Trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, do sự khác biệt về lợi ích kinh tế, nhận thức, lối sống, tí`nh cách… nên khó tránh khỏi những va chạm, xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, trong họ tộc hoặc giữa cá nhân với nhau trong cộng đồng dân cư. Những mâu thuẫn, tranh chấp này nếu không giải quyết kịp thời thì từ mâu thuẫn nhỏ sẽ thành mâu thuẫn lớn, từ tranh chấp thuần tuý dân sự có thể trở thành vụ án hình sự, gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Những mâu thuẫn, tranh chấp này có thể giải quyết bằng nhiều cách (các bên tự thỏa thuận, giải quyết tại Tòa án nhân dân, thông qua hòa giải ở cơ sở…).
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài.
Trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, do sự khác biệt về lợi ích kinh tế,nhận thức, lối sống, tí`nh cách… nên khó tránh khỏi những va chạm, xíchmích, mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, trong họ tộchoặc giữa cá nhân với nhau trong cộng đồng dân cư Những mâu thuẫn, tranhchấp này nếu không giải quyết kịp thời thì từ mâu thuẫn nhỏ sẽ thành mâuthuẫn lớn, từ tranh chấp thuần tuý dân sự có thể trở thành vụ án hình sự, gâymất đoàn kết trong nội bộ nhân dân Những mâu thuẫn, tranh chấp này có thểgiải quyết bằng nhiều cách (các bên tự thỏa thuận, giải quyết tại Tòa án nhândân, thông qua hòa giải ở cơ sở…)
Tuy nhiên, cũng còn những vấn đề bất cập mà người làm công tác hòagiải không thực hiện được do không có trong các văn bản pháp luật Từ đó,
có những vụ việc không thể tiến hành hòa giải được do không chuyển đến cơquan có thẩm quyền giải quyết kịp thời, làm ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyềnlợi chính đáng của công dân khi bị xâm hại chính vì vậy, cần phải nâng caotrình độ, kinh nghiệm và giải pháp thực hiện trong thời gian tới để góp phầnnâng cao hiệu quả và thực hiện trong công tác hòa giải cơ sở Đó là sự cấpthiết cho việc thực hiện đề tài này
1 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu đề tài này là nhằm từng bước đưa vào nề nếp vàđảm bảo việc thực hiện việc áp dụng pháp luật trong công tác hòa giải cơ sởcủa hoạt động hòa giải chính là sự tự nguyện của các bên chấp thuận với nhau
về chanh chấp nào đó rây ra mâu thuẫn để cùng nhau hàn gắn
2 Đối tượng nghiên cứu.
Tìm hiểu về hòa giải ở cơ sở tại UBND xã Phong Điền 3 tháng cuối năm2013
3 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Cơ sở lý luận về hoạt động hòa giải ở cơ sở
Thực trạng hòa giải tai UBND xã Phong Điền
Trang 2Đánh giá chất lượng và hiệu quả trong công tác hòa giải, cung cấp chonhững người tham gia hòa giải nắm được kinh nghiệm thực tiễn.
4 Nội dung nghiên cứu.
Nắm bắt được nghiệp vụ hòa giải cơ sở, học tập được một số bài họcthực tiễn trong công tác hòa giải trên các lĩnh vực như: hôn nhân, gia đình, đấtđai…
Thực trạng công tác hòa giải trong thời gian tham gia thực tập
Kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình hòa giải
Xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động hòa giải ở cơ sở
Thực trạng hòa giải tai UBND xã Phong Điền
Đánh giá chất lượng và hiệu quả trong công tác hòa giải, cung cấp chonhững người tham gia hòa giải nắm được kinh nghiệm thực tiễn
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ.
I Những vấn đề chung
1 Khái niệm hoà giải ở cơ sở.
Điều 1 Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải năm 1998 và Điều 2Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định: Hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn,giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giảiquyết với nhau những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoànkết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyềnthống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế viphạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư
2 Ý nghĩa, vai trò của công tác hoà giải ở cơ sở.
Với hiệu quả thiết thực của mình, công tác hoà giải ở cơ sở thực sự cóvai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng ở cơ sở
Thứ nhất, việc hòa giải những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ
ở cơ sở đã góp phần giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, pháthuy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộngđồng, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.Thứ hai, hoạt động hoà giải ở cơ sở góp phần tích cực trong việc hạn chếđơn thư khiếu nại, tố cáo tràn lan, vượt cấp, kéo dài Mỗi vụ việc xảy ra ở cơ
sở, nếu được hoà giải, giải quyết kịp thời sẽ tiết kiệm được thời gian, côngsức, tiền bạc của chính các bên tranh chấp, cũng như của các cơ quan nhànước như chính quyền địa phương, toà án
Thứ ba, hoạt động hoà giải ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng đối với côngtác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân Bằng việc vận dụng những quyđịnh của pháp luật để giải thích, phân tích, thuyết phục các bên tranh chấp, tổviên tổ hoà giải góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật và quan trọng hơn làcảm hoá, giáo dục ý thức nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật cho các bên
3 Nguyên tắc hoà giải
Nguyên tắc hòa giải là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mà khi thựchiện hoạt động hòa giải, người tiến hành hòa giải phải tuân thủ một cách đầy
Trang 4đủ, toàn diện và nghiêm túc Các nguyên tắc này được quy định tại Điều 4Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
+ Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân
+ Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bêntranh chấp phải tiến hành hoà giải
+ Khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư củacác bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; khôngxâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng
+ Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạnchế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hoà giải
II NỘI DUNG VỀ NGHIỆP VỤ HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ
1 Tổ chức hòa giải ở cơ sở
1.1 Tổ hòa giải ở cơ sở
Điều 7 Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở quy định:
“Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn,xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chứcthực hiện việc hoà giải những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trongnhân dân theo quy định của pháp luật”
1.2 Tổ viên tổ hòa giải
Tổ viên tổ hòa giải do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã phối hợp với các
tổ chức thành viên của Mặt trận đề cử hoặc tự mình ứng cử vào danh sách bầu
tổ viên tổ hòa giải để nhân dân bầu và được Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyếtđịnh công nhận Tổ viên tổ hòa giải là công dân từ 18 tuổi trở lên, có năng lựchành vi dân sự, nghĩa là có khả năng bằng chính hành vi của mình xác lập,thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự và có các tiêu chuẩn sau:
- Có phẩm chất đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và có uy tín trong nhân dân;
- Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện chính sách,pháp luật;
Trang 5- Tự nguyện tham gia tổ chức hòa giải, có tinh thần trách nhiệm, nhiệttình trong công tác hòa giải.
Tổ viên tổ hòa giải có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Hoà giải các vụ việc theo quy định của pháp luật
1.3 Tổ trưởng tổ hoà giải
Tổ trưởng tổ hòa giải do các tổ viên tổ hòa giải bầu Tổ trưởng tổ hòagiải phụ trách Tổ hòa giải, đồng thời, tham gia hoạt động hòa giải với tư cách
tổ viên tổ hòa giải
Tổ trưởng tổ hòa giải có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Phân công, điều hoà, phối hợp hoạt động của tổ viên Tổ hoà giải;
- Phối hợp với các tổ hoà giải trong việc nâng cao nghiệp vụ và tronghoạt động hoà giải tranh chấp liên quan đến địa bàn hoạt động của các tổ hoàgiải đó;
- Tổ chức các cuộc họp định kỳ và đột xuất để rút kinh nghiệm về côngtác hoà giải và đề xuất với Uỷ ban nhân dân cấp xã các biện pháp nâng caohiệu quả của công tác hoà giải, cung cấp tài liệu và các thông tin nâng caonghiệp vụ hoà giải;
- Báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác hoà giải cho Uỷ ban nhân dâncấp xã và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp;
- Đại diện cho Tổ hoà giải trong quan hệ với Trưởng thôn, xóm, bản, ấp,
Tổ trưởng tổ dân phố, cụm dân cư và với các cơ quan nhà nước, tổ chức chínhtrị - xã hội ở cơ sở
2 Phạm vi hoà giải
Phạm vi hoà giải được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh về Tổ chức và hoạtđộng hòa giải ở cơ sở và Điều 4 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP
2.1 Những việc được hoà giải
Hoà giải được tiến hành đối với việc vi phạm pháp luật và tranh chấpnhỏ trong cộng đồng dân cư, bao gồm:
Trang 6a)Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau
về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn, xích míchgiữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi qua nhà, sửdụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinhchung ;
b)Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự như tranhchấp phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụdân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;
c)Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đìnhnhư: thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của cha
mẹ và con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng;
d)Tranh chấp phát sinh từ những việc vi phạm pháp luật mà theo quyđịnh của pháp luật, những việc vi phạm đó chưa đến mức bị xử lý bằng biệnpháp hình sự hoặc biện pháp hành chính như trộm cắp vặt, đánh chửi nhaugây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gâythương tích nhẹ
2.2 Những việc không được tiến hành hoà giải
a) Các tội phạm hình sự
Riêng đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà người bị hại đãkhông yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộluật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát hoặc Toà án không tiếp tục tiến hành việc
tố tụng và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hànhchính theo quy định của pháp luật đối với các hành vi như: cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì có thể hoà giải (Điều 4,khoản 2, điểm a Nghị định số 160/1999/NĐ-CP)
Trang 7- Các vi phạm gây thiệt hại đến tài sản nhà nước
- Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật
- Tranh chấp về lao động
3 Thành phần tổ hòa giải
+ Chủ tịnh UBND xã làm Tổ trưởng tổ hoà giải
+ Chủ tịch UBMTTQVN xã làm tổ phó tổ hoà giải
+ Phó Chủ tịch HĐND xã làm giám sát
+ Chủ tịch HLHPNVN xã làm tổ viên
+ Trưởng ban Tư pháp xã làm tổ viên
+ Chủ tịch HND làm tổ viên
4 Trình tự tiến hành hoà giải
Từ thực tiễn hoạt động hòa giải có thể tổng kết các bước tiến hành hòagiải các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân như sau:
Bước 1: Trước khi hoà giải
Khi có vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra, tuỳ thuộc đối tượng, tínhchất vụ việc, quan hệ gia đình, xã hội… của các bên tranh chấp mà tổ hòa giảinghiên cứu, lựa chọn, cử người tham gia hòa giải cho phù hợp
Trước khi tiến hành hòa giải, hòa giải viên cần chủ động, kịp thời tìmhiểu nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, để tìm biện pháp khắc phục, không đểviệc đơn giản thành việc phức tạp Trong trường hợp cần thiết, có thể hội ýtrong tổ hòa giải để cùng bàn biện pháp, phân công các hòa giải viên tiếp xúcvới các bên tranh chấp để hòa giải
Bước 2: Trong khi hòa giải
Khi tiến hành hoà giải, hoà giải viên cần thực hiện các nguyên tắc,phương pháp hoà giải, chú ý đề cao điều hay, lẽ phải Để hoà giải đạt kết quả,hoà giải viên cần hiểu rõ đặc điểm tâm lý, tính cách của từng đối tượng (phụ
nữ, thanh niên, trẻ em vị thành niên, người già, người có công…) cũng nhưtính chất vụ việc (dân sự, hôn nhân gia đình, hình sự, hành chính, khiếu
Trang 8nại…) để áp dụng phương pháp và “nghệ thuật” hoà giải phù hợp, tránh vộivàng, nôn nóng, “chụp mũ” hoặc làm tổn hại đến danh dự, tự ái cá nhân củacác bên
Trong quá trình hòa giải, hoà giải viên có thể gặp gỡ, trao đổi với từngbên để tìm hiểu rõ hơn nguyên nhân mâu thuẫn, nắm bắt tâm tư, nguyện vọngcủa các bên, hướng dẫn, thuyết phục các bên ứng xử phù hợp với pháp luật,đạo đức xã hội, phong tục tập quán tốt đẹp
Lựa chọn thời gian thích hợp để các bên gặp gỡ, trao đổi phân tích vụviệc Việc hòa giải có thể tiến hành tại gia đình hoặc nơi do các bên tranhchấp yêu cầu, bảo đảm không khí thân mật, cởi mở, không nên hình thức,phức tạp hoá trong khâu tổ chức thực hiện
Khi hoà giải có mặt của các bên, hoà giải viên chủ trì buổi hoà giải có thểmời thêm một số người làm chứng hoặc đại diện cho một số tổ chức chính trị
xã hội, xã hội nghề nghiệp nếu các bên tranh chấp là hội viên hoặc người caotuổi, bạn bè thân thích, người có uy tín trong gia đình, họ tộc, cộng đồng cùngtham gia (đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần tranhthủ sự tham gia của các già làng, trưởng bản…)
Trường hợp hòa giải tranh chấp mà các đương sự ở các cụm dân cư khácnhau (xã này với xã khác, thôn này với thôn khác…) thì người thực hiện hòagiải ở các địa bàn khác nhau phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong suốtquá trình hòa giải thì mới có thể đạt được kết quả hòa giải tốt
Bước 3: Kết thúc việc hòa giải
Việc hoà giải được kết thúc và được coi là hoà giải thành khi các bên đãđạt được thoả thuận và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó
- Trường hợp hòa giải thành thì hòa giải viên cần tiếp tục quan tâm, độngviên, giúp đỡ, thăm hỏi, nhắc nhở các bên tự nguyện thực hiện thỏa thuận củamình, tạo điều kiện để họ thực hiện tốt cam kết đó Có thể biểu dương, độngviên kịp thời việc thực hiện cam kết của các bên trong các cuộc họp thôn, tổdân phố
- Trong trường hợp việc hoà giải không thành, các bên không thể đạtđược thoả thuận và việc tiếp tục hoà giải không thể đạt kết quả, thì tổ viên tổhòa giải giải thích, hướng dẫn các bên tranh chấp làm thủ tục cần thiết đề nghị
Trang 9các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tổ viên tổ hoà giải hướng dẫn cho cácbên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giảiquyết
Dù việc hoà giải thành hay không thành, tổ viên tổ hòa giải đều phải ghichép nội dung tranh chấp và nội dung hoà giải vào sổ công tác về hoà giải đểphục vụ cho việc thống kê báo cáo và tổ chức họp trao đổi kinh nghiệm trong
tổ hoà giải, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công haythất bại hoặc đề đạt xin ý kiến hướng dẫn của tư pháp cấp xã
5 Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành hoà giải
5.1 Cần hiểu rõ tâm lý và cách ứng xử của các bên tranh chấp
Trong thực tiễn, phần lớn các bên tranh chấp thường biểu hiện dưới haidạng sau đây:
- Dạng thứ nhất là các bên tranh chấp thường mang nặng suy nghĩ chủquan, có nghĩa là luôn cho rằng mình đúng, còn bên kia thì luôn luôn sai Khigặp gỡ các bên họ thường đổ lỗi cho nhau, nói xấu về nhau, thậm chí rất căngthẳng, không bên nào nhường nhịn bên nào Trong quá trình hoà giải, các bênthường tìm mọi cách đưa ra những lý lẽ, bằng chứng có lợi cho mình Trongtrường hợp này có thể đối tượng đúng, nhưng cũng không loại trừ trường hợp
họ ngộ nhận, ngụy biện hoặc cố tình đưa ra những thông tin không chính xác,làm sai lệch bản chất vụ việc Người tiến hành hoà giải cần phải tạo ra môitrường đối thoại cởi mở, thẳng thắn và chân thành Hoà giải viên phải biết tựkiềm chế, lắng nghe và nghe một cách tích cực, gợi mở cho các bên để họtrình bày những ý nghĩ của mình một cách rõ ràng, mạch lạc, chính xác,khách quan, vô tư và cung cấp các thông tin cần thiết, xác thực có liên quanđến vụ việc hoà giải
- Dạng thứ hai là các bên biết mình sai nhưng vẫn cố tình bảo vệ cái saicủa mình Đối tượng trong trường hợp này muốn hoà giải viên đứng về phía
họ, biến cái sai của mình thành cái đúng để họ được lợi Đối tượng cũng cóthể muốn hoà giải viên cung cấp cho họ những thông tin cần thiết để khai thácđược lợi ích từ những cái sai đó Cũng có thể họ nhờ hoà giải viên giúp họkhắc phục những cái sai, nhằm giảm bớt tổn thất hoặc bồi thường mà họ phảigánh chịu do hành vi có lỗi của họ gây ra
Trang 105.2 Quan hệ với các bên tranh chấp
Về tâm lý, các bên tranh chấp thường tin tưởng và mong muốn hoà giảiviên giúp đỡ họ nhiều điều, muốn thông qua quá trình hoà giải, họ có thểđược giúp đỡ để bảo vệ quyền và lợi ích của họ Bởi vậy, trong quá trình hoàgiải, hoà giải viên phải coi các bên hoà giải như người thân của mình, phảixây dựng được quan hệ tốt với họ trên cơ sở chân thực, hợp tác, bền vững.Mặt khác, hoà giải viên phải tạo ra được sự tin tưởng của đối tượng vào Tổhoà giải và hoà giải viên, giúp đối tượng hiểu rằng hoà giải viên đang giúp đỡ
họ giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn, bất đồng và bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của họ
6 Kỹ năng hòa giải ở cơ sở.
6.1 Khái niệm kỹ năng hòa giải ở cơ sở
Kỹ năng hoà giải là khả năng của hoà giải viên vận dụng kiến thức phápluật, đạo đức xã hội và kinh nghiệm cuộc sống để giải thích, hướng dẫn,thuyết phục, cảm hoá các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn,nhằm xoá bỏ bất đồng và đạt được thoả thuận phù hợp với pháp luật và đạođức xã hội, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phòngngừa và hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật ở cơ sở
6.2 Một số kỹ năng hòa giải ở cơ sở
6.2.1 Kỹ năng gặp gỡ và nghe các bên trình bày
a Kỹ năng giao tiếp
Giao tiếp là quá trình bày tỏ ý định, cảm xúc, trao đổi thông tin với ngườikhác Giao tiếp có thể bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ, hành vi (không lời) Giao tiếp có các chức năng sau đây:
- Trò chuyện để nắm bắt thông tin;
- Cung cấp cho đối tượng những thông tin chính xác để xóa bỏ nhữngquan điểm lệch lạc, thay đổi niềm tin không đúng đắn;
- Hỗ trợ chia sẻ về mặt tâm lý, cảm thông với đối tượng;
- Giúp đối tượng xác định, lựa chọn đưa ra những quyết định cụ thể, cáchgiải quyết phù hợp;
Trang 11- Trang bị cho đối tượng kiến thức, cách ứng xử, suy nghĩ phù hợp.
Khi gặp gỡ đối tượng, hoà giải viên cần có thái độ đúng mực như sau:
- Quan tâm và sẵn lòng giúp đỡ người khác;
- Tôn trọng đối tượng, không phán xét họ (ngắt lời, không lắng nghe, tưthế kênh kiệu, nói năng thiếu lễ độ…);
- Nhiệt tình trong công việc và chân thành, cởi mở để tạo sự tin cậy;
- Chấp nhận đối tượng (dù họ ăn mặc, nói năng thế nào cũng không nênphân biệt, đối xử );
- Quan tâm đến yêu cầu của đối tượng;
- Thông cảm với đối tượng (hiểu được tâm lý, suy nghĩ và cảm xúc củađối tượng)
b Kỹ năng nghe đối tượng trình bày
Bất luận vụ việc tranh chấp về vấn đề gì, để thu nhận được những thôngtin chính xác, trung thực về vụ việc của các bên tranh chấp, hoà giải viên phảichú ý lắng nghe từng bên hoặc cả hai bên trình bày để hiểu rõ về nội dung vàbản chất vụ việc Trong quá trình đối tượng trình bày, hoà giải viên cần chú ýlắng nghe và ghi chép đầy đủ những nội dung chính, ý chính, trên cơ sở đó cóthể đặt những câu hỏi yêu cầu đối tượng làm rõ thêm các tình tiết của vụ việc
6.2.2 Kỹ năng yêu cầu các bên tranh chấp cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc
Để đưa ra lời khuyên (tư vấn) chính xác, đúng pháp luật, cảm hóa, thuyếtphục được đối tượng thì hoà giải viên phải đề nghị đối tượng cung cấp đầy đủcác tài liệu (nếu có) phản ánh nội dung và diễn biến của vụ việc tranhchấp.các vụ việc tranh chấp thường có các tài liệu, văn bản, thư từ giaodịch, liên quan đến vụ việc Những giấy tờ, tài liệu này là những chứng cứpháp lý thể hiện nội dung, bản chất của vụ việc hoặc phản ánh diễn biến vàquá trình giải quyết tranh chấp Trong thực tiễn, có những vụ việc đối tượngchỉ trình bày vụ việc một cách chung chung, chưa muốn cung cấp cho hoàgiải viên những văn bản, chứng cứ mà họ cho rằng không có lợi cho mình.Hoà giải viên cần thuyết phục để họ cung cấp đầy đủ Nếu các bên tranh chấp
Trang 12không cung cấp những tài liệu này thì việc hoà giải khó có thể chính xác vàđúng pháp luật
6.2.3 Kỹ năng tra cứu tài liệu tham khảo
Trong quá trình hoà giải, một hoạt động hết sức quan trọng và mang tínhquyết định của hoà giải viên là tư vấn pháp luật (giải đáp pháp luật, cung cấpthông tin pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp, đưa ranhững lời khuyên về những vấn đề có liên quan đến pháp luật, hướng dẫn cácbên xử sự phù hợp với pháp luật…) để các bên tranh chấp nâng cao ý thứcpháp luật, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, trên cơ sở đó tự nguyện giảiquyết tranh chấp phù hợp với pháp luật Để đưa ra lời tư vấn pháp luật chínhxác, việc tra cứu tài liệu pháp luật trong quá trình hoà giải là điều kiện bắtbuộc
6.2.4 Kỹ năng xem xét, xác minh vụ việc
Đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luậthoặc đã được nhiều cơ quan, tổ chức cá nhân giúp đỡ giải quyết mà các bênvẫn không thoả thuận được với nhau trong cách giải quyết tranh chấp hoặcsau khi đã nghe cả hai bên trình bày, xem xét các giấy tờ, tài liệu các bên cungcấp (hoặc các bên chưa cung cấp đủ các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụviệc), hoà giải viên thấy chưa đủ cơ sở để hướng dẫn đối tượng, thì cần phảitiến hành xem xét, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, gặp gỡ, tiếp xúc vớicác cơ quan, tổ chức và những người có liên quan để tìm hiểu rõ bản chất vụviệc, tránh vội vàng đưa ra những kết luận phiến diện, chủ quan
6.2.5 Kỹ năng giải thích, thuyết phục, hướng dẫn các bên tự nguyện giải quyết tranh chấp
Giải thích, thuyết phục và hướng dẫn các bên tự nguyện giải quyết tranhchấp được hoà giải viên thực hiện trong suốt quá trình hoà giải Từ lần gặp gỡđầu tiên với từng đối tượng hoặc gặp gỡ cả hai bên, hoà giải viên đã phải đưa
ra lời giải đáp, lời khuyên, giải pháp, phương án,… để tháo gỡ những vướngmắc của các bên; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vàocác quan hệ xã hội có liên quan đến vụ việc tranh chấp, phân tích những hành
vi nào phù hợp với pháp luật, với đạo đức xã hội và hành vi nào trái pháp luật,trái với đạo đức xã hội, nêu rõ hậu quả pháp lý mà các bên phải gánh chịu nếutiếp tục tranh chấp và đưa ra định hướng giải quyết tranh chấp để các bên tự
Trang 13lựa chọn và quyết định Một điều quan trọng là trong quá trình hòa giải, hòagiải viên cần phải luôn kết hợp cả tình và cả lý để phân tích, giải thích, thuyếtphục các bên tranh chấp hòa giải với nhau.
Yêu cầu đặt ra khi tiến hành hòa giải là những lời khuyên, thuyết phục
và hướng dẫn của hoà giải viên phải được các bên tự nguyện chấp nhận, đồngthuận nghe theo và làm theo bằng việc các bên tự định đoạt giải quyết dứtđiểm tranh chấp, lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội,phong tục tập quán tốt đẹp, tránh được những hậu quả pháp lý bất lợi, bảo vệđược quyền, lợi ích hợp pháp của các bên một cách tốt nhất
KẾT LUẬN CHƯƠNG I.
Trên đây là một số vấn đề về nghiệp vụ và kỹ năng hoà giải cơ bản nhất.Tuy nhiên, thực tế các tranh chấp rất phức tạp, đa dạng, mỗi một loại tranhchấp có một màu sắc khác nhau và mỗi loại đối tượng tranh chấp có tâm lý,tính cách, trình độ học vấn, năng lực nhận thức và xử sự khác nhau Vì vậy,việc áp dụng các kỹ năng này vào thực tiễn hoà giải các tranh chấp ở cơ sở thì
vô cùng sinh động, phụ thuộc vào sự nhạy bén, sáng tạo và năng lực thựchành của mỗi hoà giải viên
Trang 14CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG CỦA
UBND XÃ PHONG ĐIỀN
I Khái quát về đơn vị thực tập
1 Lịch sử hình thành và vị trí địa lý.
1.1 Lịch sử hình thành.
Xã Phong Điền là một xã ven biển thuộc huyện Trần Văn Thời, được tách
ra từ xã Phong Lạc cuối năm 2005 đầu năm 2006
1.2 Vị trí địa lý.
Xã Phong Điền có các vị trí địa lý sau:
- Phía Bắc giáp một phần xã Khánh Hưng và một phần xã Khánh Hảithuộc huyện Trần Văn Thời
- Phía Đông giáp xã Phong Lạc huyện Trần Văn Thời
- Phía Nam giáp một phần xã Phú Tân và một phần xã Phú Mỹ huyện PhúTân
- Phía Tây giáp TT Sông Đốc và Biển Tây
1.3 Địa hình, địa chất.
Xã Phong Điền nằm trong bán đảo Cà Mau, phần cuối của Đồng BằngSông Cửu Long, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình khoảng0.5m, độ dốc nhỏ, hướng dốc không rõ ràng
Ở đây nền móng địa chất yếu, tài nguyên chủ yếu là đất phèn
1.4 Khí hậu.
Xã Phong Điền mang nhiều đặc điểm của khí hậu đồng bằng nam bộ có 2mùa mưa nắng rõ rệt
Trang 15+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Mưa nhiều nhất là tháng 9
và tháng 10, chiếm khoảng 85 đến 90% lượng mưa cả năm Lượng mưa trungbình khoảng 2.900mm/năm
+ Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
1.5 Dân cư.
Tổng số hộ, nhân khẩu quản lý trên đia bàn xã Phong Điền là 3455 hộ,
16380 khẩu; 8105 nữ; 11611 nhân khẩu tuổi 14 trở lên Trong xã có 4 dân tộcanh em gồm: Kinh, Hoa, Khmer, Nùng, sống đan xen nhau
1.6 Kinh tế xã hội.
Tổng diện tích đất tự nhiên là: 7149.97 ha
Trong đó:
- Đất nông nghiệp là 5978.87 ha chiếm 83.6%
- Đất phi nông nghiệp là 1171.10 ha chiếm 16.38%
Tiền năng kinh tế của địa phương chủ yếu là lợi dụng vào tài nguyên đất