PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚIVăn minh là giai đoạn phát triển cao của văn hóa, là một trạng thái tiến bộ được thể hiện ở hai mặt vật chất và tinh thần được con người
Trang 1PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Văn minh là giai đoạn phát triển cao của văn hóa, là một trạng thái tiến bộ được thể
hiện ở hai mặt vật chất và tinh thần được con người và xã hội loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội Trái với văn minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,…
Văn minh có tính siêu dân tộc (quốc tế) Những thành tựu văn minh xuất hiện ở xã hội Phương Tây đô thị Văn hóa có trước văn minh (loài người xuất hiện thì văn hóa cũng xuất hiện) Tuy nhiên, có những thành tựu văn hóa có giá trị nhưng không tiến bộ, còn các giá trị văn minh đều mang tinh chất tiến bộ ở đỉnh cao Văn minh có nghĩa hẹp nhưng mang tính chất đỉnh cao
Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông, văn minh Trung Hoa,…
Lịch sử văn minh là sử dụng phương pháp khoa học lịch sử, hệ tư tưởng quan điểm khoahọc lịch sử, nghiên cứu các quá trình phát sinh, phát triển của các hiện tượng văn minh, các nền văn minh và các thời đại văn minh Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lenin, vậndụng phương pháp luận của trường phái sử học Maxsis-Leninist là lý thuyết kết hợp giữachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong nhận thức đời sống xã hội và toàn bộ lịch sử nhân loại
Một số phương pháp cụ thể như:
Phương pháp lịch sử: Là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các
sự vật, hiện tượng lịch sử theo một trình tự liên tục và nhiều mặt, có lớp lang sau trước, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử
là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự vật xung quanh
Phương pháp lôgích: Là phương pháp xem xét, nghiên cứu các sự kiện lịch sử dưới dạngtổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử
Có nghĩa là trình bày các sự kiện một cách khái quát trong mối quan hệ đúng quy luật, loại bỏ các chi tiết không cơ bản
Phương pháp đồng đại: Thực chất là xác định các hiện tượng, quá trình khác nhau xảy racùng một thời điểm (có liên quan đến nhau) Phương pháp này giúp chúng ta bao quát được toàn vẹn và đầy đủ quá trình lịch sử ; so sánh được cái gì đã xảy ra trong cùng một thời gian, ở các nước khác nhau, cũng như so sánh các quá trình có tính chất khác nhau xảy ra trên cùng một lãnh thổ (Ví dụ : phong trào công nhân, nông dân, trí thức, quân
Trang 2Phương pháp lịch đại: Cho phép nghiên cứu quá khứ lần theo các giai đoạn phát triển trước kia của nó Dựa vào quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin về sự thống nhất giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, dựa vào quan niệm biện chứng cho rằng trong một quá trình phát triển mỗi giai đoạn tiếp sau đều mang trong mình nó những đặc điểm và những yếu tố của giai đoạn trước
Phương pháp liên ngành: Do Lịch sử văn minh đề cập đến các lĩnh vực của rất nhiều ngành khoa học khác (ngôn ngữ học, triết học, tôn giáo, ), phải nắm vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo các tri thức khoa học liên ngành để nghiên cứu lịch sử văn minh Ngoài ra còn cần sử dụng nhiều phương pháp khác như phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực địa, phân kỳ,
Lịch sử văn minh thế giới là động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, giúp nhân loại đạt đến những thành tựu phát triển đỉnh cao, góp phần ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,…
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Văn minh là trạng thái tiến bộ cả về hay mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người,
Trang 3tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hoa Trái với văn minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,…
Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông,
So sánh văn hoá với văn minh
Văn hoá dùng để chỉ những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để góp phần vào sự ổn định, tô điểm, làm đẹp cho cuộc sống của con người và xã hội.Đặc trưng của văn hoá: Là cái để phân biệt con người với động vật, là đặc trưng riêng của xã hội loài người Không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải học tập, giao lưu Là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá
Có bề dày quá khứ
Mang tính dân tộc
Xuất hiện khi có con người
Văn hóa là sự khác biệt
Xu hướng tìm đến cái riêng
Thường liên quan đến tinh
thần
Là lát cắt đồng đại
Mang tính siêu dân tộc
Xuất hiện khi có Nhà nước Văn minh thể hiên sự cao thấp
Xu hướng cái chung, cái phổ biến Thường liên quan đên khoa học – công nghệ - kĩ thuật
Thế nào là một nền văn minh?
Nền văn minh có thể hiểu như là văn hoá của một xã hội phức tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội thống nhất Các nền văn minh có nền tảng văn hoá đa dạng, bao gồm văn học, hội hoạ, kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng,… được kết hợp hài hoà Nền văn minh có bản năng mở rộng ra khu vực khai sinh ban đầu, vươn xa và ảnh hưởng đến những vùng đất xa xôi khác Một nền văn minh hình thành trong một không gian địa lý nhất định, có một thời gian tồn tại nhất định và có chủ nhân riêng Một nền văn minh gồm 3 yếu tố: Chức năng sản xuất ra của cải vật chất., chức năng điều chỉnh tổ chức và phát triển xã hội, chức năng tạo ra các sản phẩm tinh thần
Những cơ sở hình thành nền văn minh
Điều kiện tự nhiên :
Điều kiện chính trị: trình độ tổ chức, quản lí xã hội
Điều kiện xã hội: sự phân hoá và kết cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Trang 4Điêu kiện cư dân: Cư dân là chủ nhân của nền văn minh, cộng đồng cư dân tạo ra nền văn minh.
Nội dung của lịch sử văn minh thế giới :
Trình độ sản xuất vật chất: Thể hiện trình độ kiểm soát, chiếm lĩnh của con người với thếgiới tự nhiên, thông qua các hoạt động sản xuất ra của của vật chất, các sinh hoạt kinh tế trong mỗi nền văn minh
Trình độ kiểm soát, quản lí xã hội: Thể hiện trình độ tổ chức và quản lí xã hội thông qua
bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật, các thể chế xã hội (giai cấp, tư tưởng, tập quán xã hội, cộng đồng,…)
Trình độ chiếm lĩnh thế giới tư duy và sáng tạo văn hoá: Bao gồm tổng thể tri thức về thế giới khách quan được sáng tạo, khám phá (nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo, khoa học,
…)
Tám yếu tố của thành tựu văn minh bao gồm:
Chữ viết: là hệ thống các kí tự đặc biệt ghi lại tiếng nói của con người, là phương tiện đểtruyền tải thông tin qua không gian và thời gian
Ví dụ: chữ tượng hình (Ai Cập), chữ Brami (Ấn Độ), chữ Lệ (Trung Hoa),…
Văn học: những sang tác văn học thể hiện niềm tin, ý chí, tình cảm của bộ phận dân cư sang tại ra nền văn minh
Sử học: quá trình hình thành nền sử học cùng những nhận xét, nhận định về các sự kiệntrong tiến trình lịch sử
Nghệ thuật: hội họa, điêu khắc,kiến trúc,…
Khoa học tự nhiên: các phát minh về toán học, vật lý, hóa học, sinh học, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Triết học: hệ thống tư tưởng quan điểm của bộ phận dân cư đó về cuộc sống, con người, xã hội…
Tôn giáo, tư tưởng: Các niềm tin và tín ngưỡng (Hoàn cảnh, tích truyện, hệ thống thế giới quan, nhân sinh quan, sự thờ phụng và cuộc sống đạo đức)
Luật pháp: hệ thống quy tắc tổ chức, quản lý xã hội
Phân loại văn minh
Theo nền văn minh: Alvin Toffler đã phân kỳ lịch sử theo 3 đợt sóng văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học
Theo khu vực :
Phương Đông: các trung tâm văn minh nằm trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu Á, Đông Bắc châu Phi như sông Ấn, sông Hằng, sông Hoàng Hà, sông Trường Giang,… Thời cổ đại có các trung tâm như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc Thời trung đại
có các trung tâm như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả rập
Phương Tây: các trung tâm văn minh nằm ở các đảo, bán đảo Thời cổ đại có các trung tâm như Hy Lạp, Roma Thời trung đại có trung tâm văn minh Tây Âu
Trang 5Lịch sử văn minh thế giới là động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, giúp nhân loại đạt đến những thành tựu phát triển đỉnh cao, góp phần ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,…
KHOA HỌC TỰ NHIÊN AI CẬP
Trang 6Cơ sở hình thành : Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ quan sát.
Mực nước lên xuống của sông Nile, có hai mùa nước dâng hạ Nhu cầu về nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc ruộng đất, tính toán thuế khoá Nhu cầu về tôngiáo, những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu trời để đưa ra lễ, luật cúng tế
Toán học
Xuất hiện khá sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và thực tế cuộc sống của người Ai
Cập Tóan học Ai Cập ra đời từ rất sớm và phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số và hình học Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, tính toán vật liệu xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc,… là những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời
Thiên niên kỷ III trước Công nguyên xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về các con số
Thiên niên kỷ II trước Công nguyên phát triển thành công hệ đếm, nhưng vẫn chưa sáng tạo ra số 0, cho nên khi đếm đến 10, họ đã lấy một đọan dây thừng để ghi nhớ, đến 1000 thì vẽ cái cây
Hệ số thập phân: cơ số 10, chưa có số 0, biết làm các phép cộng và trừ, còn nhân và chiathì thực hiện bằng cách cộng và trừ liên tiếp
Đại số: giải phương trình bậc nhất, tìm ra cấp số cộng và cấp số nhân,
Hình học: Tính diện tích hình vuông, chữ nhật, hình thang, tam giác, tứ giác, diện tích
hình cầu, Tính được số π = 3,16 và bước đầu biết đến tính chất đồng dạng Biết tính thể tích của hình lăng trụ, lập phương…
Số học: Thành tựu đầu tiên là phép đếm theo cơ số 10, các chữ số cũng được dùng chữ
tượng hình để biểu thị và chưa tìm ra con số 0 Biết tính cộng trừ, nhưng phép nhân và chia được hiểu là công trừ liên tiếp Biết căn cứ khả năng nhân đôi của một số Căn cứ khả năng lấy 2/3 của một số
Thông qua đó họ cũng xác định được bản đồ của 12 cung hoàng đạo vẽ được chòm sao Bắc cực và biết đến hành tinh trong Thái Dương hệ, có từ thời Vương triều XIV Đặc biệt để có thể xác định thời gian ban ngày, người Ai Cập đã sáng tạo được cái để đo thời gian ban ngày gọi là Nhật Khuê, giúp người Ai Cập biết được thời gian chính xác hơn
Trang 7Họ biết được các hành tinh khác như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Sớm phát hiện ra các chòm sao, soạn ra bản đồ các thiên thể, nó được vẽ lên trần của các đền đài cổ Việc tính toán vị trí các ngôi sao trên trời và việc phát minh ra đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước là những thành tựu quan trọng ở thời Tân vương quốc Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế khi trong thời gian ban đêm và trời mưa (không có nắng) vì vậy vào ban đêm họ sử dụng dụng cụ để đo thời gian gọi là đồng hồ nước, nó khắc phục hạn chế của Nhật Khuê (người Trung Quốc là Trích lậu hộ).
Lịch pháp (sự ra đời của hệ thống lịch Ai Cập)
Là kết quả từ quá trình quan sát thiên văn qua quá trình quan sát bầu trời và mực nước sông Nile họ phát hiện ra một mối quan hệ giữa mực nước sông Nile và sao Thiên Lang Một buổi sáng sớm một ngày mùa hè khi ngôi sao Thiên Lang xuất hiện ở đường chân trời đó là thời điểm nước sông Nile lên cao, chu kỳ này của sao Thiên Lang là khoảng
365 lần mặt trời mọc xuất hiện Từ mối quan hệ trên người Ai Cập đã lấy 365 ngày tính làm thời gian cho 01 năm Dựa vào 12 tháng hoàng đạo, 1 năm được chia thành 12 tháng, mỗi tháng 60 ngày, còn dư 5 ngày xếp vào cuối năm làm ngày lễ Năm mới của AiCập bắt đầu từ ngày nước sông Nile bắt đầu dâng , họ chia 1 năm thành 3 mùa : Mùa nước lên, mùa ngũ cốc, mùa thu hoạch, mỗi mùa bốn tháng
Lịch Ai Cập tương đối chính xác Năm 45 trước công nguyên Julius Ceasae cho mời nhàthiên văn Sasigene từ Ai Cập về Roma để cải cách lịch La Mã trên cơ sở lịch Ai Cập, hình thành lịch Julien
Y học
Do tục ướp xác thịnh hành nên người Ai Cập cổ đại hiểu biết khá sớm về cấu tạo cơthể người, điều đó đã tạo điều kiện cho y học phát triển và khá nổi tiếng với các nướcláng giềng Họ có trình độ chuyên môn cao về răng, đầu, mắt, bụng và các bệnh nộithương Người Ai Cập nhận thức được rằng nguyên nhân của bệnh tật không phải do maquỷ hay phù thủy gây ra mà do sự không bình thường của mạch máu Nhận thức được óc
và tim là hai bộ phận quan trọng của cơ thể con người, tay nghề và sự tài giỏi của thầythuốc được đánh giá bằng sự hiểu biết về trái tim
KHOA HỌC TỰ NHIÊN HI LẠP
Cơ sở hình thành
Nền kinh tế phát triển cao, đời sống vật chất của giai cấp thống trị Hy Lạp được nâng cao, do đó thúc đẩy nhu cầu nâng cao không chỉ đối với đời sống vật chât mà còn cả về đời sống tinh thần
Thiên văn và địa lý
Thales Được mệnh danh là “Nhà toán học đầu tiên, nhà thiên văn học đầu tiên” Là :
người đã khai sinh ra nền thiên văn học Hy Lạp cổ đại và là người hình thành trường phái khoa học Milet Ông đã học tập và kế thừa những thành tựu thiên văn học của
Trang 8Lưỡng Hà Là người dự báo chính xác về hiện tượng Nhật thực, Nguyệt thực.
Nhưng ông sai lầm khi cho rằng trái đất nổi trên nước, vòm trời có hình bán cầu úp trên mặt đất
Pitago : Ông cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều có quy luật của nó Về
thiên văn học, ông có tiến bộ hơn Talét, ông nhận thức được quả đất hình cầu và chuyển động theo quỹ đạo nhất định (Sau này Copecnic, nhà bác học ngươi Ba lan đã phát triển thành thuyết "nhật tâm" nổi tiếng) Là người đầu tiên dùng danh từ Cosmos để chỉ vũ trụ
Aristarque : Ông tính toán khá chính xác thể tích, khối lượng của mặt trời, quả đất, mặt
trăng và khoảng cách của các thiên thể ấy Ông khẳng định “Không phải mặt trời xoay quanh Trái đất mà chính Trái đất xoay quanh Mặt trời và mỗi ngày tự quay quanh nó một vòng”
Ératosthène : Là người đầu tiên tính được độ nghiêng của trục quay Trái đất là 23’27
Ông cũng là người đầu tiên tính toán khá chính xác chu vi của Trái đất bằng cách đo độ dài của đường xích đạo là 39 700 km, gần bằng con số ngày nay tính được
Hecataus: Sống cùng thời với Thales, là người đầu tiên vẽ được bản đồ thế giới, đây là
bản đồ địa lý sớm nhất trong lịch sử địa lý học phương Tây
Toán học
Thales: Là người đầu tiên phát biểu định lý tỷ lệ thức (định lý Thales), dựa vào đó tính
được chiều cao của Kim tự tháp Ông chứng minh được 2 góc đáy của tam giác cân bằngnhau, xác định tam giác bởi 1 cạnh và 2 góc kề bù hoặc tính khoảng cách của 1 vật mà không đến gần được Mọi đường kính chia đôi một đường tròn, góc nội tiếp trong nửa hình tròn là một góc vuông
Pithagore : Ông nêu các định lý được chứng minh bằng suy luận logic chứ không phải
bằng trực giác
Một số đóng góp của ông:
Định lý Pythagore : “Tổng hai cạnh góc vuông bằng bình phương của cạnh huyền trong một tam giác vuông”
Chứng minh tổng các góc trong một tam giác bằng 180 độ
Đưa ra định nghĩa về điểm, đường, số vô cực, số vô tỷ
Phân biệt các số chẳn, lẻ, số không chia hết , đưa ra những nghiên cứu thú vị về các con số như số chẵn thì xấu, không may,
Ông có đóng góp về bảng tính nhân, thập phân
Euclide: Với tác phẩm nổi tiếng nhất là bộ “Cơ bản” gồm 13 cuốn được giữ lại đến
ngày nay Hệ thống định đề của ông làm nền tảng xây dựng môn hình học phẳng hay còngọi là hình học Euclide
Archimede :
Trang 9Về toán học : Ông tính được số pi bằng 1 trị số chính xác và sớm nhất trong lịch sử phương Tây Ông đưa ra phương pháp tính diện tích hình nón, hình cầu, tìm được mối liên hệ giữa diện tích toàn phần và thể tích hình cầu nội tiếp trong hình trụ.
Một số tác phẩm tiêu biểu :
Về trạng thái cân bằng: Nghiên cứu về trọng tâm, hình bình hành, hình tam giác
Cầu phuơng hình parabol: Cho lời giải về cơ học và cả lời giải toán học
Về vật lý :
Ông là người đặt nền móng cho ngành cơ học và ứng dụng của nó vào việc giải phóngsức lao động của con người như: đòn bẩy, ròng rọc, chân vịt (dùng để hút nước) Ôngphát minh ra nguyên lý đòn bẩy và nguyên lý về thủy lực, định luật về vật nổi Ông đượccoi là người phát minh ra ròng rọc, đòn bẩy, máy bơm nước, máy bắn đá, bánh xe răngcưa, đường xoáy trôn ốc, nguyên lý hội tụ ánh sáng của gương cầu lồi,…
4 Y học của Hi Lạp cổ đại
Hippocrate : Là người đầu tiên đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển của y học phương
Tây và được tôn vinh là ông tổ của ngành y học phương Tây Ông đã phát biểu những luận điểm quan trọng như: nguyên nhân của bệnh tật xuất phát từ giới tự nhiên, khi đau thì người ta phải uống thuốc và hết sức lưu ý đến vấn đề vệ sinh ăn uống, khi cần thiết thì phải dùng đến thuật mổ xẻ để trị bệnh Ông là người đầu tiên ở Châu Âu phát biểu vềvấn đề y đức “Nghề thầy thuốc là một nghề hết sức quan trọng, hết sức đặc biệt vì nó liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người Do đó, không được dùng nghề nghiệp chuyên môn của mình để trục lợi” Ở phương Tây, các bác sỹ khi ra trường đều phải đọc
“Lời thề Hippocrate”
Heraclide : Đã chứng minh rằng não là khí quan tư duy, cảm giác do hệ thần kinh truyền
đạt, xem mạch mạnh yếu nhanh chậm có thể biết được tình hình sức khỏe Là người đầutiên nêu lên vấn đề dùng thuốc mê trong phẫu thuật Ý tưởng này của ông mãi đến năm
1840 người ta mới dùng ete để gây mê, năm 1861 dùng morphine để giảm đau
QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO PHẬT Ở ẤN ĐỘ
Bối cảnh ra đời
Xã hội : Vào khoảng giữa thiên niên kỷ I Trước công nguyên, Ấn Độ xưa đã hình thành
hàng loạt tiểu quốc Các vương quốc có điều kiện tự nhiên khác nhau Kinh tế, xã hội, chính trị phát triển không đều nhau Do vậy, các vương quốc luôn mâu thuẫn, cạnh tranh
và thôn tính nhau làm tình hình chính trị bất ổn, tâm lý dân chúng bất an Đến thế kỷ
V Trước công nguyên chỉ còn 4 quốc gia: Kashi, Koshala, Magadha, Virigis Mâu thuẫn đẳng cấp tăng lữ, quý tộc và sự phân hoá giai cấp mạnh mẽ, trở thành nỗi bức xúc lớn trong xã hội bấy giờ
Tăng lữ (Brahman) thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vơ vét tài sản, bắt dânchúng nộp thuế cao và nghĩa vụ khác
Trang 10Quý tộc bảo vệ và trực tiếp cai trị đất nước, là người giữ vai trò quyết định trong chiến tranh nhưng địa vị lãnh đạo lại không rõ ràng do ở dưới đẳng cấp tăng lữ
Dân thường có cuộc sống không ổn định do chiến tranh, mất mùa nhưng thuế không giảm và những áp lực của tôn giáo đè nặng
Nô lệ là kẻ thấp hèn, có một số dân thường bị phá sản trở thành nô lệ, một số phải đi ăn xin Họ chịu cuộc sống cực khổ dẫn đến tâm lí chán nản, tuyệt vọng
Kinh tế : Công cụ bằng kim loại đã làm thay đổi bản chất của sản xuất Nhiều ngành
kinh tế đã ra đời và ngày càng mở rộng, làm xuất hiện tầng lớp mới, trong đó có thương nhân Thương nhân là tầng lớp có tiềm lực về kinh tế, nên muốn thay đổi địa vị trong hệ thống đẳng cấp Tầng lớp này lúc đầu không được xếp vào đẳng cấp nào và cuối cùng bị đẩy xuống đẳng cấp nô lệ, đẳng cấp thấp hèn nhất
Tôn giáo : Cuộc sống khổ cực càng làm cho nhân dân lao động thêm căm ghét những kẻ
bóc lột mình, oán ghét chế độ đẳng cấp, không còn tin vào các vị thần Bàlamôn Những nghi lễ phức tạp, những nghĩa vụ phiền toái, giáo lí ngày càng khó hiểu làm cho người dân ngày càng xa rời tôn giáo này Trong bối cảnh đó vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trường phái tôn giáo, triết học mới chủ trương xa lánh thực tại, khổ hạnh, ép xác, tiêu cực, tự kỉ nhưng có 1 điểm chung là trực tiếp và gián tiếp chống lại đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp Phật giáo cũng là một trong những trào lưu đó và được xem là một phản đề của đạo Bàlamôn
Tiền đề tư tưởng - chính trị : Đạo Bà La Môn đã xác lập được vai trò vững chắc ở Ấn
Độ, chi phối đời sống tư tưởng chính trị của các đẳng cấp khác trong xã hội Ấn Độ
Người sáng lập : Do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu Thích Ca Mâu Ni khởi xướng Quá trình truyền bá và phát triển : Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ khoảng giữa thiên niên
kỷ I TCN, vào thời điểm rất hưng thịnh của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp Với giáo
lý đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, chống lại chế độ đẳng cấp, với tinh thần bác ái, đạo Phật nhanh chóng chinh phục được đông đảo các tầng lớp nhân dân Ấn
Độ từ vua chúa đến nhân dân lao động nên sau khi ra đời đạo Phật nhanh chóng được truyền bá ở miến Bắc Ấn Độ
Từ thế kỷ V trước công nguyên đến thế kỷ V sau công nguyên là quá trình truyền bá và phát triển đạo Phật, từ khi Đức Phật viên tịch cho đến khi đạo Phật không còn phổ biến ở
Ấn Độ Quá trình đó trải qua 4 hội nghị kết tập :
Hội nghị kết tập lần 1
Ngay sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, để tránh sự sai biệt, bảo tồn các giáo pháp và luật lệ cho được toàn vẹn Được tổ chức tại Vương xá thuộc Magada vào thế kỷ V Trước công nguyên Có 500 đại biểu tham dự, kéo dài trong 7 tháng Kết thúc hội nghịhình thành bộ Kinh tạng và Luật tạng
Nội dung thống nhất được 2 phần:
Pháp: gồm những lời thuyết giáo của Phật được nhớ lại theo ký ức của các đệ tử lúc bấy giờ
Luật: là quy chế của hội Phật giáo do Đại hội thảo ra
Trang 11Hội nghị kết hợp tập lần 2
Sau 100 năm có nhiều người muốn thay đổi một số điều chi tiết trong giới luật
Diễn ra vào khoảng thế kỷ IV Trước công nguyên với 700 tăng ni tham dự, diễn ra trong
và các nghi thức Asoka cho xây dựng nhiều chùa tháp, thành lập nhiều tăng đoàn, khuyến khích việc truyền bá đạo Phật đến nhiều vùng đất trên báo đảo Ấn Độ và một số quốc gia khác (Sri Lanka, Mianma, ) Đây là thời kỳ cực thịnh của Phật Giáo, đã thống nhất được Tam Tạng Kinh Tuy nhiên sau khi vương quốc Magada tan rã, đạo Phật cũng suy yếu dần
“con đường cứu vớt rộng”, cho rằng không chỉ những tu hành mà cả những người quy ycũng được cứu vớt Quan niệm Niết bàn như thiên đường, tức là vương quốc của các vịPhật, cũng tức là nơi Cực lạc
Đề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là trung gian giữa tín đồ và Bồ tát
Nguyên nhân Phật giáo được chấp nhận ở Ấn Độ
Giai cấp cầm quyền cho rằng Phật giáo không làm tổn hại đến lợi ích của họ, đồng thời cũng không hài lòng với địa vị ưu đãi của những người theo đạo Bàlamôn nên họ ủng hộđạo Phật
Học thuyết Phật giáo có nhiều điểm phù hợp với nguyện vọng của nhân dân nên được quần chúng hoan nghênh
Nguyên nhân suy yếu Đạo Phật ở Ấn Độ:
Trang 12Sau những thế kỉ rất thịnh đạt trong khoảng 1000 năm, từ triều đại GUPTA (TK 5 sauTC) đạo Phật có biểu hiện suy thoái, đó là không thống nhất về học thuyết và tổ chức.Chỉ phát triển trong thành phố, những nơi hẻo lánh theo Phật giáo không nhiều Trongkhi đó Hindu đã có từ rất lâu, bám rễ chặt cả ở nông thôn, còn Phật giáo đã yếu ở thànhphố là suy yếu hẳn.
Trong 3 thế kỷ,Vaisya cảm thấy không có lợi gì, không phải là chỗ dựa, thay đổi xã hội Đạo Bàlamôn - Hindu bớt khắt khe, nới lỏng đồng thời kế thừa một số ưu điểm của Phật giáo nên dần thu hút dân chúng Đạo Phật được một số vua cho là quốc giáo nhưng mang tính chất áp đặt nên khi nhà vua chết, đạo Phật cũng dần mất vị trí Giáo lý ngày càng trở nên uyên thâm, khó hiểu và xa lạ đối với quần chúng, nên khi đã suy yếu thì không còn cơ hội quay trở lại đời sống tinh thần
QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ, PHÁT TRIỂN THIÊN CHÚA GIÁO – KITO GIÁO Ở
LA MÃ
Bối cảnh ra đời
Cơ sở kinh tế - xã hội : Năm 63 Trước công nguyên , tại Palestin nơi người Do Thái
sống xảy ra một cuộc nội chiến Một trong những bên tham chiến đã cầu viện La Mã Pompei - một trong ba nhân vật trong chế độ tam hùng lần thứ nhất trong lịch sử La Mã đem quân chinh phục vùng đất này, trực tiếp cai trị hoặc chỉ định hoàng tử Palestin cai trị theo chủ trương, quyền lợi của người La Mã
Nô lệ, dân nghèo, thợ thủ công đều phải gánh chịu cuộc sống cực khổ, bất công, bị áp bức, cuộc sống không lối thoát
Vì thế, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống lại sự thống trị, bóc lột của nhà nước - chủ
nô La Mã đặc biệt là người Zealot, nhưng đều bị đàn áp hết sức dã man Khối quần chúng nhất là nô lệ, dân nghèo nảy sinh tâm lý bi quan, chán nản, tuyệt vọng, mất niềm tin vào tự do, hạnh phúc trong cuộc sống hiện thực Họ tìm lối thoát trong ảo tưởng về tôn giáo, trông chờ vào sự cứu giúp của một lực lượng siêu nhiên có thể giúp họ thoát khỏi ách thống trị, xây dựng một vương quốc công bằng, bình đẳng Do vậy, Kitô giáo trở thành tôn giáo của những người bị áp bức
Cơ sở tư tưởng, tôn giáo :
Hình thành dựa trên thần thoại của các tôn giáo cổ phương Đông Tổ tiên của người Do thái là người Hebre, một tộc người sống du mục Khoảng giữa thế kỷ XIII Trước công nguyên, dưới sự dẫn dắt của Moises, người Do Thái đã từ Ai Cập trở về Palestin và lập nên quốc gia Do Thái Kể từ đó, người Do Thái đi theo một tôn giáo nhất thần - thờ vị thần duy nhất là Chúa Giêhôva Họ tin rằng dân tộc Do thái là dân được Chúa trọn, Chúa chỉ nói chuyện với người Do Thái thông qua Sứ giả là Moises
Năm 586, quốc gia Do thái bị Tân Babilon cai trị, nền độc lập của quốc gia này đã khôngcòn tồn tại trong thời gian dài Trong bối cảnh như vậy, các nhà tiên tri Do Thái giáo đã
Trang 13dự đoán rằng sẽ có một vị Chúa Cứu Thế sắp xuống trần gian để cứu vớt loài người, tiêudiệt kẻ xấu, giải thoát những đau khổ, kiếp nô lệ của con người
Về tư tưởng triết học: Từ giữa thế kỷ I Trước công nguyên trở đi, nhà nước La Mã chuyển dần từ hưng thịnh sang suy thoái Giai cấp chủ nô muốn lợi dụng tôn giáo để duytrì trật tự xã hội Do vậy triết học La Mã chuyển dần sang duy tâm luận, quay về với trường phái triết học khắc kỷ - Stoicism đựoc hinh thành ở Hy Lạp khoảng cuối thế kỷ
IV Trước công nguyên Tiêu biểu cho trường phái này ở La Mã là các tư tưởng của Seneque và Philo.
Seneque : ông muốn thiết lập một hệ thống luân lý dựa trên nguyên tắc khiêm
nhường và nhẫn nhục
Philo: cho rằng thế giới vật chất, con người là can nguyên của tội lỗi, thể xác là ngục
thất của linh hồn
Quá trình truyền bá và phát triển
Giai đoạn 1: Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt, chỉ có một bộ phận tín đồ ở Palestine tham gia Sau cái chết của Chúa Jesus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo lý của ngài truyền bá ra ngoài Palestine Năm 62, thánh Paulo sang Roma để truyền đạo thì thấy ở đây đã có nhiều tín đồ Kitô giáo
Ban đầu giới cầm quyền La Mã giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo Nhưng Chúa Jesus cho rằng đế quốc La Mã là một "mụ đàn bà đầy tội lỗi – tức lên án tầng lớp giàu
có, thống trị và đế quốc La Mã sẽ sớm bị diệt vong", tín đồ Kitô giáo sẽ được sống trongvương quốc của Chúa Đây chính là những yếu tố mới phủ nhận sự tồn tại của chế độ và nhà nước chiếm hữu nô lệ La Mã Điều đó khiến giới cầm quyền và quý tộc căm ghét Kito giáo, cho rằng tín đồ Kitô là lũ phiến loạn và tiến hành đàn áp khốc liệt, đẫm máu nhất là vụ đàn áp vào năm 64, dưới thời hoàng đế Nêrông Cho dù càng đàn áp thì Kitô giáo vẫn càng phát triển
Nguyên nhân : Chế độ chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì sự phân hoá giai cấp trong xã
hội càng sâu sắc, sự bần cùng hoá, áp bức, đàn áp, bóc lột càng tăng lên Kitô là tôn giáoduy nhất mà giới lao động và những người nghèo khổ có thể tìm thấy được con đường giải phóng
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công xã vừa mang tính chấttôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Họ giúp người lao động, người nghèo tìm công ăn việc làm Đến thế kỉ II, các công xã Kitô dần phát triển thành Giáo hội Cuộc vận động Kito giáo trong buổi đầu mang một ý nghĩa xả hội rất tích cực: Đó là cuộc vận động của dân nghèo chống chế độ áp bức
Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho Chúa trời” tức không dính dáng đến chính trị Sau hơn 200 năm truyền bá, Kitô giáo đã tạo được một thế lực hết sức chặt chẽ, chủ yếu tại các thành phố lớn Trước sự phát triểnnày và đàn áp mãi không được, giới cầm quyền La Mã quyết định “sống chung” , thay đổi chính sách đối với Kito giáo
Giai đoạn 2: Năm 311, Hoàng đế Galerius đình chỉ việc sát hại các tín đồ Kitô giáo