Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên .Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên .Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên .Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên .Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên .Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên .
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 7 năm 2019
Tác giả luận án
Ngô Thị Thu Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH.NGND Bùi Văn Ba (Phương Lựu) - người thầy đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Minh Lường đã hỗ trợ GS.TSKH Bùi Văn Ba trong quá trình hướng dẫn, giúp tôi hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới trường Đại học Sư phạm Hà Nội, quý thầy cô là giảng viên của tổ Lý luận văn học - khoa Ngữ văn - trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là PGS.TS Trần Mạnh Tiến - nguyên Tổ trưởng
bộ môn Lý luận văn học, Tiến sĩ Đỗ Văn Hiểu - Tổ trưởng bộ môn Lí luận văn học, đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện để tôi được tham gia học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn đến các đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình hoàn thành luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân đã động viên và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2019
Tác giả luận án
Ngô Thị Thu Hường
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới của luận án 4
6 Cấu trúc của luận án 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Giai đoạn trước thời kỳ Đổi mới 1986 6
1.1.1 Những ý kiến phủ nhận hoàn toàn 6
1.1.2 Những ý kiến tuy phê phán, nhưng có phần khẳng định 9
1.2 Giai đoạn sau Đổi mới 1986 12
1.2.1 Những ý kiến đánh giá lại theo chiều hướng dần dần khẳng định về cơ bản 12
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu tiếp tục 30
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ NHÓM HÀN THUYÊN 33
2.1 Bối cảnh ra đời nhóm Hàn Thuyên 33
2.1.1 Bối cảnh chính trị, văn hóa xã hội 33
2.1.2 Bối cảnh văn học 37
2.2 Những biểu hiện tích cực của nhóm Hàn Thuyên 43
2.2.1 Xét từ gốc gác gia đình 43
Trang 62.2.2 Xét từ tôn chỉ mục đích 45
2.2.3 Xét từ ấn phẩm 45
2.2.4 Về cộng tác viên 46
2.3 Tính phức tạp về tư tưởng và học thuật của các thành viên chủ chốt 47
2.3.1 Những trí thức có lòng yêu nước nhưng dễ dao động 47
2.3.2 Những người đã từng hoặc đang theo chủ nghĩa Trotsky 50
2.3.3 Các nhà lý luận phê bình có xu hướng Mác-xít, nhưng không theo Lênin, ít nhiều bị tình nghi là Trotskit 54
CHƯƠNG 3: TƯ TƯỞNG VĂN HỌC CHỦ YẾU CỦA TRƯƠNG TỬU 63
3.1 Tư tưởng văn học của Trương Tửu không mang tính chất Trotskit, nhưng cũng không theo chủ nghĩa Lênin 63
3.1.1 Tư tưởng văn học của Trương Tửu không mang tính chất Trotskit 63
3.1.2 Tư tưởng văn học của Trương Tửu cũng không theo chủ nghĩa Lênin 66
3.2 Dấu ấn của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa S.Freud trong tư tưởng văn học của Trương Tửu 68
3.2.1 Dấu ấn của chủ nghiã Mác 68
3.2.2 Dấu ấn của chủ nghĩa S.Freud cùng một số thuyết tâm lý khác 76
3.2.3 Sự tương đồng với chủ nghĩa Mác - phân tâm, một loại hình của chủ nghĩa Mác phương Tây 81
3.3 Lý thuyết của Hypolyte Taine trong tư tưởng văn học của Trương Tửu 84
3.3.1 Những yếu tố cải biến 84
3.3.2 Yếu tố giữ nguyên 86
3.4 Sự chuyển biến nhanh chóng về tư tưởng và học thuật của Trương Tửu ngay khi tham gia Cách mạng và kháng chiến 89
3.4.1 Tích cực phục vụ chế độ mới 90
3.4.2 Từ chính trị phản tỉnh đến học thuật 95
Trang 7CHƯƠNG 4: TIẾN TRÌNH LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA
LƯƠNG ĐỨC THIỆP 103
4.1 Việt Nam thi ca luận (Khuê Văn xuất bản cục, 1942) 104
4.1.1 Về thơ ca Việt Nam cổ điển và hiện đại 104
4.1.2 Những vấn đề liên quan với đặc trưng chung của thơ 112
4.2 Văn chương và xã hội (Đại học thư xã, 1944) 119
4.2.1 Về sự phản ánh xã hội và tính giai cấp của văn học 119
4.2.2 Phân tích tính giai cấp của văn học hiện đại Việt Nam 123
4.3 Nghệ thuật thi ca (Nxb Hàn Thuyên, H.1945) 126
4.3.1 Đào sâu thêm về tính xã hội và tính giai cấp trong thơ 126
4.3.2 Lại nói thêm về nội dung tình cảm và hình thức ngôn ngữ của thơ 131
4.3.3 Về triển vọng của thơ 132
KẾT LUẬN 136
KIẾN NGHỊ 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC - Danh mục ấn phẩm của Hàn Thuyên xuất bản cục 156
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu những năm 40 thế kỷ XX có ba nhóm văn hóa văn học nổi bật trên
văn đàn Việt Nam đó là các nhóm: Tri Tân, Thanh Nghị và Hàn Thuyên Hai nhóm Tri Tân và Thanh Nghị được đánh giá tương đối nhất trí ngay từ đầu Riêng nhóm Hàn Thuyên về cơ bản bị phê phán kịch liệt, hầu như gần suốt nửa thế kỷ Nhưng đến thời kỳ sau Đổi mới Hàn Thuyên mới được khôi phục
dần, song đến nay vẫn còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Đây chính là nguyên nhân cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài: Lý luận phê
bình văn học của nhóm Hàn Thuyên và tiến hành nghiên cứu công trình này
2 Mục đích nghiên cứu
Nhóm Hàn Thuyên hoạt động trên nhiều mặt khá phong phú phức tạp,
nhưng xuất phát từ yêu cầu của chuyên ngành Lí luận văn học, chúng tôi chỉ
nghiên cứu phương diện lý luận phê bình văn học mà thôi Trong chuyên ngành Lí luận văn học, có nhiều hướng nghiên cứu: Trước hết là Lý thuyết
ứng dụng, tức là vận dụng một loại lý thuyết hay quan niệm văn học nào đó
để phân tích đánh giá một tác gia, một tác phẩm hay một hiện tượng văn học
Thứ hai là hướng Lý thuyết khái quát, phải từ những thực tiễn văn học cụ thể
tiến lên khái quát cho được những vấn đề lý thuyết ít nhiều mới mẻ; thứ ba là
Lý thuyết lịch sử Đề tài Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên mà
chúng tôi chọn là thuộc loại Lý thuyết lịch sử, tức là lý thuyết trong lịch sử, vì
những mục đích như sau:
2.1 Trong việc phấn đấu hiện đại hóa nền lí luận văn học trước mắt của nước nhà, phải ra sức tổng kết những thành tựu và thiếu sót, những thành công và thất bại trong di sản lý luận của dân tộc từ thời trung đại, nhất là
trong thế kỷ XX Riêng về nhóm Hàn Thuyên là xoay quanh vấn đề tiếp thu lý
thuyết nước ngoài gồm những chủ thuyết nào, mối quan hệ của chúng ra sao,
Trang 9nhất là việc vận dụng những lý thuyết ấy vào thực tiễn văn học nước nhà như thế nào, đúng hay sai, rất phức tạp, ý kiến chưa thống nhất phải tiếp tục làm sáng tỏ với cách đánh giá khách quan, theo đường lối đổi mới của Đảng Nhưng đổi mới không phải là nói ngược hoàn toàn, mà phải thật khách quan, đúng sai rạch ròi, có thế mới thực sự rút ra được những bài học thiết thực cho
việc xây dựng nền lý luận trước mắt
2.2 Gắn bó chặt chẽ với mục đích về lí luận văn học nói trên là ý nghĩa
về văn học sử Khi đã đánh giá khách quan chính xác thì mới xác định đúng vai
trò tích cực ít nhiều có thể có và tác dụng tiêu cực của nhóm Hàn Thuyên trong
tiến trình ý thức văn học của nước nhà trong nửa đầu thế kỷ XX
2.3 Cuối cùng, như là một phần kết tinh của hai mặt nói trên, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có thể vận dụng vào trong nhà trường trong việc giảng dạy phần Lí luận văn học hiện đại cũng như phần Văn học sử Việt Nam
giai đoạn 1940 - 1945
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trước tiên, chúng tôi tìm hiểu tình hình chung về mọi mặt của nhóm
Hàn Thuyên để làm nền tảng Nhưng về lĩnh vực lý luận phê bình văn học
trong nhóm Hàn Thuyên chỉ có hai nhân vật là Trương Tửu và Lương Đức
Thiệp Điều này sẽ được chứng giải cụ thể ở những phần sau của luận án Đối với trường hợp Lương Đức Thiệp thì tương đối rõ ràng, ông mất tích ngay
năm 1945 Các công trình của ông đều chủ yếu dựa vào bản gốc: Việt Nam thi
ca luận (Khuê văn xuất bản cục, H.1942); Văn chương và xã hội (Đại học thư
xã, H.1944), Nghệ thuật thi ca (Hàn Thuyên xuất bản H.1945) Đối với
trường hợp Trương Tửu thì cần giới thuyết rõ thêm Ông đã viết sách ngay từ
năm 1931 (công trình Triết lý Truyện Kiều) và những công trình viết trong chế độ mới như Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (Nxb Xây dựng, H
1956) v.v thì không thuộc phạm vi đối tượng nghiên cứu chủ yếu, tất nhiên
Trang 10có thể liên hệ đối chiếu khi cần thiết Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các
công trình do chính Nhà xuất bản Hàn Thuyên công bố như: Kinh Thi Việt
Nam (1940); Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942); Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1943); Văn chương Truyện Kiều (1945); Tương lai văn nghệ Việt Nam (1945) Những công trình này được in lại ngay trong thế kỷ mới này qua
công sức sưu tầm và biên tập, giới thiệu của PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh và
PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn: Trương Tửu - Tuyển tập nghiên cứu, phê bình
(Nxb Lao động, H 2007) tạo điều kiện cho chúng tôi so sánh đối chiếu
4 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào đối tượng và phạm vi đã xác định và để hoàn thành nhiệm
vụ nghiên cứu được rút ra ở cuối chương Tổng quan (theo quy định), luận án
sử dụng các phương pháp thông dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống v.v đến những phương pháp ở cấp độ
triết học, tức chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Về các phương pháp thông dụng như phương pháp so sánh sẽ thấy
được vận dụng nhiều trong luận án này như so sánh giữa ba nhóm Tri Tân,
Thanh Nghị, Hàn Thuyên; so sánh những nhóm nhỏ trong Hàn Thuyên như
nhóm Trotskit, nhóm Mác-xít (nhưng không theo Lênin), nhóm yêu nước nhưng dễ dao động; so sánh giữa hai người trong một nhóm nhỏ như giữa Trương Tửu với Lương Đức Thiệp v.v So sánh phải nêu chỗ giống nhau,
mà cũng vạch ra điểm khác nhau, tất nhiên tỉ lệ giữa hai mặt này tùy trường hợp cụ thể sẽ rất khác nhau từ cực tiểu đến cực đại, nghĩa là không ít thì nhiều hoặc ngược lại Nếu chỉ thấy một mặt giống nhau hoặc khác nhau thôi thì đó
không phải là so sánh, mà là đồng nhất hoặc đối lập
Về phương pháp ở cấp độ triết học, tất nhiên là triết học Mác-xít, Ănghen có lưu ý toàn bộ thế giới quan của Mác không phải là một học thuyết,
Trang 11mà là một phương pháp Cho nên vận dụng phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử vào đề tài này lại càng thích hợp, bởi vì phương pháp là tương ứng với đối tượng, mà đối tượng nghiên cứu chính ở đây là Lương Đức Thiệp, nhất là Trương Tửu đều tuyên bố theo chủ nghĩa Mác Như thế có thể lấy ngay chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để soi xét những phát ngôn cùng sự vận dụng của họ sẽ thấy họ có thành tâm học hỏi và có được sự hiểu biết tương đối sâu, chứ không hề hời hợt; đồng thời cũng có những biểu hiện ấu trĩ máy móc, phiến diện đối với chủ nghĩa Mác Thao tác khoa học này rất khách quan và công bằng, mà đương sự (Trương Tửu) vốn cũng đã tự thừa nhận Quan trọng hơn, nó có tác dụng đề kháng lại sự quy chụp phản Mác-xít, Mác-xít giả hiệu hoặc ngược lại hoàn toàn trước và sau
Đổi mới đối với Hàn Thuyên cùng các nhà lý luận phê bình văn học của nó
5 Những đóng góp mới của luận án
Lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn Thuyên là một đề tài rất khó
và phức tạp Trải qua quá trình rất cố gắng chăm chỉ học tập nghiên cứu ngay những ý tưởng cơ bản của Giáo sư hướng dẫn, ngoài việc bổ sung một số khía
cạnh về tính phức tạp có cả mặt tích cực của nhóm Hàn Thuyên và những
đóng góp không nhỏ của Trương Tửu trong mười năm đầu sau cách mạng v.v… chúng tôi tập trung chứng giải về mặt luận chứng, luận cứ v.v để làm sáng rõ vấn đề Trải qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy luận án có
những đóng góp tương đối mới mẻ như sau:
5.1 Làm sáng tỏ thêm tính phong phú phức tạp kể cả mặt tích cực của
nhóm Hàn Thuyên như: về nguồn gốc tài chính, về tôn chỉ, mục đích, về thái
độ đối với chế độ mới, về đóng góp trong thời kháng chiến chống Pháp, về cộng tác viên, về những ấn phẩm đã công bố Nhất là về thân thế sự nghiệp, cùng lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là về khuynh hướng rất khác nhau của các thành viên chủ chốt - nguyên nhân chủ yếu làm nên tính phức tạp thiên về mặt
tiêu cực của Hàn Thuyên
Trang 125.2 Tư tưởng văn học của Trương Tửu thời trước Cách mạng về cơ bản không theo chủ nghĩa Trotsky, càng không theo chủ nghĩa Lênin Tuy chân thành theo chủ nghĩa Mác nhưng có chiều hướng giản đơn, dung tục, đặc biệt
là có kết hợp với chủ nghĩa S.Freud, sự kết hợp này đã chi phối và điều chỉnh
sự vận dụng triết lý nghệ thuật của H.Taine mà ông đã sớm tiếp xúc từ thời đầu Ông không phản Mác-xít hoặc Mác-xít giả hiệu mà rất gần gũi với chủ nghĩa Mác phương Tây, cụ thể là chủ nghĩa Mác - phân tâm, với đặc trưng là không theo chủ nghĩa Lênin nhưng lại có xu hướng gắn kết với tư tưởng hiện
đại của Phương Tây
5.3 Cũng không theo chủ nghĩa Lênin và chủ nghĩa Trosky, nhưng Lương Đức Thiệp dần dần cố gắng học tập và vận dụng chủ nghĩa Mác, tuy
có chỗ máy móc dung tục ấu trĩ, nhưng ông có những nhận thức đúng đắn về
mối quan hệ giữa văn chương với xã hội, về đặc trưng của thể loại và lịch sử thơ ca Việt Nam
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Danh mục bài báo của tác
giả, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục về Danh mục ấn phẩm của Hàn
Thuyên xuất bản cục, luận án gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Khái quát về nhóm Hàn Thuyên
- Chương 3: Tư tưởng văn học chủ yếu của Trương Tửu
- Chương 4: Tiến trình lý luận phê bình văn học của Lương Đức Thiệp
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tổng quan tình hình nghiên cứu chủ yếu là điểm lại lịch sử vấn đề mà luận án đề cập đã có những ý kiến nhận xét, đánh giá như thế nào để làm cơ
sở cho việc nghiên cứu tiếp theo của bản thân Như thế ở đây chúng tôi trình bày chủ yếu ý kiến của các thế hệ trước về lý luận phê bình văn học của nhóm
Hàn Thuyên qua hai giai đoạn trước và sau Đổi mới, từ đây rút ra những vấn
đề cần phải tiếp tục giải quyết xoay quanh thực chất của nhóm Hàn Thuyên
cũng như của hai cây bút lý luận phê bình chủ chốt và duy nhất của nhóm là Trương Tửu và Lương Đức Thiệp
1.1 Giai đoạn trước thời kỳ Đổi mới 1986
1.1.1 Những ý kiến phủ nhận hoàn toàn
Trong thời kỳ Mặt trận Việt Minh, trong bài Mấy nguyên tắc lớn của
cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam lúc này (23/9/1944), đồng chí Trường
Chinh viết: “Nhóm Tân văn hoá Hàn Thuyên tự nhận là trọng khoa học,
nhưng đã phản duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tức là phản khoa học
Họ chẳng đem học thuyết duy vật tầm thường, duy vật máy móc thay cho học thuyết duy vật biện chứng đó sao?” ( ) “Đáng lẽ phải tập trung mọi lực lượng văn hoá Việt Nam thành một mặt trận văn hóa đặng chống lại văn hóa ngu dân, văn hóa thoái hóa và trung cổ của bọn phát xít, chống thủ đoạn xâm lấn nguy hiểm của văn hóa Nhật, thì họ lại chia rẽ mặt trận văn hóa của dân tộc ta
và bởi thế họ đã vô tình hay cố ý làm lợi cho lũ giặc nước” ( ) “Cái chiêu bài
“Tân văn hóa” của Hàn Thuyên, ở đó một số Trotskit đang hoành hành chẳng
đáng ngờ lắm sao?” [4, tr 145-146]
Năm 1945, trong bài Một con quỷ đội lốt Mác xít, khi phê phán cuốn Hai
Bà Trưng khởi nghĩa, đồng chí Trường Chinh (với bút danh Tân Trào) khẳng
định Nguyễn Tế Mỹ đã “vin lấy học thuyết duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Trang 14của Mác để biện hộ cho chính sách xâm lược của bọn phong kiến nhà Đông
Hán” [5] Như thế là khẳng định nhóm Hàn Thuyên xuyên tạc chủ nghĩa Mác,
chia rẽ mặt trận văn hóa dân tộc, phạm phải sai lầm của chủ nghĩa Trosky
Khi bắt đầu cuộc đấu tranh chống Nhân văn Giai phẩm, thì trong bài
Thực chất tư tưởng của Trương Tửu (tạp chí Văn nghệ số 4/1958) Hoài
Thanh phê phán Trương Tửu, tất nhiên có chỗ đúng như không tuân thủ những nguyên lý của Lênin về văn học nghệ thuật, nhưng thái độ rất gay gắt, góp phần mở đầu cho một cuộc đấu tranh tư tưởng lớn thời ấy đang sắp sửa!
Về sau, Vũ Đức Phúc trong Bàn về cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn
học Việt Nam hiện đại 1930 - 1945 (1971) ít nhiều có lặp lại luận điểm của
đồng chí Trường Chinh Vũ Đức Phúc cho rằng: “âm mưu thâm độc hơn cả
của đế quốc Pháp là triệt để lợi dụng bọn Trotskit Hàn Thuyên để cho bọn
Trotskit Nguyễn Đức Quỳnh, Trương Tửu, Nguyễn Tế Mỹ, Lương Đức Thiệp công khai nói về một thứ chủ nghĩa Mác giả hiệu” Ông khẳng định:
“Bọn Trotskit này chỉ lợi dụng một số khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử để lòe bịp, nhưng thế giới quan của chúng không có gì
là Mác-xít cả, chúng nêu ra chiêu bài đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng chúng không phân biệt được các giai cấp và cũng chẳng hiểu chủ nghĩa xã hội là gì Chúng công kích bạt mạng chế độ phong kiến, nhưng cũng không hiểu phong kiến là gì cả Chúng tiếp thu nhiều mảnh triết lí mục nát của học giả tư sản Châu Âu như triết lí của Frơt (S.Freud) Chúng ăn cắp tài liệu trong các bộ lịch sử thế giới của những người viết sử tư sản Châu Âu để viết lịch sử thế giới Chúng lắp nguyên xi năm chế độ nối tiếp nhau trong lịch sử tiến hóa nhân loại vào bất cứ lịch sử nước nào, năm chế độ mà chúng cũng chẳng hiểu được Bọn Trotskit phục vụ cho đế quốc về nhiều mặt , làm cho trí thức hoài nghi chủ nghĩa Mác” [87, tr 122-124]
Trang 15Khẳng định hoạt động về văn học của bọn Trotskit hồi này rất phù hợp với sự phá phách về chính trị của chúng, Vũ Đức Phúc lại phủ nhận hoàn toàn
cuốn Nghệ thuật thi ca của Lương Đức Thiệp: “Bọn Trotskit chống đường lối
văn học cách mạng với nhiều màu sắc khác nhau Lương Đức Thiệp trong cuốn
Nghệ thuật thi ca phủ nhận toàn bộ văn học quá khứ, cho rằng mỗi một thời có
một nền văn học phù hợp với thời đó, sau đó lại phải nhường chỗ cho một nền văn học khác Y đòi hỏi phải xây dựng một nền thơ ca của “vô sản” và chỉ
của vô sản thôi” [87] Nhìn chung, các ý kiến đánh giá về nhóm Hàn Thuyên của Vũ Đức Phúc đều lên án nhóm Hàn Thuyên đã “đề cao tự do tư sản trong
văn nghệ, chống lại sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ” [87, tr 160], “núp dưới nhãn hiệu chủ nghĩa Mác để phá hoại chủ nghĩa Mác” [87, tr 140]
Trong Văn học lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945 (1989) Phan Cự Đệ cho rằng: “Nhóm Trotskit Hàn Thuyên đứng ra tự nhận là những nhà nghiên
cứu Mác-xít để dễ bề xuyên tạc chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử”, “giả danh Mác-xít”, “đem thuyết duy vật tầm thường, duy vật máy móc thay cho thuyết duy vật biện chứng”, và vì vậy “gây tác hại nghiêm trọng là kẻ thù nguy hiểm của phong trào cách mạng vô sản và các phong trào giải phóng dân tộc” [17, tr 14-65] Đây là cách đánh giá chính
thống theo Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhóm Hàn Thuyên trong thời kỳ
trước Đổi mới
Tuy chưa phải với lập trường tư tưởng đó, chỉ xuất phát từ lòng yêu
nước và truyền thống dân tộc, cụ Nguyễn Văn Tố trong Phê bình cuốn
“Nguồn gốc văn minh” của Nguyễn Bách Khoa (Tri tân số 109/1943); Phê bình cuốn “Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ” của Nguyễn Bách Khoa
(Tri tân số 151/1944); Phê bình cuốn “Văn minh sử” của Nguyễn Bách Khoa (Tri tân 156/1944); Phê bình cuốn “Hai Bà Trưng khởi nghĩa” của Nguyễn
Tế Mỹ (Tri Tân số 158/1944), đều phê phán các tác giả trên đã xuyên tạc lịch
Trang 16sử, hạ thấp truyền thống dân tộc Riêng về cuốn Xã hội Việt Nam của Lương
Đức Thiệp, cụ Nguyễn Văn Tố khẳng định tác giả đã “nhầm lẫn nhiều lắm”,
“hay gắn tục nước người làm tục nước mình”, “chép chuyện đã không đúng,
ý nghĩ lại thiên lệch”, nội dung cuốn sách thì “tệ hại”, “bậy bạ hết sức”
“Quyển sách ấy chẳng những không ích gì mà còn hại thêm vì nói xấu người đời xưa, nói phạm đến người anh hùng, hào kiệt, dẫn chữ Tầu, chữ Tây đều sai cả” [129, tr 72-74]
1.1.2 Những ý kiến tuy phê phán, nhưng có phần khẳng định
Tất nhiên cũng có thái độ mềm mỏng hơn, có gạn đục khơi trong Năm
1943, Chu Thiên, khi phê bình cuốn Việt Nam thi ca luận của Lương Đức
Thiệp, cho rằng: “Ông Lương Đức Thiệp đã khéo đưa ta nhận thấy rõ ràng: Nguồn gốc của thơ ca Việt Nam, thơ Việt Nam hiện đại, tính cách thơ Việt Nam xưa và chủ trương của ông về thơ ca Ở phần nào ông cũng viết rành rẽ, tuy có phần sơ lược nhưng vẫn đủ cho người xem nhận thấy, vì ông đã dựa
theo một quan điểm vững vàng: lấy thực tế làm nền tảng, lấy tình cảm làm
mẫu mực Ông lại chịu khó nhận xét các nhà thơ hiện giờ qua các tác phẩm
của họ, rồi ông chia ra từng phái để đánh giá họ trên thi đàn Về điểm này, tôi thấy ông ngay thẳng và công bình hơn phần nhiều nhà phê bình khác vì cảm tình mà quá khen hoặc quá chê các nhà thơ đương thời” [110]
Chu Thiên rất đề cao chủ trương thơ ca của Lương Đức Thiệp, coi đó là chỗ “công dụng nhất”, “là một lời nói tâm can của kẻ yêu thơ, đã đứng được
ra ngoài trào lưu mà nhận xét” Vì vậy “quyển sách mỏng này cũng có thể mang lại cho các bạn ít nhiều thỏa mãn” [110] Đặc biệt về tiểu thuyết của Trương Tửu, các nhà phê bình nổi tiếng đương thời đều đánh giá khá tích cực,
liệt chúng vào loại tiểu thuyết xã hội Kiều Thanh Quế trong Ba mươi năm
Văn học (1942) với bút hiệu Mộc Khuê, đã viết: “Cùng một chủ trương… về
xã hội tiểu thuyết, Trương Tửu viết Thanh niên S.O.S, Trái tim nổi loạn, Một
Trang 17chiến sĩ, Một cổ đôi ba tròng” [88, tr 52] Cùng năm này, trong Nhà văn Việt Nam hiện đại, Vũ Ngọc Phan cũng viết: “Trương Tửu chứng tỏ cho người ta
thấy ông là một nhà tiểu thuyết xã hội Ngay trong tập ái tình tiểu thuyết Trái
tim nổi loạn, ông cũng có cái ý phân giai cấp mỗi khi nói đến sự giàu nghèo
của Thúy và Thông, còn gần như hầu hết các tiểu thuyết khác của ông đều
bênh vực giàu nghèo rõ rệt” [82, tr 1123] Còn về các công trình Nguyễn Du
và Truyện Kiều, thì Đinh Gia Trinh, trong cuốn Hoài vọng của lý trí, đã phê
bình cái gọi là phê bình khoa học của Trương Tửu như sau: “Tại sao tác giả lại tự quả quyết với độc giả rằng phương pháp phê bình đó là phương pháp khoa học? Điều đó rất dễ hiểu: Tác giả đem khoa học, hay nói đúng hơn là đem mấy lý thuyết khoa học mà tác giả tin yêu áp dụng vào sự khảo xét các hiện tượng văn chương Nhưng đem thuyết khoa học áp dụng vào sự khảo xét văn chương, với dùng phương pháp khoa học để khảo xét văn chương, hai điều đó khác nhau nhiều lắm” [130, tr 331]
Cũng cần nói đến một số ý kiến của các học giả Miền Nam trước ngày đất nước thống nhất Họ có nhắc đến thái độ của Trương Tửu đối với chủ nghĩa Mác và cho rằng chưa chắc đó là Mác-xít chính cống mà Trương Tửu một mực trung thành từ lập trường chính trị Nhưng tất cả đều khen tài năng
và bản lĩnh của Trương Tửu Trong mắt của người bạn thân Nguyễn Vỹ, Trương Tửu đã là huyền thoại ngay khi ông còn rất trẻ: “Với rất ít, anh xây dựng rất nhiều Với một chấm nhỏ nảy ra từ hình thức của sự vật, anh kéo một đường thẳng đến tư tưởng vô cực Anh là nhà toán học chống giáo lý đi tìm một bài toán cho nhân sinh, với những công thức do anh tự chế biến ra, không theo công thức điển hình nào cả Và không bao giờ anh đúng, ít khi anh nói phải nhưng luôn luôn anh có lý ( ) Trương Tửu không phải là một hiện tượng Nhưng anh là một trí óc thông minh đặc biệt Với anh, sai lầm chống chân lý và luôn luôn sai lầm thắng chân lý ( ) Anh luôn tự mâu thuẫn với
Trang 18anh một cách hợp lý” [143, tr 1068] Quan trọng hơn, Nguyễn Vỹ đã có nhận xét về đặc điểm tư duy và nhân cách của Trương Tửu:
“Trương Tửu thuộc về loại nhà văn tự học, nhờ đọc sách nhiều
Có lẽ một phần nhờ trường Bách Nghệ huấn luyện, lại sẵn thiên tài văn nghệ nên lý luận của anh rất đanh thép, câu văn của anh như búa, như kềm Lời nói anh vang ra như tiếng đập sắt trên đe Lúc nào cũng nảy lửa, nghe chát cả tai Tửu vẫn say mê triết lý, chăm chỉ nghiên cứu các học thuyết Hy Lạp, La Mã và Pháp Từ học thuyết này qua học thuyết khác Tửu rơi vào triết lý Mác-xít, nhưng không thiên hẳn
về chủ nghĩa quốc tế nào, vì nguyên tắc của Tửu là chống giáo lý Tửu không phải là người trung kiên với một điều tín Đúng hơn, anh là người tự do tư tưởng, trước hết là một người hùng biện, hoàn toàn độc lập” [143, tr.1069]
Nhà phê bình Thanh Lãng cũng có nói đến ảnh hưởng của lối phê bình Trương Tửu vào nhà trường: “Mấy cuốn sách phê bình của Nguyễn Bách Khoa, nhất là từ sau năm 1947 trở đi, đã hầu biến thành sách gối đầu giường cho thế hệ trẻ Ở nhà trường, từ giáo sư cho đến học sinh, tất cả đều phê bình theo Nguyễn Bách Khoa Một phong trào rộng lớn lan tràn Cả những em bé
đệ ngũ, đệ tứ, mỗi khi phải cắt nghĩa một đoạn văn, phê bình một nhà văn đều chẳng cần đọc văn của nhà văn mà chỉ cần nhớ thuộc lòng một ít chứng luận dựa vào một mớ những cái mà họ gọi là điều kiện xã hội, kinh tế, huyết thống, đẳng cấp, thời đại…” [51; tr 395]
Giáo sư Nguyễn Văn Trung cũng cho rằng: “Nguyễn Bách Khoa là người đầu tiên và độc nhất đã đưa ra một quan niệm phê bình rõ rệt và áp dụng nó một cách có hệ thống, với một lối văn lôi cuốn Chưa xét quan niệm phê bình Mác-xít đúng hay không đúng, chỉ xét về phương diện chủ thuyết và viết thành hệ thống hẳn hoi thì phải thừa nhận là Nguyễn Bách Khoa thành công hơn tất cả những nhà phê bình trước ông và hiện nay” [133]
Trang 19Có thể thấy, ngay trước thời kỳ đổi mới, trong phạm vi cả nước cũng có
xu hướng với những cách đánh giá khác nhau về Trương Tửu và Lương Đức Thiệp, tuy cũng có phê phán khuyết nhược điểm, nhưng không quá nặng về lập trường quan điểm, đồng thời lại có khẳng định những ưu điểm, những đóng góp của họ
1.2 Giai đoạn sau Đổi mới 1986
1.2.1 Những ý kiến đánh giá lại theo chiều hướng dần dần khẳng định về cơ bản
Nói hai giai đoạn, nhưng không nên hiểu một cách quá rạch ròi máy móc Như đã thấy, nếu ở giai đoạn trước vẫn có những cách đánh giá cũng rất nghiêm túc, nhưng không có sự quy chụp nặng nề, thì giai đoạn sau vẫn xuất hiện những cách nhìn như cũ Giáo sư Phan Cự Đệ không phải là không có những sự đổi mới ở một số công trình nghiên cứu văn học, nhưng trong cuốn
Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1989) ông vẫn giữ những cách nhìn hơi cực
đoan một chiều về Hàn Thuyên, nhất là về Trương Tửu Tất nhiên, nói thế để
thấy cho hết những ngóc ngách trong chuyện đời, nhất là chuyện văn Song đứng trước xu thế Đổi mới tất yếu thì không thể đảo ngược được Điều này có
thể thấy qua một bức tranh thu gọn là bộ Từ điển văn học trước và sau, lần
đầu tiên xuất bản vào năm 1983
Ở bộ Từ điển văn học trước, về mục từ Nhóm Hàn Thuyên, do Phó giáo
sư Nguyễn Hoành Khung viết đã thể hiện theo quan điểm chính thống lúc bấy giờ, cho rằng nhóm tri thức xu hướng tơ-rốt-xkit, tập hợp xung quanh nhà
xuất bản Hàn Thuyên, hoạt động ráo riết trên văn đàn Việt Nam từ 1941
Trong tình hình đen tối ngột ngạt của những năm Đại chiến II, lợi dụng uy tín của chủ nghĩa Mác và Đảng cộng sản Đông Dương lên cao trong thời kỳ mặt trận dân chủ, lợi dụng sự khao khát học hỏi, nghiên cứu của một số đông công chúng đang mò mẫm đi tìm một triết lý mới về nhân sinh, có lợi ích thiết thực
Trang 20cho cuộc sống của quốc dân Việt Nam, họ thành lập nhóm Tân văn hóa, mở
Hàn Thuyên xuất bản cục, ra tạp chí Văn mới Hầu hết những cây bút chủ chốt
của nhóm là tơ-rôt-xkit, như: Nguyễn Đức Quỳnh, Trương Tửu, Lương Đức Thiệp, Nguyễn Tế Mỹ, Lê Văn Siêu Chương trình hoạt động của họ khá to tát, tổ chức khá quy mô, chứng tỏ có tham vọng và âm mưu rõ rệt Một mặt,
họ biên soạn vội vã hàng loạt sách báo biên khảo có tính cách phổ thông về triết học, kinh tế học, lịch sử loài người Mặt khác tuyên bố áp dụng “biện chứng pháp duy vật” và “duy vật sử quan”, đề cập tới nhiều vấn đề về lịch sử
và văn học sử Việt Nam Họ còn đề xướng việc xây dựng nền “Tân văn hóa” Việt Nam và tuyên bố sẽ kiến thiết được một hệ thống văn hóa mới để làm kim chỉ nam cho sự hoạt động tiến thủ Nhưng thứ “biện chứng pháp duy vật”
và “duy vật sử quan” mà họ quảng cáo chỉ là thứ duy vật máy móc, tầm
thường Như cuốn Hai Bà Trưng khởi nghĩa (1944), Nguyễn Tế Mỹ đã chứng
minh rằng xã hội Việt Nam thời kỳ Hai Bà là thuộc chế độ nô lệ, còn xã hội Trung Quốc thời nhà Hán là thuộc chế độ phong kiến tập quyền; vậy thì,
chống lại “tiến bộ”, là “phản lại tiến hóa của lịch sử” Trong Nguyễn Du và
Truyện Kiều (1943), Nguyễn Bách Khoa đã “bắt mạch”, chẩn bệnh nhân vật
Thúy Kiều như một thầy thuốc, để đi đến kết luận: “Thúy Kiều là một “cô gái đến thời kỳ xuân tình phát động”, mà do điều kiện nên “tính dâm đãng không thể thực hiện được”! Từ cách “phân tích khoa học” dung tục đó, Nguyễn
Bách Khoa đã mạt sát Nguyễn Du và Truyện Kiều bằng những lời lẽ liều lĩnh
Nguyễn Hoành Khung kết luận:
“Giữa lúc phong trào cách mạng giải phóng dân tộc dưới lá cờ
của Đảng cộng sản đang dâng cao, những người cầm đầu nhóm Hàn
Thuyên lại lợi dụng uy tín của chủ nghĩa Mác, đưa ra thứ “Mác-xít giả
hiệu” để xuyên tạc chủ nghĩa Mác, bóp méo, bôi nhọ lịch sử và di sản văn hóa dân tộc, thực hiện âm mưu khiêu khích, chia rẽ hàng ngũ văn
Trang 21hóa dân tộc, chống lại cách mạng Sau này, những người chủ chốt
của nhóm Hàn Thuyên đã lộ nguyên hình là những phần tử phản cách
mạng: Nguyễn Tế Mỹ, Lương Đức Thiệp đã hoạt động chống lại Cách mạng tháng Tám; Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu đã hết theo Pháp, lại theo Mỹ - Ngụy, viết sách báo chống cộng; Trương Tửu là một
trong những kẻ cầm đầu tập đoàn Nhân văn - Giai phẩm chống lại chủ
nghĩa xã hội” [33, tr 121]
Nhưng hơn hai mươi năm sau trong Từ điển văn học (bộ mới 2004),
Nguyễn Vinh Phúc đã có những thái độ khác hẳn Ông nói đến nhóm trí thức
tập hợp xung quanh Nhà xuất bản Hàn Thuyên, hoạt động trên văn đàn Việt
Nam từ năm 1941 Với danh nghĩa là những người theo phương pháp xít, họ tuyên bố: “Đi tìm một triết lý mới về nhân sinh, có ích lợi thiết thực cho cuộc sống của quốc dân Việt Nam” Những người chủ chốt là Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu), Nguyễn Đức Quỳnh (Thiên Hạ Sĩ), Lương Đức Thiệp, Lê Văn Siêu, Nguyễn Tế Mỹ Họ đề xướng xây dựng nền “Tân văn hóa” Việt Nam, mong “sẽ kiến thiết được một hệ thống văn hóa mới để làm
Mác-kim chỉ nam cho sự hoạt động tiến thủ” Nhà xuất bản Hàn Thuyên do
Nguyễn Xuân Tái làm Giám đốc, Nguyễn Bách Khoa làm Giám đốc văn chương (tương tự Tổng biên tập), đặt trụ sở tại 53, 71 phố Tiêntsin, nay là phố Hàng Gà - Hà Nội Toàn bộ kinh phí đều do một mình cụ Nguyễn Xuân Giới, một nhà tư sản yêu nước, thân phụ Nguyễn Xuân Tái cũng là bố vợ Nguyễn Bách Khoa, đảm nhiệm Đến giữa năm 1942, để đối phó với luật lệ xuất bản của chính quyền thực dân là sách thì phải đưa kiểm duyệt trước khi in, còn
báo, tạp chí lại được in xong mới phải trình kiểm duyệt, Hàn Thuyên bèn chuyển tất cả ấn phẩm của mình thành các số tạp chí, lấy tên là Văn mới với phụ đề “Tạp chí phổ thông giáo dục” Chủ nhiệm tạp chí là Nguyễn Xuân
Lương rồi Phạm Ngọc Khuê Chủ bút là Nguyễn Đức Quỳnh… Từ sau tháng
Trang 22Tám 1945 bắt đầu bỏ việc đánh số nhưng các ấn phẩm vẫn mang tên tuần báo
Văn mới do Trương Tửu làm chủ nhiệm Đến ngày toàn quốc kháng chiến, Hàn Thuyên ngừng hoạt động và nhà in được chuyển ra vùng kháng chiến
hiến cho chính quyền Cách mạng và toàn thể anh em nhà Nguyễn Xuân Tái
đều tham gia công cuộc cứu nước Trong khoảng sáu năm, Nhà xuất bản Hàn
Thuyên đã ấn hành gần trăm đầu sách thuộc nhiều thể loại
Về sáng tác văn học có các tiểu thuyết: Một kiếp đọa đày của Trương Tửu; Một chuỗi cười của Đồ Phồn (Bùi Huy Phồn); Chiếc lư đồng mắt cua của Nguyễn Tuân; bộ ba Thằng cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình của Nguyễn Đức Quỳnh; Bút nghiên của Chu Thiên; Ngoại ô và ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp; có hai vở kịch Kinh Kha và Ông ký cóp của Vi Huyền Đắc Về kinh tế còn có Thanh niên và thực nghiệp, Luân lý thực nghiệp và
hợp lý hóa của Lê Văn Siêu; Kinh tế học phổ thông của Nguyễn Hải Âu; Tương lai kinh tế Việt Nam của Nguyễn Huệ Minh Về rèn luyện sinh lực và
trí tuệ có Một sức khỏe mới, Nghị lực, Óc khoa học, Cải tạo sinh lực đều của Phạm Ngọc Khuê Về nghiên cứu lịch sử có Lê Thánh Tông của Chu Thiên;
Lý Thường Kiệt và Hai Bà Trưng khởi nghĩa của Nguyễn Tế Mỹ; ba bộ lịch
sử thế giới Nhân loại tiến hóa sử, Nguồn gốc văn minh, Văn minh sử của Nguyễn Bách Khoa và Gốc tích loài người, Đời sống thái cổ, Ai cập cổ sử, v.v của Nguyễn Đức Quỳnh Lại có cả sách trinh thám như Lưỡi dao găm,
Mối thù truyền nghiệp của Bùi Huy Phồn; các sách truyện dã sử cho thiếu
nhi của Thiên Hạ Sĩ v.v… Nhưng mảng sách được nhiều người chú ý là các
công trình về lý luận và nghiên cứu văn học in rải rác hằng năm: Kinh thi
Việt Nam (1940) của Trương Tửu; Việt Nam cổ văn học sử (1942) của
Nguyễn Đổng Chi; Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1943); Nguyễn
Du và Truyện Kiều (1943) của Nguyễn Bách Khoa; Văn học khái luận
(1944) của Đặng Thai Mai; Nghệ thuật thi ca của Lương Đức Thiệp; v.v
Trang 23Cuối cùng Nguyễn Vinh Phúc có đánh giá chung về ưu, khuyết điểm của
Hàn Thuyên như sau:
“Một số sách cho tới nay vẫn giữ được giá trị, như các bộ tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Tuân, Chu Thiên, Nguyễn Đình Lạp, các bộ sách về lịch sử của Chu Thiên, về văn học sử
và nghiên cứu văn học của Nguyễn Đổng Chi, Trương Tửu (với Kinh
thi Việt Nam), về lý luận văn học của Đặng Thai Mai, về rèn luyện tinh
thần và sức khoẻ của Phạm Ngọc Khuê Những người có sách in ở
Nhà xuất bản Hàn Thuyên có thiên hướng nghệ thuật và quan điểm tư
tưởng không giống nhau Không phải người nào cũng nằm trong nhóm
Hàn Thuyên, có người hợp tác nhưng không có chủ kiến rõ rệt như Đồ
Phồn, Nguyễn Đình Lạp, Phạm Ngọc Khuê, sau này đều tham gia Cách mạng Có người chỉ gửi sách đến in mà không hề có liên lạc gì với nhóm như Nguyễn Đổng Chi, Đặng Thai Mai Có thể tìm thấy một đặc điểm ít nhiều giống nhau là tác giả thường có thiên hướng nhìn văn hoá, văn học dưới góc độ triết học và tự cho rằng mình luôn tuân theo phép duy vật lịch sử Nhưng do chỗ vận dụng ít nhiều máy móc, nên không tránh khỏi có những nhận định chưa nhuần nhuyễn, thậm chí sai
lầm Như Nguyễn Tế Mỹ trong cuốn sách Hai Bà Trưng khởi nghĩa đã
coi thất bại của Hai Bà Trưng là tất yếu vì chế độ mẫu hệ mà Hai bà là đại diện phải lùi bước trước chế độ phụ hệ của nhà Hán Hoặc như đánh giá Mã Viện (14 TCN - 49 SCN): “Xét lẽ tiến hoá lịch sử của toàn thể
xã hội Việt Nam lúc đó thì Mã Viện không phải là không có công lớn đối với sự thành lập nền tảng thống nhất quốc gia” Người viết đã bỏ quên một lý lẽ còn quan thiết hơn nhiều đến tiến hoá sử của xã hội Việt
Nam là chủ nghĩa yêu nước Trong nghiên cứu Truyện Kiều, Nguyễn
Bách Khoa cũng đã quy cho nhân vật Thuý Kiều mắc bệnh uỷ hoàng
Trang 24hoặc đã kết luận về Truyện Kiều: “Đó là một sinh hoạt cằn cỗi và xáo
loạn, một tư tưởng hèn nhát và uỷ mị, một tâm lý tuỳ thời và ích kỷ
Truyện Kiều là kết tinh của ba yếu tố suy đồi đó” Chính bản thân tác
giả sau hơn mười năm nghiên cứu và giảng dạy về Truyện Kiều ở các
trường Đại học trong kháng chiến và sau hoà bình, cũng nhận ra những
sai lầm “ấu trĩ” của mình (trong Lời nói đầu cuốn Truyện Kiều và thời
đại Nguyễn Du” Dầu sao, nhìn tổng quát thì nhà Hàn Thuyên với sáu
năm hoạt động và gần trăm đầu sách cũng đã cung cấp cho người đọc đương thời không ít những hiểu biết bổ ích [35, tr 1269-1270]
Trong Từ điển bộ mới này, liên quan với lý luận phê bình của nhóm
Hàn Thuyên còn có thêm 2 mục từ riêng về Trương Tửu và Lương Đức Thiệp
Về mục từ Lương Đức Thiệp do Nguyễn Q Thắng viết, không có quy kết
nặng nề mà có ghi nhận việc đóng góp, nhưng chỉ thiên về đánh giá công
trình về xã hội và lịch sử như Xã hội Việt Nam (1943) v.v chứ không phải là những công trình lý luận phê bình văn học Nhưng riêng về Việt Nam thi ca
luận, thì có viết: “Việt Nam thi ca luận là một khảo luận văn chương, hay
chính xác hơn là một chuyên đề thi ca Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Tác giả chưa chỉ ra được tiến trình biện chứng của thi ca dân tộc Nhưng tập sách cũng cố gắng làm nổi rõ tính dân tộc trong văn học” [35, tr 895]
Mục từ Trương Tửu do Văn Tâm viết theo tinh thần chung công bằng
và khách quan của mục từ Hàn Thuyên vừa nói trên: Trương Tửu (18.X.1913
- 16.XI.1999) còn có các bút danh: Nguyễn Bách Khoa, Mai Viên, T.T Nguyên quán tại Hà Nội; học hết năm thứ nhất bậc trung học, rồi học trường
Kỹ nghệ thực hành (Hải Phòng) một năm rưỡi Năm 1930, ông bị đuổi vì tham gia cuộc vận động đòi lãnh đạo nhà trường phải cho học sinh tiếp tục học môn lý thuyết Nhưng sau đó tự học đến chương trình Tú tài Bài viết đầu
tay là Triết lý Truyện Kiều (ký T.T.); Đông Tây thời báo (1931), rồi tiếp tục
Trang 25viết trên các báo, tạp chí, tập sách: Loa, Ích hữu, Tiếng trẻ, Hà Nội báo, Tân
thiếu niên, Thời thế, Quốc gia, Văn mới, Mùa gặt mới…; xuất bản tiểu thuyết,
truyện ngắn: Thanh niên S.O.S (1937), Một chiến sĩ (1938), Khi chiếc yếm
rơi (1939), Khi người ta đói (1940), Một cổ đôi ba tròng (1940), Trái tim nổi loạn (1940), Đục nước béo cò (1940), Một kiếp đọa đầy (1941), Tráng sĩ bồ
đề (1943), Năm chàng hiệp sĩ (1944)… Các tác phẩm nghiên cứu văn học, sử
học: Những thí nghiệm của ngòi bút tôi (1938), Uống rượu với Tản Đà (1938), Kinh thi Việt Nam, (1940), Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Nhân
loại tiến hóa sử (1943), Nguồn gốc văn minh (1943), Văn minh sử (1943), Nguyễn Công Trứ (1944), Văn chương Truyện Kiều (1944), Tương lai văn nghệ Việt Nam Từ 1941 - 1946, ông làm Giám đốc văn chương (tương tự
Tổng biên tập) nhà xuất bản Hàn Thuyên Thời kháng chiến chống Pháp, ông
chủ yếu sống ở Thanh Hóa, đảm trách các công việc Ủy viên Hội Văn hóa Việt Nam, chi hội phó Chi hội Văn hóa Thanh Hóa, tham gia Bí thư Liên đoàn Văn nghệ kháng chiến Liên khu 4; dạy trường Thiếu sinh quân, 3 khóa Văn hóa kháng chiến; từ 1952: dạy trường Dự bị Đại học và cho công bố:
Đại quan về 40 năm văn học Việt Nam hiện đại 1905 - 1945 (in thạch bản,
1948); Phương pháp phê bình văn học (in thạch bản, 1948); Văn nghệ bình
dân Việt Nam (1952) Sau 1954, ông dạy trường Đại học Sư phạm và Đại học
Văn khoa Hà Nội (phụ trách Tổ Văn học Việt Nam) Năm 1957 ông được phong Giáo sư cùng đợt với Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu,
Nguyễn Mạnh Tường ; xuất bản Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956),
Chỉnh huấn là gì? (1956), Chống văn hóa nô dịch của Mỹ ngụy (1956), Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam (1958) Đầu năm 1958, ông bị buộc thôi công
tác vì liên quan đến vụ Nhân văn Giai phẩm, sau đó nghiên cứu y học và sống bằng nghề Đông y Năm 1999, ông mất tại Hà Nội Từ đó, Văn Tâm đã đi đến những tổng kết về tác phẩm của Trương Tửu:
Trang 26“Về phương diện sáng tác, xu hướng quan tâm và thái độ bênh vực người nghèo thể hiện rõ trong khá nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn của Trương Tửu Ông cũng cố gắng xây dựng những nhân vật tích cực kiểu mới, nhưng còn sơ lược và nạn nhân xã hội trong tác phẩm của ông thường gặp nhiều cảnh ngộ đặc biệt bi đát một cách thiếu tự nhiên Do đó sáng tác của ông thiếu sức truyền cảm cần thiết Về phương diện nghiên cứu, Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa là một trong những cây bút ở Việt Nam sớm vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng Phương pháp khoa học này khiến ông khá thành công ở một số sách biên khảo sử học, nhất là trong tác phẩm nghiên cứu văn học dân
gian chứa đựng không ít tổng kết chính xác có ích lâu dài: Kinh thi Việt
Nam Nhưng do vận dụng phương pháp nghiên cứu chưa thật nhuần
nhị, nên bên cạnh những đóng góp, tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều,
Văn chương Truyện Kiều, Nguyễn Công Trứ đã đi đến một số nhận
định thiếu tính khoa học về nàng Kiều, Truyện Kiều, Nguyễn Du và
Nguyễn Công Trứ Nhưng hơn 10 năm sau, chính ông đã tự phê trong
phần “Lời nói đầu” cuốn Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (Nxb Xây
dựng, Hà Nội, 1956) Mặc dù còn điểm này điểm khác cần cân nhắc, nói chung, trước tác phê bình lý luận, lịch sử văn học của Trương Tửu viết sau Cách mạng tháng Tám có những đóng góp đáng kể cho khoa học xã hội và nhân văn” [35, tr 1865]
Có thể thấy, nói sau thời kỳ đổi mới, nhưng cũng phải gần hơn 20 năm,
mới có những thay đổi chính thức ghi dấu trong Từ điển về cách đánh giá Hàn
Thuyên nói chung, về Trương Tửu và Lương Đức Thiệp nói riêng Nhưng
đúng là từ đây sự thay đổi ấy ngày càng dồn dập, biểu hiện trước tiên là sự sưu tầm, tái bản Kể ra, đã có một số công trình của Trương Tửu cũng đã xuất hiện ngay sau thời kỳ đổi mới vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước như
Trang 27Tuyển tập phê bình nghiên cứu văn học Việt nam 1930 - 1945 (Nxb Văn học,
1997) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên Trên cơ sở đó cũng đã có chuyên luận
Lý luận phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX - 1945 (Nxb Khoa học
xã hội, 2005) cũng do PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên, trong đó có mục viết về Trương Tửu Phải nói về mặt này các nhà nghiên cứu ở Viện Văn học đóng vai trò chủ công Lần lượt sánh bước người đi trước, PGS.TS Trịnh Bá
Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu Nguyễn Bách Khoa - Khoa học văn chương (Nxb Văn hóa thông tin, H 2003) Trong Phê bình khoa học của Nguyễn
Bách Khoa, thay cho lời tựa, Trịnh Bá Đĩnh cho rằng: “Người nổi bật nhất
trong số những nhà phê bình vận dụng các lý thuyết phương Tây để phê bình văn học ở giai đoạn trước 1945 là Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu) Mỗi cuốn sách chuyên khảo của ông là sự vận dụng một (hay một vài) lý thuyết
phê bình phương Tây để phân tích văn học dân tộc: Nguyễn Du và Truyện
Kiều dùng phân tâm học của S.Freud và phê bình văn hóa - lịch sử của
H.Taine, Kinh thi Việt Nam được ông phân tích theo quan điểm tâm lí cộng đồng, Tâm lí tư tưởng Nguyễn Công Trứ theo quan điểm Mác xít và H.Taine”
Ông viết tiếp:
“Nguyễn Bách Khoa đọc rất nhiều các nhà khoa học phương Tây và thử nghiệm nhiều lý thuyết khoa học vào việc phê bình Đôi lúc số lượng các trích dẫn “kinh điển” có vẻ như quá mức Trong số các lý thuyết đó thì ba lý thuyết sau đây để lại dấu ấn đậm nét hơn cả trong các công trình tiêu biểu của ông: lý thuyết chủng tộc - địa lý của Taine, thuyết tâm phân học S.Freud và học thuyết của Mác về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội Học
thuyết Mác được vận dụng triệt để trong Tâm lí và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1943), hai lý thuyết trên chủ yếu được vận dụng trong công trình Nguyễn Du
và Truyện Kiều mà ta đang xem xét Lý giải theo S.Freud, Nguyễn Bách Khoa
cho rằng sinh lực lòng ham và khí phách cá nhân của Nguyễn Du do di truyền
Trang 28huyết thống và địa phương tính tạo nên, bị dồn ép vào tiềm thức bởi sức ép ý thức hệ nho giáo của đẳng cấp nho sĩ mà ông là một thành viên Giữa ý thức
hệ và tiềm thức luôn có sự xung đột nhau và làm nên “tấn bi kịch của tâm hồn” cũng tức là tâm sự sâu thẳm của Nguyễn Du Phân tâm học của S.Freud
là một thành tựu vĩ đại của khoa học thế kỷ XX, có ý nghĩa và lợi ích về nhiều mặt Từ đó đã nảy sinh nhiều bộ môn mới trong đó có phê bình nghệ thuật theo phân tâm học Nếu sau này chúng ta có ngành phê bình phân tâm học văn học thì các tác phẩm của Nguyễn Bách Khoa phải được xem là những viên gạch đầu tiên Tất nhiên cái khởi đầu bao giờ cũng dễ rơi vào sự đơn giản, máy móc, cực đoan; những thiếu sót, sai lầm, bất cập lắm khi lớn hơn sự đầy đủ, đúng đắn và sự khả thủ gấp nhiều lần Đôi lúc ý nghĩa duy nhất của
nó chỉ là sự mở đường Phê bình của Nguyễn Bách Khoa cũng không ra ngoài thông lệ ấy” [46, tr 10-11]
Tiếp theo là Trương Tửu - Tuyển tập nghiên cứu phê bình (Nxb Lao
động, H 2007) do PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn và PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh sưu
tầm và biên soạn Trong bài Phê bình văn học - Trường hợp Trương Tửu, hai
soạn giả nhận định rằng:
“Nhìn vào danh sách những người được đề nghị tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật lần này, bỗng thấy tiếc cho Trương Tửu Nếu ông không buông bút sớm sau cái vụ án văn nghệ mà các nhà viết lịch sử phê bình văn học rồi sẽ còn phải lật đi lật lại ấy, và nếu ông tiếp tục sáng tạo! Giờ đây những tên tuổi như Phùng Quán, Trần Dần,
Lê Đạt và trước nữa là Trần Đức Thảo, những người cùng trên
"chuyến xe bão táp" với ông đã được khôi phục hoàn toàn, tác phẩm của họ đã được nhà nước vinh danh và trả về cho nhân dân, thì ông vẫn
mãi là nhà phê bình khoa học tiêu biểu trước Cách mạng Phê bình
khoa học, đấy là một phương pháp mà theo Trương Tửu thì cần “gác bỏ
Trang 29hết những tình cảm riêng, những thành kiến và dư luận đã định giá thi nhân kia và tác phẩm kia” để “làm hết nghĩa vụ của một nhà phê bình
vẫn tôn thờ khoa học” (Nguyễn Du và Truyện Kiều, 1942) Chữ “Khoa
học” được Trương Tửu dùng với hai nghĩa: Thứ nhất, sự “khách quan” trong phân tích đánh giá sự kiện, hiện tượng; thứ hai, khả năng vận dụng các lý thuyết của những bộ môn khoa học như tâm lí học, di truyền học, xã hội học vào phê bình văn chương Chủ trương phê bình này rõ ràng là đối lập lại với truyền thống bình văn và cảm thụ văn học hồn nhiên đã được xác lập vững chắc cho đến lúc đó và ngày nay vẫn chiếm ưu thế trong văn hoá phê bình của chúng ta Đấy là một trong những lí do chủ yếu khiến tác giả của nó bị chỉ trích từ nhiều phía
và chịu rất nhiều điều tiếng” [143, tr 7-8]
Tiếp theo là Tuyển tập văn xuôi (Nxb Lao động, H 2009); Tuyển tập
nghiên cứu văn hóa (Nxb Văn học, H 1913) của Trương Tửu do PGS.TS
Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và biên soạn Như vậy, toàn bộ tác phẩm của Trương Tửu đã được khôi phục và tái hiện lại trong đầu thế kỷ này
Không những thế, tiếp bước thế hệ trước, các nhà nghiên cứu trẻ của Viện Văn học đã sưu tầm và tái bản lại công trình của Lương Đức Thiệp cho
dù còn ít ỏi, hiếm hoi, muộn màng, nhưng vẫn rất quý vì tưởng đâu nhà nghiên cứa phê bình trẻ trước cách mạng này sẽ biệt vô tăm tích Nguyễn
Mạnh Tiến đem hai công trình Xã hội Việt Nam và Việt Nam tiến hóa sử in gộp chung lại thành Xã hội Việt Nam từ sơ sử đến cận đại (Nxb Trí Thức, H 2016) Trong Lời dẫn, soạn giả có viết: “Cảm hứng chủ đạo của các tác
phẩm này ra đời là để khẳng định Việt Nam là một dân tộc có nền văn hóa độc lập, có lịch sử và bản sắc riêng” [119, tr 7] Còn Đoàn Ánh Dương cũng
đem tái bản chung lại hai công trình Việt Nam thi ca luận và Văn chương và
xã hội (Nxb Hội Nhà văn, H 2016) Trong Lời giới thiệu, soạn giả có viết:
Trang 30“Đây là công trình mang tính chất tự biện rõ rệt, nó tiếp cận có hệ thống thi
ca Việt Nam hiện đại, mà nói theo lời trần tình của tác giả là như dấu vết của
cuộc suy tưởng triền miên hơn là kết quả của sự sưu tầm lâu dài qua sách báo” [118, tr 10] Nói chung đều là những lời theo chiều hướng ghi nhận
những tìm tòi cũng của nhà nghiên cứu trẻ trước cách mạng Như thế là toàn
bộ di sản lý luận phê bình của nhóm Hàn Thuyên đã được phục hồi làm cơ sở
tốt cho việc đánh giá lại ưu, khuyết điểm đích thực của nó Về điểm này, dường như dần dần có sự chuyển giao vai trò sang Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, tất nhiên vẫn có sự tham góp tiếp của Viện Văn học cùng các
cơ quan học thuật khác
Tháng 11 năm 2008, đã diễn ra Hội thảo khoa học Nhà văn, Giáo sư
Trương Tửu - Con người và sự nghiệp của Khoa Văn - Đại học Sư phạm Hà
Nội, để kỷ niệm 95 năm ngày sinh (18/11/1913) và hướng tới tưởng niệm 10
năm ngày mất (16/12/1999) của Giáo sư Trương Tửu Ngoài diễn văn khai mạc của GS.TS Lã Nhâm Thìn và Báo cáo đề dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Bình, cuốn kỷ yếu Hội thảo chia làm ba phần với những bài viết tham luận
tại hội thảo Phần I - Nghiên cứu học thuật và sáng tác của 14 tác giả bài
viết, trong đó đáng chú ý là tham luận của các tác giả: Nguyễn Hữu Sơn,
Trịnh Bá Đĩnh, Phương Lựu, Phong Lê, Lại Nguyên Ân, Hoài Nam; Phần II
- Hồi ức - kỷ niệm, của 7 tác giả bài viết, trong đó đáng chú ý là tham luận
của các tác giả: Hà Minh Đức, Phan Ngọc, Phan Trọng Luận; Phần III - Tư
liệu, chủ yếu là của chính giáo sư Trương Tửu để lại, với một bài viết Lời giới thiệu của con trai ông là Trương Quốc Tùng lần đầu tiên công bố theo
các nội dung sau: “1 - Một số bài viết chưa hoặc ít được biết đến về Trương Tửu 2 - Một số bài viết hoặc nói ngắn của Trương Tửu về văn học, về phương Đông, về cuộc đời ông 3 - Một số đề cương giảng dạy văn học ở
Trang 31lớp văn hóa kháng chiến Thanh Hóa (1947 - 1948) ở các lớp Đại học (1955 - 1957) tại Hà Nội Đề cương tác phẩm dự định viết của Giáo sư 4 - Một số ghi chép, phát biểu của Trương Tửu thể hiện quan điểm, nhân sinh quan của ông về cuộc sống” [135, tr 2]
Trong bài phát biểu Khai mạc hội thảo, GS.TS Lã Nhâm Thìn, Trưởng
khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã viết:
“Với khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, giáo sư Trương Tửu là một trong những giáo sư đầu tiên, là người thầy của nhiều sư biểu từng giảng dạy tại Khoa - những người có công lớn làm nên “thế kỷ vàng” của khoa Ngữ văn Thế hệ sinh viên ngày nay tôn vinh những người thầy đang đứng trên bục giảng, những người thầy hôm nay tôn vinh các sư biểu của mình, và rồi các sư biểu lại tôn vinh
“người thầy đầu tiên” là Giáo sư Trương Tửu Từ đây có thể thấy tầm cao và vóc lớn ở con người và sự nghiệp Giáo sư Trương Tửu Một con người “gần với huyền thoại hơn là với lịch sử” ( ) “Hiện trượng Trương Tửu” là một hiện tượng lớn và phức tạp Cần có thái độ khách quan, một tinh thần khoa học, một bản lĩnh vững vàng để đủ tâm, đủ tầm nghiên cứu “hiện tượng Trương Tửu” Chỉ có khách quan và khoa học mới xác định chân giá trị một con người” [135, tr 2]
Trong báo cáo đề dẫn Con người và sự nghiệp Trương Tửu: những câu
hỏi còn bỏ ngỏ, PGS.TS Nguyễn Thị Bình đã “khái quát sự nghiệp của
Trương Tửu thành bốn hướng nghiên cứu chính Một là những sáng tác tiểu thuyết và truyện (hiện đã sưu tập được bảy tác phẩm) Hai là các công trình nghiên cứu phê bình - mảng chính làm nên tư cách “học giả Trương Tửu” Ba
là với tư cách nhà hoạt động xã hội, người sáng lập hay chủ trì những cơ quan
văn hóa như Đại Đồng thư xã, nhà xuất bản Hàn Thuyên Bốn là về bản lĩnh,
Trang 32nhân cách, con đường số phận của một trí thức, một người thầy trong những tương tác cụ thể của thời thế, của truyền thống văn hoá” [135, tr 6-7]
Trong bài Phương diện lý thuyết của mấy vấn đề văn học sử Việt Nam
của Trương Tửu, tác giả Trịnh Bá Đĩnh đã cho thấy khi nghiên cứu về tính
độc lập tương đối của văn học: “Trương Tửu vẫn trung thành với quan điểm coi văn học là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội, nằm trên các quan hệ vật chất Xét đến cùng tức là xem xét đến những quan hệ sâu xa nhất, không có sự chi phối trực tiếp mà qua vô vàn những khâu trung gian Chỉ có thế mới lí giải được (ông dẫn lại nhận xét của Mác) “những thời kì thịnh vượng nhất của nghệ thuật không hề tương quan chung với sự phát triển của xã hội”, chẳng hạn như văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Vì văn học có “tính độc lập” như thế nên đối với các nhà nghiên cứu là “phải chú ý đến sự phát triển của bản thân văn học” và “đấy mới là điều cốt yếu” Hoặc khi nói về tính người phổ biến trong văn học nghệ thuật, Trịnh Bá Đĩnh đã nhận thấy quan điểm của Giáo sư Trương Tửu
đó là: “Trong văn học, có sự kí thác các giá trị nhân loại cao nhất, phổ biến nhất Đánh giá một tác phẩm văn học - nhất là các kiệt tác - không thể quên tính phổ biến vĩnh cửu của yếu tố nhân loại” [135, tr 42] Qua đó, tác giả Trịnh Bá Đĩnh cũng cho bạn đọc hiểu thêm rằng:
“Trong bối cảnh cuối những năm 50, Trương Tửu đưa ra quan điểm về tính người phổ biến tức là làm mờ đi tính quyết định của giai cấp trong tư tưởng văn học và ông đã bị phê phán Hơn nữa, Trương Tửu cũng chưa giải thích được thật rõ ràng Tuy nhiên, đầu những năm 60 vấn đề “tính người phổ biến” lại được đưa ra thảo luận trong giới học thuật, nhưng mãi đến năm 1986, tức sau phong trào Đổi mới tính phổ biến trong văn học nghệ thuật mới được thừa nhận hoàn toàn” [135, tr 43]
Trang 33PGS Phan Ngọc trong bài Một vài điều ít được nhắc lại về nhà phê
bình Trương Tửu, cho rằng:
“Chính nhờ những công trình của Trương Tửu và các nhà phê bình khác, thế hệ chúng tôi bắt đầu có cách đánh giá đúng mực hơn về
Phong hoá - Ngày nay và bắt đầu chú ý đến những tác phẩm đi con
đường Mác xít Trương Tửu đòi hỏi tác phẩm phải có ích cho công việc hiện nay Khi anh nhận thấy có một xu hướng chạy quá đáng vào văn chương bỏ quên trách nhiệm thì anh chống lại, bất chấp ảnh hưởng và giá trị thực tế về văn học của tác phẩm ấy Đó là lý do tại sao anh chống
lại “Truyện Kiều” Điều này anh nói công khai trong“Văn chương
Truyện Kiều” Cũng phải đánh giá việc anh bênh vực “nhà nho tài tử” ở
Nguyễn Công Trứ Đằng sau việc nêu lên cái tài trong khái niệm “tài tử”
là tình trạng thấy mình vô dụng, không có điều kiện đưa cái tài sẵn có ra giúp dân cứu nước như trường hợp Nguyễn Công Trứ trước họa xâm lược Sau khi Cách mạng thành công, anh nhận thấy sự thiếu sót, hời hợt của mình trong việc đánh giá văn học Anh tự phê phán mình trong
quyển “Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du”, và đây chính là thực tâm
Trên con đường khảo sát, nghiên cứu, anh thường cực đoan, nhưng anh không mưu lợi cho mình Anh đúng là nhà phê bình văn học đầu tiên mà tôi biết không đi con đường văn chương mà đi “con đường phục vụ” Vì
đi con đường tự mình xoay sở nên anh không đi theo con đường có sẵn
do lý luận của Stalin đưa ra, hay do các Đảng Cộng sản nêu lên và bị ngờ là theo Trotsky Câu chuyện đường lối Stalin rồi đường lối Mao Trạch Đông hiện nay đã bị vượt qua Thế giới ngày nay đã đi con đường hậu công nghiệp, toàn cầu hoá, cho nên chuyện anh Trương Tửu có phải
là đi theo Trotsky hay không cũng không cần nói đến Việt Nam đã có đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [135, tr 169-170]
Trang 34PGS Phan Ngọc còn nhắc lại thắc mắc cuối đời của Trương Tửu: “Tại sao nhiều cậu chỉ nói đôi câu mà bị giam Còn tôi tranh cãi rõ ràng, viết nhiều bài báo mà lại không bị giam Một anh bạn bảo mình: Thực là may khi Bác
Hồ không nói một câu nào chống Nhân văn cả Nếu không bọn mình đều bị tù hết” Qua đây, ông Phan Ngọc khẳng định không hề có thái độ hận thù, mà có
“sự gắn bó với Đảng và Tổ quốc” ở Trương Tửu và khẳng định rằng:
“Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa là nhà phê bình duy nhất của Văn học Việt Nam trước 1945” Trong Hội thảo này, Giáo sư Phương Lựu cho rằng: “Giáo
sư Trương Tửu, một con người tràn đầy khí cách chân nho phương Đông của
một sĩ phu Bắc Hà Suốt mấy mươi năm tai vạ mà không hề oán trách, lại còn
khuyên con về nhân cách sống ở đời… Tư tưởng văn học của Trương Tửu về
cơ bản không mang tính chất Trotskit mà mang nhiều khía cạnh tương đồng với lý luận văn hoá nghệ thuật của chủ nghĩa Mác phương Tây (Western Marxism)” [135, tr 133]
Cũng trong Hội nghị khoa học này, Giáo sư Phong Lê đã bày tỏ suy
nghĩ chân thực khi Đọc giáo sư Trương Tửu:
“Tôi có dịp đọc liền mạch cuốn sách khảo cứu Tâm lý và tư
tưởng Nguyễn Công Trứ (1943) của Nguyễn Bách Khoa vì sự khúc
chiết trong cách trình bày, vì một cách phân tích và cắt nghĩa độc đáo, dựa trên duy vật luận là loại tri thức quý hiếm mà lần đầu tiên tôi được nhập môn qua các khái niệm xã hội học và triết học, rất khác với Vũ Ngọc Phan, càng khác với Hoài Thanh” ( ) “Cách thức gắn trực tiếp văn học với xã hội học và triết học duy vật đã đem lại nhiều kết luận mới mẻ, khác lạ, khiến cho Nguyễn Bách Khoa trở thành đại diện cho một khuynh hướng mới trong nghiên cứu - phê bình văn học lúc đương thời, mà về sau có người tổng kết và nâng lên thành một khuynh hướng
- đó là khuynh hướng khoa học” [135, tr 142-143]
Trang 35Trong bài Xin được nói đôi điều về cuốn sách “Tương lai văn nghệ Việt
Nam”, Giáo sư Nguyễn Đình Chú viết: “Thiếu yếu tố dân tộc vốn là một
phẩm chất quan trọng hàng đầu của văn nghệ Việt Nam Ví như đã cực đoan trong khi đeo đuổi khát vọng xây dựng Tân văn nghệ mà chưa bình tĩnh xem xét một cách đến nơi đến chốn vấn đề cũ mới trong lĩnh vực văn nghệ vốn là phức tạp, có quy luật riêng, không giống với nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là chính trị Nói cho công bằng thì khuynh hướng cực đoan thiên về sự phủ nhận
cái cũ, chỉ lo khẳng định cái mới cũng đã bộc lộ khá rõ trong Đề cương văn
hóa Việt Nam” [135, tr 80]
Trong bài Trương Tửu - Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam 1957
của tác giả Khải Mông, cho thấy ông đã dày công đi tìm hiểu một sự thật, đó là: “Trương Tửu có phải là nhà văn sáng lập Hội nhà văn Việt Nam (tháng 4/1957) hay không?” Qua các lần trò chuyện cùng các nhà văn: Thái Vũ, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Thị Cẩm Thạnh, Vũ Tú Nam và nhà thơ Nguyễn Bao thì có một minh chứng là: Trương Tửu là một trong hai đại biểu chính thức của trường Đại học Sư phạm Hà Nội dự cuộc họp trù bị Hội nghị thành lập Hội Nhà văn Việt Nam ngày 26/2/1956 và họp chính thức từ ngày 01/4/1957 - 04/4/1957 Thật ra “Trương Tửu có phải là nhà văn sáng lập Hội nhà văn Việt Nam hay không? Điều này cũng không quan trọng đối với nhà văn Trương Tửu, bởi tên tuổi của ông lừng lững giữa đình làng văn học Việt Nam Ông có tài, đem tài năng cống hiến cho non sông Ông là một nhà phê bình có khí phách sẵn sàng rời bỏ tất cả để giữ nguyên chính kiến của mình Trương Tửu là người tạo ra và có đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam nói chung cũng như Hội Nhà văn Việt Nam Trương Tửu vẫn có tên trong Uỷ viên thường vụ Hội văn nghệ Việt Nam, hội viên Hội nhà văn Việt Nam Ngày gặp lại những học trò cũ khoá học 1954 - 1957 trường Đại học Sư phạm Văn khoa năm 1992, ông hồ hởi nói chuyện về Tây Du ký Giọng ông còn
Trang 36sang sảng như đứng trên bục giảng: “Trời đất còn không có cái gì trọn vẹn nữa là chúng ta Chúng ta cũng thế thôi vì chúng ta là những con người nhỏ mọn, yếu hèn trong cuộc đời này” [135, tr 206 - 207]
Giáo sư Hà Minh Đức kể lại năm 1997 cả lớp họp mặt để kỷ niệm 40 năm ngày ra trường thày Tửu có đến dự và phát biểu: “Suốt mấy mươi năm thày trò không gặp nhau không nên để ý là xảy ra gì Cái gì xảy ra thì nó đã xảy ra Nó đã qua rồi, Cũng như thày trò chúng ta xuống thăm một cái mỏ, lên thì mặt ai cũng nhọ, than nó bay vào nhưng không xấu hổ Chỉ có khi nào lên khỏi mỏ rồi mà chưa rửa mặt thì mới xấu hổ” [135, tr 162]
Ngoài ra, còn có thể kể nhiều ý kiến quan trọng khác: “Trương Tửu là người sáng lập ra phương pháp phê bình khoa học, đánh dấu một cái mốc
trong lịch sử phê bình văn học nước ta Với Truyện Kiều và thời đại Nguyễn
Du, Trương Tửu đã quán triệt tư tưởng chủ nghĩa Mác vào nghiên cứu” (PGS
Nguyễn Văn Hoàn); “Cần tiếp cận nghiên cứu một cách bài bản đối với Trương Tửu như một tác gia và như một nhân vật văn hóa lịch sử” (Nhà phê bình Lại Nguyên Ân); “Cuộc đời Trương Tửu là một chuỗi những thăng trầm, những cuộc dấn thân trên tinh thần trung thực, tranh đấu vì học thuật và lẽ phải Trương Tửu sáng tác khá nhiều và được coi là một trong các cây bút có phong cách trong làng tiểu thuyết trước cách mạng” (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn); “Khối óc khổng lồ ấy, tư duy sắc sảo ấy, tấm lòng say mê văn chương
ấy, tài năng hùng biện ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm” (Giáo sư Phan Trọng Luận) “Thay vì những định kiến, cần phải hiểu Trương Tửu hơn vì một người say mê như ông đâu có dễ gì có được, nhất là khi ai cũng biết trong cái nghiệp văn này, muốn đổi mới thì tai vạ chắc chắn sẽ nhiều hơn may mắn” (PGS.TS Nguyễn Đăng Diệp) v.v…
Ngay sau Hội nghị khoa học Nhà văn - Giáo sư Trương Tửu - con
người và sự nghiệp, kỷ niệm 95 năm ngày sinh của giáo sư Trương Tửu (1913
Trang 37- 1999), Hội Nhà văn đã khôi phục lại Hội tịch và tổ chức Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Trương Tửu vào tháng 11/2013 Tiếp theo là Hội thảo
mang tên “Những thí nghiệm của ngòi bút tôi” theo tên một tác phẩm nghiên
cứu của Giáo sư Trương Tửu do Hội nhà văn Hà Nội tổ chức Trong báo cáo
đề dẫn Hội thảo, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội nhắc lại lời ông Trương Tửu nói với con trai, lời nhắn nhủ của ông rất giống lời một hiền triết:
“Con không nhất thiết phải là đảng viên nhưng con nhất thiết phải sống như những người cộng sản chân chính về trí tuệ, tình cảm và nhân cách” [143, tr 1081] “Những điều bố cùng các đồng nghiệp giáo
sư đại học kiến nghị với Đảng, với Nhà nước có thể đúng cũng có thể sai, nhưng với động cơ hoàn toàn trong sáng, chính trực với mong muốn đất nước ta ngày càng phát triển, xã hội ta ngày một dân chủ và
tự do hơn, chế độ ta ngày một vững bền” [143, tr 1079]
Ngoài ra, có thể ở dạng “văn bản hóa” thì không nhiều, nhưng có nhiều hơn ở dư luận bên ngoài có không ít ý kiến cho rằng những ứng dụng của Trương Tửu trong phê bình văn học Việt Nam còn “nóng vội và cực đoan” hoặc cho rằng Trương Tửu áp dụng “lối phê bình khoa học” có phần còn “sống sượng”, thậm chí gây “sốc” Ý kiến hơi khác thế này cũng là bình thường, quan trọng hơn là bản thân Trương Tửu cũng tự nhận ra những sai sót của mình
trong việc nhận định, đánh giá về Nguyễn Du và Truyện Kiều v.v… Việc này,
chúng tôi sẽ chứng giải cụ thể trong phần nội dung chương 3 của luận án
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu tiếp tục
Trở lên, mới chỉ điểm qua một số ý kiến, nhưng đã toát lên chiều
hướng khẳng định nhóm Hàn Thuyên nói chung, Trương Tửu và Lương
Đức Thiệp nói riêng không mang lập trường đối địch và ít nhiều có đóng góp cho văn hóa khoa học nước nhà Đặc biệt, Trương Tửu là học giả có tài
Trang 38năng và nhân cách, nhưng về phương pháp tư tưởng thì máy móc cực đoan, một chiều, cho nên không tránh khỏi sai lầm lệch lạc, mà về sau đã tự nhận thức rõ và ra sức khắc phục Nhiều ý kiến bày tỏ nguyện vọng muốn Giáo
sư Trương Tửu được khôi phục hoàn toàn như các đồng nghiệp cùng cảnh ngộ Đây tất nhiên là trách nhiệm của Nhà nước Nhưng riêng giới khoa học còn phải góp phần làm sáng tỏ một cách toàn diện và thật sự khách quan nhiều vấn đề còn vướng mắc
Chúng tôi hoàn toàn tán thành và nhiệt liệt kế thừa xu hướng đổi mới
cách đánh giá lại về nhóm Hàn Thuyên nói chung cùng các tác giả trong lĩnh
vực lý luận phê bình nói riêng trong mấy chục năm qua Ắt hẳn là còn nhiều điều phải tiếp tục nghiên cứu, nhưng với khả năng hạn chế của mình, chúng tôi thấy có mấy vấn đề cần được tiếp tục đào sâu hơn như sau:
- Nghiên cứu hai nhà lý luận phê bình văn học tiêu biểu Trương Tửu
và Lương Đức Thiệp của nhóm Hàn Thuyên, phải thấy mối quan hệ giữa
toàn thể với bộ phận là có sự thống nhất, nhưng không được đồng nhất, vì có
nhiều sự khác biệt Bởi vậy trước hết phải tìm hiểu nhóm Hàn Thuyên về
mọi mặt để thấy yếu tố tích cực cũng như tiêu cực chắc chắn có tác động đến hai vị Nhưng mặt khác lại không nên đem bất cứ yếu tố tiêu cực nào của
Hàn Thuyên đều gán cho hai vị, nhất là Trương Tửu Nói một cách khác, có
nghiên cứu được tính phức tạp kể cả mặt tích cực của nhóm Hàn Thuyên
mới có thêm cơ sở vững chắc để đánh giá những nhà lý luận phê bình văn học của họ Vấn đề này nêu lên trước là cần thiết, nhưng không nặng về mục đích tự thân mà phần nào có ý nghĩa như tiền đề, như điều kiện, như phương tiện phục vụ cho việc đánh giá riêng về lĩnh vực lý luận phê bình văn học như tiêu đề của luận án đã hàm ý
- Về Trương Tửu, vốn bị “tai nạn”, mà ngày nay đã được khôi phục dần Nhưng đây là vụ án “văn tự” Lý do sâu xa ông là người say sưa vận dụng
Trang 39lý thuyết mới, liên quan đến các tên tuổi đại diện cho các trào lưu tư tưởng lớn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: K.Marx, F.Engels, V.Lênin, V.Trosky, S.Freud, H.Taine, v.v , cho nên người ta thường đánh giá ông về tư tưởng, lập trường quan điểm Bởi vậy, trước hết ở đây phải làm sáng tỏ đối với từng tên tuổi, Trương Tửu có chịu ảnh hưởng hay không, chịu ảnh hưởng đến mức nào, rồi vận dụng, nhất là vận dụng liên kết các nguồn tư tưởng với nhau như thế nào Nói cách khác tư tưởng học thuật của Trương Tửu có mang tính chất Trotskit, phản Mác xít hoặc Mác xít giả hiệu hay không? v.v Nếu vẫn là Mác xít, thì mang những đặc điểm cùng ưu, khuyết điểm như thế nào
- Về Lương Đức Thiệp, vì ông mất tích ngay từ năm 1945, không trải qua cuộc đời thăng trầm trong chế độ mới, được xem như một hiện tượng đã sớm hoàn kết, gần như rơi vào quên lãng, kể cả trong thời kỳ Đổi mới về sau, ngoại trừ một số ý kiến bước đầu mới xuất hiện gần đây nhất Nhưng vẫn còn
đó mà nổi bật lên những sự đánh giá về ông thời trước cách mạng, tuy cũng
có khen, nhưng chủ yếu là thiên về phê phán theo tinh thần chung đối với
nhóm Hàn Thuyên thời ấy Như thế luận án của chúng tôi sẽ cố gắng góp
phần đánh giá lại Lương Đức Thiệp theo tinh thần đổi mới, nhất là về con đường tư tưởng học thuật của ông vươn đến quan điểm Mác xít về văn học diễn ra cụ thể với những ưu, khuyết điểm như thế nào?
Trang 40CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT VỀ NHÓM HÀN THUYÊN
Trong chương này chúng tôi tập trung làm rõ bối cảnh chính trị văn hóa
xã hội và hoạt động học thuật dẫn đến sự ra đời của nhóm Hàn Thuyên, đồng
thời nghiên cứu tôn chỉ mục đích, hoạt động, thành viên của nhóm Nói rộng
ra về bối cảnh ở đây cũng có thể kể từ đầu thế kỷ XX, nhưng chủ yếu chỉ tập
trung vào giai đoạn 1930 - 1945 để càng trực tiếp hơn với trường hợp Hàn
Thuyên Qua đây, chúng tôi sẽ nêu lên những nhân tố ảnh hưởng đến đặc
điểm tư tưởng lý luận phê bình văn học của nhóm này, căn cứ trên chiều lịch đại và đồng đại Trên chiều lịch đại, người viết chỉ ra sự kế thừa tiếp nối những dòng mạch tư tưởng học thuật Trên chiều đồng đại, người viết chỉ ra
sự tương tác ảnh hưởng của các nhóm, các tổ chức văn học Về tổ chức, hoạt
động của nhóm Hàn Thuyên, người viết không hướng đến việc giới thiệu theo
kiểu điểm tên điểm việc mà tập trung chỉ ra tính tích cực và tính phức tạp của nhóm này trên cơ sở phân tích tôn chỉ, hoạt động, thành viên Những điều này
ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng lý luận phê bình văn học của nhóm Hàn
Thuyên - vấn đề sẽ được trình bày ở các chương sau
2.1 Bối cảnh ra đời nhóm Hàn Thuyên
Bất kì một tổ chức văn hóa văn học nào cũng đều ra đời trên những điều kiện chính trị văn hóa lịch sử và văn học nhất định, nó vừa như là sự kết tinh của lịch sử vừa như là đáp ứng đòi hỏi của lịch sử Do đó, nghiên cứu bối
cảnh ra đời của nhóm Hàn Thuyên vừa có cơ sở để lí giải đặc điểm của nhóm
này, vừa có cơ sở xác định vị trí của tổ chức văn hóa văn học trong lịch sử văn hóa văn học dân tộc
2.1.1 Bối cảnh chính trị, văn hóa xã hội
Nhóm Hàn Thuyên ra đời trong bối cảnh chính trị, văn hóa xã hội vô
cùng phức tạp Đây là thời kì đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gay gắt