài sản cầm cố không nhất thiết phải là động sản Ở đây Bộ luật Dân sự chỉ yêu

giá trị được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Mà theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015

“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Nên theo Điều 309 Bộ luật Dân

sự 2015 thì quyền sử dụng đất được cầm cố

Câu 9: Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền

sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

12 Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb.Hồng Đức - Hội

luật gia Việt Nam 2017, Chương 3, trang 297

13

Phần Xét thấy Quyết định giám đốc thẩm số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/02/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh

Tiền Giang về việc Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất

Trang 6

Theo Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi cầm cố chỉ yêu cầu đó là “tài sản” mà không yêu cầu đó là động sản hay bất động sản Mà Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã nêu rõ “quyền tài sản” cũng là tài sản Ta thấy quyền sử dụng đất cũng thuộc quyền tài sản nên hướng giải quyết của Tòa án trong quyết định số 02 là hợp lý

Câu 11: Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy người nhận thế chấp quyền sử dụng đất là cá nhân?

Trả lời:

Dựa theo lời trình bày của các bên ta thấy được rằng người nhận thế chấp quyền

sử dụng đất là cá nhân Một số câu trong bản án cho thấy điều đó như: bà Hồng vay

thêm nữa “Việc bà Vương Kim Long quản lý các Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất…”15 Ngoài ra, nhận định “Việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long để vay là không đúng pháp luật”16

Những dẫn chứng trên đã khẳng định người nhận thế chấp quyền sử dụng đất là

cá nhân, là bà Vương Kim Long

Câu 12: Có quy định nào cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không? Nếu có, nêu cơ sở văn bản

Trả lời:

Việc cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã có quy định

Cụ thể về cơ sở pháp lý như sau:

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định: “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng

đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên sử dụng đất (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp.”17

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên

(sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”18

14 Lời trình bày của Nguyên đơn – bà Vương Kim Long trong đơn khởi kiện được nêu trong phần Nhận thấy của

Bản án số 04/2010/DSPT ngày 13/01/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về Tranh chấp hợp đồng vay

15 Lời trình bày của Bị đơn – bà Phạm Thị Ngọc Hồng tại biên bản hòa giải được nêu trong phần Nhận thấy của

Bản án số 04/2010/DSPT ngày 13/01/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về Tranh chấp hợp đồng vay

16 Đoạn 1 phần Xét thấy của Bản án số 04/2010/DSPT ngày 13/01/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về

Tranh chấp hợp đồng vay

17

Điều 715 Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

18 Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 7

Theo Luật đất đai năm 2013 có quy định: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất

nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền

sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

sử dụng đất

Câu 13: Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy Tòa án không chấp nhận cho

cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ?

Trả lời:

Đoạn của Bản án số 04 cho thấy Tòa án không chấp nhận cho cá nhân nhận

quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là: “Theo quy định tại Khoản 1,

Điều 106 và điểm d, Khoản 2, Điều 110 của Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn Pháp luật chưa cho phép thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau Do vậy, việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long để vay tiền là không đúng quy định của pháp luật.”20

Câu 14: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án

Trả lời:

Hướng giải quyết của Tòa án là buộc bà Vương Kim Long phải hoàn trả các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sở hữu, bà Phạm Thị Ngọc Hồng phải trả tiền cho bà Vương Kim Long, hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Vì tranh chấp xảy ra khi Bộ luật Dân sự năm 2005 đang còn hiệu lực nên hướng giải quyết của Tòa chiếu theo Bộ luật này Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm

2005, “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó

bên sử dụng đất (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế

Trang 8

chấp) Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp”21 Trong vụ tranh chấp trên, việc thế chấp đúng là sự thỏa thuận của bà Long và bà Hồng, là hai cá nhân Nhưng trong Luật đất đai năm 2003 quy định rằng cá nhân không được là đối

Đối tượng thế chấp ở đây Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được quyền thế chấp như Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định Bà Hồng là người thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng theo bản án, bà Hồng không phải là chủ sở hữu các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên

Theo quy định, chủ thể tham gia giao dịch và đối tượng thế chấp không thỏa mãn những gì luật định Bởi thế cho nên, hướng giải quyết của Tòa là hợp lý

Nếu giả sử vụ việc trên được áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai

2013 thì giao dịch vẫn vô hiệu Vì suy cho cùng đối tượng thế chấp không thuộc quyền

sở hữu của bên đi thế chấp – ở đây là bị đơn – bà Hồng Thế nên Tòa xử như vậy vẫn hợp lý

Trên thực tiễn cũng có một vụ việc tương tự, Tòa án cũng vô hiệu hợp đồng thế chấp vì tài sản thế chấp không là tài sản riêng thuộc sở hữu của người thế chấp Cụ thể

là Bản án số 06/2010/KDTM-PT ngày 24/11/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đồng Nai: Phía nguyên đơn là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cho công ty Đỗ Gia vay 1,7 tỷ Để đảm bảo nợ vay, ông Tiến đã chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba là tài sản chung của vợ chồng ông Tiến ba Oanh Tài sản thế chấp không là tài sản riêng của ông Tiến nhưng việc thế chấp này bà Oanh biết mà không phản đối (có thể hiểu là bà Oanh đồng ý về việc ông Tiến dùng tài sản chung để thế chấp vay tiền) nên hướng xử lý của Tòa là chưa thuyết phục

Trở lại với vụ việc, bà Hồng thế chấp tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải của mình mà của người khác Trong vụ việc này những người có quyền

và nghĩa vụ liên quan là chủ sở hữu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không biết và cũng không có thỏa thuận gì về việc bà Hồng dùng chúng để thế chấp vay tiền Nên hướng xử lý của Tòa là hợp tình

VẤN ĐỀ 2: Đăng ký giao dịch bảo đảm

Câu 1: Điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm

2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm

Trang 9

Quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về “đăng ký giao dịch bảo đảm” và Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định

về “đăng ký biện pháp bảo đảm” Có thể tìm thấy sự khác biệt rằng, “đăng ký giao dịch bảo đảm” là việc xác nhận các thỏa thuận có trong giao dịch; trong khi đó, việc

“đăng ký biện pháp bảo đảm” có đối tượng được đăng ký chỉ là biện pháp bảo đảm, không bao gồm các nội dung thỏa thuận khác của giao dịch Giao dịch dân sự vốn dĩ là

sự thỏa thuận giữa các bên nên giao dịch bảo đảm cũng chỉ cần sự thỏa thuận giữa các bên, Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn quy định về “đăng ký giao dịch bảo đảm” Điều đó cho thấy Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định cụ thể hơn đối tượng cần được đăng ký Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay vào khái niệm “đăng ký biện pháp bảo đảm” và thể hiện rằng đó là sự tuyên bố quyền của bên nhận bảo đảm, cũng như hạn chế quyền của chủ sở hữu, và cả các chủ thể khác chưa xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ 3 đối với biện pháp bảo đảm

Bộ luật dân sự năm 2015 không nêu khái niệm giao dịch bảo đảm như Bộ luật dân sự năm 2005 mà chỉ nêu rằng “Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật” Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định rằng việc đăng ký này là quyền của công dân, chỉ là nghĩa vụ trong một số trường hợp luật định

Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định rằng giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ 3, kể từ thời điểm đăng kí; trong khi Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm giao kết Bộ luật 2015 nhấn mạnh rằng giao dịch dân sự là sự thỏa thuận, là ý chí của các bên trong trong giao dịch, nếu không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì đương nhiên giao dịch có hiệu lực và bên thứ ba là đương nhiên phải tôn trọng giao dịch đó, cơ sở pháp lý - khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015

Câu 2: Hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 trong Quyết định trên có thuộc trường hợp phải đăng ký không?

Trả lời:

Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 1 Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Hợp đòng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”

+ Khoản 1 Điều 10 Nghị Định 163/2006/NĐ – CP “Giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ các trường hợp sau đây:

a) Các bên có thoả thuận khác;

b) Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố;

Trang 10

c) Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp; d) Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Trong hợp đồng thế chấp trên, tài sản được thế chấp là bất động sản: nhà xưởng, kho, văn phòng, nhà bảo vệ nên thuộc trường hợp phải đăng ký

Câu 3: Hợp đồng thế chấp trên đã được đăng ký chưa? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trả lời:

Hợp đồng thế chấp trên đã được đăng ký Cơ sở xác định ở câu cuối cùng đoạn

có thông tin nào cho thấy hợp đồng được đăng kí giao dịch bảo đảm

Câu 4: Hướng giải quyết trên của Tòa án cấp phúc thẩm đối với hợp đồng thế chấp nêu trên Vì sao Tòa phúc thẩm lại giải quyết như vậy?

Trả lời:

Đối với hợp đồng thế chấp nêu trên, Tòa án phúc thẩm đã giải quyết theo hướng cho rằng hợp đồng không phát sinh hiệu lực Trong khi Hội đồng Thẩm phán xác định rằng tài sản được thế chấp trong hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 đồng thời cũng là tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02.00034/HĐTC ngày 21/02/2002 và công nhận hợp đồng có hiệu lực

Vì: “Hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 đã vi phạm hình thức, không được đăng kí giao dịch bảo đảm nên không phát sinh hiệu lực”

Câu 5: Theo Hội đồng thẩm phán, trong trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký nhưng không được đăng ký thì biện pháp bảo đảm này có giá trị pháp lý đối với các bên trong giao dịch bảo đảm không? Vì sao?

Trả lời:

Trong trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký nhưng không được đăng ký, Hội đồng Thẩm phán vẫn xét theo hướng không công nhận biện pháp bảo đảm Tuy nhiên, trong trường hợp ở quyết định trên, tài sản thế chấp ở hợp đồng thế chấp không phát sinh hiệu lực (Hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003) lại trùng với tài sản thế chấp trong hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02.00034/HĐTC ngày 21/02/2002) Vì thế nên Hội đồng Thẩm phán nhận định đây là hợp đồng có giá trị pháp lý “Như vậy, tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 đồng thời cũng là

23

Đoạn (5) phần Nhận thấy Quyết định số 02/KDTM-GĐT ngày 09/01/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Ngày đăng: 11/10/2022, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w