1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Buổi thảo luận thứ năm: TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG

16 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 382,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra Câu 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Trả lời: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại nên phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho phía bên kia1 . Luật thương mại Việt Nam quy định rất rõ các că cứ (điều kiện) phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng 2 . Cụ thể, theo Điều 303 Luật thương mại 2005: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi hội đủ các yếu tố sau đây: 1. Có hành vi vi phạm hợp đồng; 2. Có thiệt hại thực tế; 3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”

Trang 1

Buổi thảo luận thứ năm:

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG VẤN ĐỀ 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra

Câu 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trả lời:

* Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh

do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại nên phải bồi thường thiệt hại

Cụ thể, theo Điều 303 Luật thương mại 2005: “Trừ các trường hợp miễn trách

nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi hội đủ các yếu tố sau đây:

1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;

2 Có thiệt hại thực tế;

3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”

Theo pháp luật Việt Nam, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là “bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ ”

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015

* Những thay đổi trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm

2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2005 đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do vi phạm nghĩa vụ Tuy nhiên quy định vừa nêu không đưa ra căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm Đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và về tinh thần Nói cách

1 Lê Thị Diễm Phương, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng

Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2017, Chương 4, tr.326-327

2 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam

2018 (Xuất bản lần thứ bảy), Bản án 192-195, tr.476

Trang 2

khác, Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa rõ về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và việc bổ sung quy định là cần thiết

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung Điều 360: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do vi phạm nghĩa vụ: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có

nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”

Hướng sửa đổi đối với vấn đề nêu trên trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là hoàn toàn thuyết phục và sẽ là cơ sở pháp lý rõ ràng để Tòa án áp dụng giải quyết các tranh chấp trong thực tiễn xét xử về nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Câu 2: Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của

bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ chưa? Vì sao?

Trả lời:

Trong tình huống trên, có việc xâm phạm đến yếu tố nhân thân của bà Nguyễn

Cụ thể là Ông Lại (bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ) đã không thực hiện đúng thỏa thuận với bà Nguyễn khi tiến hành phẫu thuật, ông đã đụng tới núm vú của bà Nguyễn và kết quả bà Nguyễn đã bị mất đi núm vú

: Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể

“1 Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật

3 Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được

sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện”

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ:

Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: Ông Lại đã không thực hiện đúng theo

thỏa thuận phẫu thuật ngực với 4 yêu cầu của bà Nguyễn đó là ông đã đụng đến núm

vú của bà Nguyễn

Thứ hai, có thiệt hại thực tế: Núm vú bên phải của bà Nguyễn sưng lên, đen

nhám và cuối cùng bà phải cắt bỏ núm vú

3 Điều 33 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 3

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại:

Chính vì ông Lại không thực hiện đúng thỏa thuận, đúng đến núm vú của bà khi phẫu thuật nên mới dẫn đến việc bà Nguyễn bị mất núm vú bên phải

Câu 3: Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Đối với thiệt hại được bồi thường trong hợp đồng, chúng ta đều thống nhất rằng

chất sau do hợp đồng gây ra được bồi thường: tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

Trong vụ việc của bà Nguyễn, thì bà đã mất tiền để phẫu thuật ngực nhưng lại không thành công

Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Thiệt hại về vật

chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút”

Câu 4: Bộ luật Dân sự có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Đối với thiệt hại (tổn thất) về tinh thần, đây là vấn đề có tranh cãi và tồn tại một quan điểm khá phổ biến là loại thiệt hại này không tồn tại hay không được chấp nhận trong lĩnh vực hợp đồng Thực ra, tổn thất về tinh thần hoàn toàn có thể tồn tại xuất

bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp đồng Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường khoản thiệt hại này Như vậy, nhìn từ góc độ văn bản, tổn thất về tinh thần trong lĩnh vực hợp đồng cũng được bồi thường và thực tiễn cũng theo hướng này

Cơ sở pháp lý: Điều 361: Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ

4 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam

2018 (Xuất bản lần thứ bảy), Bản án 192-195, tr 491

5 Lê Thị Diễm Phương, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng

Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2017, Chương 4, tr.339

6 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam

2018 (Xuất bản lần thứ bảy), Bản án 192-195, tr 491

Trang 4

“1 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

3 Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”

Câu 5: Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Theo quy đinh hiện hành, bà Nguyễn được bồi thường tổn thất về tinh thần thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm dẫn đến thiệt hại về vật chất và tổn thất về tinh thần của

bà Nguyễn Cụ thể, bà sẽ mất đi vẻ đẹp bên ngoài mà đáng ra bà phải có sau khi bỏ tiền ra, bà có thể sợ hãi về những gì đã xảy ra,…

Kế thừa thực tiễn cũng như kinh nghiệm nước ngoài nêu trên, Bộ luật dân sự năm 2015 đã có một quy định mới về tổn thất về tinh thần khi có vi phạm hợp đồng

Đó chính là khoản 3 Điều 419 về Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng theo đó “theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc” Trong vụ việc trên, ông Lại phải bồi thường toàn

bộ những thiệt hại xảy ra gắn liền với ca phẫu thuật không thành công

VẤN ĐỀ 2: Phạt vi phạm hợp đồng

Câu 1: Điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm

2005 về phạt vi phạm hợp đồng

Trả lời:

Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005

về phạt vi phạm hợp đồng như sau:

Thứ nhất: Về quy định “Mức phạt vi phạm”

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005: Mức phạt vi phạm do các bên thoả

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015: Mức phạt vi phạm do các bên thỏa

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 có bổ sung quy định về mức phạt vi phạm trong trường hợp “luật liên quan có quy định khác” bởi vì không phải lúc nào các bên

7 Khoản 2 Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

8 Khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 5

cũng được hoàn toàn tự do thỏa thuận bởi hiện nay vẫn có Luật quy định cụ thể về mức phạt như Luật xây dựng, Luật thương mại có quy định về mức phạt tối đa,

Thứ hai: Về quy định bồi thường thiệt hại:

Theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2005: Các bên có thể thoả thuận về việc bên

vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại

hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả

thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015: Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm

Ta thấy rằng, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ đi quy định “nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại” của Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định này được bỏ đi vì đây là vấn đề bồi thường thiệt hại

và đã có quy định khác điều chỉnh (Điều 13 và Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015)

Đối với vụ việc thứ nhất:

Câu 2: Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng

Trả lời:

Điểm giống nhau giữa đạt cọc và phạt vi phạm hợp đồng là:

+ Về đối tượng thực hiện: đều là khoản tiền buộc phải nộp cho một bên

+ Về hình thức: đều được lập thành văn bản

+ Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm bị mất một khoản tiền (mức phạt vi phạm hoặc phạt cọc) và không căn cứ vào thiệt hại thực tế

Câu 3: Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay

là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?

Trả lời:

Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc

9 Khoản 3 Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

10 Khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 6

“Xét thấy theo khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế số số 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thỏa thuận: Ngay sau khi ký hợp đồng bên mua (công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên Công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do đó số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000đồng) được xác định là tiền đặt cọc”.11

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%

Trả lời:

Theo nhóm, cách giải quyết của Tòa là chưa thỏa đáng và thiếu thống nhất trong cách xử lý

Về khoản tiền trả trước 30% Tòa án xác định là tiền đặt cọc dựa vào khoản 7 Điều 292 Luật thương mại 2005 và Điều 358 Bộ luật dân sự năm 2005 Khoản tiền này dùng để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Tuy nhiên sau đó Tòa án lại nhận định rằng phía bị đơn đã không từ chối thực hiện hợp đồng mà hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng cho nên khoản tiền 30% được xác định là khoản tiền dùng để thanh toán đợt giao hàng lần thứ nhất Theo hai bên thỏa thuận sau khi kí hợp đồng, Công ty Tân Việt (bên mua) phải thanh toán trước cho Công ty Tường Long (bên bán) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 358 Bộ luật Dân

sự năm 2005 số tiền 30% trên thuộc về bên bán khi bên mua từ chối thực hiện hợp đồng nhưng trên thực tế hai bên đã đi vào thực hiện hợp đồng nên khoản tiền trên phải được trả lại cho bên mua (Công ty Tân Việt) chứ không được dùng vào việc thanh toán cho giá trị đơn hàng thứ nhất

Do đó cách giải quyết nhiều mâu thuẫn như trên của Tòa án đã khiến quyền lợi

và lợi ích hợp pháp của bên nguyên đơn không được đảm bảo

Đối với vụ việc thứ hai:

Câu 5: Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn như thế nào?

Trả lời:

Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn theo

11

Bản án 121/2011/KDTM-PT nỳ 26/12/2011 của Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh; Phán quyết của Trọng tài quốc tế Việt Nam

12 Điều 301 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 7

Câu 6: So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có thuyết phục không? Vì sao?

Trả lời:

So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định là hợp lý

Bởi căn cứ theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 tại Điều 301 có quy định:

“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa

vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”

Câu 7: Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có thảo thuận về vấn đề này? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời:

Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về thỏa thuận phạt vi phạm:

“1 Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm

2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác

3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”

Nghiên cứu nội dung quy định này có thể hiểu, không có giới hạn về mức phạt vi phạm trong dân sự, các bên có thể thỏa thuận chỉ bị phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm, nhưng không đề cập việc vẫn phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm sẽ không phải bồi thường thiệt hại Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, khác với phạt vi phạm là chỉ được áp dụng nếu như các bên có thỏa thuận trước về phạt vi phạm, đối với bồi thường thiệt hại, cho dù các bên có thỏa thuận về vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hay không, thì khi xảy ra thiệt hại, bên gây thiệt hại vẫn phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Từ quy định này có thể suy ra rằng: Nếu không có thỏa thuận về việc phạt vi phạm kết hợp với phạt vi phạm thì vẫn có thể kết hợp cả hai để áp dụng cho trường

Trang 8

hợp vi phạm hợp đồng Bởi chỉ khi các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm thì mới không áp dụng kết hợp bồi thường thiệt hại

Theo pháp luật thương mại: Các bên có quyền thỏa thuận về việc bên vi phạm chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại, hoặc có thể thỏa thuận áp dụng cả hai hình thức chế tài là phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại

Căn cứ theo Điều 307 Luật thương mại 2005 quy định: “Quan hệ giữa chế tài

phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại

1 Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ

có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác

2 Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền

áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này

có quy định khác.”

Câu 8: Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời

Trả lời:

Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm được kết hợp với bồi thường thiệt hại

Đoạn cuối phần Nội dung tranh chấp của Quyết định: “HĐTT cho rằng có thể

xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại

và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng”13

Câu 9: Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng

Trả lời:

tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng

thực tế

thương mại 2005 quy định như sau:

“1 Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;

13 Phán quyết trọng tài (phạt vi phạm hợp đồng)

Trang 9

b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;

c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng

2 Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.”

thực hiện đúng hợp đồng Khái niệm + Điều 418 Bộ luật Dân sự năm

2015;

+ Điều 300 Luật thương mại

2005: “Phạt vi phạm là việc bên

bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này.”

+ Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015;

+ Khoản 1 Điều 302 Luật thương

mại 2005: “Bồi thường thiệt hại là

việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.”

Thỏa

thuận

trong hợp

đồng

Phải có sự thỏa thuận trong hợp đồng

Không cần có sự thỏa thuận trong hợp đồng

Mục đích Ngăn ngừa các xảy ra vi phạm

trong hợp đồng

Khắc phục hậu quả do vi phạm hợp đồng

+ Có hành vi vi phạm hợp đồng

+ Có lỗi của bên vi phạm

+ Có hành vi vi phạm

+ Có thiệt hại thực tế

+ Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại

Trang 10

Câu 10: Theo văn bản, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Vì sao?

Trả lời:

Bộ luật Dân sự không nêu, nhưng Luật liên quan khác có quy định giới hạn mức phạt vi phạm

phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”

Câu 11: Trong Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trong Quyết định về vấn đề này

Trả lời:

Tòa Trọng tài xác định có giới hạn khi kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ Áp dụng Điều 301 Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005, xác định giới hạn là 8%, nhưng xét thêm bồi thường thiệt hại thực tế, nên áp dụng mức phạt do hai bên thỏa thuận và tạo thời gian, điều kiện cho bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ

Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về khả năng Tòa án được quyền giảm mức phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam

Trả lời:

Theo tôi, hướng giải quyết của HĐTT là thuyết phục, vì:

- Khi vi phạm hợp đồng, bên vi phạm đã phải bồi thường hợp đồng dù có thỏa thuận về việc này hay không

- Mục đích của phạt vi phạm là để ngăn chặn vi phạm chứ không phải là khắc phục hậu quả Khắc phục hậu quả đã có biện pháp bồi thường thiệt hại khi vi phạm nghĩa vụ

- Hơn nữa, khi đã áp dụng bồi thường hợp đồng mà còn áp dụng phạt vi phạm quá cao, việc này thực sự không cần thiết và có xu hướng thiên vị cho bên được bồi thường

- Trong vụ việc trên, theo tôi nhận thấy dù Hội Đồng Thẩm Phán cũng có thể hiện tinh thần tôn trọng thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, thông qua việc dẫn chiếu đến nội dung bồi thường thiệt hại thực tế Tuy nhiên, nếu mức thỏa thuận quá cao thì có thể Hội Đồng Thẩm Phán sẽ không chấp thuận mà phải cân nhắc lại

- Tóm lại tinh thần của Quyết định trên là, có kết hợp hai biện pháp phạt vi phạm

và bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ Nhưng phải xem xét đến giới hạn mức

Ngày đăng: 11/10/2022, 13:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w