1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.

204 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Luận Về Vật Quyền Và Sự Vận Dụng Trong Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Dân Sự Việt Nam
Tác giả Lê Thị Hoàng Thanh
Người hướng dẫn TS. Đinh Trung Tụng, TS. Đặng Vũ Huân
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 496,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ HOÀNG THANH

LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ HOÀNG THANH

LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mã số: 9 38 01 06

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS ĐINH TRUNG TỤNG

2 TS ĐẶNG VŨ HUÂN

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả

Lê Thị Hoàng Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU……… 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 7 1.2 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 20

Chương 2: LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN VÀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ……….25

2.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguyên tắc của vật quyền trong pháp luật dân sự 25 2.2 Nội dung của vật quyền trong pháp luật dân sự 39 2.3 Vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự, kinh nghiệm các nước và bài học đối với Việt Nam 64

Chương 3: SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 87

3.1 Những kết quả đạt được 87 3.2 Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân 111

Chương 4: KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC TIẾP TỤC VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM………150

4.1 Bối cảnh và định hướng của việc tiếp tục vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam 150 4.2.Các giải pháp tiếp tục vận dụng lý luận vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự 160

KẾT LUẬN 181 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN……… 183 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 185

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 4.1: Chỉ số quyền sở hữu tài sản của Việt Nam, Thái Lan, Trung

Quốc, Indonessia và Malayssia giai đoạn 1995-2020 151Biểu đồ 4.2: Chỉ số quyền sở hữu tài sản năm 2019 theo WEF 152Biểu đồ 4.3: Bảng thứ hạng các quốc gia về chỉ số quyền sở hữu từ 2015-

2019 theo WEF 152Bảng 4.1: Bảng điểm về chỉ số quyền sở hữu của các quốc gia từ 2015 đến

2019 theo WEF 152

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật mỗimột quốc gia, trong đó có hệ thống pháp luật dân sự các chuyên gia, nhà lập phápluôn quan tâm tìm hiểu tư tưởng, lý luận, học thuyết về nhà nước và pháp luật Việclựa chọn, tiếp thu, học hỏi, vận dụng các lý luận kinh điển về nhà nước và pháp luậtlàm cơ sở, nền tảng để xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể

Vật quyền là một phạm trù cơ bản của lý luận pháp luật dân sự, triết lý về vậtquyền từ lâu đã được các học giả nghiên cứu, hình thành hệ thống các luận điểm cótính định hướng trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự, có vai trò giúpcác nhà lập pháp thiết kế các chế định về sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.Việc vận dụng lý luận về vật quyền mang lại những lợi ích to lớn cho hệ thống phápluật, từ phương diện bảo đảm tính trong sáng, logic trong cấu trúc lập pháp, đếnviệc thiết kế nội dung các quy phạm, bảo đảm hiệu quả thực thi và được nhiều quốcgia trong hệ thống pháp luật thành văn như Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga,Trung Quốc áp dụng

Ở nước ta, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự đã có

sự nghiên cứu, xem xét, tiếp cận một cách nhất định các nguyên lý về vật quyền (Ởmức độ nhất định, phần 2 về tài sản và quyền sở hữu tại BLDS năm 1995, BLDSnăm 2005 của nước ta được coi là chứa đựng một số nội dung của vật quyền) Bộluật Dân sự hiện hành đã có bước tiến quan trọng trong việc tiếp cận thông lệ chungcủa pháp luật dân sự các nước trên thế giới (Như: thiết kế lại nội dung chế địnhquyền sở hữu (hoàn thiện quy định về các hình thức sở hữu; sắp xếp các quy định

về quyền chiếm hữu với tính chất là tình trạng pháp lý thành một mục ngoài nộidung của quyền sở hữu); hoàn thiện, bổ sung quy định về quyền của người khôngphải là chủ sở hữu tài sản (hoàn thiện quy định về quyền đối với bất động sản liền

kề, chính thức ghi nhận quyền hưởng dụng, bổ sung quy định về quyền bề mặt; bổsung vật quyền bảo đảm gồm quyền cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu, bổ sungquyền quyền truy đòi tài sản của bên nhận bảo đảm ) Tuy nhiên, sự hình thành vàphát triển chế định về quyền đối với tài sản ở nước ta xuất phát chủ yếu từ nhu cầucủa thực tiễn đời sống xã hội trong khi nền tảng lý luận khoa học còn có nhữngđiểm chưa hoàn toàn theo kịp, trong đó phải kể tới việc nắm vững lý luận về vậtquyền Cho đến nay, ở nước ta, nhiều tài liệu nghiên cứu đã đề cập, giới thiệu sơ

Trang 8

lược về lý thuyết vật quyền nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứunhận diện một cách đầy đủ, toàn diện lý thuyết này cũng như đánh giá mức độ tiếpthu của hệ thống pháp luật trong nước Quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân

sự của nước ta thời gian qua đã cho thấy, việc tiếp thu lý luận về vật quyền trong hệthống pháp luật dân sự ở nước ta còn có một số điểm hạn chế như: (1) việc ghi nhậncác vật quyền hạn chế trong hệ thống pháp luật dân sự hiện hành còn ít (BLDS năm

2015 mới chỉ dừng lại việc ghi nhận chính thức 3 loại vật quyền khác là địa dịch,quyền hưởng dụng, quyền bề mặt), một số vật quyền hạn chế như quyền thuê đất dàihạn, quyền ưu tiên… chưa được nghiên cứu và đề cập đến; (2) còn tồn tại những

"khoảng trống" trong cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ phát sinh; chưa đảm bảo

các tài sản được khai thác tối đa và phát huy giá trị trong nền kinh tế; (3) việc bóctách các tầng lớp quyền đối với tài sản chưa được nghiên cứu làm rõ, như mối quan

hệ của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu trong bối cảnh các chủ thểnày đều có vật quyền đối với một tài sản; tính chất pháp lý, phạm vi quyền (vềkhông gian, thời gian, giới hạn) của các chủ thể cùng có vật quyền trên cùng một tàisản

Ở góc độ nghiên cứu, việc nhận diện nội dung lý luận về vật quyền, đánh giámức độ ứng dụng và khả năng ứng dụng ở mức độ sâu sắc hơn trong hệ thống phápluật nước ta là điều hết sức cần thiết để đưa pháp luật nước ta tiếp cận gần hơn vớinguyên lý cơ bản của khoa học pháp lý, góp phần hoàn thiện quy định về quyền đốivới tài sản minh bạch, rõ ràng, khai thác giá trị tài sản trong nền KTTT ở nước ta

Với mong muốn nghiên cứu nền tảng lý luận về vật quyền nhằm góp phần

hoàn thiện thể chế pháp luật dân sự ở nước ta, Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài " Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam" làm chủ đề nghiên cứu ở bậc đào tạo tiến sĩ tại Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Nhận diện đầy đủ nội dung của lý luận về vật quyền; sự vận dụng lý luận

về vật quyền trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam

- Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam về quyền sở hữu

và các quyền khác đối với tài sản để tiếp thu tối đa giá trị, tinh hoa của lý luận vềvật quyền

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của Luận án là đi sâu nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:

- Phân tích để làm rõ và hệ thống một cách tổng thể lý luận về vật quyền(khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguyên tắc, nội dung vật quyền) trong các họcthuyết về vật quyền và trong hệ thống pháp luật dân sự của các nước

- Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm về việc xây dựng chế định vâtquyền trong pháp luật dân sự các nước, rút ra những bài học kinh nghiệm đối vớiViệt Nam

- Đánh giá sự vận dụng lý luận về vât quyền trong hệ thống pháp luật dân sựViệt Nam thông qua phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu vàcác quyền khác đối với tài sản, chỉ ra được những kết quả, hạn chế của thực trạngpháp luật về vật quyền ở Việt Nam hiện nay

-Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam

từ góc độ lý luận về vật quyền

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các nội dung cơ bản của lý luận về vậtquyền dưới góc độ nghiên cứu lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật và sự vậndụng, tiếp thu trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của chủ đề nghiên cứu và dung lượng của Luận án, tác giảLuận án xác định phạm vi nghiên cứu như sau:

- Phạm vi về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về

quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản hiện tại đang có hiệu lực tại Việt Nam.Tương tự, việc nghiên cứu pháp luật các nước cũng đề cập đến chế định vật quyềnhiện hành của các nước Luận án có đề cập đến chế định vật quyền trong pháp luật

La Mã cổ đại với tính chất là cơ sở của các vấn đề nghiên cứu lý luận

- Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam

và một số quốc gia tiêu biểu theo hệ thống pháp luật thành văn gồm Cộng hòa Pháp,Cộng hòa liên bang Đức, Liên bang Nga, Nhật Bản và Trung Quốc Do điều kiện vềdung lượng của Luận án, khả năng tiếp cận tài liệu nên Luận án chưa có điều kiệnnghiên cứu sâu pháp luật các nước theo hệ thống pháp luật án lệ

Trang 10

- Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản

của lý luận về vật quyền (khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của vật quyền, nội dungcác loại vật quyền); đánh giá sự vận dụng lý luận về vật quyền trong hệ thống phápluật dân sự ở nước ta và kiến nghị hoàn thiện trong thời gian tới Những nội dungnghiên cứu về thực tiễn thực thi có được đề cập đến tại Luận án ở mức độ nhất định

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án dựa trên quan điểm duy vật biện chứng về xây dựng, hoàn thiện hệthống pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và quan điểm của Đảng về xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân; xây dựng và hoàn thiện thể chếKTTT; bảo đảm quyền sở hữu, các quyền của người không phải là chủ sở hữu vàhiệu quả thực thi các quyền này

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luật học truyền thống (legal dogmatics) [1]: phương pháp

này được sử dụng để phân tích, tổng hợp, giải thích, làm rõ và đánh giá nội dungcủa một hay các điều luật (chế định pháp luật), hệ thống hóa các điều luật (chế địnhpháp luật) đó, và dự đoán (thậm chí là có thể đề xuất) sự phát triển của điều luật(chế định pháp luật) đó cũng như các hoạt động phân tích, tổng hợp, giải thích, làm

rõ, đánh giá, hệ thống hóa và dự đoán các vấn đề liên quan tổ chức thi hành phápluật Phương pháp này được thực hiện thông qua các hoạt động mô tả (description),phân tích, giải thích (explanation), đánh giá (evaluation), dự đoán (prediction), tổnghợp và phân tích tình huống đối với các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền sở hữutài sản Chương 2, Chương 3 của Luận án sử dụng phương pháp này

- Phương pháp so sánh luật (comparison) [149]: Phương pháp này được áp

dụng để nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm và lựachọn những hạt nhân hợp lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để áp dụng đối với tìnhhình thức tiễn của Việt Nam Phương pháp này được sử dụng nhằm so sánh phápluật giữa các quốc gia (truyền thống pháp luật) hay thậm chí trong cùng một quốcgia Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong Chương 2 của Luận án

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp tổng hợp được thực hiện

trên cơ sở hệ thống vấn đề, nhóm vấn đề, tóm tắt nội dung, nêu nội dung chính vàđánh giá khái quát, tổng kết thực tiễn Phương pháp phân tích được thực hiện trên cơ

Trang 11

sở luận giải, lý giải, làm sang tỏ vấn đề - từ đó xác định các đề xuất, kiến nghị choviệc hoàn thiện thể chế pháp luật và thực thi pháp luật Các phương pháp này được

sử dụng ở cả 4 chương của Luận án, trong phần tóm lược nội dung của từng mục,các kết luận của từng chương trong Luận án

- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích tài liệu sơ cấp, tài liệu thứ cấp.

Tài liệu sơ cấp bao gồm các văn bản pháp luật và văn kiện của Đảng có liên quan,các báo cáo, các số liệu thống kê chính thức của cơ quan có thẩm quyền, cũng như

tư liệu tác giả có được từ thực tiễn công tác Tài liệu thứ cấp bao gồm sách chuyênkhảo, bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật, số liệu thống kê đánh giáchính thức của các tổ chức quốc tế Phương pháp này được sử dụng trong Chương

3, Chương 4 của Luận án

Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo, chọn lọc kế thừa các côngtrình nghiên cứu, bài viết có liên quan đến lĩnh vực Luận án đề cập

5 Những đóng góp về khoa học của Luận án

Luận án có những đóng góp mới sau đây:

- Phân tích, hệ thống hóa tương đối đầy đủ lý luận về vật quyền, đặc biệt làcác loại vật quyền được ghi nhận trong pháp luật dân sự của các nước và Việt Nam.Luận án ngoài việc phân tích một cách logic, khoa học khái niệm, đặc điểm, phânloại nguyên tắc của vật quyền còn hệ thống hóa các loại vật quyền theo mức độ từcác loại vật quyền phổ biến (như quyền sở hữu, địa dịch, quyền hưởng dụng) còn đềcập đến khoảng 10 loại vật quyền đang tồn tại

- Nghiên cứu, đánh giá về sự vận dụng lý luận về vật quyền trong pháp luậtcác nước theo hệ thống pháp luật thành văn gồm Đức, Pháp, Nga, Nhật Bản vàTrung Quốc và rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam Luận án đã nghiên cứukhung pháp luật các nước về quyền đối với tài sản (từ đạo luật chung đến một sốđạo luật chuyên ngành); phân tích về sự ghi nhận của pháp luật các nước về quyền

sở hữu, quyền khác đối với tài sản, quan điểm của các nhà lập pháp để từ đó đánhgiá về sự ảnh hưởng của lý luận về vật quyền và bài học kinh nghiệm đối với ViệtNam

- Đánh giá sự vận dụng lý luận về vật quyền trong hệ thống pháp luật dân sựViệt Nam - qua đó làm rõ được những bất cập hạn chế của hệ thống pháp luật dânsự; những khó khăn vướng mắc trong thực thi pháp luật và kiến nghị các giải pháphoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Luận án đã tổng hợp, hệ thống hóa các lý luận về vật quyền ở mức độ cao;nhận diện tổng thể lý luận về vật quyền - một trong những vấn đề được đánh giá làkhó hiểu, khó tiếp cận đối với các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực khoa họcpháp lý Tác giả luận án cũng đã nêu một số định nghĩa như vật quyền, quyền sởhữu; khẳng định các quyền như quyền bề mặt, tính chất của một số biện pháp bảođảm thực hiện nghĩa vụ là vật quyền; khái quát mô hình vật quyền trong hệ thốngpháp luật các nước…Các nội dung này góp phần quan trọng trong việc nhận thứcđầy đủ và toàn diện lý luận vật quyền; là dữ liệu khoa học đáng tin cậy đối với các

cơ quan, cá nhân nghiên cứu, xây dung chính sách pháp luật

Nội dung của Luật án góp phần hoàn thiện các văn bản QPPL như BLDS,Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp… theo hướng tiếp tụctiếp thu đúng đắn các giá trị, tinh hoa của học thuyết về vật quyền và phù hợp vớiđiều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong bối cảnh hoàn thiện thể chế KTTT địnhhướng XHCN với trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu và quyền khácđối với tài sản theo chủ trương của Đảng thể hiện tại các Văn kiện Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ XIII

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án và

cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 2 Lý luận về vật quyền và vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Chương 3 Sự vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam

Chương 4 Kiến nghị về việc tiếp tục vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Các nghiên cứu lý luận về vật quyền

Các công trình nghiên cứu về vật quyền ở nước ngoài mà tác giả Luận ántiếp cận được tập trung vào các nghiên cứu về lý luận vật quyền Trước hết phải kểtới là các công trình nghiên cứu về pháp luật La Mã cổ đại Các công trình nghiêncứu khoa học này đã đặt nền móng căn bản cho các học giả ở các thế hệ sau tiếp tụcphát triển lý luận về vật quyền Nghiên cứu lý luận vật quyền cũng được thể hiệntrong các công trình nghiên cứu về pháp luật so sánh cũng như các công trình vềnghiên cứu về xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự của các nước Có thể nói cáccông trình nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc làm rõ thêm nội dung lýluận vật quyền và thực tiễn ứng dụng ở một số quốc gia trên thế giới

1.1.1.1 Về tài sản - đối tượng của vật quyền

Nhiều tài liệu, sách chuyên khảo mà tác giả Luận án tiếp cận đã nghiên cứu

kỹ lưỡng về tài sản, đối tượng của vật quyền, có thể kể đến một số công trình sau:

- Sách chuyên khảo A Theory of Property (Lý thuyết về tài sản) của tác giả

Abraham Bell và Gideon Parchomovsky [140]: tác giả đã đưa ra lý thuyết thốngnhất về tài sản dựa trên sự hiểu biết rằng luật tài sản được tổ chức xung quanh việctạo lập và bảo vệ giá trị vốn có trong quyền sở hữu Tác giả đưa ra luận điểm chorằng việc nghiên cứu theo cách tập trung vào giá trị của quyền sở hữu ổn định kếthợp chặt chẽ các lý thuyết phân tán hiện đang gây khó khăn cho các học giả trongviệc xác định ý nghĩa, khái niệm, mô tả về quyền với tài sản và xây dựng các QPPLcho hiệu quả Tác giả cho rằng bất lý thuyết tài sản mạch lạc và toàn diện nào cũngphải giải quyết bốn câu hỏi pháp lý: (1) quyền lợi hợp pháp nào đủ điều kiện đượccông nhận hợp pháp là quyền tài sản?; (2) ai áp dụng các quyền?; (3) nội dung củaquyền tài sản, chẳng hạn loại quyền tài sản nào thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu?

và (4) các biện pháp khắc phục hành vi xâm phạm quyền sở hữu là gì? Sau đó, bằngcách tập trung vào giá trị vốn có trong quyền sở hữu, tác giả giải quyết toàn diện

Trang 14

bốn câu hỏi này, cho thấy cách luật tài sản nhận ra và giúp tạo mối quan hệ ổn địnhgiữa người và tài sản Cuốn sách đã phân tích và chỉ ra rằng xu hướng của pháp luậthiện đại là làm rõ và chỉ ra giới hạn quyền của những người không phải là chủ sởhữu nhằm bảo vệ chủ sở hữu.

- Sách chuyên khảo Principles of Property Law (Nguyên tắc của Luật tài

sản) của tác giả Alison Clarke [141]: tác giả cho rằng tài sản có thể được hiểu là

những gì cụ thể hoàn toàn thuộc về một chủ thể (người) và hiểu rộng hơn về mặtpháp lý là toàn bộ những quyền của một chủ thể đối với một "vật" nhất định đượcnhà nước đảm bảo và bảo vệ, khái niệm tài sản được dùng đối với bất cứ loại lợi ích

hay quyền có giá trị nào (Property is about the rights we have in things).

- Sách chuyên khảo Legalism: Property and Ownership (Chủ nghĩa pháp

luật: tài sản và quyền sở hữu) của tác giả Georgy Kantor, Tom Lambert và Hannah

Skoda [153]: các tác giả nêu quan điểm dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ "tài sản"không dùng để chỉ một vật hữu hình hay vô hình; nó chỉ phản ánh quan hệ pháp lýgắn với vật đó, tức các mối quan hệ giữa một người với một vật

- Bài viết ''Property rights and the ways of protecting entitlements - an

interdisciplinary approach'' (Quyền tài sản và cách thức bảo vệ - tiếp cận liên

quan), Maria Tereza Leopardi Melloa [161]: bài viết này thảo luận về khái niệm tài

sản với tính chất là đối tượng của quyền theo quan điểm liên ngành (Luật và Kinhtế) để soạn thảo một khung khái niệm phân tích cho các vấn đề liên quan đến khảnăng chấp nhận liên quan đến hàng hóa công cộng và phân tích tài nguyên chung

Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây có khả nhiều đề tài nghiên cứu về tài

sản và các vấn đề đặt ra, chẳng hạn Đề tài khoa học cấp Bộ Hoàn thiện thể chế

nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân của Nguyễn Thanh Tú [121] Đề tài có những

phân tích sâu sắc về khái niệm tài sản, đối tượng của nhiều quan hệ kinh tế- xã hộinói chung và quan hệ sở hữu nói riêng

Bên cạnh đó, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tại Việt Nam

đã có một số công trình được công bố bàn về vấn đề tài sản trong môi trường kỹthuật số và những vấn đề pháp lý đặt ra Có thể kể đến một số cuốn sách chuyên

khảo như: Một số vấn đề pháp lý về tài sản mã hóa, tiền mã hóa, Phan Chí Hiếu, Nguyễn Thanh Tú [72]; Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp

Trang 15

đặt ra, Phan Chí Hiếu, Nguyễn Văn Cương [73]; sách chuyên khảo Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo trong bối cảnh hội nhập và phát triển, Nguyễn

Minh Oanh (chủ biên) [94] … Các sách này đề cập đến các vấn đề pháp lý về quyềnđối với "tài sản" mới cũng như tài sản truyền thống (như quyền SHTT) trong bốicảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Các cuốn sách này đều chung nhậnđịnh rằng tài sản trong môi trường kỹ thuật số, trong bối cảnh phát triển của CMCN4.1 là các vấn đề pháp lý mới, bởi vậy, cách tiếp cận chủ yếu chỉ dừng ở các địnhhướng hoặc nêu những vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau

1.1.1.2 Về các loại vật quyền

Các nghiên cứu về lý luận và các loại vật quyền trong nước và nước ngoàitương đối phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau Cụ thể:

- Sách chuyên khảo A manual of the principles of Roman Law relating to

persons, property, and obligations (Cẩm nang về các nguyên tắc của Luật La Mã liên quan đến người, tài sản và nghĩa vụ), R.D Melville [169]: cuốn sách đã phân

tích cách tiếp cận của pháp luật La Mã về quyền đối với vật Theo đó, một chủ thể

có thể có được tài sản, xác lập quyền sở hữu đôi với tài sản bằng nhiều cách thứckhác nhau Khi đã là chủ tài sản, người này có toàn quyền, có thể thực hiện cáchành vi tác động vào tài sản Quyền sở hữu là quyền tuyệt đối và có phạm vi rộng.Tuy nhiên, ngay trong thời kỳ này, người La Mã đã quan niệm, quyền đối với tàisản không chỉ là quyền sở hữu của chủ tài sản đối với tài sản của mình mà còn cóthể có quyền của chủ thể khác đối với tài sản đó Nói cách khác, trong một sốtrường hợp nhất định, quyền tuyệt đối của chủ sở hữu tài sản có thể bị hạn chế, giớihạn bởi quyền của chủ thể khác, theo đó các chủ thể này cũng có quyền trực tiếp đốivới tài sản trong phạm vi nhất định Cuốn sách đã chỉ ra rằng, theo pháp luật La Mã,

có 4 loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản là địa dịch;quyền bề mặt; quyền canh tác; quyền cầm cố, thế chấp

Sách chuyên khảo On Law and Justice (Về pháp luật và tư pháp), Alf Ross

[142]: chương bảy cuốn sách đề cập đến quyền đối vật và quyền đối nhân Nội dungchương này đã phân tích về sự phân biệt trong luật từ thời cổ đại về hai nhóm quyềnliên quan đến tài sản là quyền đối vật và quyền đối nhân Các học thuyết về sự phântách này có thể phát triển theo các cách chi tiết khác nhau nhưng điều cốt lõi khôngthay đổi là sự kết nối giữa quyền và bảo vệ quyền Các học thuyết về quyền đối vật

Trang 16

và quyền đối nhân có những điểm khác nhau phụ thuộc vào cách phân biệt theo nộidung bảo vệ, có thể tổng hợp như sau: (1) quyền đối vật là quyền mà theo đó nộidung quyền bao trùm lên vật và bởi vậy cung cấp sự bảo vệ cho vật; (2) quyền đốinhân là quyền mà theo đó nội dung của quyền cung cấp sự bảo vệ cho người; (3)người có quyền đối vật có quyền xử lý đối với tài sản trong khi người có quyền đốinhân chỉ có quyền yêu cầu Từ các điểm khác biệt đó, tác giả chứng minh pháp luậtdân sự của các nước được xây dựng dựa trên nền tảng của sự phân tách về quyềnđối vật và quyền đối nhân.

- Bài viết "Property rights and the ways of protecting entitlements - an

interdisciplinary approach" (Quyền tài sản và cách thức bảo vệ - tiếp cận liên

quan), Maria Tereza Leopardi Melloa [161]: Tác giả giải mã những quyền được gọi

là quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Theo pháp luật Brazin, vật quyền đượckhẳng định bằng quyền trực tiếp và ngay lập tức với vật, gồm vật chất hoặc khôngphải vật chất, động sản hoặc bất động sản Theo đó, người có quyền không cần sựcan thiệp hay trung gian nào từ bên thứ ba; sự tồn tại của quyền đặt ra đối với đốitượng của nó liên quan trực tiếp đến người nắm giữ quyền Quyền sở hữu được coi

là một bó quyền gồm các quyền cơ bản được gọi tên gồm quyền sử dụng, chiếmhữu và định đoạt Những quyền này, có thể hoặc không thuộc về cùng một chủ sởhữu Vật quyền luôn đòi hòi phải được ghi nhận bằng luật trước đó, ngăn chặn các

cá nhân tạo ra hoặc sửa đổi nội dung của các quyền đó thông qua các thỏa thuậnriêng tư Vật quyền không chỉ quyền sở hữu mà còn là phân nhánh của quyền sởhữu (chiếm hữu, sử dụng, hưởng dụng); quyền trực tiếp đối với tài sản của bên nhậnthế chấp, bên nhận cầm cố

Từ cách tiếp cận liên ngành luật pháp và kinh tế, tác giả đã khằng định đểphát triển kinh tế, hệ thống pháp luật cần giải quyết được những vấn đề sau: (1) Cầngiao các quyền khác nhau cho các chủ thể khác nhau ngay cả đối với tài sản công; ởkhía cạnh đối xứng, hệ thống tài sản tư nhân cũng có thể bị giới hạn bởi các quyềnkhác hoặc theo quy định của nhà nước trên cơ sở những nguyên tắc luật định - chế

độ tài sản phải được hiểu theo sự đa dạng của chúng từ cả hai quan điểm pháp lý vàkinh tế; (2) Các loại quyền khác nhau có mức độ bảo vệ khác nhau, cách thức khácnhau có thể được tạo ra và những khác biệt này có thể ảnh hưởng đến kết quả kinhtế; (3) Việc ghi nhận các loại vật quyền trong hệ thống pháp lý cần đặt trong bối

Trang 17

cảnh phân tích giá trị kinh tế: (i) lợi ích kinh tế có được bảo vệ về mặt pháp lý haykhông, nó có ảnh hưởng đến kết quả kinh tế của quyền hay không; (ii) cách bảo vệlợi ích của một người (quyền, quyền tự do, v.v.) có thể ảnh hưởng đến mức độ bảo

vệ với ý nghĩa phân phối quan trọng

Bài viết "The numerus clausus Principle and the Type Restriction - Influenceand Expression of These Principles Demonstrated in the Area of CommonOwnership and Servitudes" ("Nguyên tắc vật quyền luật định và hạn chế quyền -ảnh hưởng và biểu hiện của các nguyên tắc này - Chứng minh trong lĩnh vực sở hữuchung và dịch quyền"), Kaupo Paal [160, tr.32-39]: trên cơ sở phân tích lý thuyết vềvật quyền luật định, nguyên tắc hạn chế quyền; so sánh pháp luật các nước nhưĐức, Thụy Sỹ với cách thức tiếp cận của Luật tài sản của Estonia, tác giả đã làm rõnội hàm của nguyên tắc vật quyền luật định, giá trị, những tác động của nguyên tắcnày đối với pháp luật dân sự các nước Ở khía cạnh nghiên cứu về lý luận vậtquyền, tác giả đã phân tích nguyên tắc vật quyền luật định được coi là các nguyêntắc có ảnh hưởng rộng rãi đối với luật tài sản, khác với nguyên tắc trừu tượng vàtách biệt, nguyên tắc vật quyền luật định và hạn chế quyền phải được quy định bởiluật Khác với nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về quyền vànghĩa vụ trong quan hệ của mình, nguyên tắc vật quyền luật định được định nghĩarằng vật quyền được xác định bởi luật và các bên ký kết không thể tạo thêm các vậtquyền mới cũng như không thể tái phát triển hoặc tiếp tục phát triển nội dung củacác vật quyền hiện có Một vật quyền được luật ghi nhận có thể được hình thành từhợp đồng nhưng nội dung của vật quyền ấy phải được quy định bởi luật mà khôngphải do các bên thỏa thuận tạo nên - điều này hạn chế việc hình thành vô số loại vậtquyền và nội dung vật quyền khác nhau trong quan hệ đối với tài sản Vật quyềncũng không thể được hình thành tư phán quyết của tòa án bởi nội dung vật quyền là

cố định

Bài viết khẳng định các nhà nghiên cứu và lập pháp có sự nhất trí cao về nộidung của nguyên tắc vật quyền luật định bởi lý do sâu xa hơn là nỗ lực để đảm bảothông qua các hạn chế nói trên chủ sở hữu của vật sẽ không thể trao quyền sở hữu đitrên phạm vi rộng lớn Do đó, chỉ có thể có vật quyền với nội dung rõ ràng và bắtnguồn từ luật, không thể phát triển các vật quyền theo cách không bị hạn chế, ngay

cả khi có sự đồng thuận Điều này có nghĩa là không thể sáng tạo loại vật quyềnmới

Trang 18

hoặc phát triển nội dung vật quyền đã được ghi nhận Trường hợp các bên thỏathuận, cho phép hình thành quyền của chủ thể này đối với tài sản của chủ thể khácthì quyền này được thực thi theo cơ chế luật về nghĩa vụ, hay nói cách khác là tráiquyền.

Ngoài ra, các cuốn sách như An Introduction to Property Theory (Giới thiệu

lý thuyết về tài sản), Gregory S Alexander & Eduardo M Peñalver [155]; Property Law (Luật tài sản) của Roger J Smith [170]; Property Law Guidebook (Sách hướng dẫn về Luật tài sản) của Chris Davies [146]… có những nội dung giới thiệu

chung về quyền đối với tài sản, sở hữu; về các nguyên tắc, vấn đề cơ bản của phápluật về quyền đối với tài sản trong lịch sử và hiện nay; so sánh pháp luật về quyềnđối với tài sản

Bên cạnh các công trình nghiên cứu ở nước ngoài còn có nhiều công trìnhkhoa học trong nước nghiên cứu về lý thuyết vật quyền, có thể nêu một số côngtrình sau:

Luận án tiến sĩ Hệ thống các vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam của

Lê Đăng Khoa [83]: Luận án đã phân tích khái niệm vật quyền, luận giải đối tượngtác động, đặc tính pháp lý cơ bản, nguyên tắc (bao gồm nguyên tắc luật định,nguyên tắc công khai, nguyên tắc tin cậy), phân loại vật quyền (chia vật quyềnthành hai loại là vật quyền gốc và vật quyền phái sinh dựa theo tiêu chí trình tự vàquá trình hình thành vật quyền); làm rõ nội dung một số vật quyền cơ bản như:quyền sở hữu, quyền bề mặt, quyền hưởng dụng, quyền địa dịch, vật quyền bảođảm; mối quan hệ giữa các vật quyền (bao gồm mối liên hệ giữa vật quyền gốc -quyền sở hữu với các vật quyền khác, mối liên hệ giữa các vật quyền trong cùngnhóm với nhau và mối liên hệ chung của các vật quyền); lợi ích về việc áp dụng lýluận về vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam Luận án tiến sĩ "Hệ thống cácvật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam" có nhiều đóng góp trong việc làm rõmột số vấn đề lý luận về vật quyền như phân tích các khái niệm, phân loại vậtquyền Tuy nhiên, Luận án chưa phân tích nhiều hệ thống các vật quyền khác đangtồn tại trong pháp luật dân sự các nước như quyền thuê đất dài hạn, quyền ưu tiên,

nợ điền địa…; việc so sánh pháp luật các nước chưa được chú trọng

Luận án tiến sĩ Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của

pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành của Vũ Thị Hồng Yến [136]: Luận án tập

trung nghiên cứu về biện pháp thế chấp nói chung và nghiên cứu làm rõ bản chất

Trang 19

pháp lý của biện pháp thế chấp tài sản tiếp cận ở góc độ thế chấp là một trong cácloại vật quyền bảo đảm nói riêng, xây dựng các khái niệm khoa học, đặc điểm pháp

lý về tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp Luận án đã khẳng định bán chất củathế chấp là "một biện pháp có tính chất vật quyền nhằm bảo đảm cho quan hệ tráiquyền" Tuy nhiên, trong phạm vi chủ đề nghiên cứu, Luận án chưa phân tích vềtổng thể hệ thống vật quyền; liên quan đến vật quyền bảo đảm, Luận án cũng chưaphân tích kỹ nội dung, đặc thù, tính chất theo đuổi, truy đòi của vật quyền thế chấp;nội dung các loại vật quyền bảo đảm như cầm giữ, bảo lưu quyền sở hữu trong hệthống vật quyền bảo đảm

Đề tài khoa học cấp Bộ về Nghiên cứu so sánh chế định sở hữu và hợp đồng

trong pháp luật dân sự Việt Nam và Trung Quốc, Lê Hồng Hạnh (chủ nhiệm) [58],

đề tài này nghiên cứu so sánh pháp luật thực định của Việt Nam theo BLDS năm

2005 với pháp luật Trung Quốc, hay kinh nghiệm của pháp luật La Mã Tuy nhiên,

đề tài này tập trung vào chế định quyền sở hữu mà chưa nghiên cứu kỹ các vậtquyền khác theo quy định của pháp luật Trung Quốc Bên cạnh đó, các văn bảnQPPL của Việt Nam và Trung Quốc được so sánh đối chiếu tính đến thời điểm hiệnnay đã hết hiệu lực, do BLDS Việt Nam năm 2005 đã được thay thế bởi BLDS năm

2015, Luật vật quyền của Trung Quốc đã được thay thế bởi BLDS năm 2020

Đề tài khoa học cấp Bộ về Hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện đầy đủ quy

định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, Nguyễn Thanh Tú (chủ nhiệm) [121] Đề tài đã phân tích nội hàm vấn đề

"quyền sở hữu tài sản" (property rights) hay quyền đối với tài sản có thể được tiếp

cận ít nhất dưới 3 cách sau đây: Thứ nhất, theo nghĩa rộng nhất, quyền sở hữu tài

sản là bất kỳ quyền nào liên quan đến tài sản, nhưng không phải là quyền nhân thân;xét theo nghĩa này thì quyền sở hữu bao gồm cả vật quyền (trong đó có quyền sởhữu) và trái quyền Nếu theo nghĩa này thì quyền sở hữu tài sản tương đương

"quyền có tính chất tài sản" hay "quyền tài sản" theo nghĩa rộng; theo đó, đây là

"những quyền định giá được bằng tiền, là quan hệ giữa các chủ thể mà có đối tượng

là một giá trị tài sản Có những quyền được thực hiện trực tiếp trên một vật cụ thể(gọi là quyền đối vật); có những quyền tương ứng với những nghĩa vụ mà người

khác phải thực hiện (gọi là quyền đối nhân)" Thứ hai, quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, là vật quyền Thứ ba, theo nghĩa

Trang 20

hẹp nhất, quyền sở hữu tài sản chỉ là quyền sở hữu Đề tài tiếp cận thuật ngữ "quyền

sở hữu tài sản" trong phạm vi Đề tài có thể được hiểu là các quyền mà pháp luật ghi

nhận, thừa nhận cho chủ thể quyền để thực hiện các hành vi tác động lên tài sản;quyền này đặt chủ thể quyền "trong mối quan hệ trực tiếp với tài sản, không có vaitrò trung gian" của một chủ thể khác Đây là một cách tiếp cận tương đối mới mẻ vàcần tiếp tục được quan tâm nghiên cứu Bên cạnh đó, về lý luận, đề tài đã có nhữngphân tích sâu sắc về thể chế sở hữu, chủ thể của quyền sở hữu tài sản, giới hạn củaquyền sở hữu tài sản, một số vấn đề chung về giới hạn của quyền sở hữu tài sản,bảo đảm, bảo vệ quyền sở hữu tài sản; thể chế sở hữu của một số quốc gia trên thếgiới như Đức, Nga, Trung Quốc, Pháp Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, đề tàitập trung tiếp cận vấn đề sở hữu ở góc độ của luật Hiến pháp về mức độ thể chế hóacác nguyên tắc hiến định vào hệ thống pháp luật và chưa tiếp cận ở góc độ nội dungcủa lý luận về vật quyền

- Sách chuyên khảo Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại,

Nguyễn Minh Oanh (chủ biên) [93]: cuốn sách đã phân tích những vấn đề lý luận cơbản về vật quyền (khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc chủ yếu của vật quyền, phân loại

và mối liên hệ giữa các vật quyền; xác lập, thực hiện, chấm dứt vật quyền; bảo vệvật quyền Cuốn sách tập trung giới thiệu kiến thức cơ bản về một số loại vật quyềnphổ biến như quyền sở hữu, địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt

Ngoài các đề tài khoa học, các cuốn sách chuyên khảo được công bố, tại ViệtNam, trong quá trình xây dựng BLDS năm 2015, có khá nhiều bài viết giới thiệu về

lý luận vật quyền của các chuyên gia, nhà khoa học đầu đàn trong giới khoa họcpháp lý, đặc biệt là lĩnh vực pháp luật dân sự như:

Nguyễn Thị Quế Anh (2013), ''Nghiên cứu khái luận về quyền chiếm hữu'' [1].Nguyễn Ngọc Điện (2014), ''Sự cần thiết của việc xây dựng các chế định vậtquyền và trái quyền trong luật dân sự'' [47]; (2014), ''Sự cần thiết của việc vận dụng

lý thuyết về vật quyền bảo đảm vào quá trình sửa đổi BLDS'', Tạp chí nghiên cứu

lập pháp, số 2+3 (258+259), tr.39-46; (2011), ''Lợi ích của việc xây dựng chế định

vật quyền đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tài sản'', Tạp chí Nghiên cứu

Lập pháp, số 2+3 (187+188), tr.92 - 96; (2013), ''Xây dựng lại hệ thống pháp luật

về bảo đảm nghĩa vụ trên cơ sở lý thuyết vật quyền và trái quyền'', Tạp chí Nhà

nước và pháp luật, (301), tr.39-42; (2012), ''Đăng ký bất động sản, các vấn đề lý

Trang 21

luận và thực tiễn'', Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6(214), tr.48-53; (2015), "Một

số điểm mới và những vấn đề đặt ra về quyền sở hữu và các vật quyền khác", Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, (21), tr.30-36.

Lê Hồng Hạnh (2015), ''Sử dụng khái niệm quyền tài sản thay cho vật quyềntrong Dự thảo BLDS'' [59]; Dương Đăng Huệ (2015), "Nên sử dụng khái niệm vậtquyền trong BLDS" [77]; Đỗ Văn Đại (2015), ''Quyền hưởng dụng trong BLDSnăm 2015'' [35]; Ngô Huy Cương (2015), ''Tổng luận về chế định tài sản trong Dự

thảo BLDS (sửa đổi)'', tham luận tại Hội thảo Pháp điển hóa BLDS, kinh nghiệm

của Đức và sự vận dụng ở Việt Nam [31]; ''Ý tưởng về chế định quyền hưởng dụng

trong BLDS tương lai của Việt Nam'', Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử; Bùi Thị

Thanh Hằng, Đỗ Giang Nam (2013), ''Quá trình tái pháp điển hóa và mô hình cấutrúc BLDS tại một số quốc gia đang chuyển đổi và kinh nghiệm cho Việt Nam'' [62,tr.12-23]; (2014), ''Thứ tự quyền ưu tiên giữa các vật quyền bảo đảm trong bối cảnh

sửa đổi BLDS'', Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 01(257), tr.25-33; Bùi Thị Thanh

Hằng (2014), ''Đề xuất mô hình chế định tài sản cho BLDS Việt Nam tương lai''[64, tr.24-33]; Nguyễn Hồng Hải (2017), ''Vài nét về quyền hưởng dụng trongBLDS năm 2015'' [57]

1.1.1.3 Về đăng ký tài sản

- Sách chuyên khảo Pháp luật cho mọi người (Making the Law work for

everybody) của Ủy ban trao quyền pháp lý cho người nghèo [130]: Ấn phẩm đãkhẳng định việc tách bạch giữa quyền đăng ký đất đai với vấn đề quản lý đất công

là một cuộc cải cách nhằm giảm bớt nguy cơ các hoạt động lạm dụng - đây là cáchthức hợp lý nhất trong xây dựng hệ thống pháp luật về đăng ký bất động sản Ngoài

ra, nếu duy trì hệ thống đăng ký đất đai thủ công sẽ tốn rất nhiều công lao động vàthường dẫn tới sai lầm, trùng lặp nghiêm trọng

- Bài viết ''Registration of real estates" (Đăng ký bất động sản), Ngân hàngThế giới và Công ty tài chính quốc tế đồng xuất bản [89]: Bài viết tập trung phântích những cải cách của một số nước trên thế giới trong lĩnh vực đăng ký bất độngsản thông qua các hoạt động như: thiết lập một quy trình đăng ký hợp lý; đơn giảnhóa thuế và phí; việc tham gia của các công chứng viên là không bắt buộc (ví dụ:Niuzilan, Thụy Điển, Hà Lan, Mỹ ) Bài viết cho thấy, nếu việc đăng ký phức tạp,phiền hà thì việc xác lập, thực hiện các giao dịch sẽ nhanh chóng chuyển sang hìnhthức phi chính thức

Trang 22

- Bài viết "An overview about immovable property law and Japanese Law onregistration of immovable property" (Khái quát về pháp luật bất động sản và LuậtĐăng ký bất động sản của Nhật Bản) của Matsumoto Tsuneo [162]: Bài viết đãphân tích các quy định về đăng ký bất động sản và các nguyên tắc vận hành của hệthống đăng ký bất động sản của Nhật Bản Theo đó, việc đăng ký bất động sản đượcthực hiện theo nguyên tắc đăng ký thông báo đối với các quyền liên quan đến bấtđộng sản và có giá trị đối kháng với người thứ ba Cơ quan đăng ký bất động sản làcác Cục pháp vụ thuộc Bộ Tư pháp Nhật Bản.

- Bài viết "Registration of immovable properties in France - Experience forViet Nam" (Đăng ký bất động sản của Cộng hòa Pháp, kinh nghiệm đối với ViệtNam) của Olivier Goussard [164]: Bài viết đã giới thiệu khái quát về hệ thống đăng

ký bất động sản của Cộng hòa Pháp và mối quan giữa cơ quan đăng ký bất động sảnvới tổ chức hành nghề công chứng ở Pháp Qua bài viết cho thấy, hệ thống côngchứng ở Pháp giữ vị trí quan trọng trong mối quan hệ với cơ quan đăng ký và cơquan địa chính Xuất phát từ mục đích chính là nhằm thu thuế các giao dịch nên hệthống cơ quan đăng ký bất động sản của Cộng hòa Pháp do Bộ Tài chính quản lý

- Luận án tiến sĩ Thực hiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu tài sản gắn liền với đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Hồ Quang

Huy [79]: Luận án đã phân tích khái niệm, đặc điểm và yêu cầu đối với hoạt độngđăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dưới góc độ đăng

ký vật quyền; luận giải tổng thể vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật đăng kýquyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; so sánh, đối chiếu vớipháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới Về lý luận, tác giả Luận án đãnêu một số quan điểm quan trọng và có tính mới như: (1) nhà nước cần công nhậnquyền sở hữu tư nhân đối với đất ở mới phản ánh đúng bản chất, phạm vi các quyềncủa người sử dụng đất ở, việc công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất ở không cónghĩa là Nhà nước không có quyền thu hồi đất, quyết định các vấn đề về quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất, về giá đất; trong trường hợp không công nhận quyền sở hữu

tư nhân đối với đất đai thì Nhà nước cần nhìn nhận quyền sử dụng đất là vật quyền(quyền của chủ thể tác động trực tiếp tài sản, mà không phụ thuộc vào hành vi củachủ thể khác) để từ đó pháp luật có cơ chế điều chỉnh phù hợp, khách quan, chínhxác; (2) quyền chiếm hữu không nên đơn thuần là một yếu tố cấu thành của quyền

Trang 23

sở hữu mà cần quy định là một loại vật quyền hạn chế; (3) hệ thống đăng ký tài sảnđược xác lập không chỉ ghi nhận để công khai, minh thị về quyền sở hữu, mà cònbao gồm cả các vật quyền khác liên quan đến bất động sản (ví dụ: quyền thế chấp,quyền thuê, quyền góp vốn ); (4) giá trị của việc đăng ký bất động sản (giá trị xáclập quyền, giá trị đối kháng) Trong phạm vi nghiên cứu, Luận án tiến sĩ "Thực hiệnpháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay" đề tài không phân tích, nhận diện tổng thể hệthống vật quyền, mô hình đăng ký vật quyền.

1.1.2 Các nghiên cứu về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong

hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam

1.1.2.1 Về các loại quyền đối với tài sản trong hệ thống pháp luật dân sự

Các tham khảo một số Luận án nghiên cứu về quyền sở hữu, quyền khác đốivới tài sản trong hệ thống pháp luật Việt Nam cho thấy các công trình nghiên cứutập trung chủ yếu vào việc phân tích quy định của BLDS mà chưa phân tích các văn

bản QPPL có liên quan Chẳng hạn, Luận án tiến sĩ Hệ thống các vật quyền trong

pháp luật dân sự Việt Nam của Lê Đăng Khoa [83]: nội dung của Luận án có phân

tích quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản theo quy định BLDS năm 2015, tuynhiên dung lượng chưa nhiều, việc đối chiếu tính thống nhất đồng bộ của pháp luậttrong các lĩnh vực liên quan như pháp luật đất đai, tài nguyên thiên nhiên, xây

dựng với BLDS năm 2015 chưa được đặt ra; Luận án tiến sĩ Tài sản thế chấp và

xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành của

Vũ Thị Hồng Yến [136], tập trung nghiên cứu về biện pháp thế chấp, tuy nhiên,tong phạm vi chủ đề, Luận án chưa có điều kiện phân tích về tổng thể hệ thống vậtquyền của Việt Nam

Tương tự, tại cuốn sách chuyên khảo Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt

Nam hiện đại của Nguyễn Minh Oanh [93], các tác giả đã khái quát sự phát triển

của chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ; những quyđịnh chung về vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam (khái niệm và tên gọi vậtquyền; đăng ký vật quyền; nguyên tắc, nội dung, thời điểm xác lập, thực hiện, chấmdứt vật quyền; phương thức bảo vệ vật quyền); các vật quyền theo quy định củaBLDS năm 2015 (quyền sở hữu, quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt,vật quyền bảo đảm) và một số vấn đề cần bàn luận về quy định của BLDS năm

Trang 24

2015 Có thể nói rằng cuốn sách đã phân tích những vấn đề cơ bản về lý luận vềmột số loại vật quyền, đánh giá quy định về vật quyền tại BLDS năm 2015 Tuynhiên, cuốn sách chưa nhận diện chế định vật quyền trong hệ thống pháp luậtchuyên ngành của Việt Nam như đất đai, xây dựng, các loại tài sản trong phát triểnnền KTTT và kiến nghị cần giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Bên cạnh đó, nhiều cuốn sách chuyên khảo, công trình khoa học được công

bố cũng đã có những phân tích về các điểm mới của BLDS năm 2015 của ViệtNam, trong đó phân tích quy định về quyền đối với tài sản tại BLDS năm 2015 Có

thể nêu một số cuốn sách như: Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm

2015 của Đỗ Văn Đại [36]; Bình luận khoa học BLDS năm 2015 của nước CHXHCN Việt Nam của Nguyễn Minh Tuấn [124]; Bình luận khoa học BLDS năm

2015 của nước CHXHCN Việt Nam của Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ [32]; Giới thiệu nội dung cơ bản của BLDS năm 2015 của Đinh Trung Tụng [126]; Đề tài

khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp Bình luận khoa học BLDS năm 2015 của Đinh Trung Tụng [125] Các công trình bình luận BLDS năm 2015 giới thiệu về quyền sở

hữu, quyền khác đối với tài sản; tập trung phân tích pháp luật thực định của ViệtNam

Trong thời gian gần đây, có đề tài khoa học cấp Bộ về Hoàn thiện thể chế

nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân của Nguyễn Thanh Tú [121] Đề tài đã rà soát,

phân tích chế định sở hữu trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ góc độ của luậtHiến pháp về mức độ thể chế hóa các nguyên tắc hiến định vào hệ thống pháp luật

Về đăng ký tài sản, Luận án tiến sĩ Thực hiện pháp luật về đăng ký quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Hồ Quang Huy [79] đã phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam

về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, từ đó chỉ rõnguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện pháp luật

về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

1.1.2.2 Về sự ảnh hưởng của lý luận về vật quyền trong hệ thống pháp luật của Việt Nam

Qua việc tìm hiểu nội dung của các công trình khoa học đã được công bố chothấy ít có nội dung đánh giá, nhìn nhận về mức độ tiếp cận, ảnh hưởng tư tưởng vậtquyền trong pháp luật dân sự Việt Nam; các nghiên cứu so sánh pháp luật các nước

Trang 25

về các loại vật quyền, đặc biệt là các vật quyền mà pháp luật Việt Nam chưa ghinhận còn ít ỏi Cụ thể là các nội dung phân tích ảnh hưởng của lý luận vật quyềntrong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, đối chiếu các giá trị của lý luận vậtquyền đã được ghi nhận chung và đã được hóa thân vào hệ thống pháp luật cácnước với hệ thống pháp luật Việt Nam còn mờ nhạt; các nội dung phân tích về tínhthống nhất, đồng bộ của pháp luật trong các lĩnh vực liên quan như pháp luật đấtđai, tài nguyên thiên nhiên, xây dựng với BLDS năm 2015 chưa được đặt ra.

Chẳng hạn, Luận án tiến sĩ Hệ thống các vật quyền trong pháp luật dân sự Việt

Nam của Lê Đăng Khoa [83]; Luận án tiến sĩ Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành của Vũ Thị Hồng Yến

[136]; Sách chuyên khảo Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại của

Nguyễn Minh Oanh [93] mặc dù đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về vậtquyền; chế định vật quyền trong BLDS năm 2015; tuy nhiên, các công trình nàychưa nhận diện mức độ ảnh hưởng của học thuyết vật quyền trong hệ thống phápluật Việt Nam, đặc biệt là trong các hệ thống pháp luật chuyên ngành như đất đai,xây dựng, các loại tài sản trong phát triển nền KTTT Đề tài khoa học cấp Bộ về

Hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân của Nguyễn Thanh Tú

[121] đã đánh giá kỹ chế định sở hữu trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ góc độcủa luật Hiến pháp về mức độ thể chế hóa các nguyên tắc hiến định vào hệ thốngpháp luật, tuy nhiên, đề tài chưa tiếp cận ở góc độ nội dung của lý luận vật quyền

1.1.3 Về hoàn thiện chế định quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong hệ thống pháp luật dân sự của Việt Nam

Luận án tiến sĩ Hệ thống các vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam của

Lê Đăng Khoa [83]: tác giả Luận án đã nêu quan điểm một số quyền không nênđược coi là vật quyền trong Luận án đã BLDS như quyền ưu tiên, bảo lưu quyền sởhữu, cầm giữ tài sản…

Luận án tiến sĩ Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của

pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành của Vũ Thị Hồng Yến [136]: các kiến nghị

nêu ra thiên về hoàn thiện pháp luật về quan hệ thế chấp tài sản, xử lý tài sản thếchấp nói chung Luận án đã nêu kiến nghị về việc xác định lại vị trí của biện phápthế chấp trong hệ thống các loại vật quyền khác, theo đó, pháp luật cần ghi nhận

Trang 26

quyền của bên nhận thế chấp đối với tài sản thế chấp là một loại vật quyền hạn chế

và được xếp vào phần tài sản và quyền sở hữu trong cấu trúc của BLDS

Luận án tiến sĩ Thực hiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở

hữu tài sản gắn liền với đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của Hồ Quang

Huy [79]: Luận án tập trung kiến nghị những giải pháp tổng thể nhằm nâng cao hiệuquả, hiệu lực thực hiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tàisản gắn liền với đất

1.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu

Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu về lý luận vật quyền và sự vận dụngtrong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam cho thấy các côngtrình nghiên cứu tương đối phong phú, đề cập đến nhiều khía cạnh, nội dung và ởnhiều góc độ tiếp cận khác nhau Các tài liệu này thể hiện quá trình nghiên cứucông phu, sâu sắc của các học giả, các nhà nghiên cứu lập pháp

Đối với các công trình, tài liệu công bố ở nước ngoài, những vấn đề đã đượcnghiên cứu gồm:

- Chế định vật quyền trong pháp luật La Mã cổ đại;

- Tài sản - đối tượng của vật quyền;

- Khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc, phân loại, nội dung của lý luận vật quyền;

- Mối quan hệ của chế định vật quyền với các chế định khác có liên quan nhưvật quyền và trái quyền, vật quyền chính và vật quyền hạn chế; vật quyền và vấn đềđăng ký tài sản…

Đối với các công trình, tài liệu khoa học trong nước, những giá trị có thể tiếpthu gồm:

- Nội dung chế định vật quyền đã được ghi nhận trong pháp luật dân sự ViệtNam (quyền sở hữu, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, địa dịch);

- Chế định giao dịch bảo đảm và mức độ ảnh hưởng của chế định vật quyềnbảo đảm;

- Pháp luật về đăng ký tài sản và vấn đề hoàn thiện pháp luật về đăng ký tài sản

Về tổng thể, các bài viết kể trên đã góp phần nhận diện ở mức độ nhất định

về nội dung lý luận vật quyền, hỗ trợ tích cực cho quá trình xây dựng BLDS năm

2015 của Việt Nam

Trang 27

1.2.2 Những vấn đề liên quan đến Luận án chưa được đề cập và cần tiếp tục được Luận án nghiên cứu

Đối với các công trình, tài liệu nghiên cứu nước ngoài về lý luận về vậtquyền mà tác giả Luận án tiếp cận được cho thấy còn có một số vấn đề sau:

Phân tích một phần hoặc một số khía cạnh của đặc điểm, phân loại, nguyêntắc vật quyền mà chưa có tính toàn diện Nói cách khác, các công trình này đề cậpđến một hoặc một số khía cạnh của lý luận vật quyền mà chưa có tính tổng hợp, hệthống hóa và chưa thực sự toàn diện, tổng thể nội dung lý luận về vật quyền

Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vật quyền màmới chỉ có một số công trình đề cập liên quan đến một số khía cạnh nào đó về lýluận về vật quyền hoặc liên quan đến một vật quyền cụ thể; chưa hệ thống hóa mộtcách tổng thể các loại vật quyền Các công trình, tài liệu hầu hết mới phân tíchquyền sở hữu và một số vật quyền khác thông dụng như quyền hưởng dụng, địadịch, vật quyền bảo đảm và ít tài liệu phân tích nội dung của một số vật quyền hạnchế như nợ điền địa, quyền ưu tiên, quyền thuê đất dài hạn, Hiện tại, các côngtrình nghiên cứu cũng chưa tiếp cận vật quyền dưới góc độ là một hệ thống cácquyền năng mà trong đó có chứa đựng những mối quan hệ hữu cơ, nội tại với nhau.Các mối liên hệ giữa các vật quyền cũng chưa được làm rõ, đồng thời vị trí từng vậtquyền trong hệ thống vật quyền cũng chưa được thể hiện rõ ở các công trình nghiêncứu trước đây

Chưa phân tích về thể chế pháp luật của các nước theo hệ thống pháp luậtthành văn về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Đối với các công trình, tài liệu nghiên cứu trong nước về lý luận về vậtquyền mà tác giả Luận án tiếp cận được cho thấy còn có một số vấn đề sau:

Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc phân tích chế định vậtquyền tại BLDS mà chưa phân tích các văn bản QPPL có liên quan trong lĩnh vựcnhư đất đai, xây dựng, các loại tài sản trong phát triển nền KTTT; chưa đánh giáđược mức độ vận dụng lý luận vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống phápluật dân sự Việt Nam; chưa chỉ rõ được hạn chế của các vật quyền được ghi nhậntrong pháp luật Việt Nam, các vật quyền khác cần tiếp tục được ghi nhận trong thờigian tới; các kiến nghị giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cũng chưathực sự có tính hệ thống, toàn diện

Trang 28

Chưa nghiên cứu, đánh giá mức độ vận dụng lý luận về vật quyền trong phápluật hiện hành của Việt Nam và khả năng tiếp tục ứng dụng lý luận về vật quyền đểhoàn thiện pháp luật dân sự vẫn còn là nội dung để ngỏ Thực tế, chính việc tồn tạinhững tranh luận dai dẳng và không đạt được sự đồng thuận cao về mức độ sử dụng

lý luận về vật quyền trong quá trình xây dựng BLDS năm 2015 vừa qua cũng chothấy nhiều vấn đề lý luận cơ bản về vật quyền chưa được tiếp nhận, chẳng hạn, tại

dự thảo BLDS trình Quốc hội vào năm 2014, Chính phủ đặt tên phần hai của dựthảo là "vật quyền" nhưng không nhận được sự tán đồng của đại biểu Quốc hội

Từ đó, tác giả Luận án xác định những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiêncứu gồm:

- Nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa các loại vật quyền; làm rõ nội dung,đặc trưng cơ bản của mỗi một loại vật quyền;

- Tổng hợp kinh nghiệm các nước về sự vận dụng lý luận về vật quyền và bàihọc đối với Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá sự vận dụng lý luận về vật quyền trong hệ thống phápluật dân sự Việt Nam; những bất cập, hạn chế của chế định vật quyền và đề xuấtgiải pháp tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới

1.2.3 Giả thiết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu từ phần tổng quan tìnhhình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án, Luận án đặt ra giả thuyết nghiên

cứu như sau: Việt Nam đã có những quy định về quyền sở hữu, quyền khác đối với

tài sản, tuy nhiên, các quy định này còn có những bất cập, chưa thực sự tiếp cận đúng các nguyên lý vật quyền, chưa có sự thống nhất trong hệ thống pháp luật; hiệu quả thực thi còn nhiều hạn chế Để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản ở nước ta, cần làm rõ được những bất cập nêu trên, xác định giải pháp khắc phục, gồm cả giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật.

Luận án cần trả lời một số câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1) Nội dung chính của lý luận vật quyền là gì?

(2) Pháp luật về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản của Việt Nam đãvận dụng lý luận vật quyền như thế nào? Bất cập, hạn chế như thế nào?

(3) Các giải pháp để khắc phục và tiếp tục vận dụng đúng đắn lý luận vậtquyền trong hệ thống pháp luật của Việt Nam?

Trang 29

1.2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu

Trên cơ sở mô hình hóa lý luận vật quyền, nghiên cứu kinh nghiệm pháp luậtcác nước tác giả Luận án sẽ phân tích hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam để xácdịnh mức độ ảnh hưởng, tiếp thu và tính đúng đắn trong việc tiếp nhận tinh thần củachế định vật quyền Cùng với đó, tác giả Luận án sẽ phân tích yêu cầu, bối cảnh củaViệt Nam và chủ trương, đường lối của Đảng về hoàn thiện thể chế pháp luật KTTTđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có thể chế về quyền đối với tài sản để đề xuấtgiải pháp hoàn thiện pháp luật cho phù hợp

Trang 30

Kết luận Chương 1

Qua nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế chothấy những nghiên cứu về lý luận vật quyền có nền tảng tương đối lâu dài trong cácnghiên cứu của các học giả nước ngoài Tại Việt Nam, số lượng các luận văn, Luận

án về chủ đề này không nhiều và tập trung trong giai đoạn sửa đổi BLDS (từ 2017) Đến nay, các công trình khoa học, bài viết tương đối nhiều, tuy nhiên chưa

2012-có công trình nghiên cứu nào tổng hợp, phân tích một cách toàn diện lý luận vậtquyền, hệ thống các loại vật quyền và những vật quyền đã được ghi nhận, mức độghi nhận trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam Bởi vậy, việc nhận diện tổngthể lý luận và hệ thống vật quyền, đề xuất các giải pháp tiếp tục tiếp thu lý luận vậtquyền là hoạt động nghiên cứu cần thiết, có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay

Trang 31

cả các hệ thống pháp luật dân sự, từ phương diện mô hình hệ thống pháp luật, cấutrúc lập pháp, đến phương diện thực tiễn Chế định vật quyền không chỉ đặt trọngtâm vào quyền của chủ sở hữu, mà còn bao gồm nhiều quyền năng pháp luật côngnhận cho chủ thể không phải là chủ sở hữu Điều này có ý nghĩa hết sức thiết thựctrong nền KTTT với các quan hệ pháp luật phong phú, các loại tài sản được đưa vàolưu thông trên thị trường trong môi trường pháp lý minh bạch, đảm bảo thực hiệnquyền và nghĩa vụ của từng loại chủ thể.

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI, NGUYÊN TẮC CỦA VẬT QUYỀN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

2.1.1 Khái niệm vật quyền

Trước khi đi vào khái niệm vật quyền, tác giả Luận án muốn làm sáng rõ

khái niệm vật Theo đó, với các luật gia La Mã, "vật" (thuật ngữ trong luật La Mã

là "res") được sử dụng để chỉ một thứ tồn tại theo tính chất của nó, một vật có biểuhiện vật chất và cụ thể (Như vậy, trong pháp luật La Mã, khái niệm vật (res) sẽkhông bao hàm tài sản như cổ tức, trái phiếu, chứng khoán - những thứ tài sảnchưa xuất hiện và tồn tại trong đời sống kinh tế của La Mã cổ đại) Mặt khác, trong

các tài liệu nghiên cứu lý luận về pháp luật La Mã, khái niệm "vật" có khi cũng

được hiểu như một quyền trừu tượng mà con người có được đối với vật [43, tr.11]

Trang 32

Nếu vật là đối tượng của quyền thì con người là chủ thể của quyền, chính trongquan hệ đó mà vật được coi là tài sản.

Từ điển Luật học Black Deluxe [148] định nghĩa: "vật" (things) là những đối

tượng ổn định có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận được qua giác quan Vật được chia

làm ba loại: vật bất động (immovable things); vật lưu động (movable things); và vật hỗn hợp (mixed things) - tức là những vật mang đặc trưng của hai loại trên.

Trong tiếng Anh, "things" theo nghĩa hẹp là vật và theo nghĩa rộng được hiểu

là những đối tượng của sự chiếm hữu hoặc được hiểu là tài sản Theo nghĩa hẹp, có

quốc gia ghi nhận "things" là cái có hình khối, có thể nhận biết được, chẳng hạn, BLDS Đức qui định "Chỉ có đồ vật hữu hình là vật (things) được xác định bởi luật"

(Điều 90), điều này được lý giải rằng khái niệm về tài sản là không cần thiết; bất kỳvật gì cũng có thể trở thành tài sản nếu các bên chấp nhận trao đổi, mua bán, trừnhững thứ pháp luật cấm giao dịch; mặt khác, trong sự phát triển của nền kinh tế, xuhướng các loại tài sản mới ngày càng gia tăng, do đó, không thể có một điều khoảnnào có thể khái quát, liệt kê được tất cả các tài sản Vì vậy, trong phần vật quyền,BLDS Đức chỉ đưa ra khái niệm "vật" nhằm phân biệt giữa "vật" và "không phảivật"; trong đó, "vật" được định nghĩa chỉ là "vật hữu hình" (Điều 90) (Bộ luật Dân

sự Đức); đồng thời, BLDS khẳng định động vật không phải là "vật", tuy nhiên, cácquy định về "vật" có thể áp dụng tương tự cho động vật, trừ một số ngoại lệ (Điều90a, Bộ luật Dân sự Đức) Tương tự như vậy, BLDS Nhật Bản tại Phần chung,

Chương IV (nói về vật) định nghĩa như sau: "Thuật ngữ vật (things) được sử dụng

trong Bộ luật này có nghĩa là vật hữu hình" (Điều 85) (để luận giải cho vấn đề này,

các học giả Nhật cho rằng mặc dù khái niệm "vật" là thứ có hình khối, cầm nắmđược nhưng những thứ khác không cầm nắm được (tài sản vô hình, quyền tài sản)cũng được điều chỉnh bởi cơ chế pháp lý như "vật" với tính chất là ngoại lệ của vật)

Theo nghĩa rộng, thuật ngữ "things" với thuật ngữ "tài sản" (property) có nội hàm

về cơ bản là giống nhau [59] "Things" được hiểu là những đối tượng của sự chiếm

hữu hoặc được hiểu là tài sản, chẳng hạn, BLDS của tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ)

2001 quy định: "Tài sản (things) được chia thành tài sản chung, tài sản công, và tài

sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động sản và bất động sản" (Điều

448) Bên cạnh đó, khái niệm "property" (tài sản) được định nghĩa theo nghĩa rộng

hơn và tiếp cận ở góc độ pháp lý, là toàn bộ những quyền mà một chủ thể có được

Trang 33

đối với một tài sản nhất định và được Nhà nước bảo vệ Với cách hiểu này, kháiniệm tài sản được mở ra đối với bất cứ loại quyền và lợi ích có giá trị nào theokhông gian đa chiều, bao gồm cả tài sản cố định và tài sản lưu động, hữu hình và vôhình, tài sản đã hình thành hoặc chưa hình thành, vấn đề nhượng quyền,…

Ngày nay, lý thuyết kinh tế - luật (law and economics) xuất phát từ góc nhìnkinh tế đã nhìn nhận tất cả những gì trị giá được bằng tiền đều là tài sản [121], trừnhững thứ không được hệ thống pháp luật công nhận là tài sản (Ví dụ, bộ phận cơthể người có phải là "tài sản" hay không cũng đã, đang và sẽ có nhiều tranh luận.Tuy nhiên, quan niệm về tài sản còn phụ thuộc vào văn hóa, lịch sử, đạo đức, chínhtrị và quy định của pháp luật Hiện nay, một số quốc gia cấm việc thương mại hóa

bộ phận cơ thể con người, tức không coi bộ phận con người là tài sản, mà chỉ chophép hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể người vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảngdạy hoặc nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, một số phán quyết của một số tòa ánđang có xu hương coi bộ phận cơ thể người trong môt số trường hợp đặc biệt là tàisản; theo quan điểm không coi bộ phận người là tài sản [171]; theo quan điểm coi

bộ phận người là tài sản [163]) Tài sản có thể được hiểu là những gì cụ thể hoàntoàn thuộc về một chủ thể (người) và hiểu rộng hơn về mặt pháp lý là toàn bộnhững quyền của một chủ thể đối với một "vật" nhất định được nhà nước đảm bảo

và bảo vệ Khái niệm tài sản được dùng đối với bất cứ loại lợi ích hay quyền có giátrị nào [141, tr.1] Hầu hết các học giả, các nhà lập pháp đều cho rằng, hiểu theo

nghĩa đơn giản mà trừu tượng thì tài sản là những thứ có giá trị và trao đổi được;

tuy nhiên, các nhà lập pháp quan niệm rằng có rất nhiều loại hình tài sản khác nhautheo sự phát triển của xã hội mà pháp luật không thể liệt kê đủ và không thể điềuchỉnh kịp, do vậy dễ dẫn đến mất tính bền vững của pháp luật Kết quả là nhiềuBLDS các nước không có định nghĩa về "tài sản", cụ thể Liên bang Nga (Điều 128BLDS Nga về các loại đối tượng của các quyền dân sự: Thuộc về đối tượng của cácquyền dân sự phải được nhắc đến là vật, trong số đó bao gồm tiền và giấy tờ có giá

và cũng bao gồm các loại tài sản khác, như các quyền tài sản; công việc và dịch vụ;thông tin; kết quả của hoạt động trí tuệ, bao gồm quyền loại trừ đối với chúng(quyền sở hữu trí tuệ); những giá trị phi vật chất) liệt kê đối tượng của quan hệ dân

sự, các nước như Pháp (Điều 516 BLDS Pháp: "Tài sản được chia thành động sản

và bất động sản"), Nhật (Điều 86 BLDS Nhật Bản), Trung Quốc (Điều 115 BLDS

Trang 34

Trung Quốc quy định "Tài sản gồm bất động sản và động sản Trường hợp luật quyđịnh rằng một quyền sẽ được ghi nhận như một tài sản trên vật quyền thì quy định

đó được thực hiện"), Québec (Canada) (Điều 899 BLDS Quebéc (Canada): "Tàisản, dù hữu hình hay vô hình, được phân chia thành bất động sản và động sản"),Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) tập trung vào việc phân loại tài sản Qua đó có thểthấy rằng, hầu hết BLDS của các nước chọn phương pháp quy định tổng quát theotính chất, đặc điểm nhận dạng và phân loại tài sản, để từ đó mỗi phân loại tài sản cócác quy chế pháp lý điều chỉnh tương ứng Tuy nhiên, cũng có một số ít quốc gia

quy định về khái niệm tài sản, chẳng hạn, BLDS Hà Lan quy định "Tài sản là tất cả

mọi vật và mọi quyền tài sản"; đồng thời, "vật" được xác định là tất cả các đối tượng

hữu hình có thể chịu sự kiểm soát của con người; "quyền tài sản" là các quyền, riêng

rẽ hoặc cùng với các quyền khác, có thể chuyển giao; các quyền được dự định đểthu được một lợi ích vật chất cho chủ sở hữu của chúng, hoặc các quyền đã có được

để đổi lấy lợi ích vật chất thực tế hoặc dự kiến [137]; BLDS và Thương mại Thái

Lan quy định "Tài sản gồm những vật và đối tượng không cụ thể, có thể có một trị

giá và có thể chiếm dụng được" (Điều 99 BLDS và Thương mại Thái Lan).

Về khái niệm "vật quyền" (thuật ngữ trong luật La Mã là "jus in re" hay

"iura in rem"), qua nghiên cứu cho thấy thuật ngữ "vật quyền" tồn tại phổ biến trong

các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình và được sử dụng trong pháp luật dân

sự hiện hành một số nước Theo quan niệm của người La Mã cổ đại, vật quyền hay

còn gọi là quyền đối vật được hiểu là "quyền được chủ thể (người có quyền) thực

hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của một người khác" [120], "quyền đối vật là quyền được thực hiện trực tiếp trên vật Quyền đối vật có thể được thực hiện trên vật huộc về người có quyền" [43, tr.14], trong giai

đoạn này, cùng với cách hiểu "vật" theo nghĩa hẹp, khái niệm "vật quyền" cũngđược hiểu với phạm vi hẹp hơn rất nhiều nội hàm thực sự thuật ngữ

Từ điển Luật học Black Deluxe đã đưa ra định nghĩa: "Quyền đối vật là một

quyền áp đặt một nghĩa vụ đối với mọi người nói chung; có nghĩa là hoặc đối với tất cả thế giới hoặc đối với tất cả thế giới trừ một số người xác định Như vậy, nếu tôi có quyền loại trừ tất cả mọi người đối với một thử đất xác định thì tôi có quyền đối vật đối với thửa đất đó; và, nếu có một hoặc nhiều người A, B và C mà tôi không có quyền loại trừ từ thửa đất đó thì quyền của tôi vẫn là quyền đối vật".

Trang 35

Trong một số giáo trình, khái niệm quyền đối vật cũng được đề cập, theo đó, "

quyền đối vật thi hành trực tiếp trên vật và luôn luôn là đối tượng làm tăng tài sản của chủ thể quyền Về chủ thể: quyền đối vật bao giờ cũng xác định được chủ thể quyền [ ] Về đối tượng: quyền đối vật có chủ thể là vật" [30, tr.48].

Tại BLDS Nga, khái niệm "vật quyền" được xác định là quyền bảo đảm chongười có quyền đáp ứng các nhu cầu lợi ích của mình bằng việc trực tiếp tác độnglên vật thuộc quyền quản lý của mình

Từ các khái niệm trên có thể thấy điểm chung là quan hệ vật quyền trênnguyên tắc hình thành từ hai yếu tố: chủ thể của quyền (con người) và đối tượngcủa quyền (vật) Quan hệ ấy vận hành mà không cần đến vai trò của một chủ thểkhác, đặc biệt là không cần sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thể khác Mọi chủ thểkhác đều phải tôn trọng quyền này (chẳng hạn như chủ sở hữu tài sản có quyền kiệnđòi lại tài sản của mình đang nằm trong tay người khác; chủ nợ nhận thế chấp cóquyền kê biên tài sản thế chấp để bán và ưu tiên thu tiền trừ nợ mà chủ sở hữu cũngnhư bất kỳ ai khác không có quyền phản đối) Tính chất trực tiếp và tức thì của vậtquyền được thể hiện trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất và cả hành vipháp lý của chủ thể lên đối tượng của quyền Chẳng hạn, chủ sở hữu một chiếc xe

có thể tự mình đi xe hoặc đem cho mượn, cho thuê mà không cần sự đồng ý củangười nào khác Tương tự, người có quyền hưởng dụng được hưởng hoa lợi từ tàisản (ví dụ: hái quả, lấy gỗ,…) mà không ai có quyền can thiệp [44, tr.92-96] Theo

đó, pháp luật về vật (hay tài sản theo thuật ngữ hiện nay) được chia thành hai nhóm:(i) vật quyền (quyền đối vật), là quyền liên quan đến vật (tài sản), chống lại (trongmối quan hệ với) tất cả những người khác; và (ii) trái quyền (thuật ngữ trong luật La

Mã là "iura in personam") (quyền đối nhân), là quyền liên quan tới người, chống lại

(trong mối quan hệ với) một số cá nhân cụ thể

Qua nghiên cứu pháp luật các nước cho thấy, một số nước gọi tên quyền sởhữu, quyền khác đối với tài sản là vật quyền (như Nhật Bản (Phần thứ hai BLDSNhật Bản trong bản dịch tiếng Anh là "Real right" - Vật quyền), Trung Quốc (trướcnăm 2020, Trung Quốc chưa có BLDS, quan hệ vật quyền được điều chỉnh bởi Luậtvật quyền năm 2007 (nguyên bản tiếng Trung là Luật Vật quyền; bản dịch tiếngAnh là Law on property) BLDS Trung quốc năm 2020, phần thứ hai có tên gọi làVật quyền), Đức (Nguyên bản tiếng Đức Phần thứ ba là Luật Vật quyền, bản dịch

Trang 36

Tiếng Anh là "Law on Property" - Quyền về tài sản), Campuchia), một số nướckhông dùng thuật ngữ này (như Pháp, Nga (Phần thứ hai của BLDS Nga trong bảndịch tiếng Anh là "The Right of Ownership and the Other Rights of Estate" - Quyền

sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản)) Điều 114 BLDS Trung Quốc quy

định "Vật quyền là quyền trực tiếp và độc quyền kiểm soát một vật cụ thể bởi người

có quyền theo quy định của luật, bao gồm quyền sở hữu, vật quyền khác và vật quyền bảo đảm" Ngoài BLDS Trung Quốc, BLDS các nước như Cộng hòa Pháp,

Nhật Bản, Đức, Nga không có quy định khái niệm về vật quyền, trái quyền

Như đã đề cập ở trên, đối tượng của vật quyền có sự thay đổi trong quá trìnhphát triển của xã hội loài người Ngày nay, trong khoa học pháp lý hiện đại, đối

tượng của vật quyền không chỉ được hình dung là một vật cụ thể, mà vật quyền được hiểu là quyền của một chủ thể đối với một tài sản [156, tr.1-6], cho phép chủ

thể trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật thừa nhận đối với một tài sản,

đối tượng của vật quyền là vật, hữu hình hoặc vô hình, động sản hoặc bất động sản.

Ở một mức độ cao hơn, với cách hiểu khái niệm tài sản rộng, có tính kháiquát cao nên hệ thống pháp luật của nhiều nước đã phát triển khái niệm vật quyền

thành quyền tài sản "Tài sản không phải là một vật mà là một quyền hoặc một

loạt quyền được cưỡng chế thực hiện trong quan hệ với những người khác Giải thích cách khác, thuật ngữ tài sản có nghĩa là những quan hệ giữa con người liên quan đến các yêu cầu đối với những thứ hữu hình và vô hình" [59] Ngày nay, có

nhà khoa học cho rằng thuật ngữ vật quyền (real right hoặc right in rem) đang dần được thay thế bởi một thuật ngữ hiện đại hơn là quyền đối với tài sản ("property

right"), được hiểu là "quyền mà một người có đối với tài sản và có tính đối kháng với người khác" [143], vật quyền là một bộ phận quan trọng của khái niệm tài sản

[29, tr.21-29]

Tác giả Luận án cho rằng, ở giai đoạn phát triển khoa học pháp lý ở nước tahiện nay, khi mà lý luận về vật quyền chưa được nhận diện và minh định một cáchđầy đủ, việc đồng nhất nội hàm vật quyền với quyền tài sản dễ dẫn đến việc khótách bạch, nhầm lẫn với khái niệm quyền tài sản với tính chất là một trong các loại

tài sản Bởi vậy, tác giả Luận án đề xuất khái niệm vật quyền như sau: "vật quyền là

quyền của một chủ thể tác động lên tài sản theo ý chí của mình mà không phụ thuộc

vào người khác".

Trang 37

Qua nghiên cứu và tiếp cận ở góc độ lý luận về pháp luật, tác giả đưa ra khái

niệm vật quyền như sau: "vật quyền là quyền năng của chủ sở hữu và người không

phải là chủ sở hữu đối với tài sản, theo đó, pháp luật ghi nhận các chủ thể nói trên

có thể tác động, chi phối trực tiếp tài sản mà không phục thuộc vào ý chí của chủ thể khác".

2.1.2 Đặc điểm của vật quyền

Thứ nhất, vật quyền là quyền của chủ thể gắn liền với tài sản, có tài sản mới

có quyền Pháp luật xác định về "quyền" của chủ thể là xác định "khả năng" chủ thể

đó thực hiện những tác động đối với tài sản, xác định mối liên hệ pháp lý với tàisản Trường hợp luật có quy định khác về thời hạn, giới hạn thì áp dụng quy địnhcủa luật; còn lại về nguyên tắc, quyền đối vật tồn tại cho đến khi nào vật còn tồn tại

và chấm dứt khi vật không còn, quyền đối vật không bị giới hạn về thời gian

Thứ hai, vật quyền thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa chủ thể có quyền và

đối tượng của quyền mà không cần có vai trò của người thứ ba Vật quyền được xâydựng với bản chất là quyền được thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật,không cần đến sự đồng ý, hợp tác của chủ thể khác và mọi chủ thể đều phải tôntrọng quyền này (quyền tuyệt đối) (Ví dụ: A có địa dịch trên mảnh đất của B thìhàng ngày A có quyền đi qua mảnh đất mà không cần phải B hay bất cứ ai đồng ý,trường hợp B bán mảnh đất ấy thì địa dịch của A vẫn tồn tại) Tính chất trực tiếpcủa vật quyền thể hiện ở cách thức tác động về cơ học, vật lý hoặc hành vi pháp lýcủa chủ thể có quyền lên vật

Thứ ba, vật quyền có tính tuyệt đối (theo tiếng Latinh là "erga omnes"), theo

đó, vật quyền có hiệu lực đối với tất cả mọi người, chủ thể có quyền được pháp luậtbảo vệ và người khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền đó Nói cách khác, chủ thể có vậtquyền có thể chống lại tác động của người khác đối với tài sản; trong trường hợp bịngăn cản thực hiện quyền của mình, chủ thể có vật quyền có quyền yêu cầu phápluật can thiệp để được bảo vệ Tuy nhiên, để vật quyền được thừa nhận và tôn trọng,điều cần thiết là nó được người khác nhận biết rõ ràng, tức là phải được công khai,công bố sự tồn tại của vật quyền Để giải quyết vấn đề này pháp luật các nướcthường ghi nhận cơ chế đăng ký tài sản, nguyên tắc xác lập hiệu lực đối kháng vớingười thứ ba (Ví dụ: A vay của X một số tiền nhưng không bảo đảm trả nợ bằng tàisản cụ thể nào Ít lâu sau, A vay của Y một số tiền và thế chấp căn nhà của mình

Trang 38

cho Y và đăng ký giao dịch thế chấp đó; cuối cùng, khoản nợ đối với X đến hạntrước nhưng A không trả X yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp,

xử lý căn nhà của A để trả nợ, tuy nhiên Y phản đối vì cho rằng X không có quyềnyêu cầu xử lý tài sản này Trong trường hợp này, Y sẽ là người có lợi thế hơn vì Y

là chủ nợ có bảo đảm, đồng thời giao dịch bảo đảm đó đã phát sinh hiệu lực đốikháng với người thứ ba)

Thứ tư, vật quyền cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài

sản, bất kể vật đang nằm trong tay người nào Quyền này gọi là quyền theo đuổi(Quyền theo đuổi là quyền truy đòi tài sản bảo đảm dù tài sản đó không còn đượcbên bảo đảm nắm giữ) Trên nguyên tắc, tất cả những ai đang nắm giữ tài sản, dùvới tư cách nào, đều phải tôn trọng các quyền năng của người có vật quyền mộtcách không điều kiện, chẳng hạn người có quyền sở hữu tài sản được quyền yêu cầungười nắm giữ tài sản phải giao tài sản cho mình và người này phải giao nếu khôngmuốn bị coi là người chiếm giữ tài sản trái phép; bên nhận thế chấp có quyền xử lýtài sản thế chấp cho dù tài sản đó đang do người khác nắm giữ

Thứ năm, vật quyền cho phép người có quyền được ưu tiên hơn so với

những chủ thể khác, chẳng hạn bên cầm giữ tài sản được quyền thanh toán trướccác chủ thể khác, trường hợp khoản nợ chưa được thanh toán bên cầm giữ có quyềngiữ tài sản và không giao cho người khác

2.1.3 Phân loại vật quyền

2.1.3.1 Dựa vào mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản, có thể phân loại vật quyền thành quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản (trong pháp luật La

Mã, cách phân loại này được chia theo cách tương tự là quyền trên tài sản của mình(có thể gọi là quyền sở hữu) và quyền trên tài sản của người khác)

- Quyền sở hữu (thuật ngữ trong luật La Mã là "jus in re propria") (còn gọi là

quyền đối vật của mình): được coi là vật quyền thứ nhất, tuyệt đối, trọn vẹn nhất vàchỉ thuộc về duy nhất của một chủ thể là chủ sở hữu tài sản; nó có tác dụng thiết lậpđộc quyền của chủ sở hữu đối với tài sản, một cách hoàn hảo, từ nắm giữ, kiểm soát

về phương diện vật chất, cho đến khai thác công năng kinh tế và cả số phận vậtchất, pháp lý của tài sản đó

- Các quyền khác đối với tài sản (còn gọi là quyền đối với tài sản của người

khác (thuật ngữ trong luật La Mã là "jus in re aliena") hoặc quyền trên tài sản của

Trang 39

người khác hoặc quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản hoặc dịch quyềnhoặc vật quyền hạn chế): lý luận về vật quyền đã chỉ ra rằng quyền đối với tài sảnkhông chủ là đối với tài sản của chính mình mà trong một số trường hợp nhất định,quyền tuyệt đối của chủ sở hữu tài sản có thể bị hạn chế, giới hạn bởi quyền của chủthể khác, theo đó các chủ thể này cũng có quyền trực tiếp đối với tài sản trong phạm

vi nhất định, gọi là quyền khác đối với tài sản Theo đó, người có vật quyền hạn chếđược tác động trực tiếp lên tài sản của người khác nhưng không có đầy đủ quyềnnăng của một chủ sở hữu đối với tài sản này

Quyền khác đối với tài sản là một quyền năng đối với tài sản rất mạnh, thậmchí gần như chủ sở hữu Quyền khác đối với tài sản không thể bị đơn phương chấmdứt, không thể bị hủy bỏ, thậm chí có thể chuyển dịch theo sự chuyển dịch quyền sởhữu tài sản (điều này khác biệt với trái quyền) Quyền khác đối với tài sản chỉ bịchấm dứt trong những trường hợp rất hạn chế, hoặc theo quy định của luật, hoặcphải có sự đồng thuận ý chí của cả hai bên giao dịch, hoặc khi bên hưởng quyền từ

bỏ việc hưởng quyền của mình

Quyền khác đối với tài sản gồm các quyền trực tiếp đối với tài sản của nhữngchủ thể không phải là chủ sở hữu của tài sản như quyền hưởng dụng, quyền sửdụng, quyền ngụ cư, quyền thuê đất dài hạn, quyền bề mặt, quyền quản lý kinh tế,quyền quản lý hoạt động, địa dịch, vật quyền bảo đảm Ngoài ra, còn có các vậtquyền đặc biệt trên tài sản công được tạo lập bởi Nhà nước vì lợi ích của chínhmình, hay vì lợi ích của tư nhân, chẳng hạn quyền khai thác mỏ, quyền đánh cá,quyền khai thác rừng… Vật quyền hạn chế phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu(quyền sở hữu phải luôn có trước), tác động hạn chế lên vật, không xâm phạm lợiích hợp pháp của chủ sở hữu vật

Các loại vật quyền hạn chế có nhiều điểm khác nhau, nhưng đều có chungcác đặc điểm sau đây: (1) trên một vật có thể tồn tại nhiều vật quyền hạn chế; (2)vật quyền hạn chế có tính phái sinh, nghĩa là, trước một vật quyền hạn chế bao giờcũng có một vật quyền gốc là quyền sở hữu; (3) nội dung của các vật quyền hạn chếluôn mang tính không đầy đủ, không trọn vẹn [77]

Về chi tiết hơn, quyền khác đối với tài sản còn được phân thành hai loại là

dịch quyền thuộc người (thuật ngữ trong luật La Mã là "personal servitudes") và dịch quyền thuộc vật (thuật ngữ trong luật La Mã là "real servitude" hay "predial

Trang 40

servitude") Dịch quyền thuộc người là một quan hệ mà trong đó, một tài sản tự gánh

chịu dịch quyền hay dịch lụy vì lợi ích của một người, quyền này lại được chia nhỏnữa thành các vật quyền cụ thể như quyền hưởng dụng, quyền sử dụng, quyền ngụ

cư, quyền thuê đất dài hạn, quyền bề mặt Dịch quyền thuộc vật hay địa dịch làmột quan hệ mà trong đó một bất động sản gánh chịu dịch quyền hay dịch lụy vì lợiích của một bất động sản khác; bất kể ai có quyền đối với các bất động sản đó đềuphải gánh chịu hoặc được hưởng dịch quyền tương ứng, có nghĩa là dịch quyền haymối quan hệ dịch quyền được gắn trực tiếp vào các bất động sản liên hệ [28]

Từ xa xưa, pháp luật La Mã đã khẳng định có bốn loại khác nhau của quyềnđối với tài sản của người khác gồm (1) địa dịch; (2) quyền cầm cố, thế chấp; (3)quyền bề mặt; (4) quyền canh tác [169, tr.249] Ngày nay, một số vật quyền hạn chếkhác được ghi nhận như quyền hưởng dụng; quyền sử dụng, cư dụng; quyền sửdụng nhà ở (trên lô đất thuộc sở hữu của tập thể); quyền chiếm hữu được thừa kếsuốt đời đối với đất đai; quyền chiếm hữu đất thường xuyên; quyền quản lý kinh tế;quyền quản lý hoạt động và một số vật quyền bảo đảm (như bảo lưu quyền sở hữu,cầm giữ tài sản, quyền ưu tiên, nợ điền địa)

2.1.3.2 Dựa vào tính chất, có thể phân loại vật quyền thành vật quyền chính và vật quyền phụ

- Vật quyền chính là "các vật quyền cho phép người có quyền hưởng thụ các

tiện ích vật chất của vật liên quan và việc thực hiện tác động một cách trực tiếp lên tình trạng vật chất của đối tượng" [65], theo đó, người có quyền có thể trực tiếp

nắm giữ, kiểm soát về vật lý, pháp lý đối với tài sản và khai thác giá trị của tài sản

Trong nhóm vật quyền chính thì quyền sở hữu được coi là "quyền thống trị và cơ

bản trong các loại quyền của vật quyền chính yếu, các vật quyền chính khác đều là quyền phái sinh từ quyền sở hữu" [65] Các vật quyền chính khác có mức độ hoàn

hảo của quyền năng nhưng thấp hơn như: quyền hưởng hoa lợi (quyền hưởngdụng); địa dịch…

- Vật quyền phụ (còn gọi là vật quyền bảo đảm): vật quyền phụ là quyền đối

với tài sản bảo đảm (trong quan hệ thế chấp, cầm cố, cầm giữ, bảo lưu quyền sởhữu) Vật quyền bảo đảm có vai trò đảm bảo sự an toàn, quyền lợi, chủ động chobên nhận bảo đảm trong các giao dịch bảo đảm Theo đó, thay vì phải lệ thuộc vàohành động, trách nhiệm của bên bảo đảm, pháp luật giao cho người có vật quyền

Ngày đăng: 14/09/2022, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Quế Anh (2013), ''Nghiên cứu khái luận về quyền chiếm hữu'', Chuyên san Luật học thuộc Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Tập 29, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên san Luật học thuộc Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Anh
Năm: 2013
2. Ban Chấp hành Trung ương (2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII củaĐảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2016
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày03/6/2017 Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 vềphát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2017
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày03/6/2017 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIIvề hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2017
7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chínhtrị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
8. Bộ Chính trị (2015), Kết luận số 103-KL/TW, ngày 29/9/2014, của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 103-KL/TW, ngày 29/9/2014, của Bộ Chínhtrị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoànthiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2015
9. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chínhtrị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồnlực kinh tế
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2019
10. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chínhtrị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng côngnghiệp lần thứ tư
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2019
11. Bộ Chính trị (2020), Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 về Chươngtrình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động thamgia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2020
12. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày19/05/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
13. Bộ Tư pháp (2008), Báo cáo số 114/BC-BTP ngày 11/7/2008 về tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về đăng ký bất động sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2008)
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
14. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo Kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp về "sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự Việt Nam" tại Cộng hoà liên bang Đức từ ngày 26/3/2011 đến ngày 3/4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sửa đổi cơbản Bộ luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
15. Vũ Thế Cảnh (2017), Đăng ký vật quyền bảo đảm, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đăng ký vật quyền bảo đảm
Tác giả: Vũ Thế Cảnh
Năm: 2017
16. Chính phủ (2012), Nghị định số 72/2012/NĐ-CP ngày 24/9/2012 của Chính phủ về quản lý và sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 72/2012/NĐ-CP ngày 24/9/2012 của Chínhphủ về quản lý và sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
17. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chínhphủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai (được sửađổi, bổ sung bởi Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chínhphủ)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
18. Chính phủ (2014), Báo cáo số 508/BC-CP ngày 24/11/2014 của Chính phủ về dự kiến bước đầu tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội thảo luận ở Tổ về dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 508/BC-CP ngày 24/11/2014 của Chính phủ vềdự kiến bước đầu tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra của Ủy ban Pháp luật củaQuốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội thảo luận ở Tổ về dự án Bộ luậtdân sự (sửa đổi)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
19. Chính phủ (2015), Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
20. Chính phủ (2017), Nghị định số 102/2017/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 102/2017/NĐ-CP của Chính phủ về đăng kýbiện pháp bảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
23. Chính phủ (2018), Nghị định số 29/2018/NĐ-CP ngày 05/3/2018 quy định trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 29/2018/NĐ-CP ngày 05/3/2018 quy địnhtrình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý đối với tàisản được xác lập quyền sở hữu toàn dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2018
150. Felix Cohen - http://www.duhaime.org/LegalDictionary/ P/Property.aspx Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu đồ 4.3: Bảng thứ hạng các quốc gia về chỉ số quyền sở hữu từ 2015-2019 - Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.
i ểu đồ 4.3: Bảng thứ hạng các quốc gia về chỉ số quyền sở hữu từ 2015-2019 (Trang 158)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w