Nội dung của vật quyền trong pháp luật dân sự

Một phần của tài liệu Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. (Trang 45 - 70)

Chương 2: LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN VÀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

2.2. Nội dung của vật quyền trong pháp luật dân sự

* Khái niệm

Sở hữu nói chung và quyền sở hữu tài sản nói riêng là một phạm trù rộng, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, gồm: triết học, kinh tế học và luật học. Ở góc độ luật học, quyền sở hữu thường được ghi nhận trong hiến pháp và được quy định cụ thể trong các đạo luật dân sự, kinh tế ở cách tiếp cận không phải trao cho người dân quyền sở hữu tài sản mà chỉ là ghi nhận và bảo đảm quyền này - quyền có được theo quy luật tự nhiên [144, tr.174], theo đó quyền sở hữu tài sản là quyền tự nhiên; cùng với quyền được sống, quyền tự do, quyền sở hữu tài sản là một trong các quyền cơ bản của con người. Trên cơ sở đó, thông qua lăng kính văn hóa, chính trị…, quyền sở hữu tài sản đã được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan [165].

Có học giả nêu định nghĩa: "Quyền sở hữu là quan hệ giữa người với người mà trong đó người được gọi là chủ sở hữu có thể loại trừ những người khác thực hiện những hành vi nhất định hoặc cho phép những người khác thực hiện những hành vi như vậy và cả hai trường hợp cần có sự trợ giúp của pháp luật trong việc thực hiện những quyết định đó" [150]. Khái niệm này nhấn mạnh rằng quyền loại trừ (the right of exclusion), coi quyền sở hữu là xương sống của tập hợp các quyền và diễn đạt ý tưởng về sự thống trị của chủ sở hữu trên bất kỳ quyền nào như quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền thu hoa lợi v.v… đối với tài sản; tuy nhiên, cần lưu ý quyền loại trừ này không phải luôn luôn là một quyền loại trừ hoàn toàn và tuyệt đối. Khái niệm, đặc trưng của quyền sở hữu được ghi nhận tại pháp luật các nước có điểm chung là chủ sở hữu có toàn quyền theo ý chí đối với tài sản thuộc sở

hữu của mình và quyền loại trừ sự xâm phạm, can thiệp của chủ thể khác. Để chủ sở hữu hiện được các quyền này, Nhà nước ban hành chế định quyền sở hữu trao cho chủ sở hữu những quyền nhất định đối với tài sản của mình; đồng thời, cấm những người khác thực hiện các hành vi làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện quyền của người có vật. Chẳng hạn như, Điều 903 BLDS CHLB Đức định nghĩa về quyền sở hữu như sau: "Chủ sở hữu của tài sản có thể, trong chừng mực không trái với pháp luật hoặc quyền của những người thứ ba, hành xử với tài sản theo sự lựa chọn của mình và loại trừ những người khác từ bất kể một sự can thiệp nào…" (The owner of a thing may, to the extent that a statute or third-party rights do not conflict with this, deal with the thing at his discretion and exclude others from every influence). Chủ thể có quyền sở hữu được ghi nhận tư cách là người có quyền thống trị tài sản của mình và loại trừ tất cả những người khác ra khỏi quá trình thực hiện quyền thống trị này.

Sở hữu với tư cách là một quan hệ xã hội có hai nội dung: (1) Sự thống trị của chủ sở hữu đối với tài sản (chủ sở hữu có thể thực hiện bất kỳ hành vì gì mà mình muốn trên vật để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình miễn là không vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác) và (2) Sự tôn trọng và kiềm chế của tất cả những người khác còn lại (không phải là chủ sở hữu) khỏi các hành vi cản trở chủ sở hữu thực hiện khả năng thống trị của mình đối với vật.

Có thể nói, trong hệ thống vật quyền thì quyền sở hữu có vị trí trung tâm. Có được vị trí này là do quyền sở hữu có những đặc thù mà các vật quyền hạn chế không thể có được. Nói cách khác, trong mối quan hệ với vật quyền hạn chế thì quyền sở hữu có nhiều thế mạnh hơn. Cụ thể là:

Thứ nhất, quyền sở hữu là cái có trước còn mọi vật quyền khác đều là cái có sau (tính phái sinh của các vật quyền hạn chế). Điều này có nghĩa là, trước một vật quyền hạn chế bao giờ cũng có một vật quyền gốc là quyền sở hữu, ví dụ trước quyền thuê đất dài hạn, luôn tồn tại quyền sở hữu đất đai.

Thứ hai, chủ sở hữu thì thực hiện các quyền năng của mình một cách độc lập, theo ý chí, nguyện vọng của mình. Nhìn tổng quan, quyền sở hữu được coi là vật quyền thứ nhất, tuyệt đối, trọn vẹn nhất. Chủ sở hữu có độc quyền đối với vật, từ nắm giữ, kiểm soát về phương diện vật chất cho đến khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ vật và quyết định số phận vật chất, pháp lý của vật đó. Còn chủ

thể của vật quyền hạn chế thì trong một số trường hợp tuy có một hoặc một số quyền năng như chủ sở hữu (sử dụng, khai thác công dụng) nhưng chỉ có thể thực hiện các quyền trong phạm vi luật định; các quyền này là những bộ phận của quyền sở hữu, theo chức năng của quyền sở hữu, là một phần được tách ra từ quyền sở hữu để trở thành một quyền độc lập và được những chủ thể không phải là chủ sở hữu thực hiện.

Từ góc độ tiếp cận của mình, tác giả Luận án cho rằng "Quyền sở hữu là tập hợp một số quyền năng cụ thể của chủ sở hữu mà pháp luật quy định, là vật quyền chính, quyền quan trọng nhất thiết lập trên tài sản, thể hiện chủ quyền đối với tài sản và là cơ sở cho tất cả các vật quyền khác".

Nội dung

Từ rất sớm, người La Mã đã phân tích được quyền sở hữu thành một tập hợp của năm nhóm quyền năng [151, tr.79-91]; [167, tr.117-121]; [154, tr.327-329];

[120, tr.67-68] bao gồm:

- Sử dụng vật (thuật ngữ trong luật La Mã là "Usus"): quyền khai thác công năng của tài sản phù hợp với tính năng, tác dụng của vật đó;

- Hưởng hoa lợi (thuật ngữ trong luật La Mã là "Usus"): quyền thu nhận những lợi ích vật chất mà tài sản mang lại, đặc biệt là những lợi ích được nhận dạng dưới hình thức hoa lợi (fruits) của tài sản;

- Định đoạt vật (thuật ngữ trong luật La Mã là "Abusus"): là quyền quyết định số phận của tài sản, bao gồm định đoạt vật chất (tiêu dùng, tiêu huỷ...) và định đoạt pháp lý (bán, tặng cho, để thừa kế,…).

- Quyền chiếm hữu vật (thuật ngữ trong luật La Mã là "Jus possidendi"): là nắm giữ, chi phối tài sản theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào ý chí người khác, coi tài sản đó như là của mình. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu hợp pháp và chiếm hữu bất hợp pháp, trong đó chiếm hữu bất hợp pháp có thể chiếm hữu ngay tình hoặc chiếm hữu không ngay tình. Cần lưu ý rằng, sự "thống trị" thực tế đối với đồ vật, độc lập với vấn đề về quyền cũng như vấn đề phương thức xác lập và theo quan điểm của các nhà lập pháp La Mã trong hệ thống luật La Mã hoàn thiện hơn ở giai đoạn sau, "chiếm hữu" và "quyền sở hữu" là hai phạm trù khác biệt có thể hoà nhập trong cùng một chủ thể, nhưng cũng có thể thuộc về các chủ thể khác nhau [1, tr.1-6].

- Quyền đòi lại vật (thuật ngữ trong luật La Mã là "Jus Vidicandi"): là quyền của chủ sở hữu được đòi lại vật đang bị người thứ ba chiếm hữu bất hợp pháp (còn được gọi là tố quyền đòi lại vật).

Ngày nay, cấu thành của quyền sở hữu là một trong những vấn đề có nhiều tranh cãi và cách tiếp cận khác nhau của các nhà lập pháp ở các nước. Hầu hết pháp luật các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law quan niệm quyền sở hữu gồm quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi và quyền định đoạt [161]. Quan niệm về nội dung của quyền sở hữu như trên được quán triệt trong luật của các nước tiền tiến, đặc biệt là các nước châu Âu, và được sử dụng như một công cụ chủ yếu để phân tích các quyền chủ thể đối với tài sản, nhằm làm rõ bản chất của các quyền ấy, tạo điều kiện cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Chẳng hạn, quyền sở hữu được ghi nhận ở một người khi người đó có đủ ba quyền năng - dùng, thu lợi và định đoạt; người chỉ có quyền dùng và quyền thu lợi được gọi là người hưởng dụng (thuật ngữ trong luậ La Mã là "usufructuary"). Nhiều nước coi quyền chiếm hữu không phải là cấu thành của quyền sở hữu mà là quan hệ thực tế, tình trạng pháp lý đối với tài sản, chẳng hạn Điều 206 BLDS Nhật Bản quy định "Chủ sở hữu có quyền tự do sử dụng, thu lợi tức và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật"; Điều 544 BLDS Pháp quy định "quyền sở hữu là quyền hưởng dụng và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối nhất, miễn là không sử dụng tài sản vào những việc pháp luật cấm" (Quyền hưởng dụng là hưởng dụng lợi tức, hoa màu. Quyền định đoạt bao gồm quyền bán, cho, phá hủy…).

Trong khi đó, ở một góc độ tiếp cận khác, các nước chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Xô viết có xu hướng tập trung vào chức năng xã hội của tài sản và ghi nhận chiếm hữu là một trong những quyền năng của quyền sở hữu [31]. Khoản 1 Điều 209 BLDS Liên bang Nga quy định quyền sở hữu gồm có ba quyền năng chính như sau "Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình", Điều 240 BLDS Trung Quốc quy định quyền sở hữu gồm có 4 quyền năng chính là "Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, hưởng lợi và định đoạt của riêng mình bất động sản hoặc động sản theo quy định của luật".

Ở góc độ là đối tượng xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền sở hữu luôn dành sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và bằng nhiều công cụ, phương tiện để tác động vào các quan hệ sở hữu, làm cho các quan hệ xã hội này

hình thành, phát triển theo ý chí của mình. Một trong những công cụ quan trọng đó là pháp luật được Nhà nước sử dụng để:

- Tuyên bố về các hình thức sở hữu trong xã hội (thường là thông qua Hiến pháp);

- Quy định những quyền năng mà chủ sở hữu có được trên tài sản của mình (nội dung quyền sở hữu);

- Quy định các nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu (chủ sở hữu được toàn quyền trong việc đối xử với tài sản của mình nhưng phải phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và không vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác);

- Quy định nghĩa vụ của các chủ thể khác không phải là chủ sở hữu trong quan hệ với tài sản của chủ sở hữu (nghĩa vụ tôn trọng và kiềm chế);

- Xác định các căn cứ làm phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu;

- Xác định cơ chế bảo vệ quyền sở hữu (biện pháp, cách thức giúp chủ sở hữu bảo vệ được các quyền năng của mình);

- Quy định cơ chế xác nhận, công khai hóa quyền sở hữu để mọi người biết (cơ chế đăng ký tài sản).

Kết quả của việc thực hiện các công việc nêu trên hình thành một nhóm các quy định pháp luật về quyền sở hữu tài sản, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác lập, thực hiện quyền của chủ thể có quyền đối với tài sản và các quan hệ liên quan đến việc ngăn cản sự can thiệp của tất cả những người thứ ba vào quá trình thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu quyền.

2.2.2. Các quyền khác đối với tài sản

2.2.2.1. Địa dịch (từ "dịch" trong thuật ngữ "địa dịch" (còn gọi là dịch quyền) được sử dụng để mô tả quyền của chủ thể được thực hiện trên bất động sản thuộc sở hữu của chủ thể khác (bởi thuật ngữ địa dịch đã bao hàm nghĩa "quyền"

nên trong hầu hết các tài liệu nghiên cứu, cụm từ "địa dịch" được sử dụng thường xuyên hơn cụm từ "quyền địa dịch")

Khái niệm

Các công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm địa dịch (servitude hay easement) ở các góc độ khác nhau, chẳng hạn có nhà nghiên cứu cho rằng "Địa dịch được hiểu là một sự ràng buộc mang ý nghĩa hạn chế đối với quyền của chủ sở hữu một bất động sản nhằm phục vụ cho việc khai thác hợp lý một bất động sản khác"

[152, tr.153]. Bộ luật dân sự Pháp quy định "Dịch quyền là một nghĩa vụ đối với một bất động sản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng một bất động sản thuộc sở hữu của người khác" (Điều 637). Qua nghiên cứu, tổng hợp các quan điểm, tác giả Luận án nêu nội hàm khái niệm địa như sau: "Địa dịch là quan hệ giữa hai bất động sản trong đó một bất động sản (gọi là bất động sản chịu địa dịch) chấp nhận vai trò phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác (gọi là bất động sản hưởng địa dịch) thuộc về một chủ sở hữu khác".

Về phân loại, địa dịch có thể được phân thành hai loại: địa dịch liên tục và địa dịch không liên tục, theo đó, địa dịch gọi là liên tục một khi nó tự tồn tại và vận hành mà không cần chủ bất động sản thụ hưởng thực hiện một hành vi nào, chẳng hạn địa dịch về tầm nhìn, địa dịch gọi là không liên tục một khi sự tồn tại của nó phụ thuộc vào việc có hay không có hành vi của con người, chẳng hạn địa dịch về lối đi qua, địa dịch lấy nước… Địa dịch cũng có thể được phân thành địa dịch nhận biết được và địa dịch không nhận biết được, theo đó, địa dịch nhận biết được là địa dịch được nhận ra nhờ các công trình được xây dựng và được nhận biết, chẳng hạn, một cửa sổ, một lối đi; địa dịch không nhận biết được là địa dịch không được thể hiện thành các công trình cụ thể, chẳng hạn địa dịch cấm xây dựng. Địa dịch cũng có thể được phân loại thành địa dịch chủ động và địa dịch thụ động, theo đó, địa dịch gọi là chủ động một khi được thể hiện bằng hành vi cụ thể của người thụ hưởng, chẳng hạn, địa dịch về lối đi qua; địa dịch gọi là thụ động một khi được thể hiện bằng việc không hành động, không làm một việc gì đó, nhằm thể hiện sự tôn trọng đối với việc thụ hưởng địa dịch của người khác.

Địa dịch được xác định là một trong những yếu tố đặc trưng của chế độ pháp lý về bất động sản trong quan hệ láng giềng và được biết từ lâu như một chế định có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác bất động sản khi một bất động sản nằm giữa các bất động sản của những người khác. Trong pháp luật La Mã, địa dịch được gọi là vật quyền hạn chế, cụ thể là dạng dịch quyền thuộc vật, theo đó, được hiểu là việc một bất động sản chịu sự khai thác của chủ sở hữu một bất động sản khác, bao gồm cả bất động sản xa nhau chứ không nhất thiết là liền kề. Địa dịch được thiết kế nhằm giải quyết những khó khăn do tính chất tự nhiên của bất động sản là không thể di dời, do đó, cần thiết có sự chia sẻ khó khăn của các chủ sở hữu bất động sản khác để đất đai được khai thác hiệu quả. Chẳng hạn tạo lối đi cho

người và gia súc hay thoát nước của bất động sản bị vây bọc. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, quan hệ địa dịch có phạm vi rộng hơn, là mối quan hệ giữa các bất động sản có liên quan với nhau, không nhất thiết phải "liền kề" mà ví dụ điển hình về quan hệ địa dịch là địa dịch sân bay: các bất động sản toạ lạc trong phạm vi một đường bán kính nào đó, tính từ tâm là sân bay, không thể được khai thác quá một độ cao nào đó, để bảo đảm cho sự lên xuống an toàn của tàu bay.

Về quy tắc của địa dịch, phải có tình trạng hai mảnh đất phải liền kề nhau hoặc gần nhau (thuật ngữ trong luật La Mã là "vicinitas"); hai mảnh đất không thể thuộc quyền sở hữu của cùng một người; mảnh đất hưởng địa dịch được lợi từ sự tồn tại của tình trạng địa dịch; địa dịch phải được thực hiện một cách hợp lý do đặc tính của quyền sở hữu là tính tuyệt đối, trong khi địa dịch đã đặt gánh nặng lên quyền sở hữu của người có mảnh đất chịu địa dịch, hạn chế quyền tự do của chủ sở hữu.

Địa dịch là chế định pháp lý được ghi nhận trong pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia mà tác giả Luận án tiếp cận được chẳng hạn BLDS Pháp (Điều 637 đến Điều 710), BLDS Nhật Bản (Điều 280 đến Điều 294), BLDS Nga (Điều 274 đến Điều 276), BLDS Trung Quốc (Điều 372 đến Điều 385)… Mỗi quốc gia đều có cách thức khác nhau khi quy định về địa dịch, tuy nhiên, tựu chung lại đều có một điểm chung là trong quan hệ địa dịch, luôn tồn tại các bất động sản (gồm bất động sản hưởng quyền (thuật ngữ trong luật La Mã là "praedium dominans") và bất động sản chịu quyền (thuật ngữ trong luật La Mã là "praedium serviens")) thuộc sở hữu của các chủ thể khác nhau hoặc thuộc cùng một chủ sở hữu nhưng do hai chủ thể khác nhau sử dụng, trong đó,

"

một bất động sản phải chịu "sự phiền lụy" nhằm phục vụ cho một bất động sản khác.

Vì sự phiền lụy này thiết lập dựa trên vị trí của các bất động sản, do đó, việc thay đổi chủ sở hữu đối với một trong hai bất động sản không làm ảnh hưởng đến "sự phiền lụy" đối với bất động sản phải chịu địa dịch" [85, tr.85].

Nội dung

- Về căn cứ xác lập, địa dịch có thể được xác lập theo địa thế tự nhiên, thỏa thuận hoặc theo luật định.

Đối với địa dịch được xác lập theo thỏa thuận, BLDS các nước thường có quy định địa dịch phát sinh theo thỏa thuận được đăng ký vào sổ địa bạ, địa dịch cũng sẽ được chuyển cho người mua mảnh đất. Điều này rất quan trọng với người khác khi mua bất động sản, họ sẽ biết về các quyền và nghĩa vụ cụ thể của mình đối

Một phần của tài liệu Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. (Trang 45 - 70)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(204 trang)
w