- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT
DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
Buổi thảo luận thứ nhất Chủ thể của pháp luật dân sự
LỚP CJL46 Danh sách nhóm 4
Trang 2Mục lục
Năng lực hành vi dân sự cá nhân 3
Câu 1: Điểm giống và khác nhau của hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự 3
Câu 2: Những điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 4
Câu 3: Trong quyết định trên, Tòa án nhân dân tối cao đã xác định năng lực hành vi của ông Chảng như sau: 5
Câu 4: Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên là thuyết phục vì: 5
Câu 5: 5
Câu 6: 6
Câu 7: 6
Tư cách pháp nhân và hệ quả pháp lí 8
Tóm tắt bản án số 1117/2012/LĐ-PT 8
Câu 1: Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân ? 8
Câu 2: Trong bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào trong bản án đó có trả lời 9
Câu 3: Trong bản án số 1117, vì sao Toà án xác định Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường không có tư cách pháp nhân? 9
Câu 4: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết của Tòa án 9
Câu 5: Pháp nhân và cá nhân có khác gì nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu cơ sở khi trả lời (nhất là trên cơ sở BLDS 2005 và BLDS 2015)? 9
Trách nhiệm dân sự của pháp nhân 11
Tóm tắt bản án số 10/2016/KDTM-PT ngày 17/03/2016 11
Câu 1: Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của thành viên và trách nhiệm của các thành viên đối với nghĩa vụ của pháp nhân 11
Câu 2: Trong Bản án được bình luận, bà Hiền có là thành viên của Công ty Xuyên Á không? Vì sao? 12
Câu 3: Nghĩa vụ của Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á hay của bà Hiền? Vì sao? 12
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa cấp sơ thẩm và Tòa cấp phúc thẩm liên quan đến nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích 12
Trang 3Câu 5: Làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của Công ty Ngọc Bích khi Công ty Xuyên
Á đã bị giải thể? 12
Năng lực hành vi dân sự cá nhân
Câu 1: Điểm giống và khác nhau của hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực
hành vi dân sự
Giống nhau:
- Đều là những cá nhân không nhận thức, làm chủ được hành vi của chính mình
- Để tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành
vi dân sự thì cần có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
- Chỉ có Toà án mới có quyền ra tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
Khác nhau:
Người mất năng lực hành vi dân sự
Là người mắc bệnh tâm thần (do bẩm
Về đối sinh hoặc phát sinh), hoặc mắc các bệnh khác
tượng: mà không thể nhận thức, làm chủ được hành
vi
Người hạn chế năng lực hành vi dân sự
Là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Cơ sở để
Tòa án ra
quyết định:
Việc
xác lập, thực
hiện giao dịch
dân sự:
1 Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
2 Trên cơ sở kết luận giám định pháp
y tâm thần
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
Phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu
Trang 4Người đại
diện theo
pháp luật:
Người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự là người giám hộ của người này Trong trường hợp không có người giám hộ theo như Khoản 2 Điều 48 BLDS 2015 quy định thì người mất năng lực hành vi dân sự có người giám hộ đương nhiên được quy định tại Điều 53 BLDS 2015
Theo Khoản 1 Điều 54 BLDS 2015, nếu người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ
sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện
Câu 2: Những điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Người có khó khăn trong nhận Người hạn chế năng lực thức, làm chủ hành vi hành vi dân sự
Đối tượng Người thành niên do tình trạng thể
chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Cơ sở để Theo yêu cầu của người này, người
Tòa án ra quyết có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ
định quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết
luận giám định pháp y tâm thần
Ở Tự bản thân họ được quyền yêu cầu Tòa án xem xét tuyên bố mình là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vì họ chưa mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự
Theo yêu cầu của người
có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
Ở Tự bản thân họ không được yêu cầu Tòa án xem xét tuyên bố mình là người bị hạn
Trang 5Người đại Do Tòa án chỉ định người giám hộ,
diện xác định quyền, nghĩa vụ của người
giám hộ
chế năng lực hành vi dân sự
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện
Câu 3: Trong quyết định trên, Tòa án nhân dân tối cao đã xác định năng lực hành vi của
ông Chảng như sau:
Tại “Biên bản giám định khả năng lao động” số 84/GĐYK-KNLĐ ngày 18/12/2007, Hội đồng giám định y khoa Trung ương – Bộ Y tế xác định ông Chảng: “Không tự đi lại được Tiếp xúc khó, thất vận ngôn nặng, liệt hoàn toàn ½ người phải Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương, tai biến mạch máu não lần 2 Tâm thần:Sa sút trí tuệ Hiện tại không đủ năng lực hành
vi lập di chúc Được xác định tỉ lệ mất khả năng lao động do bệnh tật là: 91% ”
Câu 4: Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên là thuyết phục vì:
- Trong “Biên bản giám định khả năng lạo động” số 84/GDDYK-KNLDD ngày 18/12/2007, Hội đồng giám định y khoa Trung ương – Bộ Y tế xác định ông Chảng: “Không tự
đi lại được Tiếp xúc khó, thất vận ngôn nặng, liệt hoàn toàn ½ người phải Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương, tai biến mạch máu não lần 2 Tâm thần: Sa sút trí tuệ Hiện tại không đủ năng lực hành vi lập di chúc Được xác định tỉ lệ mất khả năng lao động do bệnh tật là: 91% ”
- Theo Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về người mất năng lực hành vi dân sự như sau: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan,
tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành
vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Câu 5:
Theo tòa án nhân dân tối cao, bà Bích không thể là người giám hộ của ông Chảng, bà Chung mới có thể là người giám hộ của ông Chảng
Hướng giải quyết của tòa án hợp lí vì:
- Không có việc đăng kí kết hôn giữa bà Bích và ông Chảng (Sau khi xét xử phúc thẩm, UBND phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, TP Hà Nội có Công văn số 31/UBND-TP ngày
8/3/2019 xác nhận: "Qua kiểm tra xác minh sổ đăng ký kết hôn năm 2001 của phường cho thấy
không có trường hợp đăng ký kết hôn nào có tên ông Lê Văn Chảng và bà Nguyễn Thị Bích".),
bà Bích là người sống không hợp pháp với ông Chảng, vì vậy không đủ điều kiện làm người
giám hộ cho ông Chảng (khoản 1 Điều 62 BLDS 2005)
- Ngoài ra, bà Chung chung sống với ông Chảng từ năm 1975, có tổ chức đám cưới và có con chung Do đó, có căn cứ xác định bà Chung và ông Chảng chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 3/1/1987 Trường hợp này, bà Chung và ông Chảng được công nhận
Trang 6là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại điểm a, Mục 3, Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, ông Chỉnh là anh trai ông Chảng cũng xác nhận bà Chung và ông Chảng có chung sống với nhau, bà Chung thực hiện tốt bổn phận làm dâu, làm vợ
- Theo khoản 1 Điều 62 BLDS 2005: trong trường hợp chồng mất năng lực hành vi dân
sư thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ
Nghĩa vụ của người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (khoản 1 Điều 59 BLDS 2015)
- Quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ
- Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ
- Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác
- Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ
Câu 6:
Nghĩa vụ của người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (khoản 2 Điều 59 BLDS 2015):
- Được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm
vi được quy định tại khoản 1 Điều 59
Quyền của người giám hộ đối với tài sản của người chưa hành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (khoản 1 Điều 58 BLDS 2015):
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ
- Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
Quyền của người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:
- Có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều 58 (khoản 2 Điều 58 BLDS 2015)
Câu 7:
Theo quy định của tòa án nhân dân tối cao trong vụ án trên, bà Chung là người giám hộ của ông Chảng được tham gia vào việc chia di sản thừa kế vì:
Trang 7- Bà Chung là vợ hợp pháp của ông Chảng, theo khoản 1a Điều 651 của BLDS 2015: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Nhưng do bà Chung đã chết nên quyền thừa kế được trao lại cho người thừa kế quyền và tố tụng: bà Lê Thị Bích Thủy (con ruột của bà Chung và ông Chảng) (Điều 652 BLDS 2015)
- Bà Chung có đóng góp công sức vào việc chăm nom, bảo quản nhà đất (bà đã quản lí phần đất vườn phía tây của khu đất mà ông Chỉnh đã cho ông Chảng theo bản cam kết)
Suy nghĩ về hướng xử lí của tòa án nhân dân tối cao về vấn đề nêu trên là:
- Giải quyết hợp tình hợp lí và đúng theo quy định của pháp luật
- Bảo vệ được lợi ích của ông Chảng bà Chung và bà Thủy (con của hai ông bà)
- Có cái nhìn tổng quát, khách quan về sự đóng góp của bà Chung
Trang 8Tư cách pháp nhân và hệ quả pháp lí
Tóm tắt bản án số 1117/2012/LĐ-PT
Bản án số 1117/2012/ LĐ-PT về việc tranh chấp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Ngọc Hùng và cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường Tp.Hồ Chí Minh; loại án là tranh chấp hợp đồng lao động phúc thẩm; ngày bản án 16/9/2011, ngày thụ lý 11/9/2012 Nội dung: Ông Nguyễn Ngọc Hùng khởi kiện cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường vì bên cơ quan đại diện đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Hùng và ông Hùng đã khởi kiện, đòi quyền lợi nhưng cơ quan đại diện không đồng ý
và kháng cáo Trong quá trình khởi kiện thì bên nguyên đơn đã xác nhận không đúng quy định của luật về pháp nhân bị đơn, vì vậy Toà án nhân dân TP.Hồ Chí Minh đã huỷ bản án sơ thẩm
và chuyển hồ sơ lại về Toà án nhân dân quận 1 TP.Hồ Chí Minh giải quyết phúc thẩm lại vụ án
Câu 1: Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân ?
Theo Khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự hiện hành 2015, tổ chức được thừa nhận là pháp nhân khi có những điều kiện sau:
Thứ nhất: pháp nhân được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự
Thứ hai: phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: Theo đó, một tổ chức muốn trở thành pháp nhân phải có điều lệ hoặc quyết định thành lập pháp nhân Trong điều lệ và quyết định thành lập phải có quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành pháp nhân
Thứ ba: có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
Tổ chức muốn tham gia vào quan hệ tài sản với tư cách là chủ thể độc lập thì phải có tài sản riêng, tài sản của pháp nhân là tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân hoặc được nhà nước giao quản lý
Tính độc lập của tài sản pháp nhân thể hiện ở sự độc lập với tài sản của cá nhân, tổ chức
mẹ và các tổ chức khác là thành viên của pháp nhân Trên cơ sở tính độc lập của tài sản pháp nhân, pháp nhân mới có thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
Thứ tư: pháp nhân nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập: Với
tư cách là một chủ thể độc lập, pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách riêng, có khả năng hưởng các quyền do pháp luật quy định và thực hiện các nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Một pháp nhân không được "núp bóng" dưới danh nghĩa các tổ chức khác, cũng như không cho phép người khác "núp bóng" kinh doanh dưới danh nghĩa của chính tổ chức đó Nếu pháp nhân không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc gây thiệt hại cho cá nhân, pháp nhân khác thì có thể trở thành bị đơn trước tòa Ngược lại, nếu cá nhân, pháp nhân khác không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc gây thiệt hại cho pháp nhân thì pháp nhân có quyền khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình
Trang 9Câu 2: Trong bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, cơ quan đại diện của
Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào trong bản án đó có trả lời
Trong bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, cơ quan đại diện của bộ tài nguyên và môi trường là một tổ chức có tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ
Đoạn cho thấy: “Như vậy Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố
Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường…nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ”
Câu 3: Trong bản án số 1117, vì sao Toà án xác định Cơ quan đại diện của Bộ tài
nguyên và môi trường không có tư cách pháp nhân?
Dựa theo Khoản 1,3,5 Điều 84 BLDS 2015 quy định:
- Khoản 1 Điều 84: “Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân”
- Khoản 3 Điều 84: “Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân”
- Khoản 5 Điều 84: “Người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được uỷ quyền.” Do đó, trong trường hợp này Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường không có tư cách pháp nhân thì không thể xác lập giao dịch với tư cách pháp nhân, mà chỉ có thể nhân danh pháp nhân để xử lý vấn đề trong phạm vi và thời hạn được giao
Câu 4: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết của Tòa án Hướng
giải quyết của Tòa án quận 1 tại phiên phúc thẩm là hợp lý vì
- Người tham gia tố tụng với tư cách bị đơn trong vụ án được nêu là cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan này không đủ điều kiện để được xem là một pháp nhân tham gia giao dịch dân sự
- Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường không có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và không thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (theo Điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015)
Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường không được xem là người tham gia
tố tụng với tư cách bị đơn trong vụ án trên
Câu 5: Pháp nhân và cá nhân có khác gì nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu cơ sở
khi trả lời (nhất là trên cơ sở BLDS 2005 và BLDS 2015)?
Thứ nhất: Về khái niệm
Theo Điều 14 Khoản 1 BLDS 2005 quy định về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là: “1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.”
Trang 10Trong khi đó, theo Điều 86 Khoản 1 BLDS 2005 quy định về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân: “1 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.”
Ta thấy năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân có phần thu hẹp hơn so với cá nhân bởi cụm “phù hợp với mục đích hoạt động của mình” Qua đó, gây khó khăn trong thực tiễn khi pháp nhân tham gia các giao dịch trên thực tế, mà một trong số chúng được pháp nhân xác lập nhưng khó để xác nhận có phù hợp với mục đích hoạt động của pháp nhân hay không
Vì vậy, đến BLDS năm 2015 tại Điều 86 Khoản 1, đã được quy định lại nhằm bảo vệ quyền lợi khi tham gia các giao dịch của pháp nhân theo hướng: “1 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Thứ hai: Năng lực dân sự liên quan đến giới tính, huyết thống
Trong BLDS 2015 quy định về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, cá nhân có quyền
và nghĩa vụ liên quan đến giới tính và huyết thống
Ví dụ: cá nhân có quyền được xác định lại giới tính (Điều 36), chuyển đổi giới tính ( Điều 37) Song, pháp nhân không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến giới tính và huyết thống vì đó là những đặc thù riêng của con người Điều 36, 37 trong BLDS 2015 cũng chính là điểm mới nổi bật, khắc phục những khiếm khuyết của BLDS 2005 trước đó
Thứ ba: Thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự
Trong BLDS 2005, thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và pháp nhân là cơ bản giống nhau Ngoài ra, thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có thêm một số ngoại lệ mà pháp nhân không có như: Khoản 2 Điều 612 , Điều 635 Đối với BLDS 2015, đã có sự bổ sung về thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân tại khoản 2 Điều 86 BLDS 2015: "Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký”
Thứ tư: Thời điểm chấm dứt năng lực pháp luật dân sự
Trong BLDS 2005, thời điểm chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và pháp nhân là giốngnhau Đối với cá nhân, theo Khoản 3 Điều 14 BLDS 2005: năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó chết Còn đối với pháp nhân năng lực pháp luật dân
sự chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân (Điều 86 Khoản 2 BLDS 2005)
Bên cạnh đó, trong BLDS 2015, có xu hướng thêm quy định để bảo vệ quyền lợi cho người chết, người chết vẫn được pháp luật ghi nhận
Ví dụ: Theo trách nhiệm bồi thường của nhà nước, trong trường hợp cá nhân đã chết thì người thân của họ có quyền yêu cầu cơ quan chức trách liên quan khôi phục danh dự của người đã chết