BÀI THẢO LUẬN HỌC KỲ Vấn đề 3 Tóm tắt Quyết định số 052020KDTMGĐT ngày 26022020 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao. Nguyên đơn: Công ty TNHH KNV (bên nhận bảo lãnh) Bị đơn: Công ty TNHH sản xuất và thương mại phân bón Cửu Long Việt Nam (bên được bảo lãnh) Ngân hàng TMCP Việt Á (bên bảo lãnh)
Trang 1BÀI THẢO LUẬN HỌC KỲ
Vấn đề 3
Tóm tắt Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT ngày 26/02/2020 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn: Công ty TNHH KNV (bên nhận bảo lãnh)
Bị đơn:
- Công ty TNHH sản xuất và thương mại phân bón Cửu Long Việt Nam (bên được bảo lãnh)
- Ngân hàng TMCP Việt Á (bên bảo lãnh)
Nội dung: Ngày 12/4/2016, Công ty TNHH KNV (viết tắt là Công ty KNV) ký kết Hợp đồng thương mại số 1016/KNV-CLVN/2016 với Công ty TNHH sản xuất và thương mại phân bón Cửu Long Việt Nam (viết tắt là Công ty Cửu Long) về nội dung là mua bán phân bón Urea, trong đó thời gian Công ty Cửu Long giao hàng chậm nhất cho Công ty KNV là 20 ngày làm việc kể từ ngày Công ty Cửu Long nhận tiền tạm ứng của Công ty KNV, trường hợp chậm hàng, không giao hàng do lỗi của Công ty Cửu Long thì phải chịu phạt 5% giá trị hợp đồng và trả lãi tiền tạm ứng Nhưng khi đến thời hạn Công ty Cửu Long không giao hàng đúng hạn nên phía Công ty KNV (bên nhận bảo lãnh) yêu cầu phía Ngân hàng Việt Á (bên bảo lãnh) thanh toán số tiền tạm ứng còn thiếu sau khi Công ty Cửu Long đã thanh toán trước đó Nhưng Ngân hàng Việt Á đã từ chối thực hiện bảo lãnh với lý do Công ty KNV chưa gửi bản gốc Thư bảo lãnh Theo Quyết định giám đốc thẩm tại Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao buộc Ngân hàng Việt Á phải hoàn trả cho Công ty KNV số tiền tạm ứng còn thiếu và không chấp nhận lý do từ chối thực hiện nghĩa vụ của Ngân hàng Việt Á
Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 19 Thông tư số 07/2015/TT-NHNH quy định:
“Điều 19 Thời hạn hiệu lực của cam kết bảo lãnh, thỏa thuận cấp bảo lãnh
1 Thời hạn hiệu lực của cam kết bảo lãnh được xác định từ ngày phát hành cam kết bảo lãnh hoặc sau ngày phát hành cam kết bảo lãnh theo thỏa thuận của các bên liên quan cho đến thời điểm hết hiệu lực của nghĩa vụ bảo lãnh quy định tại Điều 23 của Thông tư này”.
Như vậy, thời hạn bảo lãnh được định từ ngày phát hành bảo lãnh và thời điểm hết hiệu lực của bảo lãnh theo cam kết của các bên Ngân hàng Việt Á-Chi nhánh Bình Dương đã phát hành Thư bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước vào ngày 14/4/2016 và sau đó phát hành Thư
tu chỉnh bảo lãnh ngày 04/5/2016 điều chỉnh hiệu lực của Thư bảo lãnh chấm dứt hiệu lực vào lúc 17 giờ 00 ngày 09/5/2016 Nên Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn từ ngày 14/4/2016 đến lúc 17 giờ 00 ngày 09/5/2016
Trang 2Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng không?
Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng Vì thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng có hiệu lực từ ngày 14/4/2016 đến lúc
17 giờ 00 ngày 09/5/2016 Mà theo Hợp đồng số 1016/KNV-CLVN/2016, bên bán bắt đầu giao hàng chậm nhất cho bên mua là 20 ngày làm việc kể từ ngày bên bán nhận tiền ký quỹ tạm ứng của bên mua, thực hiện theo hợp đồng này ngày 15/4/2016 Công ty KNV chuyển vào tài khoản của Công ty Cửu Long tại Ngân hàng Việt Á 04 lần với tổng số tiền là 3.060.000.000 đồng, nên ngày giao hàng chậm nhất là ngày 09/5/2016 Vậy nghĩa vụ của Công ty Cửu Long đối với Công ty KNV có thời hạn từ ngày 15/4/2016 đến ngày 09/5/2016 nên có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng
Theo Toà án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân hàng trả
nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có còn trách nhiệm của người bảo lãnh không? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời?
Theo Toà án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng còn trách nhiệm của người bảo lãnh
Đoạn của Quyết định có câu trả lời trên: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Ngân hàng Việt Á phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty KNV số tiền tạm ứng còn thiếu 1.510.000.000 đồng là có căn cứ Quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội chấp nhận ý kiến của Ngân hàng Việt Á cho rằng Công ty KNV nộp bản gốc Thư bảo lãnh khi đã hết thời hạnhiệu lực nên Ngân hàng Việt Á có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là không đúng với bản chất của vụ án”
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tối cao.
Hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tối cao là thuyết phục Vì
Thứ nhất, theo Điều 335 BLDS năm 2015 quy định:
“1 Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”.
Căn cứ theo đó, thì đến thời hạn là ngày 09/5/2016 nhưng Công ty Cửu Long vẫn không thực hiện nghĩa vụ giao hàng thì xem như đã vi phạm nghĩa vụ Vì vậy, bên bảo lãnh là Ngân hàng
Trang 3Việt Á phải có trách nhiệm thực hiện thay nghĩa vụ cho Công ty Cửu Long bằng việc hoàn trả lại số tiền tạm ứng là hợp lý
Thứ hai, phía Công ty KNV biết hiệu lực hết thời hạn vào lúc 17 giờ 00 ngày 09/5/2016 cùng ngày với ngày giao hàng chậm nhất của Công ty Cửu Long, nên đã có Công văn số 01 đề nghị Ngân hàng Việt Á thực hiện trách nhiệm bảo lãnh và Ngân hàng Việt Á đã nhận được văn bản đó Việc yêu cầu này của Công ty KNV là phù hợp với với pháp luật theo
khoản 1 Điều 342 BLDS năm 2015: “Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó” và cũng không
trái với những thỏa thuận, phạm vi bảo lãnh mà các bên đã cam kết trong hợp đồng
Thứ ba, đúng như Tòa án đã nhận định thì việc Ngân hàng lấy lý do từ chối bảo lãnh vì Công ty KNV đã nộp bản gốc khi đã hết thời hạn hiệu lực là hoàn toàn chưa hợp lý, bởi để phản hồi Công văn số 01 thì Ngân hàng có gửi Công văn số 04 cho Công ty KNV nhưng không đề cập đến việc Công ty KNV không gửi cũng như yêu cầu gửi Thư bảo lãnh bản gốc Vì đây cũng không phải là hành vi bắt buộc để trách nhiệm bảo lãnh được phát sinh mà trước đó các bên đã thỏa thuận cũng như luật không có quy định
Thứ tư, theo Điều 343 BLDS năm 2015 quy định:
“Bảo lãnh chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1 Nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt.
2 Việc bảo lãnh được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
3 Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
4 Theo thỏa thuận của các bên”.
Đến thời hạn mà Công ty Cửu Long không thực hiện nghĩa vụ thì lúc này trách nhiệm bảo lãnh của Ngân hàng sẽ phát sinh đúng với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định pháp luật (Điều 335 BLDS năm 2015) phải có nghĩa vụ thay Công ty Cửu Long thực hiện nghĩa vụ đó Nhưng khi nghĩa vụ đó chuyển sang Ngân hàng Việt Á thì vẫn không được thực hiện, vì vậy xem như bản chất của việc bảo lãnh vẫn chưa thực hiện Nên trách nhiệm bảo lãnh của Ngân hàng Việt Á không có trong những trường hợp được chấm dứt
Vấn đề 4
Từng điều kiện được quy định trong BLDS để giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế.
Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện sau:
- Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại
- Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại
Trang 4Từ hai điều kiện trên, một số trường hợp cụ thể được BLDS quy định như dưới đây:
Trường hợp thứ nhất: do các bên thỏa thuận
Bản chất của luật dân sự là sự thỏa thuận của các bên nên pháp luật dân sự luôn tôn trọng và ưu tiên quyền tự do thỏa thuận và thiện chí của các bên trong giao dịch, nếu thỏa thuận đó không trái quy định pháp luật như trong trong tắc của BLDS năm 2015 tại khoản 2 Điều 3:
“Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ
sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.
Vậy điều kiện ở đây là các bên phải thỏa thuận thành công, dựa trên sự tự nguyện, ý chí của bên bị thiệt hại Từ đó, khi có thiệt hại xảy ra Tòa án sẽ xem xét trên sự thỏa thuận của các bên để giảm mức bồi thường thiệt hại
Chẳng hạn, theo khoản 2 Điều 591 BLDS năm 2015 quy đinh:
“Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác
để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.
Như vậy, trường hợp thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm để giảm mức bồi thường thì pháp luật ưu tiên mức bồi thường theo thỏa thuận của các bên, hoặc khi không thỏa thuận được thì mới áp dụng mức tối đa cho bồi thường là không qua một trăm lần mức lương cơ sở
do Nhà nước quy định
Trường hợp thứ hai: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định:
“Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không
có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”.
Theo BLDS năm 2005, chỉ những người có lỗi vô ý mới được giảm mức bồi thường Đến BLDS năm 2015, người được giảm mức bồi thường có thể là “người không có lỗi” hoặc
“lỗi vô ý”.Hai điều kiện để giảm mức bồi thường thiệt hại là gây thiệt hại do lỗi vô ý hoặc không có lỗi và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài thì người chịu trách nhiệm bồi thường sẽ được giảm mức bồi thường Dựa vào đó người gây thiệt hại
Trang 5không có lỗi thì cần được Tòa án xem xét trách nhiệm với mức độ nhẹ hơn so với trường hợp người gây thiệt hại với lỗi vô ý Và thiệt hại chỉ cần lớn hơn khả năng kinh tế tạo thời điểm giải quyết vấn đề bồi thường thì mức bồi thường đã có thể được giảm
Trường hợp thứ ba: thực hiện công việc không có ủy quyền
Khoản 2 Điều 577 BLDS năm 2015 quy định:
“Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc người đó có thể được giảm mức bồi thường”.
Vậy điều kiện ở đây là do lỗi vô ý và hoàn cảnh đảm nhận công việc của người đó Khi ấy Tòa sẽ xem xét để giảm mức bồi thường
Trường hợp thứ tư: hợp đồng mua bán tài sản
Khoản 2 Điều 449 BLDS năm 2015 quy định:
“Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”.
Vậy điều kiện để bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hai trong hợp đồng mua bán tài sản là khi bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại