Chương 2: LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN VÀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
2.3. Vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự, kinh nghiệm các nước và bài học đối với Việt Nam
2.3.1. Lợi ích, ý nghĩa của việc vận dụng lý luận vật quyền trong xây dựng hệ thống pháp luật
Việc vận dụng lý luận về vật quyền đã được ghi nhận là mang lại những lợi ích to lớn cho hệ thống pháp luật ở nhiều nước, thể hiện cụ thể ở các điểm sau:
Thứ nhất, vật quyền được xem là phạm trù cơ bản của lý luận về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật dân sự nói riêng, triết lý về vật quyền cũng được các học giả nghiên cứu và hình thành hệ thống các luận điểm có tính định hướng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan về các loại tài sản, quyền đối với tài sản như pháp luật đất đai, bất động sản, xây dựng, doanh nghiệp, đăng ký tài sản. Việc hiểu biết lý luận vật quyền được xem như những kiến thức nền tảng của các chuyên gia pháp luật. Đặc biệt, lý luận vật quyền có vai trò giúp các nhà lập pháp thiết kế các chế định về sở hữu và các quyền khác đối với tài sản trong BLDS, là chủ đề được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu ở các nước phát triển quan tâm, nghiên cứu. Việc vận
dụng lý luận về vật quyền mang lại những lợi ích to lớn cho hệ thống pháp luật ở nhiều nước, từ phương diện bảo đảm tính trong sáng, logic trong cấu trúc lập pháp, đến việc thiết kế nội dung các quy phạm và bảo đảm hiệu quả thực thi. Lý luận vật quyền có ảnh hưởng rộng rãi tới pháp luật, mà trước hết là pháp luật bảo hộ quyền tài sản ở các quốc gia có nền KTTT phát triển, góp phần đưa ra những quy tắc có tính công bằng cao, điều chỉnh hiệu quả các quan hệ tài sản trong nền KTTT. Thực tiễn cho thấy, nền KTTT hiện đại chỉ có thể vận hành hiệu quả nếu dựa trên đó là hệ thống các quy tắc nhất quán, có hiệu lực cao ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu và các quyền tài sản khác.
Thứ hai, việc vận dụng lý luận về vật quyền góp phần định hướng cho các nhà lập pháp không chỉ chú trọng vào việc ghi nhận quyền của chủ sở hữu, mà còn bao gồm cả sự công nhận nhiều quyền năng của chủ thể không phải là chủ sở hữu, bảo đảm tính tương thích của pháp luật dân sự với tính phức tạp ngày càng cao của nền KTTT (về mặt lý luận, chủ sở hữu tài sản là người có tất cả các lợi ích từ vật mà mình là chủ sở hữu (gọi là vật quyền chính), tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, trong giới hạn nhất định, những người không phải chủ sở hữu tài sản cũng có một số quyền năng trực tiếp đối với tài sản (gọi là vật quyền khác hoặc vật quyền hạn chế)). Qua nghiên cứu cho thấy, pháp luật dân sự các nước đều quan tâm xây dựng chế định về quyền sở hữu, đồng thời cũng phát triển hệ thống các loại vật quyền hạn chế, đến nay pháp luật các nước đã ghi nhận trên dưới 15 vật quyền hạn chế (bao gồm cả các vật quyền bảo đảm); cùng với đó là hệ thống văn bản pháp luật về đăng ký bất động sản, đăng ký giao dịch bảo đảm... Điều này có ý nghĩa hết sức thiết thực trong nền KTTT với các quan hệ pháp luật phong phú, các loại tài sản được đưa vào lưu thông trên thị trường trong môi trường pháp lý minh bạch, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể.
Thứ ba, việc áp dụng vật quyền trong pháp luật dân sự đã góp phần đảm bảo sự ổn định trong giao lưu dân sự, cũng như trật tự xã hội. Cụ thể là Nhà nước bằng quy định của pháp luật bảo đảm cho chủ sở hữu quyền làm chủ vật, tức là có toàn quyền tác động trực tiếp lên vật theo ý chí và yêu cầu của mình, ngăn chặn và yêu cầu xử lý khi người khác tiếp cận cũng như quản lý, khai thác, sử dụng tài sản đó hoặc thực hiện các hành vi làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện quyền của mình. Mặt khác, chế định vật quyền cũng ghi nhận người không phải là chủ sở
hữu cũng có thể có quyền trên vật (tài sản) của người khác trong các trường hợp luật định, chẳng hạn với chế định địa dịch, một khi được xác định là loại dịch quyền theo vật, sẽ chấm dứt được những tranh chấp không đáng có trong trường hợp thay đổi về chủ sở hữu của mảnh đất chịu địa dịch hoặc chủ sở hữu của mảnh đất hưởng địa dịch.
Thứ tư, vật quyền giúp bảo vệ tốt hơn, chắc chắn hơn quyền của các chủ thể; tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho các bên tham gia quan hệ pháp luật. Ví dụ, một người đi thuê nhà để ở, người này có một số quyền nhất định trên tài sản thuê mà quan trọng nhất là quyền được cư ngụ trong đó. Nếu chủ sở hữu bán ngôi nhà đó đi thì người thuê nhà có thể bị chấm dứt hợp đồng và phải rời khỏi nhà (mất quyền sống trong ngôi nhà này). Tuy nhiên, trong trường hợp các bên thỏa thuận về việc xác lập vật quyền cho người thuê thì người này có vật quyền (chẳng hạn quyền hưởng dụng đối với ngôi nhà) thì tình hình lại hoàn toàn khác. Vì là người có vật quyền (quyền hưởng dụng) nên dù chủ sở hữu ngôi nhà có bán nhà cho người khác thì người có quyền hưởng dụng vẫn không đương nhiên mất quyền sử dụng nhà.
Nói cách khác, việc chủ sở hữu bán nhà không làm cho người đó mất quyền hưởng dụng ngôi nhà trừ khi người đó tự nguyện từ bỏ quyền của mình. Như vậy, thuộc tính quyền theo đuổi đã làm cho vật quyền được coi trọng, được bảo đảm tốt hơn so với trái quyền.
Thứ năm, chế định vật quyền thúc đẩy việc khai thác tối đa giá trị của cải, vật chất trong xã hội, đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế hàng hóa và nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú của các chủ thể. Việc vận dụng lý luận về vật quyền với định hướng xây dựng quy định về quyền đối vật không chỉ đặt trọng tâm vào quyền của chủ sở hữu, mà còn bao gồm nhiều quyền năng khác mà pháp luật công nhận cho chủ thể không phải là chủ sở hữu tài sản.
Điều này có ý nghĩa hết sức thiết thực trong nền KTTT với các quan hệ pháp luật phong phú, các loại tài sản được đưa vào lưu thông trên thị trường trong một môi trường pháp lý minh bạch, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của từng loại chủ thể, từng loại quan hệ. Thực tế cho thấy, không phải chủ sở hữu nào cũng có nhu cầu, khả năng khai thác hết mọi giá trị của tài sản và không phải ai cũng có đủ điều kiện kinh tế để có tài sản của riêng mình để đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu của mình. Do đó, xuất hiện sự "gặp nhau" về mặt nguyện vọng cũng như về mặt lợi ích
giữa người có tài sản và người không có tài sản trong việc khai thác công dụng của tài sản [140]. Trong xã hội hiện đại, trước yêu cầu phải khai thác tiết kiệm và hiệu quả mọi tài sản trong xã hội, nên các vật quyền khác ngoài quyền sở hữu luôn được các Nhà nước quan tâm, ghi nhận và bảo vệ. Chế định vật quyền cho phép chủ sở hữu giao một hoặc một số khía cạnh của quyền sở hữu cho người khác; chủ thể không phải là chủ sở hữu tài sản có thể trực tiếp khai thác một số tính năng, công dụng của tài sản không thuộc sở hữu của mình. Chế định vật quyền cho phép trên một tài sản có nhiều vật quyền được thiết lập, chẳng hạn, một vườn cây có thể có quyền sở hữu của chủ sở hữu đồng thời có quyền hưởng dụng, vật quyền bảo đảm (chẳng hạn được thế chấp) của chủ thể khác. Đối với một mảnh đất, thuộc quyền sở hữu của một chủ thể và cũng có thể có chủ thể khác có quyền bề mặt, địa dịch với mảnh đất đó. Về cơ bản, chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản của mình cho dù nó đang chịu những vật quyền khác và chủ sở hữu mới tiếp nhận tài sản trên cơ sở các vật quyền khác vẫn tiếp tục tồn tại.
Như vậy, chế định vật quyền góp phần bảo đảm mọi tài sản trong xã hội đều được đưa vào lưu thông, làm cho tài sản luôn được sử dụng, khai thác theo đúng công dụng, góp phần tạo ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội. Vật quyền không những thỏa mãn nhu cầu của nhiều chủ thể mà điều quan trọng là làm cho tài sản luôn có người trông coi, quản lý, sử dụng để làm cho tài sản không bị lãng phí mà luôn luôn được khai thác, sinh lời, góp phần làm giàu cho chính chủ sở hữu và cho xã hội. Vật quyền nói chung và vật quyền hạn chế nói riêng là công cụ giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng tài sản trong xã hội. Việc có được hay không có được vật quyền trên một vật (tài sản) có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và hạnh động của người đang nắm giữ vật (người quản lý vật). Vì vậy, trao cho chủ thể (cá nhân, pháp nhân) tài sản mà không trao cho họ một số lượng quyền năng thỏa đáng thì chủ thể đó cũng không thể và không muốn khai thác tốt tài sản được.
2.3.2. Lý luận về vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam
2.3.2.1. Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm vận dụng là
"đem tri thức lý luận dùng vào thực tiễn" [95, tr.122]. Theo cuốn từ điển Hán Việt của giáo sư Nguyễn Lân thì vận dụng là "đem điều học được ra thực tiễn" [86]. Bên
cạnh đó, lý luận được hiểu là một hệ thống những tri thức được khái quá từ thực tiễn phản ánh mối liên hệ bản chất những quy luật của thế giới khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử"
[88, tr.497].
Ở góc độ hoạt động xây dựng pháp luật, việc nghiên cứu lý luận, học thuyết cơ bản về pháp luật trong từng lĩnh vực được coi là công việc hết sức quan trọng để từ đó căn cứ vào điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước lựa chọn định hướng cho công tác lập pháp, xác định các nội dung quy định cần được ban hành. Quá trình này được coi là vận dụng lý luận trong công tác xây dựng pháp luật. Chẳng hạn, trong xây dựng pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước các quốc gia, nhiều học thuyết được tham khảo như học thuyết về phân quyền, lý thuyết về cấu trúc tổ chức, học thuyết về lãnh đạo quản trị; trong xây dựng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật một số học thuyết có ảnh hưởng như học thuyết đánh giá tác động chính sách pháp luật, học thuyết về kinh tế học pháp luật. Trong lĩnh vực pháp luật dân sự, pháp luật dân sự các nước được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng một số lý luận, học thuyết quan trọng như: cấu trúc của BLDS (pandekten hoặc institutions), phân biệt vật quyền và trái quyền; chiếm hữu; quyền con người; tự do ý chí; tôn trọng cam kết, thỏa thuận; điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản...
Từ các phân tích trên, tác giả Luận án rút ra khái niệm "vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam là hoạt động chuyển tải những nội dung, giá trị cốt lõi của lý luận về vật quyền trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành; khắc phục những điểm chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật nhằm phát huy tối đa giá trị tài sản, bảo đảm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong các giao dịch dân sự".
2.3.2.2. Các yêu cầu đối với việc vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam
Trên cơ sở cách hiểu khái niệm vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam như đã nêu trên, tác giả Luận án xác định một số yêu cầu đối với việc vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam như sau:
Thứ nhất, cần đảm bảo thể chế hóa chính sách, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế thị trường, đảm bảo quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân và giao dịch thông suốt. Việc thể chế hóa đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng có vai trò quan trọng trong việc tạo khung khổ cho việc tổ chức, vận hành xã hội; định hướng mục tiêu, tạo khung khổ pháp lý cho việc tổ chức vận hành xã hội, vận hành hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội hoạt động theo pháp luật;
giúp Nhà nước quản lý xã hội và xác lập công cụ quản lý xã hội một cách hữu hiệu, xây dựng được hệ thống pháp luật với tư cách là hiện thân của thể chế quốc gia, điều tiết và vận hành xã hội theo định hướng, mục tiêu đã đề ra. Việc thể chế hóa đường lối, chủ trương và định hướng chính sách của Đảng còn góp phần hạn chế những khuyết tật của tiến trình phát triển xã hội như những bất ổn về kinh tế, chính trị hay xã hội; khắc phục những lệch lạc trong xây dựng chính sách, pháp luật. Thể chế hóa đường lối, chủ trương và định hướng chính sách của Đảng có vai trò điều tiết, phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội bởi với mục tiêu xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Đảng ta đã và đang tăng cường lãnh đạo thể chế hóa đường lối, chủ trương, cũng như sự định hướng chính sách của mình, bảo đảm quyền tự do của mọi người dân trong việc tiếp cận các nguồn lực xã hội.
Việc vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam cũng không nằm ngoài nguyên tắc, yêu cầu trên để góp phần hoàn thiện thể chế pháp luật về sở hữu, thực hiện chiến lược xây dựng hệ thống pháp luật, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, cần đảm bảo tính khách quan và toàn diện trong việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam. Lý luận về vật quyền bao gồm nhiều nội dung, học thuyết rất nền tảng, cơ bản, cổ điển và hình thành từ rất sớm trong quá trình xây dựng pháp luật dân sự của các quốc gia. Nên để vận dụng tốt lý luận về vật quyền đòi hỏi phải có một tinh thần khảo sát, tổng hợp hết sức khách quan, loại bỏ chủ nghiã phê phán cực đoan để hiểu rõ tinh thần lý luận này và loại bỏ việc phê phán, phủ nhận giá trị của pháp luật hiện hành. Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của lý luận về vật quyền cần đặt trong bối cảnh lịch sử và quá trình phát triển của pháp luật dân sự để có cách đánh giá, nhìn nhận khách quan, tránh sự phiến diện, phê phán duy ý
chí. Những kết quả, giá trị đạt được hay bất cập, vướng mắc của pháp luật phải được nhìn nhận trên nguyên tắc lịch sử - cụ thể, khách quan, toàn diện, khoa học, không phủ nhận sự tương đồng giữa pháp luật với mức độ phát triển của xã hội trong từng giai đoạn của đất nước và không phủ nhận sạch trơn kết quả đạt được.
Phép biện chứng bao gồm yếu tố phủ định không có nghĩa là gạt bỏ và thủ tiêu quá khứ mà là cải tạo, ghi nhận những thành tựu, giá trị chân chính. Từ đó, những kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật được nêu ra trên cơ sở tiếp tục vận dụng đúng đắn, phù hợp với thời cuộc nội dung lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam; có sự kế thừa, phát triển các quy định phù hợp, tiến bộ.
Thứ ba, việc nghiên cứu lý luận về vật quyền, sự vận dụng lý luận về vật quyền trong hệ thống pháp luật các quốc gia, rút ra bài học kinh nghiệm, kiến nghị đối với Việt Nam cần đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hoàn cảnh thực tế của nước ta. Có như vậy pháp luật mới đảm bảo tính hiện đại nhưng vẫn phù hợp với đặc thù của quốc gia.
2.3.3. Sự vận dụng lý luận về vật quyền trong hệ thống pháp luật một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam
2.3.3.1. Sự vận dụng lý luận về vật quyền trong hệ thống pháp luật một số nước trên thế giới
Lý thuyết vật quyền được vận dụng tương đối nhuần nhuyễn, phổ biến trong hệ thống pháp luật của các quốc gia phát triển như Pháp, Đức, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc và cả Hoa Kỳ, Anh, Canada cho thấy giá trị phổ quát của lý thuyết này (việc vận dụng lý luận vật quyền trong pháp luật dân sự của các nước có sự đa dạng về cấu trúc cũng như nội dung:
+ Về cấu trúc nội dung vật quyền trong BLDS các nước hiện nay có hai phương thức chính là Institutiones và Pandekten. Mỗi một phương thức đều có những ưu, nhược điểm và không một phương thức nào có thể giải quyết được tất cả những gì mà nhà làm luật mong đợi. BLDS các nước lựa chọn phương thức cấu trúc nào là tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh xã hội và quan điểm của các nhà lập pháp.
+ Cấu thành nội dung của chế định vật quyền thường được nghiên cứu gồm quyền sở hữu và các vật quyền khác. Quyền sở hữu được coi là vật quyền chính, quyền quan trọng nhất thiết lập trên tài sản, thể hiện chủ quyền đối với tài sản và là